VÕ VĂN KIỆT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:22' 27-01-2026
Dung lượng: 8.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:22' 27-01-2026
Dung lượng: 8.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
ThS. NGUYỄN HOÀI ANH
Biên tập nội dung: TS. NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
ThS. NGUYỄN VĂN TUÂN
TRẦN QUYẾT THẮNG
TRẦN VĂN TIẾN
PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT
HOANG L.M GIANG
A
VOVANKIET
-
\.I
TRI TUEVASANG TAO
_____ __________
...,.
TUCU()CKHOINGHiANAMKY
DEN NGAYKYHI:8P DJNH GIONEVO VE VI:8T NAM
NHA XUAT BAN CHfNH TR! QUOC GIA Sl,fTH�T
Lời Nhà xuất bản
Đ
ồng chí Võ Văn Kiệt tên khai sinh là Phan Văn Hòa,
sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã
Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Tuổi thơ
nhọc nhằn, đồng chí phải đi ở đợ, làm thuê kiếm sống và
phụ giúp gia đình. Chính từ cuộc sống khó khăn, vất vả đó
đã hun đúc nên bản lĩnh, ý chí cách mạng của đồng chí Võ
Văn Kiệt. Sớm giác ngộ, hăng hái thực hiện các nhiệm vụ
cách mạng được giao, năm 1939, đồng chí vinh dự được
đứng vào hàng ngũ của Đảng khi mới 17 tuổi. Từ đó, đồng
chí Võ Văn Kiệt lấy mục tiêu phục vụ cách mạng, phục vụ
nhân dân làm lẽ sống. Dù không được học hành ở trường
lớp một cách bài bản nhưng đồng chí đã học được rất nhiều
từ trường đời, học từ nhân dân, xuất phát từ thực tiễn để
khái quát thành lý luận, qua đó làm giàu tri thức cho mình,
trở thành nhà lãnh đạo “trí tuệ và sáng tạo”.
Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, đồng chí chỉ
huy một mũi đánh vào đồn Nước Xoáy. Khởi nghĩa Nam
Kỳ thất bại, để tránh sự truy bắt của địch, đồng chí xuống
5
hoạt động ở vùng U Minh. Trong giai đoạn 1941-1945, với
cương vị Ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Rạch Giá, phụ trách
khu vực căn cứ U Minh, đồng chí đã chỉ đạo xây dựng lực
lượng quân sự, xây dựng căn cứ địa U Minh trở thành đầu
não chỉ huy kháng chiến của các tỉnh miền Tây Nam Bộ, góp
phần vào thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trong giai đoạn 1945-1954, đồng chí Võ Văn Kiệt được phân
công đảm nhiệm nhiều chức vụ như Ủy viên chính trị dân
quân cách mạng liên tỉnh Tây Nam Bộ, Bí thư Quận ủy Phước
Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bạc
Liêu... Bằng tài năng và nhiệt huyết cách mạng, sự linh hoạt,
sáng tạo, đồng chí Võ Văn Kiệt đã góp phần không nhỏ vào
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền
Tây Nam Bộ.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập
lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (7/1954), đồng chí
Võ Văn Kiệt được phân công bí mật ở lại miền Nam để tiếp
tục chỉ đạo phong trào cách mạng. Trong 21 năm kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước vô cùng gian khổ và ác liệt (1954-1975),
đồng chí là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của
cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Đồng chí đã đảm nhiệm các chức
vụ như: Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ kiêm Phó Bí thư Liên tỉnh
ủy Cần Thơ, Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, Bí thư Khu ủy
Khu 9, Ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam... Trong
thời kỳ này, tài năng, trí tuệ và bản lĩnh của đồng chí Võ Văn
Kiệt càng được thể hiện trong những thời điểm ngặt nghèo của
cuộc kháng chiến, với những giải pháp, quyết sách phù hợp
6
với thực tế chiến trường, qua đó để lại dấu ấn sâu đậm trong
lòng đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,
đồng chí đảm nhiệm nhiều chức vụ như Phó Bí thư kiêm Chủ
tịch Ủy ban nhân dân rồi Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí
Minh, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch
rồi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ)…
Trong thời kỳ này, bản lĩnh, trí tuệ và sự sáng tạo, nhạy bén
của đồng chí Võ Văn Kiệt càng được thể hiện rõ nét. Trong
bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước lâm vào
tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, đồng chí Võ Văn Kiệt
đã có những giải pháp sáng tạo, linh hoạt “chạy gạo” để bảo
đảm cái ăn cho người dân Thành phố. Đồng chí là “Bí thư
xé rào” đổi mới cơ chế quản lý từ đó Thành phố xuất hiện
nhiều mô hình làm ăn hiệu quả, góp phần hình thành cơ sở
thực tiễn để Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới. Thắng lợi
của sự nghiệp đổi mới đất nước mang đậm dấu ấn của các
nhà lãnh đạo cách mạng ưu tú của Đảng, trong đó nổi bật là
đồng chí Võ Văn Kiệt. Tổ quốc, nhân dân sẽ còn mãi nhớ đến
vị “tổng công trình sư” của nhiều dự án lớn, táo bạo như:
thủy điện Trị An, đường dây tải điện 500kV Bắc - Nam, nhà
máy lọc dầu Dung Quất, đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài,
đường Hồ Chí Minh…
Ngày 11/6/2008, đồng chí Võ Văn Kiệt đột ngột từ trần.
Đồng chí không còn nữa nhưng nhân cách, phẩm chất, bản
lĩnh và trí tuệ của đồng chí sẽ mãi mãi là tấm gương sáng ngời
7
cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau học tập,
noi theo.
Bộ sách Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo được tác giả Hoàng
Lại Giang biên soạn dưới dạng truyện về nhân vật lịch sử, đã
khắc họa tương đối đầy đủ, toàn diện cuộc đời, sự nghiệp,
đặc biệt đã làm nổi bật “trí tuệ” và sự “sáng tạo” trong giải
quyết các nhiệm vụ cách mạng của đồng chí Võ Văn Kiệt, cả
trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược cũng
như trong thời kỳ đất nước hòa bình, thống nhất, xây dựng
chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập. Bộ sách được chia làm
3 tập, tương ứng với những giai đoạn quan trọng trong cuộc
đời, sự nghiệp của đồng chí Võ Văn Kiệt:
- Tập I: Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định
Giơnevơ về Việt Nam: tái hiện chặng đường đầu tiên trong
cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Văn Kiệt từ khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định Giơnevơ về
Việt Nam.
- Tập II: Từ Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đến ngày 30/4/1975:
tái hiện chặng đường hoạt động cách mạng của đồng chí
Võ Văn Kiệt từ ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đến
ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- Tập III: Thực tiễn và sáng tạo: tái hiện chặng đường hoạt
động đầy năng động, sáng tạo của đồng chí Võ Văn Kiệt từ sau
ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến khi đồng
chí thôi nhiệm.
8
Bản thảo bộ sách được hoàn thành vào năm 2005. Sau
khi viết xong, toàn bộ bản thảo đã được nhà văn Hoàng Lại
Giang gửi cho đồng chí Võ Văn Kiệt đọc và góp ý, chỉnh sửa.
Năm 2022, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Võ
Văn Kiệt (23/11/1922 - 23/11/2022), Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật quyết định xuất bản bộ sách này như một sự
tri ân đến vị lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, Nhà nước.
Mặc dù tác giả và Nhà xuất bản đã có nhiều cố gắng,
nhưng trong quá trình biên soạn, xuất bản, bộ sách vẫn không
tránh khỏi một số hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần xuất bản sau
bộ sách được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.
Tháng 11 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
9
Lời tác giả
T
ôi gặp anh Sáu Dân - Võ Văn Kiệt - vào lúc anh rời
“công đường” về làm thường dân.
Trong một chuyến hành hương về miền Tây, tôi phát
hiện ra anh chính là hình tượng nhân vật thời hiện đại
mà tôi tìm kiếm bao lâu nay.
Tôi vốn thích tự do và vì vậy mọi khuôn phép chính
trị luôn làm tôi e ngại, xa lánh. Vậy mà tôi “kết” được với
anh và luôn tìm được ở anh những ý tưởng đồng hành,
những phẩm chất của một lưu dân thời mở cõi - tình
nghĩa, thủy chung và phong cách của một trí thức lớn.
Vốn học vấn sơ khai của anh hết sức ít ỏi. Nhưng
giống như Goócky, anh biết rút ra từ cuộc sống sinh động,
nhiều sắc màu những tinh túy để đối chiếu lại những
sách vở kinh điển.
Càng tiếp cận với anh và qua những trí thức lớn về
nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, ngân hàng đến
11
nông nghiệp và thủy lợi, từ khoa học về điện và tải điện
đến vật lý, địa lý, địa chất... đã từng làm việc, tiếp xúc
với anh, tôi càng thấy rõ ở anh sự thông thái bẩm sinh,
nhưng lại rất khiêm tốn. Anh chịu lắng nghe tất cả, ngay
cả những chuyên ngành khoa học không dễ tiếp nhận
nếu không có một vốn kiến thức chuyên sâu. Anh hiểu
và khái quát lại mọi vấn đề một cách sáng sủa, rõ ràng,
thậm chí còn có thể phản biện một cách chính xác và
khoa học.
Ở một khía cạnh khác, anh là người nhạy cảm, tinh tế,
dễ hòa đồng với mọi tầng lớp với những nghề nghiệp,
thành phần khác nhau và luôn hướng tới cái mới. Anh
dám chịu trách nhiệm với những gì anh làm và không
bao giờ từ bỏ những điều đã quyết từ vi mô đến vĩ mô.
Nhưng anh cũng biết chờ đợi, kiềm chế và luôn lấy thực
tiễn để đo lại lý luận, ngay cả với những lý luận lâu nay
được coi là kinh điển, bất di bất dịch. Tôi hiểu, với anh
Sáu Dân, không có gì là “bất biến”. Và vì vậy, anh luôn là
con người “ứng vạn biến”.
Từ “đầu trần, chân đất” đúng theo nghĩa đen của
cụm từ này, anh đi vào cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bừng
bừng khí thế. Nhưng rồi cuộc khởi nghĩa thất bại, tất cả
bị dìm trong bể máu. Cùng với những người lính xung
trận còn lại, anh đứng dậy, tham gia vào cuộc Cách mạng
Tháng Tám...
12
Và cứ như vậy, anh tiến lên, cho tới ngày chiến thắng
hoàn toàn và bước vào quá trình xây dựng đất nước với
những rào cản của một cơ chế quan liêu, bao cấp...
Với anh, đây là thời kỳ thử thách gay gắt nhất. Đâu
phải ai cũng tin anh. Người ta biết anh qua thử thách
của hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nhưng trong
xây dựng đất nước lại có những đòi hỏi khác. Thật ra,
quản lý một thành phố theo mô hình chủ nghĩa xã hội
truyền thống không hẳn là khó. Cái khó là phá bỏ những
công thức, những rào cản cứng nhắc của cơ chế quan
liêu, bao cấp đã làm xã hội Việt Nam đình trệ, con người
mất dần đi tính chủ động, sáng tạo vốn đã được phát
huy có hiệu quả trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Một lần nữa, lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội
kiểu cũ lại được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ IV
năm 1976. Không phải không có người nhận thấy được
những bất cập của đường lối đề ra tại Đại hội Đảng lần
này, nhưng chưa ai đủ trình độ và bản lĩnh để vạch ra
những khiếm khuyết của nó.
Con đường hẹp, gập ghềnh những chông gai, nhưng
chưa ai tìm được con đường khác hợp lý hơn. Những
năm đó, thực trạng khó khăn, vướng mắc ở Thành phố
Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu bức xúc đối với người lãnh
đạo vốn coi trọng thực tiễn - anh Sáu Dân - Võ Văn Kiệt.
13
Thực tiễn đã cho anh thấy sự hạn chế của đường lối.
Nhưng vào thời điểm đó, chỉ dựa vào lý luận thì chưa đủ
để thuyết phục được nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam đang
hướng về những mô hình, những cơ chế mà khối xã hội
chủ nghĩa đang lựa chọn. Nhưng anh đã mạnh dạn chọn
cách “xé rào”, “vượt rào”, “nhân” điển hình của một nền
kinh tế làm ăn có hiệu quả. Sự tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc của Thành phố Hồ Chí Minh dần dần đã tạo thành
những mô hình điểm để những nhà lãnh đạo hàng đầu
Việt Nam đối chiếu với lý luận từ đó thấy được những
điểm hạn chế...
Con đường anh đi khá gian truân. Tất nhiên, sự nhất
trí trong Thành ủy là một thuận lợi quyết định mọi sự
thành bại.
Nếu xem đồng chí Trường Chinh là “nhà thiết kế”
của thời kỳ đổi mới thì anh Sáu Dân chính là “nhà thi
công”. Sau những “vượt rào” ở Thành phố Hồ Chí Minh,
năm 1982, anh ra Hà Nội tiếp tục con đường cải cách của
mình ở tầm vĩ mô. Đầu tiên là cuộc cải cách ở Ủy ban Kế
hoạch Nhà nước - nơi anh làm Chủ nhiệm, rồi tới sau Đại
hội Đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới đột phá vào lĩnh
vực ngân hàng, tài chính...
Những đóng góp của anh cho công cuộc đổi mới là vô
cùng quan trọng. Anh là người đã góp phần thiết kế và là
14
người thi công tiên phong của công trình đổi mới. Những
năm ấy, có lúc anh phải đem cả sinh mạng chính trị của
mình ra để đánh đổi cho những việc làm đầy mạo hiểm
nhằm tháo gỡ khó khăn cho Thành phố và cho đất nước.
Đấy đúng là một sự xả thân đáng được tôn vinh.
Tôi bỗng nhớ những lời vị lãnh tụ của phong trào xã
hội dân chủ ở Nga và quốc tế Plekhanov từng nói: Cá
nhân có thể ảnh hưởng đến vận mệnh một xã hội bởi
những nét độc đáo nào đó trong tính cách của họ, sự ảnh
hưởng ấy có khi rất to lớn, thế nhưng tính khả năng và
phạm vi của nó lại được quyết định bởi tương quan giữa
cơ cấu xã hội và lực lượng xã hội đương thời. Tính cách
cá nhân chỉ có thể trong một thời điểm, một địa điểm,
một mức độ cụ thể mới có thể trở thành nhân tố thúc đẩy
xã hội phát triển...
Tôi vốn là người luôn tôn trọng sự thật lịch sử, dù sự
thật đó có thế nào đi chăng nữa, và vì vậy, tôi nhìn anh
Sáu Dân theo con mắt của riêng tôi và luôn giữ tâm thế
khách quan. Tôi hiểu mỗi chi tiết, mỗi lời nói của nhân
vật lịch sử hay tác giả sẽ được độc giả xem xét ở nhiều
khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau. Mặt khác, tôi cũng
luôn ý thức rằng đây không phải là hồi ký của anh Sáu
Dân, mà là một sáng tác văn học, trong đó anh Sáu Dân là
nhân vật trung tâm.
15
Viết về anh Sáu Dân - Võ Văn Kiệt là một trách nhiệm
vô cùng nặng nề, nhưng tôi sẽ cố gắng hết mình với tư
cách của người cầm bút. Tôi không bao giờ dám nghĩ
rằng công trình này không còn thiếu sót. Vì vậy, tôi rất
mong độc giả thông cảm và góp ý chân tình để lần xuất
bản sau được hoàn thiện hơn.
Thành phố Hồ Chí Minh
20/5/2018
HOÀNG LẠI GIANG
16
T
ôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo phải thuê
mướn ruộng để làm và làm mướn để sinh sống qua
ngày. Số đông gia đình ở quê tôi đều có hoàn cảnh tương tự.
Cha mẹ và tất cả anh chị tôi đều là những lao động nghề nông.
Tôi là con út trong gia đình có tám người con (hai gái, sáu
trai). Gọi theo thứ tự ở Nam Bộ, tôi là thứ chín. Ba má tôi khai
sinh tôi tên là Hòa - Phan Văn Hòa. Tuy gia cảnh nghèo nhưng
anh chị tôi rất thương tôi, nhất là người chị thứ sáu và hai anh
kế tôi - anh Bảy, anh Tám. Như lời má tôi kể lại: nghèo mà
đầm ấm ngay trong những tháng năm khó khăn, nhất là khi bà
phải mang nặng đẻ đau tôi. Khi tôi lớn lên, được ba má và anh
chị kể lại, một sự bất hạnh ập đến với tôi và cả gia đình, nhưng
lại bắt nguồn từ người ngoài gia đình. Có một người bà con xa
với má tôi đã sinh một đứa con trai trong mối tình vụng trộm,
sau khi phá thai không thành. Để khỏi gây điều tiếng cho gia
đình, họ cử người đến gặp ba má tôi nhờ nuôi giùm hoặc cho
làm con nuôi. Ba má tôi rất khó xử. Họ thiết tha nài nỉ, cuối
cùng ba má tôi đã cảm thương với hoàn cảnh của họ. Người
bà con xa này thấy gia đình tôi đã nghèo, đông con mà phải
giúp nuôi thêm một đứa trẻ nữa nên cũng ái ngại và giúp ba má
tôi một số tiền gọi là phụ giúp nuôi cháu bé. Má tôi phải nuôi
một lúc hai đứa bé. Ba má tôi kêu nó là Đương - Mười Đương
hay Phan Văn Đương. Tôi được làm anh vì sinh trước. Trong
lúc mẹ tôi phải chia phần sữa cho hai đứa nên thường không
đủ, thì người chị dâu thứ hai sinh con. Thế là ba chúng tôi bú
chung hai nguồn sữa, tất nhiên, chị dâu tôi chỉ phụ thêm.
17
Gia đình, nhất là má tôi ráng quá khả năng. Trong lúc khó
khăn này, có một người chú họ không vợ không con, đang
nuôi đứa con nuôi (con gái của người em trai ruột), đã nói
với ba má tôi ông muốn chia sẻ gánh nặng cho gia đình tôi và
cũng muốn nuôi một đứa con trai để ở với ông sau này khi tuổi
già không con cái. Ba má tôi cũng cảm thương cho cảnh nhà
của người chú họ. Người chú cứ đến thúc giục. Cuối cùng, ba
má tôi đồng ý giao tôi (lúc chưa dứt sữa) cho người chú ẵm
về chăm sóc. Nhà chú họ ở cùng xóm, nhưng vì thương con,
không nỡ chia lìa nên má tôi cứ nhìn tôi khóc mãi.
Cảnh “gà trống nuôi con”, gia đình chú lại cũng nghèo
(sau này tôi biết còn nghèo hơn gia đình tôi vì chú độc thân,
chuyên làm mướn và thỉnh thoảng mướn được 5-10 công
ruộng để làm, nhưng lại phải nuôi 4 miệng ăn: mẹ chú, đứa
con gái nuôi, tôi và bản thân chú). Nuôi tôi hồi chưa dứt
sữa mẹ, ông phải ẵm tôi đi nhờ nhiều bà mẹ trong xóm cho
bú, kể cả má và chị dâu tôi. Tôi được lớn lên nhờ bầu sữa
của nhiều bà mẹ trong xóm... Khi lớn lên được 5-7 tuổi, mấy
bà mẹ thường hay nhắc đến hồi tôi còn bú nhờ, tự nhiên tôi
ngầm biết ơn họ, kể cả chị dâu thứ hai của tôi. Càng lớn
lên, tôi càng thấy chịu hàm ơn ngày càng nhiều của các bà
mẹ trong xóm. Trong bất hạnh lại được đầm ấm hơn, tôi có
được hai gia đình, bên chú nuôi và gia đình cha mẹ, được
anh chị tôi và cả xóm giềng thương yêu.
Võ Văn Kiệt
18
Thư đồng chí Võ Văn Kiệt
gửi tác giả Hoàng Lại Giang
19
Trang bản thảo có sự góp ý, chỉnh sửa của đồng chí Võ Văn Kiệt
(Toàn bản thảo Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo khi tác giả viết xong
đều gửi đồng chí Võ Văn Kiệt đọc góp ý, có khi đồng chí góp ý
bằng trao đổi miệng, cũng có khi sửa chữa ngay trên bản thảo)
21
Chương 1
T
uổi thơ vui chơi, suốt ngày đá banh, suốt đêm đấu
võ, coi hát... qua đi lúc nào Hòa cũng không biết,
không hay. Chín Hòa chỉ nhớ, một lần ông Hai Chi bị
bệnh, không đi làm được, cậu phải ở nhà lo nấu cháo,
hái lá xông... Sực nhìn chú Hai Chi gầy guộc, hom hem,
tự lòng mình cậu thấy xốn xang...
Võ Văn Kiệt bồi hồi nhớ về tuổi thơ của mình. Ông
nói: “Năm ấy, ở tuổi lên 5 lên 6, tôi đã có ý thức làm cách
nào để giúp chú Hai Chi của mình. Tôi đang loay hoay
chưa biết làm gì thì mùa gặt lại tới. Ở quê tôi mùa lúa
chín, các “con gặt” rủ nhau kéo về Ba Xuyên, Bạc Liêu,
Rạch Giá1 để cắt lúa mướn. Mỗi gia đình là một chiếc
ghe. Theo những dòng sông, họ đi về những cánh đồng
lúa đang chín rộ... Tôi xin chú Hai Chi cho tôi theo. Ông
vừa bập điếu thuốc trên môi, vừa hỏi:
1. Vùng Hậu Giang.
23
- Mày đi làm gì?
- Con đi mót lúa. Con đi coi ghe.
- Mày mà mót gì!
- Con mót được mà, chớ ở nhà con cũng không làm gì.
Không ngờ ông gật đầu nói:
- Mót được thì đi.
Đó là chuyến xa nhà đầu tiên trong cuộc đời tôi”.
Võ Văn Kiệt chia sẻ: “Ở đâu cũng một thảm lúa vàng,
thật đẹp. Những địa danh như Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc
Trăng, Cà Mau... trở nên quen thuộc với tôi từ đó. Và
lần ấy tôi thấy đất trời nước mình như rộng mênh mông,
trời như cao hơn, xanh hơn, đẹp hơn, nhìn ngắm không
chán thiên nhiên.
Lại nhớ những câu ca dao dân làng hay đọc:
Làng ta phong cảnh hữu tình
Dân cư giang khúc như hình con long
Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi...
Tôi mót, mỗi bữa cũng được lưng thúng thóc gié. Cả
nhà mừng cho tôi.
Nhưng có một lần, tại thị trấn Phước Long, tôi không
đi mót lúa đổ mà ở nhà giữ ghe. Hôm đó có việc, từ ghe
24
tôi nhảy lên bờ, không may tôi bị trật giò, rớt xuống
sông, nước sông chảy xiết, có thể cuốn trôi cả những
người bơi giỏi. Nhưng may cho tôi, hôm đó anh Bảy tôi
bị bệnh ở nhà. Anh kịp túm đầu tôi kéo lên. Má tôi nghe
được chuyện tôi chết hụt, xanh mặt xanh mày, qua chùa
đốt nhang. Ai cũng cho cái số tôi cao vì luôn được trời
Phật phù hộ, độ trì. Câu nói tưởng duy tâm, nhưng không
hiểu sao tôi vẫn tin. Trong cuộc đời nhờ gặp may mà
thoát nạn, thoát chết”.
Năm Chín Hòa lên 10, mẹ kéo Hòa lại, vò đầu con
trai, nói:
- Con lớn rồi.
Hòa thành thật:
- Con thấy chú Hai khổ quá. Con cũng muốn đi làm
nhưng sợ người ta chê nhỏ không thèm nhận.
- Con nghĩ được vậy là má mừng. Ăn trái phải nhớ
người trồng cây là cái đạo nghĩa của con người. Má chỉ
sinh con, nhưng không được dưỡng. Công dưỡng dục
con cho tới ngày nay, lớn vầy là nhờ chú Hai Chi. Nhưng
gần đây, má coi bộ chú hom hem lắm, tội nghiệp quá.
Má cũng không biết giúp chú sao đây. Nhà ba má cũng
nghèo, cũng làm thuê, làm mướn mà kiếm miếng cơm
ăn, tấm áo mặc, có chút dư dả nào đâu...
25
Thực lòng Chín Hòa rất thương chú Hai Chi. Chú sống
tình nghĩa, lận đận long đong, lo làm kiếm cơm kiếm
cháo cho mẹ và hai đứa con nuôi. Thỉnh thoảng ông uống
vài chén rượu, lầm rầm nói gì đó rồi ngủ luôn. Chưa bao
giờ Hòa thấy ông mắng mỏ hay la rầy ai. Mười hôm sau
Hòa lại trở về với mẹ. Như mọi lần, mẹ lại kéo con trai
vào lòng, tay xoa đầu, tay nắn bóp hai bắp tay săn cứng
của con. Bà ân cần hỏi:
- Có gì không con?
- Má ơi, con đi coi trâu mướn được không?
- Coi trâu? Ai người ta mướn con?
- Anh Năm Phát đó má. Ảnh chịu mướn. Coi trâu trả
lúa. Chú Hai Chi lúc đầu sợ con không làm được, nhưng
giờ thì chú chịu rồi. Nhưng chú chỉ cho con coi trâu một
năm thôi.
- Liệu con có làm được không?
- Sao không được má?
Lần đầu tiên được làm chủ đàn trâu, Chín Hòa rất
sung sướng. Thì ra chăn trâu đâu phải là khổ, “chăn
trâu sướng lắm chứ!”. Nhớ về thời ấy, Võ Văn Kiệt nói:
“Trong hai năm1, tôi rất thích thú, mỗi ngày được đuổi
1. Một năm coi trâu cho Năm Phát, một năm về coi trâu cho ba má.
26
trâu ra đồng, coi như bọn chăn trâu chúng tôi làm chủ
cánh đồng, có nhiều trò vui như đánh trận, làm vua, hề
như trong các tuồng hát bội ở đình làng, chơi u, vật lộn,
tắm nhảy từ trên cao xuống sông. Rồi bắt cua, bắt cá, mò
ốc, móc lươn nướng ăn ngoài đồng. Bấy giờ thì tôi cảm
nhận được cái hãnh diện, cái sung sướng của anh chăn
trâu là chúa mục đồng. Một cánh đồng mông mênh, một
bầu trời bao la và những bầy trâu ngoan ngoãn. Không
biết ông Đinh Bộ Lĩnh có cảm giác này khi coi trâu không,
chớ tôi thì thấy rõ. Khi trời mưa, chúng tôi tổ chức đua
trâu. Trong những cuộc đua như vậy, tôi thường là người
về nhứt. Nói chung, ở trò chơi nào tôi cũng trội hơn đám
bạn bè cùng lứa. Điều đó khiến bạn bè rất nể tôi. Trong
“xã hội” với trâu, tôi thấy có gì đó phóng khoáng, không
ai suy tính thiệt hơn, chia sẻ cho nhau từng miếng ăn
kiếm được.
Nhưng tới tuổi 13-14, tôi không còn ham coi trâu mà
muốn làm cái gì đó như người lớn đang làm”.
Hai năm coi trâu qua đi, Chín Hòa bắt đầu đi cắt
mướn, rồi tập cày, bừa, phát bờ... Các việc đồng áng
Hòa dần thông thạo. Mọi việc trong nhà Hòa làm đều
giỏi. Không một chủ nhà nào phiền hà, chê trách. Đấy
cũng chính là thời kỳ Chín Hòa chín chắn và trưởng
thành. Hằng năm, ông Hai Chi vẫn nhận được lúa làm mướn
27
của cậu con nuôi. Mừng nhất là mẹ Hòa. Mỗi lần gặp
con trai, bà lại thấy con mình khác trước, lớn vổng lên,
da tuy có đen hơn nhưng là nước da của người mạnh
khỏe, cứng cáp, dáng cao to gần bằng ba nó. Làm thuê,
ở mướn vậy mà gặp nó lúc nào bà cũng thấy nó tươi
cười. Những lúc ấy bà lại rơm rớm nước mắt. Thương
nó quá. Đối với bà, dường như mọi nỗi đau đớn, cực
khổ của cái nhà này, Chín Hòa đã “gánh” hết. Đáng
lẽ nó phải mặc cảm về thân phận, oán hận ba má đã
không làm tròn bổn phận, thì ngược lại, thấy nó là bà
thấy khuôn mặt rạng rỡ cùng với nụ cười hiền lành,
dễ thương quá. Ai đang giận, gặp nó cười cũng nguôi
ngoai liền. Thì ra số nó được trời thương, được Phật
độ trì. Còn ông Năm Dựa thì nói: “Đất ta đang ở linh
lắm đó”.
Khi Hòa về ở chăn trâu cho ba má, ông Năm cũng
mang lúa trả cho ông Hai Chi đầy đủ. Bà mẹ rất mừng
vì tính sòng phẳng của “ba sắp nhỏ”. Ấy vậy mà có kẻ ác
mồm ác miệng nói rằng: Hai Chi cứ nuôi Chín Hòa, chờ
cho nó “mọc đủ lông đủ cánh”, rồi biết..., “Lá nào rụng
lại không về cội, sông nào lại không chảy ra biển!”. Nghe
những lời ấy, mặc dù còn ở tuổi trẻ con, nhưng không
hiểu sao, Hòa lại thật sự khó chịu. Đạo nghĩa nào cho
phép cậu bỏ người cha nuôi của mình. “Đúng là những kẻ
28
ăn không ngồi rồi, ác mồm ác miệng!”. Lần đầu tiên Hòa
tức giận. Cậu thổ lộ với ông Hai Chi. Ông Hai vốn trầm
tính. Nghĩ một hồi, ông mới nói:
- Miệng lưỡi người đời là đáng sợ. Người đời thường
“ham đó bỏ đăng”, mấy ai qua sông lại nhớ con đò, có
biết bao nhiêu người khi trưởng thành chỉ nhớ công sinh
thành mà quên công dưỡng dục. Người đời thường vậy,
nhân gian nói vậy. Còn mình không vậy thì thôi, việc gì
mà nổi giận, con!
Hòa im lặng rồi cơn giận c
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
ThS. NGUYỄN HOÀI ANH
Biên tập nội dung: TS. NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
ThS. NGUYỄN VĂN TUÂN
TRẦN QUYẾT THẮNG
TRẦN VĂN TIẾN
PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT
HOANG L.M GIANG
A
VOVANKIET
-
\.I
TRI TUEVASANG TAO
_____ __________
...,.
TUCU()CKHOINGHiANAMKY
DEN NGAYKYHI:8P DJNH GIONEVO VE VI:8T NAM
NHA XUAT BAN CHfNH TR! QUOC GIA Sl,fTH�T
Lời Nhà xuất bản
Đ
ồng chí Võ Văn Kiệt tên khai sinh là Phan Văn Hòa,
sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã
Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Tuổi thơ
nhọc nhằn, đồng chí phải đi ở đợ, làm thuê kiếm sống và
phụ giúp gia đình. Chính từ cuộc sống khó khăn, vất vả đó
đã hun đúc nên bản lĩnh, ý chí cách mạng của đồng chí Võ
Văn Kiệt. Sớm giác ngộ, hăng hái thực hiện các nhiệm vụ
cách mạng được giao, năm 1939, đồng chí vinh dự được
đứng vào hàng ngũ của Đảng khi mới 17 tuổi. Từ đó, đồng
chí Võ Văn Kiệt lấy mục tiêu phục vụ cách mạng, phục vụ
nhân dân làm lẽ sống. Dù không được học hành ở trường
lớp một cách bài bản nhưng đồng chí đã học được rất nhiều
từ trường đời, học từ nhân dân, xuất phát từ thực tiễn để
khái quát thành lý luận, qua đó làm giàu tri thức cho mình,
trở thành nhà lãnh đạo “trí tuệ và sáng tạo”.
Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, đồng chí chỉ
huy một mũi đánh vào đồn Nước Xoáy. Khởi nghĩa Nam
Kỳ thất bại, để tránh sự truy bắt của địch, đồng chí xuống
5
hoạt động ở vùng U Minh. Trong giai đoạn 1941-1945, với
cương vị Ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Rạch Giá, phụ trách
khu vực căn cứ U Minh, đồng chí đã chỉ đạo xây dựng lực
lượng quân sự, xây dựng căn cứ địa U Minh trở thành đầu
não chỉ huy kháng chiến của các tỉnh miền Tây Nam Bộ, góp
phần vào thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trong giai đoạn 1945-1954, đồng chí Võ Văn Kiệt được phân
công đảm nhiệm nhiều chức vụ như Ủy viên chính trị dân
quân cách mạng liên tỉnh Tây Nam Bộ, Bí thư Quận ủy Phước
Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bạc
Liêu... Bằng tài năng và nhiệt huyết cách mạng, sự linh hoạt,
sáng tạo, đồng chí Võ Văn Kiệt đã góp phần không nhỏ vào
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền
Tây Nam Bộ.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập
lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (7/1954), đồng chí
Võ Văn Kiệt được phân công bí mật ở lại miền Nam để tiếp
tục chỉ đạo phong trào cách mạng. Trong 21 năm kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước vô cùng gian khổ và ác liệt (1954-1975),
đồng chí là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của
cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Đồng chí đã đảm nhiệm các chức
vụ như: Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ kiêm Phó Bí thư Liên tỉnh
ủy Cần Thơ, Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, Bí thư Khu ủy
Khu 9, Ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam... Trong
thời kỳ này, tài năng, trí tuệ và bản lĩnh của đồng chí Võ Văn
Kiệt càng được thể hiện trong những thời điểm ngặt nghèo của
cuộc kháng chiến, với những giải pháp, quyết sách phù hợp
6
với thực tế chiến trường, qua đó để lại dấu ấn sâu đậm trong
lòng đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,
đồng chí đảm nhiệm nhiều chức vụ như Phó Bí thư kiêm Chủ
tịch Ủy ban nhân dân rồi Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí
Minh, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch
rồi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ)…
Trong thời kỳ này, bản lĩnh, trí tuệ và sự sáng tạo, nhạy bén
của đồng chí Võ Văn Kiệt càng được thể hiện rõ nét. Trong
bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước lâm vào
tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, đồng chí Võ Văn Kiệt
đã có những giải pháp sáng tạo, linh hoạt “chạy gạo” để bảo
đảm cái ăn cho người dân Thành phố. Đồng chí là “Bí thư
xé rào” đổi mới cơ chế quản lý từ đó Thành phố xuất hiện
nhiều mô hình làm ăn hiệu quả, góp phần hình thành cơ sở
thực tiễn để Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới. Thắng lợi
của sự nghiệp đổi mới đất nước mang đậm dấu ấn của các
nhà lãnh đạo cách mạng ưu tú của Đảng, trong đó nổi bật là
đồng chí Võ Văn Kiệt. Tổ quốc, nhân dân sẽ còn mãi nhớ đến
vị “tổng công trình sư” của nhiều dự án lớn, táo bạo như:
thủy điện Trị An, đường dây tải điện 500kV Bắc - Nam, nhà
máy lọc dầu Dung Quất, đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài,
đường Hồ Chí Minh…
Ngày 11/6/2008, đồng chí Võ Văn Kiệt đột ngột từ trần.
Đồng chí không còn nữa nhưng nhân cách, phẩm chất, bản
lĩnh và trí tuệ của đồng chí sẽ mãi mãi là tấm gương sáng ngời
7
cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau học tập,
noi theo.
Bộ sách Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo được tác giả Hoàng
Lại Giang biên soạn dưới dạng truyện về nhân vật lịch sử, đã
khắc họa tương đối đầy đủ, toàn diện cuộc đời, sự nghiệp,
đặc biệt đã làm nổi bật “trí tuệ” và sự “sáng tạo” trong giải
quyết các nhiệm vụ cách mạng của đồng chí Võ Văn Kiệt, cả
trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược cũng
như trong thời kỳ đất nước hòa bình, thống nhất, xây dựng
chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập. Bộ sách được chia làm
3 tập, tương ứng với những giai đoạn quan trọng trong cuộc
đời, sự nghiệp của đồng chí Võ Văn Kiệt:
- Tập I: Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định
Giơnevơ về Việt Nam: tái hiện chặng đường đầu tiên trong
cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Văn Kiệt từ khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định Giơnevơ về
Việt Nam.
- Tập II: Từ Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đến ngày 30/4/1975:
tái hiện chặng đường hoạt động cách mạng của đồng chí
Võ Văn Kiệt từ ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đến
ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- Tập III: Thực tiễn và sáng tạo: tái hiện chặng đường hoạt
động đầy năng động, sáng tạo của đồng chí Võ Văn Kiệt từ sau
ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến khi đồng
chí thôi nhiệm.
8
Bản thảo bộ sách được hoàn thành vào năm 2005. Sau
khi viết xong, toàn bộ bản thảo đã được nhà văn Hoàng Lại
Giang gửi cho đồng chí Võ Văn Kiệt đọc và góp ý, chỉnh sửa.
Năm 2022, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Võ
Văn Kiệt (23/11/1922 - 23/11/2022), Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật quyết định xuất bản bộ sách này như một sự
tri ân đến vị lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, Nhà nước.
Mặc dù tác giả và Nhà xuất bản đã có nhiều cố gắng,
nhưng trong quá trình biên soạn, xuất bản, bộ sách vẫn không
tránh khỏi một số hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần xuất bản sau
bộ sách được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.
Tháng 11 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
9
Lời tác giả
T
ôi gặp anh Sáu Dân - Võ Văn Kiệt - vào lúc anh rời
“công đường” về làm thường dân.
Trong một chuyến hành hương về miền Tây, tôi phát
hiện ra anh chính là hình tượng nhân vật thời hiện đại
mà tôi tìm kiếm bao lâu nay.
Tôi vốn thích tự do và vì vậy mọi khuôn phép chính
trị luôn làm tôi e ngại, xa lánh. Vậy mà tôi “kết” được với
anh và luôn tìm được ở anh những ý tưởng đồng hành,
những phẩm chất của một lưu dân thời mở cõi - tình
nghĩa, thủy chung và phong cách của một trí thức lớn.
Vốn học vấn sơ khai của anh hết sức ít ỏi. Nhưng
giống như Goócky, anh biết rút ra từ cuộc sống sinh động,
nhiều sắc màu những tinh túy để đối chiếu lại những
sách vở kinh điển.
Càng tiếp cận với anh và qua những trí thức lớn về
nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, ngân hàng đến
11
nông nghiệp và thủy lợi, từ khoa học về điện và tải điện
đến vật lý, địa lý, địa chất... đã từng làm việc, tiếp xúc
với anh, tôi càng thấy rõ ở anh sự thông thái bẩm sinh,
nhưng lại rất khiêm tốn. Anh chịu lắng nghe tất cả, ngay
cả những chuyên ngành khoa học không dễ tiếp nhận
nếu không có một vốn kiến thức chuyên sâu. Anh hiểu
và khái quát lại mọi vấn đề một cách sáng sủa, rõ ràng,
thậm chí còn có thể phản biện một cách chính xác và
khoa học.
Ở một khía cạnh khác, anh là người nhạy cảm, tinh tế,
dễ hòa đồng với mọi tầng lớp với những nghề nghiệp,
thành phần khác nhau và luôn hướng tới cái mới. Anh
dám chịu trách nhiệm với những gì anh làm và không
bao giờ từ bỏ những điều đã quyết từ vi mô đến vĩ mô.
Nhưng anh cũng biết chờ đợi, kiềm chế và luôn lấy thực
tiễn để đo lại lý luận, ngay cả với những lý luận lâu nay
được coi là kinh điển, bất di bất dịch. Tôi hiểu, với anh
Sáu Dân, không có gì là “bất biến”. Và vì vậy, anh luôn là
con người “ứng vạn biến”.
Từ “đầu trần, chân đất” đúng theo nghĩa đen của
cụm từ này, anh đi vào cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bừng
bừng khí thế. Nhưng rồi cuộc khởi nghĩa thất bại, tất cả
bị dìm trong bể máu. Cùng với những người lính xung
trận còn lại, anh đứng dậy, tham gia vào cuộc Cách mạng
Tháng Tám...
12
Và cứ như vậy, anh tiến lên, cho tới ngày chiến thắng
hoàn toàn và bước vào quá trình xây dựng đất nước với
những rào cản của một cơ chế quan liêu, bao cấp...
Với anh, đây là thời kỳ thử thách gay gắt nhất. Đâu
phải ai cũng tin anh. Người ta biết anh qua thử thách
của hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nhưng trong
xây dựng đất nước lại có những đòi hỏi khác. Thật ra,
quản lý một thành phố theo mô hình chủ nghĩa xã hội
truyền thống không hẳn là khó. Cái khó là phá bỏ những
công thức, những rào cản cứng nhắc của cơ chế quan
liêu, bao cấp đã làm xã hội Việt Nam đình trệ, con người
mất dần đi tính chủ động, sáng tạo vốn đã được phát
huy có hiệu quả trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Một lần nữa, lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội
kiểu cũ lại được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ IV
năm 1976. Không phải không có người nhận thấy được
những bất cập của đường lối đề ra tại Đại hội Đảng lần
này, nhưng chưa ai đủ trình độ và bản lĩnh để vạch ra
những khiếm khuyết của nó.
Con đường hẹp, gập ghềnh những chông gai, nhưng
chưa ai tìm được con đường khác hợp lý hơn. Những
năm đó, thực trạng khó khăn, vướng mắc ở Thành phố
Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu bức xúc đối với người lãnh
đạo vốn coi trọng thực tiễn - anh Sáu Dân - Võ Văn Kiệt.
13
Thực tiễn đã cho anh thấy sự hạn chế của đường lối.
Nhưng vào thời điểm đó, chỉ dựa vào lý luận thì chưa đủ
để thuyết phục được nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam đang
hướng về những mô hình, những cơ chế mà khối xã hội
chủ nghĩa đang lựa chọn. Nhưng anh đã mạnh dạn chọn
cách “xé rào”, “vượt rào”, “nhân” điển hình của một nền
kinh tế làm ăn có hiệu quả. Sự tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc của Thành phố Hồ Chí Minh dần dần đã tạo thành
những mô hình điểm để những nhà lãnh đạo hàng đầu
Việt Nam đối chiếu với lý luận từ đó thấy được những
điểm hạn chế...
Con đường anh đi khá gian truân. Tất nhiên, sự nhất
trí trong Thành ủy là một thuận lợi quyết định mọi sự
thành bại.
Nếu xem đồng chí Trường Chinh là “nhà thiết kế”
của thời kỳ đổi mới thì anh Sáu Dân chính là “nhà thi
công”. Sau những “vượt rào” ở Thành phố Hồ Chí Minh,
năm 1982, anh ra Hà Nội tiếp tục con đường cải cách của
mình ở tầm vĩ mô. Đầu tiên là cuộc cải cách ở Ủy ban Kế
hoạch Nhà nước - nơi anh làm Chủ nhiệm, rồi tới sau Đại
hội Đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới đột phá vào lĩnh
vực ngân hàng, tài chính...
Những đóng góp của anh cho công cuộc đổi mới là vô
cùng quan trọng. Anh là người đã góp phần thiết kế và là
14
người thi công tiên phong của công trình đổi mới. Những
năm ấy, có lúc anh phải đem cả sinh mạng chính trị của
mình ra để đánh đổi cho những việc làm đầy mạo hiểm
nhằm tháo gỡ khó khăn cho Thành phố và cho đất nước.
Đấy đúng là một sự xả thân đáng được tôn vinh.
Tôi bỗng nhớ những lời vị lãnh tụ của phong trào xã
hội dân chủ ở Nga và quốc tế Plekhanov từng nói: Cá
nhân có thể ảnh hưởng đến vận mệnh một xã hội bởi
những nét độc đáo nào đó trong tính cách của họ, sự ảnh
hưởng ấy có khi rất to lớn, thế nhưng tính khả năng và
phạm vi của nó lại được quyết định bởi tương quan giữa
cơ cấu xã hội và lực lượng xã hội đương thời. Tính cách
cá nhân chỉ có thể trong một thời điểm, một địa điểm,
một mức độ cụ thể mới có thể trở thành nhân tố thúc đẩy
xã hội phát triển...
Tôi vốn là người luôn tôn trọng sự thật lịch sử, dù sự
thật đó có thế nào đi chăng nữa, và vì vậy, tôi nhìn anh
Sáu Dân theo con mắt của riêng tôi và luôn giữ tâm thế
khách quan. Tôi hiểu mỗi chi tiết, mỗi lời nói của nhân
vật lịch sử hay tác giả sẽ được độc giả xem xét ở nhiều
khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau. Mặt khác, tôi cũng
luôn ý thức rằng đây không phải là hồi ký của anh Sáu
Dân, mà là một sáng tác văn học, trong đó anh Sáu Dân là
nhân vật trung tâm.
15
Viết về anh Sáu Dân - Võ Văn Kiệt là một trách nhiệm
vô cùng nặng nề, nhưng tôi sẽ cố gắng hết mình với tư
cách của người cầm bút. Tôi không bao giờ dám nghĩ
rằng công trình này không còn thiếu sót. Vì vậy, tôi rất
mong độc giả thông cảm và góp ý chân tình để lần xuất
bản sau được hoàn thiện hơn.
Thành phố Hồ Chí Minh
20/5/2018
HOÀNG LẠI GIANG
16
T
ôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo phải thuê
mướn ruộng để làm và làm mướn để sinh sống qua
ngày. Số đông gia đình ở quê tôi đều có hoàn cảnh tương tự.
Cha mẹ và tất cả anh chị tôi đều là những lao động nghề nông.
Tôi là con út trong gia đình có tám người con (hai gái, sáu
trai). Gọi theo thứ tự ở Nam Bộ, tôi là thứ chín. Ba má tôi khai
sinh tôi tên là Hòa - Phan Văn Hòa. Tuy gia cảnh nghèo nhưng
anh chị tôi rất thương tôi, nhất là người chị thứ sáu và hai anh
kế tôi - anh Bảy, anh Tám. Như lời má tôi kể lại: nghèo mà
đầm ấm ngay trong những tháng năm khó khăn, nhất là khi bà
phải mang nặng đẻ đau tôi. Khi tôi lớn lên, được ba má và anh
chị kể lại, một sự bất hạnh ập đến với tôi và cả gia đình, nhưng
lại bắt nguồn từ người ngoài gia đình. Có một người bà con xa
với má tôi đã sinh một đứa con trai trong mối tình vụng trộm,
sau khi phá thai không thành. Để khỏi gây điều tiếng cho gia
đình, họ cử người đến gặp ba má tôi nhờ nuôi giùm hoặc cho
làm con nuôi. Ba má tôi rất khó xử. Họ thiết tha nài nỉ, cuối
cùng ba má tôi đã cảm thương với hoàn cảnh của họ. Người
bà con xa này thấy gia đình tôi đã nghèo, đông con mà phải
giúp nuôi thêm một đứa trẻ nữa nên cũng ái ngại và giúp ba má
tôi một số tiền gọi là phụ giúp nuôi cháu bé. Má tôi phải nuôi
một lúc hai đứa bé. Ba má tôi kêu nó là Đương - Mười Đương
hay Phan Văn Đương. Tôi được làm anh vì sinh trước. Trong
lúc mẹ tôi phải chia phần sữa cho hai đứa nên thường không
đủ, thì người chị dâu thứ hai sinh con. Thế là ba chúng tôi bú
chung hai nguồn sữa, tất nhiên, chị dâu tôi chỉ phụ thêm.
17
Gia đình, nhất là má tôi ráng quá khả năng. Trong lúc khó
khăn này, có một người chú họ không vợ không con, đang
nuôi đứa con nuôi (con gái của người em trai ruột), đã nói
với ba má tôi ông muốn chia sẻ gánh nặng cho gia đình tôi và
cũng muốn nuôi một đứa con trai để ở với ông sau này khi tuổi
già không con cái. Ba má tôi cũng cảm thương cho cảnh nhà
của người chú họ. Người chú cứ đến thúc giục. Cuối cùng, ba
má tôi đồng ý giao tôi (lúc chưa dứt sữa) cho người chú ẵm
về chăm sóc. Nhà chú họ ở cùng xóm, nhưng vì thương con,
không nỡ chia lìa nên má tôi cứ nhìn tôi khóc mãi.
Cảnh “gà trống nuôi con”, gia đình chú lại cũng nghèo
(sau này tôi biết còn nghèo hơn gia đình tôi vì chú độc thân,
chuyên làm mướn và thỉnh thoảng mướn được 5-10 công
ruộng để làm, nhưng lại phải nuôi 4 miệng ăn: mẹ chú, đứa
con gái nuôi, tôi và bản thân chú). Nuôi tôi hồi chưa dứt
sữa mẹ, ông phải ẵm tôi đi nhờ nhiều bà mẹ trong xóm cho
bú, kể cả má và chị dâu tôi. Tôi được lớn lên nhờ bầu sữa
của nhiều bà mẹ trong xóm... Khi lớn lên được 5-7 tuổi, mấy
bà mẹ thường hay nhắc đến hồi tôi còn bú nhờ, tự nhiên tôi
ngầm biết ơn họ, kể cả chị dâu thứ hai của tôi. Càng lớn
lên, tôi càng thấy chịu hàm ơn ngày càng nhiều của các bà
mẹ trong xóm. Trong bất hạnh lại được đầm ấm hơn, tôi có
được hai gia đình, bên chú nuôi và gia đình cha mẹ, được
anh chị tôi và cả xóm giềng thương yêu.
Võ Văn Kiệt
18
Thư đồng chí Võ Văn Kiệt
gửi tác giả Hoàng Lại Giang
19
Trang bản thảo có sự góp ý, chỉnh sửa của đồng chí Võ Văn Kiệt
(Toàn bản thảo Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo khi tác giả viết xong
đều gửi đồng chí Võ Văn Kiệt đọc góp ý, có khi đồng chí góp ý
bằng trao đổi miệng, cũng có khi sửa chữa ngay trên bản thảo)
21
Chương 1
T
uổi thơ vui chơi, suốt ngày đá banh, suốt đêm đấu
võ, coi hát... qua đi lúc nào Hòa cũng không biết,
không hay. Chín Hòa chỉ nhớ, một lần ông Hai Chi bị
bệnh, không đi làm được, cậu phải ở nhà lo nấu cháo,
hái lá xông... Sực nhìn chú Hai Chi gầy guộc, hom hem,
tự lòng mình cậu thấy xốn xang...
Võ Văn Kiệt bồi hồi nhớ về tuổi thơ của mình. Ông
nói: “Năm ấy, ở tuổi lên 5 lên 6, tôi đã có ý thức làm cách
nào để giúp chú Hai Chi của mình. Tôi đang loay hoay
chưa biết làm gì thì mùa gặt lại tới. Ở quê tôi mùa lúa
chín, các “con gặt” rủ nhau kéo về Ba Xuyên, Bạc Liêu,
Rạch Giá1 để cắt lúa mướn. Mỗi gia đình là một chiếc
ghe. Theo những dòng sông, họ đi về những cánh đồng
lúa đang chín rộ... Tôi xin chú Hai Chi cho tôi theo. Ông
vừa bập điếu thuốc trên môi, vừa hỏi:
1. Vùng Hậu Giang.
23
- Mày đi làm gì?
- Con đi mót lúa. Con đi coi ghe.
- Mày mà mót gì!
- Con mót được mà, chớ ở nhà con cũng không làm gì.
Không ngờ ông gật đầu nói:
- Mót được thì đi.
Đó là chuyến xa nhà đầu tiên trong cuộc đời tôi”.
Võ Văn Kiệt chia sẻ: “Ở đâu cũng một thảm lúa vàng,
thật đẹp. Những địa danh như Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc
Trăng, Cà Mau... trở nên quen thuộc với tôi từ đó. Và
lần ấy tôi thấy đất trời nước mình như rộng mênh mông,
trời như cao hơn, xanh hơn, đẹp hơn, nhìn ngắm không
chán thiên nhiên.
Lại nhớ những câu ca dao dân làng hay đọc:
Làng ta phong cảnh hữu tình
Dân cư giang khúc như hình con long
Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi...
Tôi mót, mỗi bữa cũng được lưng thúng thóc gié. Cả
nhà mừng cho tôi.
Nhưng có một lần, tại thị trấn Phước Long, tôi không
đi mót lúa đổ mà ở nhà giữ ghe. Hôm đó có việc, từ ghe
24
tôi nhảy lên bờ, không may tôi bị trật giò, rớt xuống
sông, nước sông chảy xiết, có thể cuốn trôi cả những
người bơi giỏi. Nhưng may cho tôi, hôm đó anh Bảy tôi
bị bệnh ở nhà. Anh kịp túm đầu tôi kéo lên. Má tôi nghe
được chuyện tôi chết hụt, xanh mặt xanh mày, qua chùa
đốt nhang. Ai cũng cho cái số tôi cao vì luôn được trời
Phật phù hộ, độ trì. Câu nói tưởng duy tâm, nhưng không
hiểu sao tôi vẫn tin. Trong cuộc đời nhờ gặp may mà
thoát nạn, thoát chết”.
Năm Chín Hòa lên 10, mẹ kéo Hòa lại, vò đầu con
trai, nói:
- Con lớn rồi.
Hòa thành thật:
- Con thấy chú Hai khổ quá. Con cũng muốn đi làm
nhưng sợ người ta chê nhỏ không thèm nhận.
- Con nghĩ được vậy là má mừng. Ăn trái phải nhớ
người trồng cây là cái đạo nghĩa của con người. Má chỉ
sinh con, nhưng không được dưỡng. Công dưỡng dục
con cho tới ngày nay, lớn vầy là nhờ chú Hai Chi. Nhưng
gần đây, má coi bộ chú hom hem lắm, tội nghiệp quá.
Má cũng không biết giúp chú sao đây. Nhà ba má cũng
nghèo, cũng làm thuê, làm mướn mà kiếm miếng cơm
ăn, tấm áo mặc, có chút dư dả nào đâu...
25
Thực lòng Chín Hòa rất thương chú Hai Chi. Chú sống
tình nghĩa, lận đận long đong, lo làm kiếm cơm kiếm
cháo cho mẹ và hai đứa con nuôi. Thỉnh thoảng ông uống
vài chén rượu, lầm rầm nói gì đó rồi ngủ luôn. Chưa bao
giờ Hòa thấy ông mắng mỏ hay la rầy ai. Mười hôm sau
Hòa lại trở về với mẹ. Như mọi lần, mẹ lại kéo con trai
vào lòng, tay xoa đầu, tay nắn bóp hai bắp tay săn cứng
của con. Bà ân cần hỏi:
- Có gì không con?
- Má ơi, con đi coi trâu mướn được không?
- Coi trâu? Ai người ta mướn con?
- Anh Năm Phát đó má. Ảnh chịu mướn. Coi trâu trả
lúa. Chú Hai Chi lúc đầu sợ con không làm được, nhưng
giờ thì chú chịu rồi. Nhưng chú chỉ cho con coi trâu một
năm thôi.
- Liệu con có làm được không?
- Sao không được má?
Lần đầu tiên được làm chủ đàn trâu, Chín Hòa rất
sung sướng. Thì ra chăn trâu đâu phải là khổ, “chăn
trâu sướng lắm chứ!”. Nhớ về thời ấy, Võ Văn Kiệt nói:
“Trong hai năm1, tôi rất thích thú, mỗi ngày được đuổi
1. Một năm coi trâu cho Năm Phát, một năm về coi trâu cho ba má.
26
trâu ra đồng, coi như bọn chăn trâu chúng tôi làm chủ
cánh đồng, có nhiều trò vui như đánh trận, làm vua, hề
như trong các tuồng hát bội ở đình làng, chơi u, vật lộn,
tắm nhảy từ trên cao xuống sông. Rồi bắt cua, bắt cá, mò
ốc, móc lươn nướng ăn ngoài đồng. Bấy giờ thì tôi cảm
nhận được cái hãnh diện, cái sung sướng của anh chăn
trâu là chúa mục đồng. Một cánh đồng mông mênh, một
bầu trời bao la và những bầy trâu ngoan ngoãn. Không
biết ông Đinh Bộ Lĩnh có cảm giác này khi coi trâu không,
chớ tôi thì thấy rõ. Khi trời mưa, chúng tôi tổ chức đua
trâu. Trong những cuộc đua như vậy, tôi thường là người
về nhứt. Nói chung, ở trò chơi nào tôi cũng trội hơn đám
bạn bè cùng lứa. Điều đó khiến bạn bè rất nể tôi. Trong
“xã hội” với trâu, tôi thấy có gì đó phóng khoáng, không
ai suy tính thiệt hơn, chia sẻ cho nhau từng miếng ăn
kiếm được.
Nhưng tới tuổi 13-14, tôi không còn ham coi trâu mà
muốn làm cái gì đó như người lớn đang làm”.
Hai năm coi trâu qua đi, Chín Hòa bắt đầu đi cắt
mướn, rồi tập cày, bừa, phát bờ... Các việc đồng áng
Hòa dần thông thạo. Mọi việc trong nhà Hòa làm đều
giỏi. Không một chủ nhà nào phiền hà, chê trách. Đấy
cũng chính là thời kỳ Chín Hòa chín chắn và trưởng
thành. Hằng năm, ông Hai Chi vẫn nhận được lúa làm mướn
27
của cậu con nuôi. Mừng nhất là mẹ Hòa. Mỗi lần gặp
con trai, bà lại thấy con mình khác trước, lớn vổng lên,
da tuy có đen hơn nhưng là nước da của người mạnh
khỏe, cứng cáp, dáng cao to gần bằng ba nó. Làm thuê,
ở mướn vậy mà gặp nó lúc nào bà cũng thấy nó tươi
cười. Những lúc ấy bà lại rơm rớm nước mắt. Thương
nó quá. Đối với bà, dường như mọi nỗi đau đớn, cực
khổ của cái nhà này, Chín Hòa đã “gánh” hết. Đáng
lẽ nó phải mặc cảm về thân phận, oán hận ba má đã
không làm tròn bổn phận, thì ngược lại, thấy nó là bà
thấy khuôn mặt rạng rỡ cùng với nụ cười hiền lành,
dễ thương quá. Ai đang giận, gặp nó cười cũng nguôi
ngoai liền. Thì ra số nó được trời thương, được Phật
độ trì. Còn ông Năm Dựa thì nói: “Đất ta đang ở linh
lắm đó”.
Khi Hòa về ở chăn trâu cho ba má, ông Năm cũng
mang lúa trả cho ông Hai Chi đầy đủ. Bà mẹ rất mừng
vì tính sòng phẳng của “ba sắp nhỏ”. Ấy vậy mà có kẻ ác
mồm ác miệng nói rằng: Hai Chi cứ nuôi Chín Hòa, chờ
cho nó “mọc đủ lông đủ cánh”, rồi biết..., “Lá nào rụng
lại không về cội, sông nào lại không chảy ra biển!”. Nghe
những lời ấy, mặc dù còn ở tuổi trẻ con, nhưng không
hiểu sao, Hòa lại thật sự khó chịu. Đạo nghĩa nào cho
phép cậu bỏ người cha nuôi của mình. “Đúng là những kẻ
28
ăn không ngồi rồi, ác mồm ác miệng!”. Lần đầu tiên Hòa
tức giận. Cậu thổ lộ với ông Hai Chi. Ông Hai vốn trầm
tính. Nghĩ một hồi, ông mới nói:
- Miệng lưỡi người đời là đáng sợ. Người đời thường
“ham đó bỏ đăng”, mấy ai qua sông lại nhớ con đò, có
biết bao nhiêu người khi trưởng thành chỉ nhớ công sinh
thành mà quên công dưỡng dục. Người đời thường vậy,
nhân gian nói vậy. Còn mình không vậy thì thôi, việc gì
mà nổi giận, con!
Hòa im lặng rồi cơn giận c
 









Các ý kiến mới nhất