NON NƯỚC XỨ QUẢNG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:47' 27-01-2026
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:47' 27-01-2026
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tên sách : NON NƯỚC XỨ QUẢNG (Tân biên)
Tác giả : PHẠM TRUNG VIỆT
Nhà xuất bản : KHAI-TRÍ
Năm xuất bản : 1969
-----------------------Nguồn sách : Việt Khương
Đánh máy : Phạm Thị Dạ Tường
Kiểm tra chính tả : Phạm Thị Dạ Tường, Nguyễn Tuấn Anh
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 03/10/2019
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000 QUYỂN
SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả PHẠM TRUNG VIỆT và nhà xuất bản KHAI-TRÍ đã chia sẻ
với bạn đọc những kiến thức quý giá.
MỤC LỤC
TÁI NGỘ
I. THEO GIÒNG LỊCH SỬ
II. ĐỊA-LÝ THIÊN-NHIÊN
1) ĐỊA-THẾ VỊ-TRÍ
2) DIỆN-TÍCH
3) CÁC NGUỒN LỢI VỀ NÔNG NGHIỆP, KỸ NGHỆ, THỔ SẢN, KHOÁNG SẢN VÀ
HOẠT ĐỘNG TIỂU CÔNG NGHỆ
4) NÚI SÔNG, ĐỒNG BẰNG, BỜ BIỂN, HẢI ĐẢO
5) GIAO-THÔNG
6) KHÍ HẬU
III. ĐỊA LÝ NHÂN VĂN
1) DÂN SỐ
2) SINH HOẠT
3) PHONG TỤC TẬP QUÁN, TÍNH TÌNH, TÍN-NGƯỠNG NGƯỜI VIỆT MIỀN ĐẤT
QUẢNG
4) DI TÍCH LỊCH SỬ
5) THẮNG CẢNH
a) THIÊN-ẤN NIÊM HÀ (ấn trời đóng trên sông)
b) THIÊN-BÚT PHÊ VÂN (Bút trời vẽ mây)
c) CỔ-LŨY CÔ THÔN (thôn Cổ-lũy cô quạnh)
d) LIÊN-TRÌ DỤC NGUYỆT (nguyệt tắm ao sen)
e) THẠCH-BÍCH TÀ DƯƠNG (bóng chiều Thạch-Bích)
g) AN-HẢI SA BÀN (mâm cát An-Hải)
h) VÂN-PHONG TÚC VÕ (núi Vân đêm mưa)
i) THẠCH-CƠ ĐIẾU TẨU (Lão câu gành đá)
IV. NHÂN VẬT – DANH THẦN
1) LÊ-VĂN-DUYỆT (1763-1832)
2) TRƯƠNG-ĐĂNG-QUẾ
3) NGUYỄN TẤN
4) CHÍ SĨ CÁCH MẠNG TRƯƠNG-CÔNG-ĐỊNH (1820-1864)
5) LÊ-TRUNG-ĐÌNH (1862-1885)
6) NGUYỄN THỤY (1878-1916)
a) Tham gia phong trào khất thuế chống Pháp
b) Nguyễn-Thụy và cuộc Duy-Tân khởi nghĩa
c) Cái chết của người chí sĩ cách mạng
7) HIẾU TỬ NGUYỄN-VĂN-DANH
V. THI CA
1) CA DAO, TỤC-NGỮ
2) HÁT RU EM
3) HÁT HỐ
4) HÒ
a) Hò (Nhân nghĩa)
b) Hò (vấn đáp)
VI. THƠ
1) TÚ CANG (1841-1898)
2) NGHÈ KIM
3) HỌC SOẠN
4) HỌC Ý (1831-1905)
5) NGUYỄN VỸ
6) BÍCH-KHÊ (1916-1946)
7) TẾ-HANH
VII. BỜ XE NƯỚC
1) TỔ CHỨC MỘT BỜ XE NƯỚC
a) Nguyên tắc vận chuyển
b) Muốn đặt bờ xe nước
2) CÁCH ĐIỀU HÀNH VÀ QUẢN TRỊ MỘT BỜ XE NƯỚC
a) Thợ xe
b) « Bảo cử » xe
c) Thời gian làm xe
d) Thủy tô
e) Số chi thu hằng năm của một bờ xe nước
3) SỰ QUAN TRỌNG CỦA BỜ XE NƯỚC
a) Về mặt sản xuất
b) Liên hệ với đời sống dân chúng
c) Đặc điểm của bờ xe nước
VIII. NÔNG, LÂM SẢN
1) MÍA, ĐƯỜNG
a) Thời gian trồng mía và đốn mía
b) Các loại đường
2) QUẾ QUẢNG
a) Hình thái, tố chất và hương vị Quế
b) Phương pháp trồng Quế
c) Mùa bóc vỏ quế
d) Cách để dành Quế
e) Các kiểu quế Quảng (Trà-Bồng)
3) CÁC GIỐNG HUỲNH TINH
a) Cách trồng huỳnh tinh
b) Cách lấy bột
c) Có 2 cách khuấy bột
IX. CÁC NGHỀ CỐ HỮU
1) MẠCH NHA
a) Nguồn gốc
b) Đặc tính của mạch nha
c) Cách thức nấu mạch nha
2) KẸO GƯƠNG
X. THÚ VUI ĐỒNG QUÊ : ĐÁNH CHIM MÍA
a) Các loại chim mía
b) Thú đánh chim mía
c) Món ăn chim mía
XI. MÓN ĂN ĐẶC BIỆT
1) CÁ BỐNG SÔNG TRÀ
a) Các loại cá bống
b) Cách đánh cá
c) Món ăn đặc biệt : cá bống kho tiêu
2) DON VẠN-TƯỢNG
a) Trà-Giang : quê hương duy nhất của loại don
b) Mùa nhủi « don »
c) Cách nấu don
d) Ruột don xào dòn : món ăn chọn lọc
XII. SÁCH BÁO THAM KHẢO
PHẠM TRUNG VIỆT
NON NƯỚC XỨ QUẢNG
Tân biên
KHAI-TRÍ SÀI-GÒN PHÁT HÀNH
1969
(Ấn bản mới của « Non Nước Xứ Quảng »
sửa chữa, hiệu đính, kiểm chứng, tăng bổ tài liệu,
hình ảnh sinh hoạt, thắng cảnh địa phương)
« NON NƯỚC XỨ QUẢNG » là cuốn sách đã giới thiệu rất đầy đủ về QuảngNgãi với thắng cảnh, danh nhân, các sản vật và sinh hoạt của người dân QuảngNgãi. (TẬP SAN SỬ ĐỊA Đại-Học Sư-Phạm Sàigòn số 2-1966)
…Nhìn chung, tập biên khảo của ông Phạm Trung-Việt vẫn là tập sách bổ ích,
không những bổ ích cho việc tìm hiểu của những người muốn đi sâu vào non nước
Việt-Nam mà còn bổ ích cho chính người địa phương. THƯ-TRUNG (Tin Sách số 12,
Sổ tay một năm văn học do Trung Tâm Văn Bút Việt-Nam ấn hành 1963)
« NON NƯỚC XỨ QUẢNG » của Phạm trung-Việt, một tập khảo cứu về địa lý,
nhân văn, thắng cảnh và thi ca Quảng-Ngãi.
Tài liệu đầy đủ, soạn thảo công phu, có nhiều thắng cảnh địa phương.
(Tạp chí PHỔ THÔNG số 87-1962 – số tân niên 15-2-1966)
Cùng một tác-giả
Đã xuất bản :
- NON NƯỚC XỨ QUẢNG, biên khảo
- TÂM SỰ NGƯỜI CHA I, II, tùy bút-thư
- NON NƯỚC XỨ QUẢNG, tân biên
Sẽ xuất bản :
- NHỊP TRÔI, nhật ký – tùy bút
- THÙY DƯƠNG CA, thi tuyển
- HÀNH TRÌNH MÙA THU, hồi ký
- MẤY ĐƯỜNG TƠ, thơ
TÁI NGỘ
« Ai về Quảng-Ngãi xa xôi »…
Dư âm của tiếng hát chiều phượng xưa còn nghe vẳng đâu đây, gờn gợn theo
sóng nước Trà-giang.
Mười năm qua, bao nhiêu lá rụng, nước vẫn chảy qua cầu xuôi về biển cả bao
ước vọng thầm kín, tâm tư khổ đau của con người.
Hơn một lần tái ngộ. « Non nước xứ Quảng » thân gởi lời cảm tạ tri kỷ bốn
phương từng dành cho núi Ấn sông Trà mối cảm tình lai láng.
Cái thuở ban đầu yêu sông núi ấy, ai làm sao quên được ?
Núi sông nầy từng che chở, an ủi, khuyến khích kẻ cầm bút chập chững trên
bước đường sự nghiệp.
Tạ lòng tri kỷ, đền ơn quê hương, người văn nghệ chỉ biết làm kiếp tằm nhả tơ
tô điểm cho miền đất Quảng một màu tươi đẹp vĩnh viễn, dù quê hương từng trải
mấy lớp tang thương.
Xứ Quảng xa xôi nhưng tình dân vẫn gần gũi, khắn khít muôn đời với đất Mẹ.
Tô điểm cho non sông xứ Quảng, phải chăng đã góp phần tăng vẻ đẹp gấm vóc
cho nước Tổ.
Với ý nghĩa trên, người văn nghệ thành kính dâng lên Tổ Quốc Việt-Nam tập
biên khảo « Non nước xứ Quảng tân biên ».
PHẠM TRUNG VIỆT
« Hoài hương »
Mơ về đất Tổ mộng nào nguôi
Một trận cười pha lệ sụt sùi.
Hòn BÚT sang nghiên trăng lại gió
Sông TRÀ mượn chén ngược rồi xuôi.
QUẢNG giao đèn sách tuồng xao lảng
NGHĨA nhớ quê hương luống ngậm ngùi.
Đời có khi say còn lúc tỉnh
Thế thời, hai tiếng khó mà lui.
BẠCH VÂN
CHÂN DUNG
« Họa phẩm của Nghiêu-Đề, huy chương bạc,
Triển lãm hội họa mùa xuân 1961 ».
I. THEO GIÒNG LỊCH SỬ
XỨ Quảng, miền núi Ấn sông Trà ngày-nay, nguyên xưa là đất Việt-ThườngThị. Đời Tần thuộc Tượng quận đời Hán thuộc quận Nhật-Nam (đất huyện LưDung). Cuối đời Hán bị quân Lâm-Ấp chiếm, đời Tùy bình định quân Lâm-Ấp đem
thuộc về Hồng-Châu, sau đổi thành quận Hải-Ân. Đời Đường thuộc Sơn-Châu, đời
Tống thuộc Cổ-Lũy-động của Chiêm-Thành.
Năm Nhâm-Ngọ (1402) Hồ-Quý-Ly sai tướng Đỗ-Mẫn mang quân chinh phạt
Chiêm-Thành. Vua Chiêm Ba-địch-Lại (con La-Khải) phải nhường Chiêm động
(nam Quảng-Nam ngày-nay) để xin bãi binh. Vua nhà Hồ buộc Chiêm Thành phải
nhượng thêm Cổ-Lũy-động (Quảng-Ngãi ngày-nay).
Hồ-quý-Ly chia đất nầy thành 4 châu : Thăng, Hoa,Tư, Nghĩa, đặt lộ ThăngHoa thống hạt 4 châu.
Đời Minh-thuộc (1414-1427), các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa lại bị mất về
Chiêm.
Năm 1471 Vua Lê-thánh-Tông xuống chiếu thân chinh. Tháng giêng Tân-Mão
(1471) toàn quân Việt chia làm 2 đạo, mỗi đạo 100.000 thủy quân do Thái-Sư
Đinh Liệt và Thái-Bảo Lê Niệm chỉ huy tiến vào đất Chiêm. 500 chiến thuyền Việt
do Tả Du Kích tướng quân Lê-hy-Cát chỉ huy lẻn vào cửa biển Sa-Kỳ (Quảng-Ngãi)
lập dinh lũy, đặt đồn ải, khiến quân Chiêm sợ phải rút lui về cố thủ tại Trà-Bàn.
Vua Lê-thánh-Tông ra lệnh tiến binh vây hãm cửa Thị-Nại, ngày 29-2 Tân-Mão
(1471) vây thành Trà-Bàn ngày 1-3 vào thành bắt được vua Chiêm Trà-Toàn,
ngày 2-3 xuống chiếu sửa soạn ban sư. Vua cho người Chiêm đầu hàng là Ba-Thái
làm đồng Tri Phủ Đại Chiêm bổ ông Lê-y-Đà làm Tri Châu Cổ-Lũy coi việc
quân dân.
Tháng 6 năm Tân-Mão (1471) vua Lê-thánh-Tông lấy đất Chiêm Thành vừa
chiếm đặt làm đạo Thừa-Tuyên Quảng-Nam thống lảnh 3 phủ 9 huyện trong đó có
phủ Tư-Nghĩa gồm có 3 huyện : Bình-Sơn, Mộ Hoa (Mộ-đức ngày-nay) NghĩaGiang (Nghĩa-Hành ngày-nay).
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận-Quẳng đổi thành Quảng-Nghĩa phủ
nhưng cũng thuộc Quảng-Nam dinh.
Đời nhà Nguyễn Tây-Sơn (1788-1802) cải Quảng-Nghĩa thành Hòa-Nghĩa phủ.
Năm 1802 vua Gia-Long khôi phục đất ấy đặt tên Quảng-Nghĩa dinh có chức
quan Lưu Thủ, Cai Bộ, Ký Lục cai trị. Năm 1808 đổi làm Quảng-Nghĩa trấn, quan
cai trị gọi là Trấn-Thủ.
Năm Minh-Mạng thứ 8 (1827) lại đổi chức Ký Lục Cai Bộ làm Hiệp Trấn, Tham
Hiệp. Năm 1832 chia đặt đặt tỉnh hạt, đổi trấn thành tỉnh, đặt 2 ty Bố-Án (BốChánh và Án-Sát) thống thuộc Quảng-Nam. Năm 1834 lại gọi Nam-trực-tỉnh.
Năm Thành-Thái thứ 2 (1890) đặt 3 châu : Sơn Tĩnh Nghĩa hành, và Mộ-Đức
thuộc Nghĩa-Định sơn phòng, đổi 3 châu ấy làm 3 huyện do tỉnh kiêm quản, bỏ
chức Bố-Chánh đặt chức Tuần-Vũ cai trị 1 phủ : phủ Tư-nghĩa và 6 huyện :
Chương-Nghĩa, Bình-Sơn, Mộ-Đức, Nghĩa-Hành, Sơn-Tỉnh, Đức-Phổ gồm tất cả :
24 tổng, 426 xã, thôn, ấp, trại.
- Từ 1908 cho đến năm cuối của Triều Nguyễn (Bảo-Đại (1926-1945) miền
Trung châu Quảng-Nghĩa được chia thành 4 phủ : Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư-Nghĩa
Mộ-Đức ; 2 huyện : Nghĩa-Hành, Đức-Phổ, tất cả 21 tổng, 403 làng. Miền Thượng
được chia thành 4 nha : Trà-Bồng, Sơn-Hà, Minh-Long, Ba-Tơ với 17 tổng, 199
« nóc ». Miền duyên hải có đảo Lý Sơn 1 nha, 2 làng.
- Từ 9-3-1945 đến 19-8-1945, tổ chức hành chánh không thay đổi mấy, chỉ
đổi chức vụ cai trị : Tuần Vũ đổi thành Tỉnh Trưởng (chính phủ Trần-trọng-Kim).
- Từ 19-8-1945 đến 1-11-1954 (ngày hội nghị Trung-Giả quyết định chuyển
giao quyền cai trị trong khuôn khổ hiệp định Genève 20-7-54).
Thời kỳ đầu của cuộc tổng khởi nghĩa 1945, tỉnh Quảng-Ngãi được đổi tên là
tỉnh Lê-trung-Đình, phủ Tư-Nghĩa đổi thành phủ Nguyễn Thụy, xã Chánh-Lộ lấy
tên xã Nguyễn-Viện, v.v… Về tổ chức, lập liên xã, bỏ các làng cũ.
Nhưng sau một thời gian thay danh hiệu, Tỉnh Huyện đều lấy lại tên cũ. Các
Phủ, Huyện, Nha trong tỉnh đều gọi là Huyện, gồm tất cả 10 Huyện, 124 liên Xã.
Đảo Lý-Sơn sát nhập vào huyện Bình-Sơn nhưng năm 1952 bị quân Pháp chiếm
đóng sát nhập hải đảo nầy vào thành phố Đa-Nẵng.
Từ 1-11-1954 đến nay (1969) tỉnh Quảng-Ngãi được chia thành 10 quận :
- Bình Sơn : 24 xã
- Sơn Tịnh : 24 xã
- Tư Nghĩa : 14 xã
- Nghĩa Hành : 8 xã
- Mộ Đức : 12 xã
- Đức Phổ : 15 xã
- Trà Bồng : 13 xã
- Sơn Hà : 14 xã
- Minh Long : 14 xã
- Ba Tơ : 24 xã
Cộng : 158 xã
Xã Cẩm-Thành nằm giữa tỉnh lỵ, trước kia thuộc quận Tư-Nghĩa hiện đã tách
rời, thuộc tòa Hành Chánh tỉnh.
2 xã ở hải đảo Lý-Sơn sát nhập vào quận Bình Sơn, lấy tên Bình Vĩnh, Bình
Yến. Ranh giới Quảng-Ngãi hiện chạy từ phía nam Dốc Sỏi đến giáp đèo Bình-Đê.
Trải nhiều thế kỷ, dân tộc Chàm từng lấy miền đất Quảng nầy làm thành lũy
ngăn chận cuộc Nam tiến của dân tộc Việt. Hiện nay tại địa phương còn vài di tích
lịch sử như thành lũy ở Châu Sa (Sơn Thành Sơn Tịnh) Cổ Lũy (Tư Nghĩa), v.v…
Thỉnh thoảng đồng bào địa phương vẫn còn đào được nhiều tượng đá với nét
điêu khắc tuyệt mỹ tiêu biểu cho nền văn minh Chiêm-Thành. Đến Quảng-Ngãi
du khách hiện còn nghe một số tên địa phương chỉ tên sông như : Trà Khúc, Trà
Bồng, chỉ cửa biển như : Sơn Trà Những tên nầy có giọng Chàm vì tiếng Trà do
chữ Phạn Jaya, một trong 4 dòng họ Chiêm chính thống : On, Ma Trà, Chế (hiện ở
thôn Năng Đông, xã Tư Hòa, quận Tư Tư-Nghĩa còn ước 500 người mang dòng họ
chế với ngôi mộ Tiển Hiền của họ.
Khi tiến sâu vào Nam, công cuộc di dân bén rễ và bành trướng nhanh chóng,
dân tộc Việt dựa trên ý thức Quốc Gia, cơ sở gia tộc và nhất là khả năng đồng hóa
đặc biệt của mình, để sinh tồn.
Và xứ Quảng, miền núi Ấn sông Trà, phần đất của quê hương là chứng tích
cuộc hành trình Nam tiến lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt.
II. ĐỊA-LÝ THIÊN-NHIÊN
1) ĐỊA-THẾ VỊ-TRÍ
- Địa-thế Tỉnh Quảng-Ngãi nằm giữa miền Trung nguyên Trung phần, có
nhiều núi đồi cao, có gò, thung lũng, có những cánh đồng trồng lúa, mía và
biển cả.
- Vị-trí-Tỉnh Quảng-Ngãi ở bắc vĩ tuyến 150 (8', kinh độ Greenwich 1800 47',
cao độ ở đồng bằng là 8m, cao độ tại ga Quảng Ngãi 9m, khoảng cách với SàiGòn
877 km, bắc giáp Quảng Tín, Nam giáp Bình Định, Đông giáp biển Nam Hải, tây
giáp Trướng Sơn và tỉnh Kontum.
2) DIỆN-TÍCH
Căn cứ vào không ảnh và bản đồ, Quảng Ngãi có hình thể đa giác gảy nhiều
cạnh, bề ngang từ 40 km đến 60 km, chiều dài 98 km, Diện tich toàn tỉnh ước
1
chừng 4.359 km2.
Quận Trung Châu :
- Bình Sơn : 498 km2
- Sơn Tịnh : 311 km2
- Tư Nghĩa : 220 km2
- Nghĩa Hành : 186 km2
- Mộ Đức : 252 km2
- Đức Phổ : 287 km2
- Xã Cẩm Thành : 3 km2
Quận Thượng :
- Trà Bồng : 439 km2
- Sơn Hà : 807 km2
- Minh-Long : 395 km2
- Ba-Tơ : 942 km2
Hải đảo Lý-Sơn 19 km2 hiện sát nhập vào quận Bình-Sơn.
3) CÁC NGUỒN LỢI VỀ NÔNG NGHIỆP, KỸ NGHỆ, THỔ SẢN, KHOÁNG SẢN
VÀ HOẠT ĐỘNG TIỂU CÔNG NGHỆ
Diện tích canh tác toàn tỉnh : 89 201 ha, 830.
Lúa : Có 4 vụ lúa :
- Tháng 3 : 35. 400 ha lúa trắng, ba trăng, 1 mẫu thu được : 1200 kí
- Tháng 8 : 20.000 ha lúa tàu núp và chiêm ngự. 1 mẫu : 1 600 kí.
- Tháng 10 : 16.500 ha lúa đen, bông rinh. 1 mẫu : 1.100 kí
- Tháng 12 : 8.223 ha lúa trì trì.
Năm 1968 đã thí nghiệm thành công lúa Thần Nông (IR8) năng xuất gấp 3 các
giống lúa địa phương. Năm 1969 đang phát triển 1500 ha lúa Thần Nông trong
toàn tỉnh.
Hoa màu phụ quan trọng : mía, dừa, thuốc lá khoai lang, mì, bột huỳnh
tinh…
Cây ăn trái : chuối, xoài, cam, quít, v.v…
Rau Cải : Các giống rau nhất là rau muống thích hợp với đất phù sa ven 4
sông lớn.
Thổ sản nổi tiếng : Quế sản xuất ở nguồn Thanh-Cù (Trà-Bồng) có ít dầu, vị
bạc ; nghĩa sâm sản xuất ở các núi dọc bờ biển thuộc quận Bình-Sơn, tháng 2, 3,
nở hoa.
Khi ấy người ta đào củ, rửa sạch đem chưng rồi cạo bỏ vỏ ngoài, ban ngày
phơi, ban đêm sấy lửa cho khô, củ có vần ngang giống sâm ở Bắc, vị cam đạm.
Khoáng sản. Quảng Ngãi có những hầm mỏ đã tìm thấy nhưng chưa được
khai thác : Mỏ chì ở Tân An Sơn-Tây (Sơn-Tịnh) Mỏ Kaolin ở Di-Lăng (Sơn-Hà) Mỏ
sắt ở Đức-Hoài (Mộ-Đức) có quặng sắt (loại nầy : Có từ 62,5 đến 73,5% oxyde de
fer) hầm mò lộ thiên khám phá năm 1965 tại xã Đức-Hoài, cách tỉnh lỵ 15 km về
phía Nam. Hầm mỏ ước lượng 40 triệu tấn, trị giá 20 tỷ bạc NV (tài liệu VTX
năm 1965).
Chăn nuôi : Không quan trọng vì không cò đồng cỏ, không có thành phần
chuyên sống về nghề chăn nuôi, chỉ thực hiện trong phạm vi gia đình. Tuy nhiên
vẫn có số ít người chuyên nuôi vịt, nhiều nhất là 1000 con (hiện nay có phong
trào nuôi heo, gà (giống ngoại quốc).
Tỉnh Quảng-Ngãi, trong năm 1969 theo bảng thống kê địa phương có chừng
26.150 con trâu, 134.500 con bò 157.000 gà, 132.000 vịt. Số gia súc trên thường
được đem bán ra ngoài tỉnh.
Chài lưới : 25.000 ngư dân Quảng-Ngãi Sa-Huỳnh đánh cá trên sông bể.
Đánh cá bể quan trọng hơn đánh cá sông Các ngư thuyền có động cơ thường hoạt
động theo ven biển : Sa-Huỳnh, Bình Sa, Bình-Thiện, Đức-Hải, Tư-hiền. Hằng
năm trung bình ngư dân đánh được : 4000 tấn cá biển, 30 tấn cá sông, 45 tấn
tôm, 30 tấn mực. Số lượng sản xuất nước mắm ở Quảng-Ngãi trung bình hằng
năm : 200.000 lít. Tỉnh Quảng-Ngãi có 2 nơi làm muối : Sa-Huỳnh, Bình-Đức sản
xuất hằng năm 980 tấn dư dùng trong tỉnh. Muối thặng dư được bán ở các tỉnh
miền Trung.
Thương mại : Hiện hạng trung tiểu thương, hoạt động khá mạnh những
người buôn gánh bán bưng chiếm số lượng đáng kể. Các tiệm buôn to phần nhiều
của ngoại kiều và người ngoài tỉnh. Các chợ là trung tâm trao đổi hàng hóa tại
thôn xã. Ngoài Thị xã là trung tâm buôn bán có ngôi chợ lớn, toàn tỉnh có 110 chợ
rải rác các quận, xã và tiểu thị trấn.
Các hoạt động tiểu công nghệ : Làm gạch ngói, dệt vải, chiếu, chằm nón.
Gạch ngói nhiều nhất ở Tư-Nghĩa (Sông Vệ) toàn tỉnh có 60 lò sản xuất, đủ cung
cấp cho công tác kiến thiết, xây dựng nhà của trong tỉnh. Hằng năm sản xuất độ
750 triệu viên gạch, 350 triệu ngói. Nghề dệt chiếu phát đạt ở Tư Nguyên (TưNghĩa : hằng năm sản xuất 251000 đôi chiếu (đặc biệt đã bắt đầu dùng nylon dệt
thay lát). Nghề làm nón cũng đang phát triển mạnh, trở thành nghề phụ của
những gia đình nông thôn hay các gia đình đình định cư, tạm cư. Hằng năm mức
sản xuất từ 500.000 đến 70.000 chiếc nón tiêu thụ trong ngoài tỉnh, nhất là các
tỉnh miền Nam (tài liệu địa phương chí Quảng-Ngãi năm 1968).
Sản phẩm địa phương xuất tỉnh : đường, mạch nha, kẹo gương, thuốc lá,
quế… những hàng hóa nhập tỉnh : gạo, các dụng cụ nông nghiệp, vải…
4) NÚI SÔNG, ĐỒNG BẰNG, BỜ BIỂN, HẢI ĐẢO
Về hình thể thiên nhiên, tỉnh Quảng-Ngãi được chia làm 2 miền riêng biệt :
vùng Thượng du, vùng Trung Châu và 1 hải đảo.
- Vùng Thượng du : rộng gần bằng 2/3 diện tích toàn tỉnh, Vùng nầy thuộc
loại đất núi, có nhiều đá, khả năng khai thác kém, núi cao hiểm trở, rừng rậm bao
la chiếm một diện tích trên 500 ha, nơi có lâm sản dồi dào sản xuất hàng ngàn
thước gỗ quý, cung cấp nhiều củi lại thêm có quế Trà-Bồng là một lâm sản quan
trọng rất được ưa chuộng trên thị trường quốc nội và quốc ngoại.
Quảng-Ngãi có nhiều núi cao hiểm trở như núi Cà-Đam tục gọi « Hòn Ông,
Hòn Bà » cao độ 1600m tọa lạc địa hạt 2 xã Hà-Long và Hà Tây ngăn cách Sơn Hà
và Trà-Bồng, về phía tây bắc, núi Đá Vách (Thạch Bích) cao độ 1500m tọa Lạc xã
Hà Thạch ngăn cách Sơn Hà Minh Long, núi U Bò ở xã Lò Xà Hà Khê (Sơn Hà) cao
độ 1200m. Rất nhiều núi cao trung bình 700m như núi Cao-Môn phía tây quận
Đức Phổ.
Ngoài ra còn có nhiều núi thấp như Tham Hội, Phụng Hoàng, Phổ-Tiên, Cổ Sơn
(tục danh Ình Tình), Ngủ Chỉ Nam Châm, Mô Nỏ, Trà Quân (Bình Sơn), Thiên Ấn,
Long Đầu, La Vọng, Tam Thai, Vu, Hổ Trụ, Truyền Tung, Ba Hãn, Vân Phong (Sơn
Tịnh), Thiên Bút, Phú Thọ, Là Hà, Đầu Kê, Kỳ Lân, Đầu Voi, Trấn-Công (núi Ông)
(Tư Nghĩa) ; núi Eo Gió, Phú Lập, Mã Yên (Nghĩa Hành) ; Đằng Giao, Thiết
Trường, Văn Bân, Nho Lãnh, Quất Lâm, Long Cốt, Lộ Bôi, Man Tân, Bình Quang,
Sa Băng, Thanh Hiếu (Đức Phổ) ; Diên Trường, Tiên Mễ, Hoành Sơn, Cung Quăng,
núi Đại (Đức Phổ).
- Vùng Trung Châu : Đất đai phần lớn là phù sa do các sông bồi lên. Dựa vào
thành phần cát khá cao của đất vào P.H. Acit (trung bình 4,5 đến 5) và với sự xoi
mòn hủy phá do thời tiết mưa nắng đặc biệt ở Quảng-Ngãi Người ta thấy rằng
chất đất ở đây tương đối nghèo-sự thoát thủy lại quá nhanh, thêm váo đó mùa
khô hạn kéo dài chứng tỏ có một sự thiếu nước trong nhiều tháng của năm. Một
màu sắc nhạt ở bề mặt đất cho biết có sự thiếu chất bùn.
Tuy nhiên, Quảng-Ngãi có nhiều vùng đất rộng thích hợp cho việc cày cấy nhờ
thế nước của các sông lớn phát nguyên từ dãy Trường sơn chảy xuyên qua đồng
bằng rồi ra biển.
Lưu lượng các giòng sông biển thiên theo mùa. Về mùa nắng lòng sông khô
cạn, trái lại mùa mưa, những cơn mưa dầm nặng hạt trên dãy Trường sơn làm cho
nước đổ xuống các giòng sông khiến mực nước dâng cao đột ngột lan tràn vào các
vùng đất xung quanh.
- Về sông ngòi : Quảng ngãi có 4 sông chính :
SÔNG TRÀ-BỒNG dài độ 50 km, ở phía bắc quận Bình-sơn, phát nguyên từ
nguồn Thanh Bông, chảy qua quận Bình-sơn xuống hướng đông đến thôn GiaoThủy, lại chảy về đông bắc đến thôn Mỹ-huệ, Tân-An và chảy ra cửa biển Thể Cần
(SƠN-TRÀ)
SÔNG TRÀ-KHÚC dài khoảng 120 km phía bắc quận Tư-nghĩa, tả ngạn con
sông về phía bắc là quận Sơn-tịnh, phát nguyên từ vùng Thượng (tục danh mọi
HRÉ (đọc Re) chảy qua 2 quận Tư-nghĩa và Sơn-tịnh. Sông Trà-Khúc tập họp các
nguồn nước của 3 sông Di-Lăng thuộc xã Hà-tây (Sơn-hà) bắt nguồn từ Đakto,
sông Daksélo (tức Xà-Lò) xã Hà-khê (Sơn-hà) bắt nguồn từ Kom-phong, sông HRÉ
thuộc xã Hà-Thượng bắt nguồn từ Ba-Tơ, từ Hải-Giá chảy xuyên qua quận lỵ Sơnhà, phía ngoài Trường lũy gọi là là Lệ-giang, chảy xuống hướng đông qua nguồn
Thanh-Cù, từ phía tây tập họp vào gọi là Nham-giang lại chảy xuống đông-bắc
qua thôn Diên-niên, Phước-lộc, Thu-phố, lại chuyển qua phía đông bắc chảy đến
xã Phú-nhơn xuôi về hướng đông rút vào của biển Đại cổ-Lũy năm Tự-Đức thứ 3
(1850) được liệt vào hạng Đại xuyên (sông lớn) đăng vào tự điển Lưu lượng mùa
nắng là 35 m3.
SÔNG VỆ dài chừng 80km ở phía tây quận Mộ-đức. Phía bắc con sông là ranh
giới quận Tư-nghĩa. Sông nầy có ba ngả nguồn, chảy xuyên qua các quận Nghĩahành, Mộ-đức, Tư-nghĩa :
- Từ núi Tô sơn nguồn An-Ba chạy ra gọi là Tô-giang, giòng sông khuất khúc
chảy xuồng phía đông qua các đất mán Trà-nô, Trà nột đến mán Đồng chùa.
- Từ sơn phần Man lý chảy xuống đông bắc gọi là Lý-giang chảy qua Man-nậu,
Man-năng rồi cùng hiệp với sông Man Đồng-chua chảy quật ra phía bắc, vòng
quanh phía đông núi Cao-môn.
- Từ khe nước Nhĩ chảy xuống đông nam gọi là Na-giang rồi quẹo về phía đông
chảy đến Man-sung rồi chảy về Nam cùng đến núi Cao-môn hiệp gọi là Bôngiang ; từ đây chảy quẹo xuống hướng đông đến núi Hung-nhỉ, Hương-Quán, lại
chảy đến núi Long phụng quẹo qua phìa đông bắc chảy đổ ra cửa biển Đại cổ-Lũy.
Niên hiệu Minh-Mạng thứ 17 (1836) có chạm hình sông vào Dụ-đỉnh.
SÔNG TRÀ-CÂU dài ước 40 km, phía nam quận Mộ-đức (nay thuộc quận Đưcphổ), phát nguyên từ núi Bàn-Thạch thuộc mán làng Lộ ngoài trường lũy, chảy
đến mán Na-ấm hiệp lựu với khe Thiết-liêm gọi là sông Liêm, chảy khuất khúc về
phía đông bắc đến Tỉnh-nam nhất bảo, chảy quanh qua phía đông nam gọi là sông
Trà-Câu. Đến đây quẹo xuống phía đông, hiệp lưu với Thóc giang rồi chảy ra cửa
biển Mỹ-Ý (tục gọi Mỹ-Á).
Sông Quảng-ngãi, đặc biệt sông Trà-Khúc và sông Vệ không có lưu lượng lớn
như sông Mã, cũng không chảy lờ đờ như sông Hương, không quá rộng như sông
Đà-Rẵng nên rất hữu ích cho nông nghiệp.
Trên các sông nầy, nông gia dựng rất nhiều bờ xe nước tự động, đào nhiều
kênh, mương, tận dụng nước sông trong những mùa nắng hạn.
Ngoài 4 con sông lớn trên, Quảng Ngãi còn có các sông nhỏ như : Thóc-Giang
hay Bến Thóc (Mộ Đức), sông Phố-Hiển-Đông (Đức Phổ), sông-Lê (phía tây quận
Nghĩa-Hành), sông Chiến-Lộc (Sơn-Tịnh), sông Xà-Lộ (Bình-Sơn), sông Phước-
Hậu, v.v…
Quảng-Ngãi còn có một hệ thống 400/km kênh đập, bờ cừ, đê quan trọng :
- Đập Bến-Thóc tại xã Đức-Thọ (Mộ Đức) dài 104 th, cao 2m5 tưới 2000 ha,
dân-số hưởng lợi 20.000 người, khởi công 11. 8. 58 hoàn thành 10-3-59.
- Đập Hố-Đá (Nghĩa-Hành) thuộc hệ thống sông Giăng hoàn thành 1958, dài
78th, tưới 2130 ha.
Ngoài ra còn các đập nhỏ : đập Suối-Tó (Tư mỹ) tưới 100 ha, đập ngăn nước
mặn Đồng-phó (Phổ Châu) đập Hiệp Phổ, cây Bứa, v.v…
- Hệ thống đê : đê cầu Bi, Châu-Me-Đông, v.v…
- Hệ thống bờ cừ quan trọng : bờ cừ Mộ Đức tận dụng sông Vệ, bờ Cừ sông
Trà-Khúc đầu khẩu kênh, đặc biệt bờ cừ Tư-Nghĩa (Tư-Quang) dài 588m bằng tre.
- Kênh Tư-Nghĩa (kênh chính dài 6km500 hỗ khẩu tại Tư Quang, nếu kể cả
các chi nhánh có thể dài đến 30 km, như một màn nhện lấy nước sông Trà về tưới
ruộng các xã trong quận. Công trình kỷ thuật là đập Ba-La đúc bằng xi mân cột
sắt và đập cây bứa đã hoàn thành.
- Kênh Núi Sứa xã Sơn Long, Sơn Tịnh cách tỉnh lỵ 3 km phía bắc dài 13.300
km tưới 600 ha ruộng. Kênh Sơn-Tịnh dài 7000 th, lấy nước sông Trà-Khúc tưới
ruộng các xã miền đông Sơn-Tịnh và đông-nam Bình-Sơn. Công trình kỷ thuật
của kênh nầy là đập Tư-Cung Nam hoàn thành cuối 1962.
Tuy ở trên những con sông khác nhau nhưng về kỷ thuật công tác của các hệ
thống dẫn thủy trên đều liên hệ mật thiết với nhau, tưới gần 10.000 ha ruộng.
- Suối nước nóng : Tại Quảng Ngãi có 8 suối nước nóng :
Suối Mộ Đức (Thạch Trụ) 520
Suối Tú Sơn (bắc Mộ Đức) 720
Suối Nghĩa Kỳ (Mỹ Thạnh Tư Nghĩa) 750
Suối Nghĩa Thắng (An Hội) 750
Suối Phước Thọ (Cù-Và Thạch-Nham) 570
Suối Bình-Hòa I (Lộc-Thanh Bình-Sơn) 640
Suối Bình-Hòa II (gần Bình-Hòa I) 540
Suối Kim-Thành (Nghĩa Lộc Nghĩa-Hành).
- Bờ biể
Tác giả : PHẠM TRUNG VIỆT
Nhà xuất bản : KHAI-TRÍ
Năm xuất bản : 1969
-----------------------Nguồn sách : Việt Khương
Đánh máy : Phạm Thị Dạ Tường
Kiểm tra chính tả : Phạm Thị Dạ Tường, Nguyễn Tuấn Anh
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 03/10/2019
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000 QUYỂN
SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả PHẠM TRUNG VIỆT và nhà xuất bản KHAI-TRÍ đã chia sẻ
với bạn đọc những kiến thức quý giá.
MỤC LỤC
TÁI NGỘ
I. THEO GIÒNG LỊCH SỬ
II. ĐỊA-LÝ THIÊN-NHIÊN
1) ĐỊA-THẾ VỊ-TRÍ
2) DIỆN-TÍCH
3) CÁC NGUỒN LỢI VỀ NÔNG NGHIỆP, KỸ NGHỆ, THỔ SẢN, KHOÁNG SẢN VÀ
HOẠT ĐỘNG TIỂU CÔNG NGHỆ
4) NÚI SÔNG, ĐỒNG BẰNG, BỜ BIỂN, HẢI ĐẢO
5) GIAO-THÔNG
6) KHÍ HẬU
III. ĐỊA LÝ NHÂN VĂN
1) DÂN SỐ
2) SINH HOẠT
3) PHONG TỤC TẬP QUÁN, TÍNH TÌNH, TÍN-NGƯỠNG NGƯỜI VIỆT MIỀN ĐẤT
QUẢNG
4) DI TÍCH LỊCH SỬ
5) THẮNG CẢNH
a) THIÊN-ẤN NIÊM HÀ (ấn trời đóng trên sông)
b) THIÊN-BÚT PHÊ VÂN (Bút trời vẽ mây)
c) CỔ-LŨY CÔ THÔN (thôn Cổ-lũy cô quạnh)
d) LIÊN-TRÌ DỤC NGUYỆT (nguyệt tắm ao sen)
e) THẠCH-BÍCH TÀ DƯƠNG (bóng chiều Thạch-Bích)
g) AN-HẢI SA BÀN (mâm cát An-Hải)
h) VÂN-PHONG TÚC VÕ (núi Vân đêm mưa)
i) THẠCH-CƠ ĐIẾU TẨU (Lão câu gành đá)
IV. NHÂN VẬT – DANH THẦN
1) LÊ-VĂN-DUYỆT (1763-1832)
2) TRƯƠNG-ĐĂNG-QUẾ
3) NGUYỄN TẤN
4) CHÍ SĨ CÁCH MẠNG TRƯƠNG-CÔNG-ĐỊNH (1820-1864)
5) LÊ-TRUNG-ĐÌNH (1862-1885)
6) NGUYỄN THỤY (1878-1916)
a) Tham gia phong trào khất thuế chống Pháp
b) Nguyễn-Thụy và cuộc Duy-Tân khởi nghĩa
c) Cái chết của người chí sĩ cách mạng
7) HIẾU TỬ NGUYỄN-VĂN-DANH
V. THI CA
1) CA DAO, TỤC-NGỮ
2) HÁT RU EM
3) HÁT HỐ
4) HÒ
a) Hò (Nhân nghĩa)
b) Hò (vấn đáp)
VI. THƠ
1) TÚ CANG (1841-1898)
2) NGHÈ KIM
3) HỌC SOẠN
4) HỌC Ý (1831-1905)
5) NGUYỄN VỸ
6) BÍCH-KHÊ (1916-1946)
7) TẾ-HANH
VII. BỜ XE NƯỚC
1) TỔ CHỨC MỘT BỜ XE NƯỚC
a) Nguyên tắc vận chuyển
b) Muốn đặt bờ xe nước
2) CÁCH ĐIỀU HÀNH VÀ QUẢN TRỊ MỘT BỜ XE NƯỚC
a) Thợ xe
b) « Bảo cử » xe
c) Thời gian làm xe
d) Thủy tô
e) Số chi thu hằng năm của một bờ xe nước
3) SỰ QUAN TRỌNG CỦA BỜ XE NƯỚC
a) Về mặt sản xuất
b) Liên hệ với đời sống dân chúng
c) Đặc điểm của bờ xe nước
VIII. NÔNG, LÂM SẢN
1) MÍA, ĐƯỜNG
a) Thời gian trồng mía và đốn mía
b) Các loại đường
2) QUẾ QUẢNG
a) Hình thái, tố chất và hương vị Quế
b) Phương pháp trồng Quế
c) Mùa bóc vỏ quế
d) Cách để dành Quế
e) Các kiểu quế Quảng (Trà-Bồng)
3) CÁC GIỐNG HUỲNH TINH
a) Cách trồng huỳnh tinh
b) Cách lấy bột
c) Có 2 cách khuấy bột
IX. CÁC NGHỀ CỐ HỮU
1) MẠCH NHA
a) Nguồn gốc
b) Đặc tính của mạch nha
c) Cách thức nấu mạch nha
2) KẸO GƯƠNG
X. THÚ VUI ĐỒNG QUÊ : ĐÁNH CHIM MÍA
a) Các loại chim mía
b) Thú đánh chim mía
c) Món ăn chim mía
XI. MÓN ĂN ĐẶC BIỆT
1) CÁ BỐNG SÔNG TRÀ
a) Các loại cá bống
b) Cách đánh cá
c) Món ăn đặc biệt : cá bống kho tiêu
2) DON VẠN-TƯỢNG
a) Trà-Giang : quê hương duy nhất của loại don
b) Mùa nhủi « don »
c) Cách nấu don
d) Ruột don xào dòn : món ăn chọn lọc
XII. SÁCH BÁO THAM KHẢO
PHẠM TRUNG VIỆT
NON NƯỚC XỨ QUẢNG
Tân biên
KHAI-TRÍ SÀI-GÒN PHÁT HÀNH
1969
(Ấn bản mới của « Non Nước Xứ Quảng »
sửa chữa, hiệu đính, kiểm chứng, tăng bổ tài liệu,
hình ảnh sinh hoạt, thắng cảnh địa phương)
« NON NƯỚC XỨ QUẢNG » là cuốn sách đã giới thiệu rất đầy đủ về QuảngNgãi với thắng cảnh, danh nhân, các sản vật và sinh hoạt của người dân QuảngNgãi. (TẬP SAN SỬ ĐỊA Đại-Học Sư-Phạm Sàigòn số 2-1966)
…Nhìn chung, tập biên khảo của ông Phạm Trung-Việt vẫn là tập sách bổ ích,
không những bổ ích cho việc tìm hiểu của những người muốn đi sâu vào non nước
Việt-Nam mà còn bổ ích cho chính người địa phương. THƯ-TRUNG (Tin Sách số 12,
Sổ tay một năm văn học do Trung Tâm Văn Bút Việt-Nam ấn hành 1963)
« NON NƯỚC XỨ QUẢNG » của Phạm trung-Việt, một tập khảo cứu về địa lý,
nhân văn, thắng cảnh và thi ca Quảng-Ngãi.
Tài liệu đầy đủ, soạn thảo công phu, có nhiều thắng cảnh địa phương.
(Tạp chí PHỔ THÔNG số 87-1962 – số tân niên 15-2-1966)
Cùng một tác-giả
Đã xuất bản :
- NON NƯỚC XỨ QUẢNG, biên khảo
- TÂM SỰ NGƯỜI CHA I, II, tùy bút-thư
- NON NƯỚC XỨ QUẢNG, tân biên
Sẽ xuất bản :
- NHỊP TRÔI, nhật ký – tùy bút
- THÙY DƯƠNG CA, thi tuyển
- HÀNH TRÌNH MÙA THU, hồi ký
- MẤY ĐƯỜNG TƠ, thơ
TÁI NGỘ
« Ai về Quảng-Ngãi xa xôi »…
Dư âm của tiếng hát chiều phượng xưa còn nghe vẳng đâu đây, gờn gợn theo
sóng nước Trà-giang.
Mười năm qua, bao nhiêu lá rụng, nước vẫn chảy qua cầu xuôi về biển cả bao
ước vọng thầm kín, tâm tư khổ đau của con người.
Hơn một lần tái ngộ. « Non nước xứ Quảng » thân gởi lời cảm tạ tri kỷ bốn
phương từng dành cho núi Ấn sông Trà mối cảm tình lai láng.
Cái thuở ban đầu yêu sông núi ấy, ai làm sao quên được ?
Núi sông nầy từng che chở, an ủi, khuyến khích kẻ cầm bút chập chững trên
bước đường sự nghiệp.
Tạ lòng tri kỷ, đền ơn quê hương, người văn nghệ chỉ biết làm kiếp tằm nhả tơ
tô điểm cho miền đất Quảng một màu tươi đẹp vĩnh viễn, dù quê hương từng trải
mấy lớp tang thương.
Xứ Quảng xa xôi nhưng tình dân vẫn gần gũi, khắn khít muôn đời với đất Mẹ.
Tô điểm cho non sông xứ Quảng, phải chăng đã góp phần tăng vẻ đẹp gấm vóc
cho nước Tổ.
Với ý nghĩa trên, người văn nghệ thành kính dâng lên Tổ Quốc Việt-Nam tập
biên khảo « Non nước xứ Quảng tân biên ».
PHẠM TRUNG VIỆT
« Hoài hương »
Mơ về đất Tổ mộng nào nguôi
Một trận cười pha lệ sụt sùi.
Hòn BÚT sang nghiên trăng lại gió
Sông TRÀ mượn chén ngược rồi xuôi.
QUẢNG giao đèn sách tuồng xao lảng
NGHĨA nhớ quê hương luống ngậm ngùi.
Đời có khi say còn lúc tỉnh
Thế thời, hai tiếng khó mà lui.
BẠCH VÂN
CHÂN DUNG
« Họa phẩm của Nghiêu-Đề, huy chương bạc,
Triển lãm hội họa mùa xuân 1961 ».
I. THEO GIÒNG LỊCH SỬ
XỨ Quảng, miền núi Ấn sông Trà ngày-nay, nguyên xưa là đất Việt-ThườngThị. Đời Tần thuộc Tượng quận đời Hán thuộc quận Nhật-Nam (đất huyện LưDung). Cuối đời Hán bị quân Lâm-Ấp chiếm, đời Tùy bình định quân Lâm-Ấp đem
thuộc về Hồng-Châu, sau đổi thành quận Hải-Ân. Đời Đường thuộc Sơn-Châu, đời
Tống thuộc Cổ-Lũy-động của Chiêm-Thành.
Năm Nhâm-Ngọ (1402) Hồ-Quý-Ly sai tướng Đỗ-Mẫn mang quân chinh phạt
Chiêm-Thành. Vua Chiêm Ba-địch-Lại (con La-Khải) phải nhường Chiêm động
(nam Quảng-Nam ngày-nay) để xin bãi binh. Vua nhà Hồ buộc Chiêm Thành phải
nhượng thêm Cổ-Lũy-động (Quảng-Ngãi ngày-nay).
Hồ-quý-Ly chia đất nầy thành 4 châu : Thăng, Hoa,Tư, Nghĩa, đặt lộ ThăngHoa thống hạt 4 châu.
Đời Minh-thuộc (1414-1427), các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa lại bị mất về
Chiêm.
Năm 1471 Vua Lê-thánh-Tông xuống chiếu thân chinh. Tháng giêng Tân-Mão
(1471) toàn quân Việt chia làm 2 đạo, mỗi đạo 100.000 thủy quân do Thái-Sư
Đinh Liệt và Thái-Bảo Lê Niệm chỉ huy tiến vào đất Chiêm. 500 chiến thuyền Việt
do Tả Du Kích tướng quân Lê-hy-Cát chỉ huy lẻn vào cửa biển Sa-Kỳ (Quảng-Ngãi)
lập dinh lũy, đặt đồn ải, khiến quân Chiêm sợ phải rút lui về cố thủ tại Trà-Bàn.
Vua Lê-thánh-Tông ra lệnh tiến binh vây hãm cửa Thị-Nại, ngày 29-2 Tân-Mão
(1471) vây thành Trà-Bàn ngày 1-3 vào thành bắt được vua Chiêm Trà-Toàn,
ngày 2-3 xuống chiếu sửa soạn ban sư. Vua cho người Chiêm đầu hàng là Ba-Thái
làm đồng Tri Phủ Đại Chiêm bổ ông Lê-y-Đà làm Tri Châu Cổ-Lũy coi việc
quân dân.
Tháng 6 năm Tân-Mão (1471) vua Lê-thánh-Tông lấy đất Chiêm Thành vừa
chiếm đặt làm đạo Thừa-Tuyên Quảng-Nam thống lảnh 3 phủ 9 huyện trong đó có
phủ Tư-Nghĩa gồm có 3 huyện : Bình-Sơn, Mộ Hoa (Mộ-đức ngày-nay) NghĩaGiang (Nghĩa-Hành ngày-nay).
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận-Quẳng đổi thành Quảng-Nghĩa phủ
nhưng cũng thuộc Quảng-Nam dinh.
Đời nhà Nguyễn Tây-Sơn (1788-1802) cải Quảng-Nghĩa thành Hòa-Nghĩa phủ.
Năm 1802 vua Gia-Long khôi phục đất ấy đặt tên Quảng-Nghĩa dinh có chức
quan Lưu Thủ, Cai Bộ, Ký Lục cai trị. Năm 1808 đổi làm Quảng-Nghĩa trấn, quan
cai trị gọi là Trấn-Thủ.
Năm Minh-Mạng thứ 8 (1827) lại đổi chức Ký Lục Cai Bộ làm Hiệp Trấn, Tham
Hiệp. Năm 1832 chia đặt đặt tỉnh hạt, đổi trấn thành tỉnh, đặt 2 ty Bố-Án (BốChánh và Án-Sát) thống thuộc Quảng-Nam. Năm 1834 lại gọi Nam-trực-tỉnh.
Năm Thành-Thái thứ 2 (1890) đặt 3 châu : Sơn Tĩnh Nghĩa hành, và Mộ-Đức
thuộc Nghĩa-Định sơn phòng, đổi 3 châu ấy làm 3 huyện do tỉnh kiêm quản, bỏ
chức Bố-Chánh đặt chức Tuần-Vũ cai trị 1 phủ : phủ Tư-nghĩa và 6 huyện :
Chương-Nghĩa, Bình-Sơn, Mộ-Đức, Nghĩa-Hành, Sơn-Tỉnh, Đức-Phổ gồm tất cả :
24 tổng, 426 xã, thôn, ấp, trại.
- Từ 1908 cho đến năm cuối của Triều Nguyễn (Bảo-Đại (1926-1945) miền
Trung châu Quảng-Nghĩa được chia thành 4 phủ : Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư-Nghĩa
Mộ-Đức ; 2 huyện : Nghĩa-Hành, Đức-Phổ, tất cả 21 tổng, 403 làng. Miền Thượng
được chia thành 4 nha : Trà-Bồng, Sơn-Hà, Minh-Long, Ba-Tơ với 17 tổng, 199
« nóc ». Miền duyên hải có đảo Lý Sơn 1 nha, 2 làng.
- Từ 9-3-1945 đến 19-8-1945, tổ chức hành chánh không thay đổi mấy, chỉ
đổi chức vụ cai trị : Tuần Vũ đổi thành Tỉnh Trưởng (chính phủ Trần-trọng-Kim).
- Từ 19-8-1945 đến 1-11-1954 (ngày hội nghị Trung-Giả quyết định chuyển
giao quyền cai trị trong khuôn khổ hiệp định Genève 20-7-54).
Thời kỳ đầu của cuộc tổng khởi nghĩa 1945, tỉnh Quảng-Ngãi được đổi tên là
tỉnh Lê-trung-Đình, phủ Tư-Nghĩa đổi thành phủ Nguyễn Thụy, xã Chánh-Lộ lấy
tên xã Nguyễn-Viện, v.v… Về tổ chức, lập liên xã, bỏ các làng cũ.
Nhưng sau một thời gian thay danh hiệu, Tỉnh Huyện đều lấy lại tên cũ. Các
Phủ, Huyện, Nha trong tỉnh đều gọi là Huyện, gồm tất cả 10 Huyện, 124 liên Xã.
Đảo Lý-Sơn sát nhập vào huyện Bình-Sơn nhưng năm 1952 bị quân Pháp chiếm
đóng sát nhập hải đảo nầy vào thành phố Đa-Nẵng.
Từ 1-11-1954 đến nay (1969) tỉnh Quảng-Ngãi được chia thành 10 quận :
- Bình Sơn : 24 xã
- Sơn Tịnh : 24 xã
- Tư Nghĩa : 14 xã
- Nghĩa Hành : 8 xã
- Mộ Đức : 12 xã
- Đức Phổ : 15 xã
- Trà Bồng : 13 xã
- Sơn Hà : 14 xã
- Minh Long : 14 xã
- Ba Tơ : 24 xã
Cộng : 158 xã
Xã Cẩm-Thành nằm giữa tỉnh lỵ, trước kia thuộc quận Tư-Nghĩa hiện đã tách
rời, thuộc tòa Hành Chánh tỉnh.
2 xã ở hải đảo Lý-Sơn sát nhập vào quận Bình Sơn, lấy tên Bình Vĩnh, Bình
Yến. Ranh giới Quảng-Ngãi hiện chạy từ phía nam Dốc Sỏi đến giáp đèo Bình-Đê.
Trải nhiều thế kỷ, dân tộc Chàm từng lấy miền đất Quảng nầy làm thành lũy
ngăn chận cuộc Nam tiến của dân tộc Việt. Hiện nay tại địa phương còn vài di tích
lịch sử như thành lũy ở Châu Sa (Sơn Thành Sơn Tịnh) Cổ Lũy (Tư Nghĩa), v.v…
Thỉnh thoảng đồng bào địa phương vẫn còn đào được nhiều tượng đá với nét
điêu khắc tuyệt mỹ tiêu biểu cho nền văn minh Chiêm-Thành. Đến Quảng-Ngãi
du khách hiện còn nghe một số tên địa phương chỉ tên sông như : Trà Khúc, Trà
Bồng, chỉ cửa biển như : Sơn Trà Những tên nầy có giọng Chàm vì tiếng Trà do
chữ Phạn Jaya, một trong 4 dòng họ Chiêm chính thống : On, Ma Trà, Chế (hiện ở
thôn Năng Đông, xã Tư Hòa, quận Tư Tư-Nghĩa còn ước 500 người mang dòng họ
chế với ngôi mộ Tiển Hiền của họ.
Khi tiến sâu vào Nam, công cuộc di dân bén rễ và bành trướng nhanh chóng,
dân tộc Việt dựa trên ý thức Quốc Gia, cơ sở gia tộc và nhất là khả năng đồng hóa
đặc biệt của mình, để sinh tồn.
Và xứ Quảng, miền núi Ấn sông Trà, phần đất của quê hương là chứng tích
cuộc hành trình Nam tiến lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt.
II. ĐỊA-LÝ THIÊN-NHIÊN
1) ĐỊA-THẾ VỊ-TRÍ
- Địa-thế Tỉnh Quảng-Ngãi nằm giữa miền Trung nguyên Trung phần, có
nhiều núi đồi cao, có gò, thung lũng, có những cánh đồng trồng lúa, mía và
biển cả.
- Vị-trí-Tỉnh Quảng-Ngãi ở bắc vĩ tuyến 150 (8', kinh độ Greenwich 1800 47',
cao độ ở đồng bằng là 8m, cao độ tại ga Quảng Ngãi 9m, khoảng cách với SàiGòn
877 km, bắc giáp Quảng Tín, Nam giáp Bình Định, Đông giáp biển Nam Hải, tây
giáp Trướng Sơn và tỉnh Kontum.
2) DIỆN-TÍCH
Căn cứ vào không ảnh và bản đồ, Quảng Ngãi có hình thể đa giác gảy nhiều
cạnh, bề ngang từ 40 km đến 60 km, chiều dài 98 km, Diện tich toàn tỉnh ước
1
chừng 4.359 km2.
Quận Trung Châu :
- Bình Sơn : 498 km2
- Sơn Tịnh : 311 km2
- Tư Nghĩa : 220 km2
- Nghĩa Hành : 186 km2
- Mộ Đức : 252 km2
- Đức Phổ : 287 km2
- Xã Cẩm Thành : 3 km2
Quận Thượng :
- Trà Bồng : 439 km2
- Sơn Hà : 807 km2
- Minh-Long : 395 km2
- Ba-Tơ : 942 km2
Hải đảo Lý-Sơn 19 km2 hiện sát nhập vào quận Bình-Sơn.
3) CÁC NGUỒN LỢI VỀ NÔNG NGHIỆP, KỸ NGHỆ, THỔ SẢN, KHOÁNG SẢN
VÀ HOẠT ĐỘNG TIỂU CÔNG NGHỆ
Diện tích canh tác toàn tỉnh : 89 201 ha, 830.
Lúa : Có 4 vụ lúa :
- Tháng 3 : 35. 400 ha lúa trắng, ba trăng, 1 mẫu thu được : 1200 kí
- Tháng 8 : 20.000 ha lúa tàu núp và chiêm ngự. 1 mẫu : 1 600 kí.
- Tháng 10 : 16.500 ha lúa đen, bông rinh. 1 mẫu : 1.100 kí
- Tháng 12 : 8.223 ha lúa trì trì.
Năm 1968 đã thí nghiệm thành công lúa Thần Nông (IR8) năng xuất gấp 3 các
giống lúa địa phương. Năm 1969 đang phát triển 1500 ha lúa Thần Nông trong
toàn tỉnh.
Hoa màu phụ quan trọng : mía, dừa, thuốc lá khoai lang, mì, bột huỳnh
tinh…
Cây ăn trái : chuối, xoài, cam, quít, v.v…
Rau Cải : Các giống rau nhất là rau muống thích hợp với đất phù sa ven 4
sông lớn.
Thổ sản nổi tiếng : Quế sản xuất ở nguồn Thanh-Cù (Trà-Bồng) có ít dầu, vị
bạc ; nghĩa sâm sản xuất ở các núi dọc bờ biển thuộc quận Bình-Sơn, tháng 2, 3,
nở hoa.
Khi ấy người ta đào củ, rửa sạch đem chưng rồi cạo bỏ vỏ ngoài, ban ngày
phơi, ban đêm sấy lửa cho khô, củ có vần ngang giống sâm ở Bắc, vị cam đạm.
Khoáng sản. Quảng Ngãi có những hầm mỏ đã tìm thấy nhưng chưa được
khai thác : Mỏ chì ở Tân An Sơn-Tây (Sơn-Tịnh) Mỏ Kaolin ở Di-Lăng (Sơn-Hà) Mỏ
sắt ở Đức-Hoài (Mộ-Đức) có quặng sắt (loại nầy : Có từ 62,5 đến 73,5% oxyde de
fer) hầm mò lộ thiên khám phá năm 1965 tại xã Đức-Hoài, cách tỉnh lỵ 15 km về
phía Nam. Hầm mỏ ước lượng 40 triệu tấn, trị giá 20 tỷ bạc NV (tài liệu VTX
năm 1965).
Chăn nuôi : Không quan trọng vì không cò đồng cỏ, không có thành phần
chuyên sống về nghề chăn nuôi, chỉ thực hiện trong phạm vi gia đình. Tuy nhiên
vẫn có số ít người chuyên nuôi vịt, nhiều nhất là 1000 con (hiện nay có phong
trào nuôi heo, gà (giống ngoại quốc).
Tỉnh Quảng-Ngãi, trong năm 1969 theo bảng thống kê địa phương có chừng
26.150 con trâu, 134.500 con bò 157.000 gà, 132.000 vịt. Số gia súc trên thường
được đem bán ra ngoài tỉnh.
Chài lưới : 25.000 ngư dân Quảng-Ngãi Sa-Huỳnh đánh cá trên sông bể.
Đánh cá bể quan trọng hơn đánh cá sông Các ngư thuyền có động cơ thường hoạt
động theo ven biển : Sa-Huỳnh, Bình Sa, Bình-Thiện, Đức-Hải, Tư-hiền. Hằng
năm trung bình ngư dân đánh được : 4000 tấn cá biển, 30 tấn cá sông, 45 tấn
tôm, 30 tấn mực. Số lượng sản xuất nước mắm ở Quảng-Ngãi trung bình hằng
năm : 200.000 lít. Tỉnh Quảng-Ngãi có 2 nơi làm muối : Sa-Huỳnh, Bình-Đức sản
xuất hằng năm 980 tấn dư dùng trong tỉnh. Muối thặng dư được bán ở các tỉnh
miền Trung.
Thương mại : Hiện hạng trung tiểu thương, hoạt động khá mạnh những
người buôn gánh bán bưng chiếm số lượng đáng kể. Các tiệm buôn to phần nhiều
của ngoại kiều và người ngoài tỉnh. Các chợ là trung tâm trao đổi hàng hóa tại
thôn xã. Ngoài Thị xã là trung tâm buôn bán có ngôi chợ lớn, toàn tỉnh có 110 chợ
rải rác các quận, xã và tiểu thị trấn.
Các hoạt động tiểu công nghệ : Làm gạch ngói, dệt vải, chiếu, chằm nón.
Gạch ngói nhiều nhất ở Tư-Nghĩa (Sông Vệ) toàn tỉnh có 60 lò sản xuất, đủ cung
cấp cho công tác kiến thiết, xây dựng nhà của trong tỉnh. Hằng năm sản xuất độ
750 triệu viên gạch, 350 triệu ngói. Nghề dệt chiếu phát đạt ở Tư Nguyên (TưNghĩa : hằng năm sản xuất 251000 đôi chiếu (đặc biệt đã bắt đầu dùng nylon dệt
thay lát). Nghề làm nón cũng đang phát triển mạnh, trở thành nghề phụ của
những gia đình nông thôn hay các gia đình đình định cư, tạm cư. Hằng năm mức
sản xuất từ 500.000 đến 70.000 chiếc nón tiêu thụ trong ngoài tỉnh, nhất là các
tỉnh miền Nam (tài liệu địa phương chí Quảng-Ngãi năm 1968).
Sản phẩm địa phương xuất tỉnh : đường, mạch nha, kẹo gương, thuốc lá,
quế… những hàng hóa nhập tỉnh : gạo, các dụng cụ nông nghiệp, vải…
4) NÚI SÔNG, ĐỒNG BẰNG, BỜ BIỂN, HẢI ĐẢO
Về hình thể thiên nhiên, tỉnh Quảng-Ngãi được chia làm 2 miền riêng biệt :
vùng Thượng du, vùng Trung Châu và 1 hải đảo.
- Vùng Thượng du : rộng gần bằng 2/3 diện tích toàn tỉnh, Vùng nầy thuộc
loại đất núi, có nhiều đá, khả năng khai thác kém, núi cao hiểm trở, rừng rậm bao
la chiếm một diện tích trên 500 ha, nơi có lâm sản dồi dào sản xuất hàng ngàn
thước gỗ quý, cung cấp nhiều củi lại thêm có quế Trà-Bồng là một lâm sản quan
trọng rất được ưa chuộng trên thị trường quốc nội và quốc ngoại.
Quảng-Ngãi có nhiều núi cao hiểm trở như núi Cà-Đam tục gọi « Hòn Ông,
Hòn Bà » cao độ 1600m tọa lạc địa hạt 2 xã Hà-Long và Hà Tây ngăn cách Sơn Hà
và Trà-Bồng, về phía tây bắc, núi Đá Vách (Thạch Bích) cao độ 1500m tọa Lạc xã
Hà Thạch ngăn cách Sơn Hà Minh Long, núi U Bò ở xã Lò Xà Hà Khê (Sơn Hà) cao
độ 1200m. Rất nhiều núi cao trung bình 700m như núi Cao-Môn phía tây quận
Đức Phổ.
Ngoài ra còn có nhiều núi thấp như Tham Hội, Phụng Hoàng, Phổ-Tiên, Cổ Sơn
(tục danh Ình Tình), Ngủ Chỉ Nam Châm, Mô Nỏ, Trà Quân (Bình Sơn), Thiên Ấn,
Long Đầu, La Vọng, Tam Thai, Vu, Hổ Trụ, Truyền Tung, Ba Hãn, Vân Phong (Sơn
Tịnh), Thiên Bút, Phú Thọ, Là Hà, Đầu Kê, Kỳ Lân, Đầu Voi, Trấn-Công (núi Ông)
(Tư Nghĩa) ; núi Eo Gió, Phú Lập, Mã Yên (Nghĩa Hành) ; Đằng Giao, Thiết
Trường, Văn Bân, Nho Lãnh, Quất Lâm, Long Cốt, Lộ Bôi, Man Tân, Bình Quang,
Sa Băng, Thanh Hiếu (Đức Phổ) ; Diên Trường, Tiên Mễ, Hoành Sơn, Cung Quăng,
núi Đại (Đức Phổ).
- Vùng Trung Châu : Đất đai phần lớn là phù sa do các sông bồi lên. Dựa vào
thành phần cát khá cao của đất vào P.H. Acit (trung bình 4,5 đến 5) và với sự xoi
mòn hủy phá do thời tiết mưa nắng đặc biệt ở Quảng-Ngãi Người ta thấy rằng
chất đất ở đây tương đối nghèo-sự thoát thủy lại quá nhanh, thêm váo đó mùa
khô hạn kéo dài chứng tỏ có một sự thiếu nước trong nhiều tháng của năm. Một
màu sắc nhạt ở bề mặt đất cho biết có sự thiếu chất bùn.
Tuy nhiên, Quảng-Ngãi có nhiều vùng đất rộng thích hợp cho việc cày cấy nhờ
thế nước của các sông lớn phát nguyên từ dãy Trường sơn chảy xuyên qua đồng
bằng rồi ra biển.
Lưu lượng các giòng sông biển thiên theo mùa. Về mùa nắng lòng sông khô
cạn, trái lại mùa mưa, những cơn mưa dầm nặng hạt trên dãy Trường sơn làm cho
nước đổ xuống các giòng sông khiến mực nước dâng cao đột ngột lan tràn vào các
vùng đất xung quanh.
- Về sông ngòi : Quảng ngãi có 4 sông chính :
SÔNG TRÀ-BỒNG dài độ 50 km, ở phía bắc quận Bình-sơn, phát nguyên từ
nguồn Thanh Bông, chảy qua quận Bình-sơn xuống hướng đông đến thôn GiaoThủy, lại chảy về đông bắc đến thôn Mỹ-huệ, Tân-An và chảy ra cửa biển Thể Cần
(SƠN-TRÀ)
SÔNG TRÀ-KHÚC dài khoảng 120 km phía bắc quận Tư-nghĩa, tả ngạn con
sông về phía bắc là quận Sơn-tịnh, phát nguyên từ vùng Thượng (tục danh mọi
HRÉ (đọc Re) chảy qua 2 quận Tư-nghĩa và Sơn-tịnh. Sông Trà-Khúc tập họp các
nguồn nước của 3 sông Di-Lăng thuộc xã Hà-tây (Sơn-hà) bắt nguồn từ Đakto,
sông Daksélo (tức Xà-Lò) xã Hà-khê (Sơn-hà) bắt nguồn từ Kom-phong, sông HRÉ
thuộc xã Hà-Thượng bắt nguồn từ Ba-Tơ, từ Hải-Giá chảy xuyên qua quận lỵ Sơnhà, phía ngoài Trường lũy gọi là là Lệ-giang, chảy xuống hướng đông qua nguồn
Thanh-Cù, từ phía tây tập họp vào gọi là Nham-giang lại chảy xuống đông-bắc
qua thôn Diên-niên, Phước-lộc, Thu-phố, lại chuyển qua phía đông bắc chảy đến
xã Phú-nhơn xuôi về hướng đông rút vào của biển Đại cổ-Lũy năm Tự-Đức thứ 3
(1850) được liệt vào hạng Đại xuyên (sông lớn) đăng vào tự điển Lưu lượng mùa
nắng là 35 m3.
SÔNG VỆ dài chừng 80km ở phía tây quận Mộ-đức. Phía bắc con sông là ranh
giới quận Tư-nghĩa. Sông nầy có ba ngả nguồn, chảy xuyên qua các quận Nghĩahành, Mộ-đức, Tư-nghĩa :
- Từ núi Tô sơn nguồn An-Ba chạy ra gọi là Tô-giang, giòng sông khuất khúc
chảy xuồng phía đông qua các đất mán Trà-nô, Trà nột đến mán Đồng chùa.
- Từ sơn phần Man lý chảy xuống đông bắc gọi là Lý-giang chảy qua Man-nậu,
Man-năng rồi cùng hiệp với sông Man Đồng-chua chảy quật ra phía bắc, vòng
quanh phía đông núi Cao-môn.
- Từ khe nước Nhĩ chảy xuống đông nam gọi là Na-giang rồi quẹo về phía đông
chảy đến Man-sung rồi chảy về Nam cùng đến núi Cao-môn hiệp gọi là Bôngiang ; từ đây chảy quẹo xuống hướng đông đến núi Hung-nhỉ, Hương-Quán, lại
chảy đến núi Long phụng quẹo qua phìa đông bắc chảy đổ ra cửa biển Đại cổ-Lũy.
Niên hiệu Minh-Mạng thứ 17 (1836) có chạm hình sông vào Dụ-đỉnh.
SÔNG TRÀ-CÂU dài ước 40 km, phía nam quận Mộ-đức (nay thuộc quận Đưcphổ), phát nguyên từ núi Bàn-Thạch thuộc mán làng Lộ ngoài trường lũy, chảy
đến mán Na-ấm hiệp lựu với khe Thiết-liêm gọi là sông Liêm, chảy khuất khúc về
phía đông bắc đến Tỉnh-nam nhất bảo, chảy quanh qua phía đông nam gọi là sông
Trà-Câu. Đến đây quẹo xuống phía đông, hiệp lưu với Thóc giang rồi chảy ra cửa
biển Mỹ-Ý (tục gọi Mỹ-Á).
Sông Quảng-ngãi, đặc biệt sông Trà-Khúc và sông Vệ không có lưu lượng lớn
như sông Mã, cũng không chảy lờ đờ như sông Hương, không quá rộng như sông
Đà-Rẵng nên rất hữu ích cho nông nghiệp.
Trên các sông nầy, nông gia dựng rất nhiều bờ xe nước tự động, đào nhiều
kênh, mương, tận dụng nước sông trong những mùa nắng hạn.
Ngoài 4 con sông lớn trên, Quảng Ngãi còn có các sông nhỏ như : Thóc-Giang
hay Bến Thóc (Mộ Đức), sông Phố-Hiển-Đông (Đức Phổ), sông-Lê (phía tây quận
Nghĩa-Hành), sông Chiến-Lộc (Sơn-Tịnh), sông Xà-Lộ (Bình-Sơn), sông Phước-
Hậu, v.v…
Quảng-Ngãi còn có một hệ thống 400/km kênh đập, bờ cừ, đê quan trọng :
- Đập Bến-Thóc tại xã Đức-Thọ (Mộ Đức) dài 104 th, cao 2m5 tưới 2000 ha,
dân-số hưởng lợi 20.000 người, khởi công 11. 8. 58 hoàn thành 10-3-59.
- Đập Hố-Đá (Nghĩa-Hành) thuộc hệ thống sông Giăng hoàn thành 1958, dài
78th, tưới 2130 ha.
Ngoài ra còn các đập nhỏ : đập Suối-Tó (Tư mỹ) tưới 100 ha, đập ngăn nước
mặn Đồng-phó (Phổ Châu) đập Hiệp Phổ, cây Bứa, v.v…
- Hệ thống đê : đê cầu Bi, Châu-Me-Đông, v.v…
- Hệ thống bờ cừ quan trọng : bờ cừ Mộ Đức tận dụng sông Vệ, bờ Cừ sông
Trà-Khúc đầu khẩu kênh, đặc biệt bờ cừ Tư-Nghĩa (Tư-Quang) dài 588m bằng tre.
- Kênh Tư-Nghĩa (kênh chính dài 6km500 hỗ khẩu tại Tư Quang, nếu kể cả
các chi nhánh có thể dài đến 30 km, như một màn nhện lấy nước sông Trà về tưới
ruộng các xã trong quận. Công trình kỷ thuật là đập Ba-La đúc bằng xi mân cột
sắt và đập cây bứa đã hoàn thành.
- Kênh Núi Sứa xã Sơn Long, Sơn Tịnh cách tỉnh lỵ 3 km phía bắc dài 13.300
km tưới 600 ha ruộng. Kênh Sơn-Tịnh dài 7000 th, lấy nước sông Trà-Khúc tưới
ruộng các xã miền đông Sơn-Tịnh và đông-nam Bình-Sơn. Công trình kỷ thuật
của kênh nầy là đập Tư-Cung Nam hoàn thành cuối 1962.
Tuy ở trên những con sông khác nhau nhưng về kỷ thuật công tác của các hệ
thống dẫn thủy trên đều liên hệ mật thiết với nhau, tưới gần 10.000 ha ruộng.
- Suối nước nóng : Tại Quảng Ngãi có 8 suối nước nóng :
Suối Mộ Đức (Thạch Trụ) 520
Suối Tú Sơn (bắc Mộ Đức) 720
Suối Nghĩa Kỳ (Mỹ Thạnh Tư Nghĩa) 750
Suối Nghĩa Thắng (An Hội) 750
Suối Phước Thọ (Cù-Và Thạch-Nham) 570
Suối Bình-Hòa I (Lộc-Thanh Bình-Sơn) 640
Suối Bình-Hòa II (gần Bình-Hòa I) 540
Suối Kim-Thành (Nghĩa Lộc Nghĩa-Hành).
- Bờ biể
 








Các ý kiến mới nhất