Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:07' 27-01-2026
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
2.

Nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dụ

3.

Giải pháp vận dụ

Kết luận
Chịu trách nhiệm xuất bản

Tài liệu tham khảo

GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN
TS. VÕ VĂN BÉ
Biên tập nội dung:

TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
ĐINH ÁI MINH
PHAN HƯƠNG GIANG
NGUYỄN VIỆT HÀ

Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:

PHẠM THÚY LIỄU
NGUYỄN QUỲNH LAN
ÁI MINH

Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 427-2021/CXBIPH/17-365/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 20-QĐ/NXBCTQG, ngày 18/02/2021.
Nộp lưu chiểu: tháng 4 năm 2021.
Mã ISBN: 978-604-57-6505-0.

303

Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục với vấn đề đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay. Tái bản lần thứ 2. - H. : Chính trị quốc gia, 2020. - 304tr. ;
21cm
ISBN 9786045760215
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh 2. Giáo dục 3. Việt Nam
370.9597 - dc23
CTL0229p-CIP

2

4

TẬP THỂ TÁC GIẢ
TS. LÝ VIỆT QUANG (Chủ biên)
PGS.TS. PHẠM NGỌC ANH

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

ThS. TRƯƠNG VĂN BẮC

Đại học Chính trị, Bộ
Quốc phòng

ThS. BÙI HỒNG CẨN

Đại học Trần Quốc Tuấn,
Bộ Quốc phòng

PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIM DUNG Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh
PGS.TS. THÀNH DUY

Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam

ThS. NGÔ XUÂN DƯƠNG

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

ThS. LÊ THỊ HẰNG

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

TS. LÊ THỊ THU HỒNG

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

ThS. TRẦN THỊ HỢI

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

ThS. NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

Trường Chính trị tỉnh
Phú Thọ

5

ThS. TRẦN THỊ HUYỀN

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

ThS. NGUYỄN TÙNG LÂM

Đại học Chính trị, Bộ
Quốc phòng

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

GS. SONG THÀNH

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

ThS. VŨ ĐỨC THỊNH

Sở Giáo dục - Đào tạo
Hà Nội

PGS.TS. VŨ VĂN THUẤN

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

TS. NGUYỄN XUÂN TRUNG

Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh

6

LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng lý luận vô giá về
các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo
dục. Trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục có ý nghĩa hết
sức quan trọng, là kim chỉ nam định hướng cho sự phát triển
của sự nghiệp giáo dục - đào tạo Việt Nam.
Là người đặt nền móng cho sự ra đời nền giáo dục cách
mạng Việt Nam, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan
tâm đến sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nước nhà. Ngay sau
khi đất nước giành được độc lập năm 1945, giữa muôn vàn
khó khăn, gian khổ, Người vẫn đề cao nhiệm vụ chống giặc
dốt, thúc đẩy phong trào Bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù
chữ cho nhân dân.
Trong các tác phẩm, các bài nói, bài viết của mình, Người
đã nêu bật quan điểm về một nền giáo dục toàn diện, chú
trọng cả đức và tài, gắn liền với thực tiễn đời sống, kết hợp
giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội. Người cũng là một
tấm gương sáng về việc tự học, tự rèn luyện, đấu tranh bền
bỉ không ngừng để hoàn thiện bản thân. Triết lý giáo dục của
Người vừa kế thừa nền giáo dục truyền thống của dân tộc
vừa mang tính hiện đại, mới mẻ.

7

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường
lối của Đảng, trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục - đào
tạo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, song vẫn còn
nhiều hạn chế, yếu kém. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế hiện nay, giáo dục - đào tạo cần phải đổi mới
mạnh mẽ, căn bản, toàn diện để phù hợp với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước cũng như theo kịp trình độ phát
triển của thế giới.
Nhằm góp phần tìm hiểu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục và quá trình vận dụng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh
vào đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ hai cuốn
sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục với vấn đề đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay
do TS. Lý Việt Quang làm chủ biên.
Cuốn sách là tài liệu quý cho các cấp, các ngành, các nhà
hoạch định chính sách trong lĩnh vực giáo dục cũng như tất
cả mọi người trong quá trình học tập, rèn luyện, hoàn thiện
bản thân để hướng tới giá trị chân, thiện, mỹ, góp phần xây
dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 6 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

8

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với văn hóa, giáo dục gắn liền với con người
và xã hội loài người. Đây là một hoạt động hết sức
quan trọng của con người, qua đó những kinh nghiệm,
tri thức nhân loại tích lũy trong thực tiễn cuộc sống
được trao truyền lại cho nhau, giúp nhân loại không
ngừng bổ sung, phát triển những tri thức mới, sâu
sắc hơn. Nhờ giáo dục và thông qua giáo dục, con
người ngày càng được phát triển toàn diện, hoàn
thiện nhân cách. Bao trùm lên tất cả là giáo dục giúp
tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển trong tương lai
của một đất nước, một xã hội. Chính vì vậy, giáo dục
được coi là yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và
bền vững, là nguồn “của cải nội sinh” của mỗi quốc
gia. Giáo dục có được làm tốt hay không vừa có tác
động rất to lớn đến sự hưng thịnh hay suy yếu của
một quốc gia, vừa là một tiêu chí quan trọng để đánh
giá mức độ phát triển hiện tại và triển vọng tương
lai của quốc gia đó.

9

Vì tầm quan trọng của giáo dục, từ năm 1994, Tổ
chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa của Liên hợp quốc
(UNESCO) đã đưa ra tuyên bố: “Không có một sự tiến
bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và
thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Và
những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri
thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có
hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài
và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản”.
Ngày nay, khi nhân loại đang bước vào kỷ nguyên
mới, kỷ nguyên văn minh trí tuệ, phát triển nền kinh tế
tri thức, khoa học, công nghệ trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, chất xám - trí tuệ con người được xác
định là nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh giữa các
nền kinh tế trên thế giới, giáo dục do đó càng có vai trò
hết sức quan trọng.
Các quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới cũng
là những quốc gia có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại. Sự
phát triển “thần kỳ” của Nhật Bản, sự cất cánh của “các
con rồng” châu Á như Hàn Quốc, Xingapo, Đài Loan,
Hồng Kông không phải do các quốc gia, vùng lãnh thổ
này giàu tài nguyên, khoáng sản, mà chủ yếu là do họ
đã xây dựng thành công một nền giáo dục tiên tiến, từ
đó hình thành nên lực lượng lao động có chất lượng cao,
chuyên nghiệp, làm nền tảng, động lực thúc đẩy sự

10

phát triển kinh tế - xã hội, tạo thuận lợi cho đất nước
họ hội nhập quốc tế.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh
tế tri thức, xây dựng mô hình phát triển nhanh và bền
vững để theo kịp bước tiến của các nước trên thế giới.
Muốn vậy, nhất thiết phải có nguồn nhân lực chất
lượng cao. Do đó, giáo dục càng phải được đặc biệt chú
trọng, được xem là “quốc sách hàng đầu”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:
“Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói
gì đến kinh tế văn hóa. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo
dục là bước đầu”1. Từ đó, Người nhắc đến phương châm:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm
năm thì phải trồng người”2.
Là vị lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ
Chí Minh không chỉ là Anh hùng giải phóng dân tộc,
nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, mà còn là nhà
giáo dục vĩ đại, đặt nền móng cho sự ra đời nền giáo dục
cách mạng Việt Nam, hình thành nên triết lý giáo dục
mới - triết lý giáo dục Hồ Chí Minh. Hơn thế, Người còn
là tấm gương mẫu mực về giáo dục, trước hết là ý thức
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật,
Hà Nội, 2011, t.10, tr.345.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.528.

11

giáo dục, tự học, tự rèn luyện suốt đời, nêu cao những
gương người tốt, việc tốt nhằm lôi cuốn sự nghiệp giáo
dục thành phong trào của toàn dân vì mục đích xây
dựng cuộc sống mới, xã hội mới, dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh.
Đặc biệt, trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục đã chứa đựng những quan điểm mới, hiện đại,
đến nay vẫn có giá trị và ý nghĩa thời sự sâu sắc, thể
hiện tầm nhìn vượt thời đại của Người. Đó là sự xác
định mục tiêu giáo dục không chỉ nhằm trang bị kiến
thức khoa học, mà sâu xa hơn là để làm người, để phát
triển toàn diện nhân cách người học. Đó còn là quan
điểm về nội dung giáo dục toàn diện; là phương châm
giáo dục gắn liền với thực tiễn đời sống, kết hợp chặt
chẽ vai trò của nhà trường, gia đình và xã hội trong
giáo dục; là phương pháp dạy “sao cho dễ hiểu, dễ nhớ,
nhanh chóng và thiết thực”, “tránh lối dạy nhồi sọ”; là
phương pháp học “lấy tự học làm cốt”, “học suốt đời”,
“nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”,
“tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một
cách xuôi chiều”, “không nên học gạo, không nên học
vẹt”... Người cũng nhắc nhở phải “Sửa đổi chế độ giáo
dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân” khi hoàn
cảnh thế giới và trong nước thay đổi. Những quan
điểm cơ bản ấy đã phát huy tác dụng, tạo động lực cho
nền giáo dục Việt Nam phát triển nhanh, bền vững,

12

tạo tiền đề cho nền giáo dục nước ta hội nhập quốc tế,
tiến bước cùng các nước phát triển trên thế giới, xây
dựng một xã hội mới hòa bình, độc lập, tự do, hạnh
phúc cho mọi người.
Trong Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1986 -1996),
khi UNESCO đưa ra ba nội dung cơ bản về Triết lý giáo
dục thế kỷ XXI, trong đó điều đầu tiên là “Phải coi giáo
dục là giải pháp hàng đầu để giải quyết các vấn đề kinh
tế - xã hội của một quốc gia cũng như của mỗi cá nhân”,
thì chính tư tưởng này đã được Hồ Chí Minh đề cập rất
sớm từ cuối những năm 40, giữa những năm 50 của thế
kỷ trước.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, quán triệt tư tưởng
Hồ Chí Minh về giáo dục, Đảng ta ngày càng chú trọng
đến vai trò của giáo dục và yêu cầu đổi mới giáo dục cho
phù hợp với sự phát triển của đất nước. Hội nghị lần
thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã
ra Nghị quyết số 04-NQ/HNTW, ngày 14-1-1993 “về
tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng
6-1996) nhấn mạnh: “Cùng với khoa học và công nghệ,
giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”1.
_______________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, t.55, tr.388-389.

13

Trong nhiệm kỳ khóa VIII, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng họp Hội nghị lần thứ hai, tập trung bàn và ra
Nghị quyết số 02-NQ/HNTW, ngày 24-12-1996 “Về
định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm
vụ đến năm 2000”.
Tinh thần coi trọng vai trò “quốc sách hàng đầu”
của giáo dục tiếp tục được Đảng ta khẳng định tại các
Đại hội IX (tháng 4-2001), Đại hội X (tháng 4-2006),
Đại hội XI (tháng 1-2011) và Đại hội XII (tháng 1-2016).
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa IX đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW,
ngày 26-7-2002 nhấn mạnh: Tiếp tục thực hiện Nghị
quyết Trung ương 2 khóa VIII, phương hướng phát
triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay
đến năm 2005 và đến năm 2010. Từ Đại hội XI, vấn đề
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo đã được
đặt ra và được Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI tập trung bàn và ra Nghị
quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 “về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế”.
Như vậy, rõ ràng Đảng đã có ý thức coi trọng giáo
dục đào tạo, coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu” và

14

lãnh đạo Nhà nước đầu tư thích đáng cho giáo dục
thông qua việc tăng ngân sách hằng năm cho giáo dục đào tạo.
Tuy nhiên, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều
chủ trương, chính sách về giáo dục như trên, tỷ lệ chi
cho giáo dục chiếm đến 20% tổng ngân sách quốc gia,
song trên thực tế, giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn chưa
thực sự trở thành nền tảng và động lực cho phát triển
đất nước và đang đứng trước nhiều vấn đề nổi cộm cần
phải giải quyết, thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn
xã hội. Trong những vấn đề đó, nổi lên là các vấn đề
chất lượng giáo dục còn thấp và lạc hậu so với ngay cả
các nước trong khu vực Đông Nam Á, chưa nói đến so
với thế giới; chương trình học vừa nặng nề, quá tải, vừa
không thiết thực, nặng về truyền thụ kiến thức hàn
lâm, ít chú trọng giáo dục đạo đức công dân, đạo đức
nghề nghiệp, các kỹ năng trong cuộc sống; tình trạng
“hư học” nhiều hơn “thực học”, mua bằng, chạy điểm
diễn ra ở không ít nơi; chất lượng đội ngũ giáo viên còn
hạn chế cả về trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo
đức, v.v..
Nhiều ý kiến của các nhà khoa học cho rằng giáo
dục Việt Nam hiện nay đang bị “khủng hoảng”, thậm
chí có ý kiến dùng ba từ “lạc” (lạc đường, lạc điệu và
lạc hậu) để chỉ tình trạng hiện thời của nền giáo dục

15

đất nước. Vì sao có tình trạng nêu trên? Câu hỏi vẫn
chưa có lời giải đáp thật thỏa đáng và còn nhiều ý kiến
tranh luận.
Trong thực tế, nền giáo dục Việt Nam hiện nay
vẫn còn lúng túng, chưa tìm được lối ra thích hợp với
hoàn cảnh đất nước thời kỳ đổi mới, đòi hỏi phát triển
nhanh và bền vững trong bối cảnh thế giới ngày càng
phát triển không ngừng, theo đà bùng nổ văn hóa,
phát triển kinh tế tri thức, với sự ra đời nhanh chóng
công nghệ thông tin, kỹ thuật số và mạng Internet
kết nối toàn cầu.
Từ yêu cầu bức thiết của thực tiễn đất nước, Đảng
tiếp tục đề ra chủ trương phải đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng
nguồn lực con người - nguồn tài nguyên quý giá nhất
trong các nguồn tài nguyên, phục vụ thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 1-2016)
không chỉ chú trọng đổi mới tư duy kinh tế mà còn đặc
biệt quan tâm đến đổi mới tư duy văn hóa, xây dựng
con người, trong đó có phát triển giáo dục - đào tạo.
Đương nhiên, để đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục nước nhà, phải xuất phát trên một triết lý giáo
dục đúng đắn. Trong thực tế, dân tộc Việt Nam đã có
một triết lý giáo dục vừa phù hợp với thực tiễn đất nước,

16

vừa mang tầm thời đại, làm cơ sở cho việc phát huy giá
trị giáo dục truyền thống dân tộc và tiếp thu tư tưởng
giáo dục tiên tiến của nhân loại. Đó chính là triết lý
giáo dục Hồ Chí Minh.
Quán triệt và vận dụng sáng tạo triết lý giáo dục Hồ
Chí Minh vào thực tiễn giáo dục đất nước hiện nay,
chúng ta sẽ có cơ sở lý luận và thực tiễn hết sức quan
trọng để góp phần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo
dục Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ những nhận thức trên, công trình này
tập trung tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam
hiện nay.
Trong thực tế, vấn đề giáo dục - đào tạo và vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục - đào tạo đã
nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, các
nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà hoạt động thực tiễn.
Đã có nhiều công trình, bài viết được xuất bản, trong đó
có những công trình, bài viết có chất lượng cao. Các tác
giả tham gia công trình này đã tham khảo nghiêm túc
những công trình, bài viết đó, đồng thời tiếp thu, kế
thừa những quan điểm đúng đắn.
Công trình này tập trung vào việc tìm hiểu những
nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục,
hay còn gọi là triết lý giáo dục Hồ Chí Minh, khẳng

17

định đó là những giá trị nền tảng để đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay.
Trên cơ sở làm rõ triết lý giáo dục Hồ Chí Minh,
công trình đi sâu phân tích thực trạng, đề xuất những
phương hướng, nội dung, giải pháp vận dụng tư tưởng
của Người vào đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt
Nam hiện nay. Từ đó, công trình góp phần trả lời
những câu hỏi chưa có lời giải đáp thỏa đáng như đã đề
cập ở trên.
Nhóm biên soạn xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
của các nhà khoa học trong và ngoài Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia Sự thật để cuốn sách sớm đến được với bạn đọc. Rất
mong nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các nhà
hoạt động thực tiễn và bạn đọc, để lần xuất bản sau,
cuốn sách được hoàn thiện hơn.
T/M NHÓM BIÊN SOẠN
Chủ biên
TS. Lý Việt Quang

18

Chương I

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
1. Khái niệm giáo dục
Theo Từ điển Giáo dục học, giáo dục là: “Hoạt động
hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện
pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh
nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư
tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình
thành và phát triển những năng lực, phẩm chất, nhân
cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối
tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội”1.
Theo Từ điển Văn hóa giáo dục Việt Nam, giáo dục
được hiểu là: “Quá trình đào tạo con người có mục đích,
có hệ thống, có phương pháp, nhằm chuẩn bị cho con
người tham gia vào đời sống xã hội, lao động sản xuất
bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những
_______________
1. Bùi Hiền: Từ điển Giáo dục học, Nxb. Từ điển Bách khoa,
Hà Nội, 2001, tr.210.

19

kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người. Theo nghĩa hẹp,
giáo dục là sự bồi dưỡng, rèn luyện về ý thức, thế giới
quan, phẩm chất đạo đức cho con người”1.
Từ điển tiếng Việt cho rằng, giáo dục có hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất là: “Hoạt động nhằm tác động một cách
có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của
một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có
được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”.
Nghĩa thứ hai là: “Hệ thống các biện pháp và cơ quan
giảng dạy - giáo dục của một nước”2.
Từ điển Bách khoa cũng định nghĩa giáo dục theo
hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là: “quá trình đào tạo con
người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con
người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản
xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền
thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài
người. Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của
xã hội loài người. Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài
người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể
thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát
triển của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình
_______________
1. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Thị Thu Hà:
Từ điển Văn hóa giáo dục Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin,
Hà Nội, 2010, tr.111.
2. Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, 2006,
tr.394.

20

tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong
những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát
triển về mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính
chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ
chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của
xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội”.
Nghĩa thứ hai được xác định là: “hệ thống các biện pháp,
các tổ chức đào tạo và giáo dục của một nước”1.
Như vậy, có thể khái quát giáo dục là một lĩnh vực
hoạt động xã hội, xuất hiện do nhu cầu truyền thụ và
nâng cao tri thức về tự nhiên, xã hội từ các thế hệ trước
sang các thế hệ sau của nhân loại, nhằm sinh tồn và
phát triển không ngừng. Trên thực tế, giáo dục bao hàm
cả quá trình đào tạo, truyền đạt, lĩnh hội tri thức của
con người và các biện pháp, tổ chức, quản lý đào tạo,
giáo dục. Giáo dục trở thành nhu cầu không thể thiếu
đối với sự tiến bộ, văn minh của nhân loại. Chừng nào
con người còn tồn tại, giáo dục vẫn còn tồn tại. Tùy theo
mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, xuất phát từ yêu cầu, hoàn
cảnh cụ thể mà mỗi quốc gia, mỗi dân tộc xác định mục
đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo
dục cụ thể.
_______________
1. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa
Việt Nam: Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb. Từ điển Bách
khoa, Hà Nội, 2002, t.2, tr.120.

21

Nhìn chung, quá trình giáo dục được tạo nên bởi
bốn yếu tố cơ bản. Đó là người giáo dục, người được
giáo dục, yếu tố môi giới giáo dục và môi trường giáo
dục1. Người giáo dục theo nghĩa rộng là người tạo nên
những ảnh hưởng nhất định, có mục đích đối với người
được giáo dục, thúc đẩy người được giáo dục phát triển
cả về thể chất lẫn tinh thần. Người giáo dục theo nghĩa
hẹp là người căn cứ vào yêu cầu của xã hội, trực tiếp
lấy việc thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thần
của người được giáo dục làm nghề nghiệp của mình,
bao gồm giáo viên và những người làm công tác giáo
dục trong trường học. Đối với người được giáo dục, theo
nghĩa rộng để chỉ người tiếp nhận mọi hình thức giáo
dục; theo nghĩa hẹp, là người tiếp nhận ảnh hưởng
giáo dục của người giáo dục trong nhà trường, từ đó
khiến cho thể chất và tinh thần của bản thân có sự
phát triển - tức là học sinh.
Ảnh hưởng của người giáo dục đối với người được
giáo dục được thực hiện thông qua yếu tố môi giới giáo
dục nhất định, như: nội dung giáo dục, phương thức,
phương pháp giáo dục, địa điểm và thiết bị giáo dục,
công cụ giáo dục có ý nghĩa ký hiệu (ngôn ngữ, biểu
bảng, ký hiệu phi ngôn ngữ của cơ thể: tư thế, cử chỉ,
_______________
1. Xem Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa: Triết học giáo
dục hiện đại, người dịch Bùi Đức Thiệp, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2008, tr.216-250.

22

biểu cảm). Môi trường giáo dục có thể là gia đình, nhà
trường, hay rộng hơn nữa là xã hội.
Quá trình giáo dục trong nhà trường được thể hiện
trực tiếp thông qua hoạt động dạy học. Đó là quá trình
tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm
giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học,
kỹ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn, phát triển
các năng lực sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới
quan và các phẩm chất, nhân cách của người học theo
mục đích giáo dục. Quá trình dạy học là sự thống nhất
biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình
dạy học - hoạt động dạy và hoạt động học. Quá trình
dạy và học liên hệ mật thiết với nhau, diễn ra đồng
thời và phối hợp chặt chẽ sẽ tạo nên sự cộng hưởng của
hoạt động dạy và hoạt động học, từ đó tạo nên hiệu
quả cho quá trình dạy học.
Sinh thời, Hồ Chí Minh chưa bao giờ tự nhận Người
là nhà lý luận, hay nhà tư tưởng, mà chỉ nhận là một
nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, mặc dù trên
thực tế, với những cống hiến to lớn đối với cách mạng
Việt Nam và sự phát triển, tiến bộ của nhân loại,
Người thực sự xứng tầm là nhà lý luận xuất sắc, nhà
tư tưởng lỗi lạc trên thế giới. Điều này cũng đồng
nghĩa với việc Người chú trọng nhiều đến những vấn
đề thực tiễn cách mạng đang đặt ra hơn
 
Gửi ý kiến