Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NGƯỜI TÌNH BÁO THẦM LẶNG

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:51' 30-01-2026
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
LỜI NÓI ĐẦU
Gần trung tâm thành phố Cần Thơ có con hẻm không nhỏ, thuộc đường Lê Lai.
Hẻm này dẫn đến một khu dân cư, có đường ngang ngõ dọc, giống như một cư xá. Khu
dần cư này hình thành một cách tự nhiên, không phải do chính quyển cũ qui hoạch.
Thời Pháp thuộc, vùng đất nơi này hoang vu, kinh rạch và sình lẩy ngập nước khi
triều lên. Bẩn, đước, dừa nước mọc rậm rạp như rừng. Cho đến nay dừa nước cũng
còn rất nhiều dọc theo con kinh sau lưng khu dân cư này.
Nơi đây từng là cửa ngõ vào ra thành phố của các nhà cách mạng, các chiến sĩ
Việt Minh.
Ông giáo Lắm là thấy dạy học của nhiều cán bộ Việt Minh, trong đó có cố thủ
tướng Phạm Hùng. Ông giáo với những người Việt Minh này xem nhau như chỗ thân
tình. Ngoài tình thầy trò, ông còn truyền cho họ lòng yêu dân, yêu nước, và đạo đức
của thánh hiển. Ông còn hay giúp đỡ những người làm cách mạng cả về vật chất.
Chính quyển thực dân xem khu đất này như cái gai trong mắt, nên bán giá rẻ
như cho. Mục đích của họ, muốn tạo nơi đây thành khu dân cư, dựng nên lá chắn, ngăn
chặn con đường xuất nhập của cán bộ Việt Minh. Chính vì vậy mà ông giáo Lắm mua
được khu đất này. Ông vừa làm nhà để ở, vừa để có điều kiện giúp đỡ các chiến sĩ cách
mạng. Và dần dần, nơi đây trở thành một cơ sở ngầm của Việt Minh.
Những thầy cô giáo khác, các bác sĩ, kỹ sư... thấy thầy giáo Lắm sống ở đây yên
ổn, không bị ai quấy rầy, phiền nhiễu, nên rủ nhau đến mua đất làm nhà.
Lâu dẩn nơi đầm lầy nước đọng trở thành khu dân cư, đúng ý đồ của thực dân
Pháp. Nhưng chính quyển thực dân cũng không thể nghĩ ra, điều họ muốn giống như
con dao có hai lưỡi. Bởi vì, có khu dân cư thì các chiến sĩ cách mạng có chỗ dựa an toàn
hơn.
Thời gian trôi, nơi đây phát tích dần. Các thế hệ sau, sinh ra ở vùng đất này, được
học hành và trở thành kỹ sư, bác sĩ, thầy cô giáo. Đến thời chiến tranh chống Mỹ, nơi
đây đã thành một khu dân cư khá đông đúc, trình độ dân trí cao. Trong đó tất nhiên

còn có cả sĩ quan quân đội chính quyền Sài Gòn và ngược lại, cũng có nhiều người tham
gia cách mạng.
Dân chúng gọi nơi đây là “Khu văn hóa”, một cách tự nhiên, không phải do chính
quyển đặt tên hay công nhận.
Sau ngày đất nước hòa bình, những người từng làm việc cho chính quyền cũ,
phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, lẩn lượt di tản, vượt biên hay định cư ở
nước ngoài theo các diện khác nhau.
Nhiều cán bộ cao cấp trong chính quyền mới, thấy khu văn hóa này yên tĩnh, môi
trường trong sạch, nên chọn làm nơi sinh sống.
Vào khoảng cuối thập niên bảy mươi của cuối thiên niên kỷ trước, có một gia
đình từ bên Lào hồi hương, ông bà chủ gia đình không biết là vô tình hay hữu ý mà
cũng tìm mua nhà trọng khu văn hóa này. Gia đình này không có gì nổi bật để mọi
người xung quanh phải đặc biệt chú ý đến.
Khi mới vể đây, trong nhà chỉ có hai vợ chồng, đứa con trai út khoảng mười lăm,
mười sáu tuổi và một thằng cháu ngoại, chưa đầy ba tuổi.
Nghe nói, các con lớn của ông bà đều đã trưởng thành và sống ở xa.
Ông bà khi đến đây đã quá trung niên, nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu. Thân hình
cả hai ông bà hơi đầy đặn, mái tóc đã điểm bạc.
Những người hàng xóm rồi cũng biết, người đàn ông, là giám đốc một sở của
tỉnh, còn bà vợ thì ở nhà nội trợ.
Nhưng quá khứ của hai ông bà như thế nào, chẳng ai biết một cách trọn vẹn.
Những năm cuối của thập niên tám mươi, ông bị bệnh tai biến mạch máu, thu
xếp công việc để nghỉ hưu. Đó chính là khoảng thời gian mà ông bận rộn nhất, vì phải
lo quá nhiều chuyện cho cơ quan hiện tại và cả cho cơ quan cũ, dù ông đã chuyển
ngành khá lâu.
Ngày ấy, nếu ai đi ngang căn nhà này, tò mò nhìn vào cửa sổ của căn phòng đối
diện với đường hẻm, thường nhìn thấy ông đang làm đủ thứ việc. Thường thì ông hoặc

cặm cụi viết, hoặc kỳ cạch gõ trên chiếc máy đánh chữ Remington nhỏ gọn, cũ kỹ. Ông
luôn bận rộn với công việc, chạy đua với thời gian, dường như sợ thần chết đến quá
nhanh, trước khi hoàn thành sở nguyện.
Ở tỉnh Hậu Giang này có không ít người biết phần nào về quá khứ của ông. Trong
số đó, có người là đồng đội, đồng chí, bạn thân... là đồng bào những nơi mà ông từng
đặt chân đến. Nếu gom góp hiểu biết của từng người liên quan đến ông, thì có thể vẽ
được chân dung của một con người với quá khứ thầm lặng mà không kém phần hào
hùng này.
Câu chuyện sau đây nói về một con người thật, sự việc thật, nhưng đã qua 'lăng
kính” văn chương, khiến nó có thêm màu sắc tiểu thuyết và có chút hư cấu.

Chương I
TÌM ĐƯỜNG MƯU SINH
1.1
Anh Nguyễn Văn Độ tìm cách lặn lội từ Thái Lan qua thủ đô Viên Chăn của đất
nước Vạn Tượng, mong tìm kiếm công ăn việc làm. Anh đã quá cái tuổi ba mươi lăm
nên ráng tìm cơ hội vươn lên trong khoảng đời ngắn ngủi còn lại.
Người Việt vốn hay nói tắt, nên họ chỉ gọi tên nước Thái Lan là Thái. Và chẳng
biết từ lúc nào, nước Vạn Tượng được người Việt gọi là Lào.
Thói đời vốn hay có trường hợp đứng núi này trông núi nọ.
Việt kiểu sinh sống ở Thái thường kháo nhau, Lào là một quốc gia nhiều tiềm
năng, đất rộng mà dân cư thưa thớt nên dễ kiếm việc làm. Nếu chịu khó siêng năng
cần cù thì ai cũng làm giàu ở xứ triệu voi này. Nhiều người còn nói, đất Lào có rất nhiều
vàng. Mà vàng thì hấp dẫn bất kỳ ai có mộng làm giàu.
Anh Độ, họ Nguyễn, một Việt kiều, sống khá lâu ở Thái, quê gốc Thái Bình, nhà
nghèo, cha mẹ mất sớm. Khi cha mẹ mất, anh mới là một cậu bé trên mười tuổi, họ
hàng ly tán, chẳng biết nương tựa vào ai. Cậu bé tự làm thuê làm mướn nuôi thân.
Ngay cả tên tuổi mình, anh cũng chưa chắc nhớ đúng, dù hiện giờ đã trở thành tên khai
sinh, ghi trong hồ sơ lưu trữ.
Thời Pháp, quê anh Độ rất nghèo nên nhiều người theo nghề bị gậy, lưu lạc tứ
xứ. Cậu bé Độ làm thuê bữa có bữa không. Những người làm thuê làm mướn tuy nghèo
nhưng rất nhạy với thời cuộc. Họ rủ nhau đi lưu lạc tứ xứ để mong được nở mặt nở
mày. Cậu bé Độ nghe người lớn bàn với nhau thì trong lòng rạo rực, giấc mộng hải hồ
hình thành dần trong đầu. Một ngày kia, khi có người mở lời rủ đi xa làm thuê kiếm
tiền, cậu chẳng hể lưỡng lự, bèn quyết bỏ xứ, theo vài người quen trong vùng lưu lạc
kiếm ăn. Trôi nổi mãi theo đường bộ, đến đâu thì xin việc làm để kiếm tiền đi tiếp.

Chẳng biết duyên số thế nào lại lưu lạc đến Thái Lan, làm công khắp nơi kiếm sống và
lớn dần theo năm tháng.
Thái Lan, mấy trăm năm trước, người Việt gọi là nước Xiêm, hay Tiêm La, từng
có rất nhiều người Việt đến đây sinh sống.
Có lẽ kể từ thời Nguyễn Ánh đem thân nhân và bộ hạ lánh nạn đến Xiêm thì đã
có khá nhiều người Việt theo chân? Những người Việt này phát triển và hình thành
cụm dân cư trên mảnh đất Phật giáo này?
Cho nên, người Việt xa xứ cũng thường lẩn mò đến đây để hội nhập và kiếm
sống. Chính quyền Thái tuy thận trọng nhưng không ngăn trở làn sóng người nhập cư
từ Việt Nam. Những lao động Việt thường siêng năng cẩn cù, khéo léo, lại chịu khó nên
dễ kiếm việc làm. Nhờ những ưu điểm này mà được chính quyển Thái “ngó mắt đi
hướng khác”, nghĩa là làm ngơ cho việc nhập cư trái phép.
Trong cuộc sống đầy biến động, cậu Độ biết được một điều quan trọng. Muốn
thoát nghèo, thoát khổ, thì không có con đường nào tốt hơn sự học để thu thập kiến
thức. Cậu tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi, mọi cơ hội gần gũi người có học vấn, để tăng thêm
hiểu biết.
Dần dần, đến khi trưởng thành, anh Độ đã trở thành người trí thức không bằng
cấp. Vì không học chính qui nên chẳng có bằng cấp để biết anh học đến đâu, nhưng
vốn hiểu biết và chữ nghĩa đủ để bạn làm ăn phải nể trọng.
Hơn ba mươi tuổi, anh Độ đọc thông viết thạo tiếng Việt và Thái, biết tính toán,
và cũng đọc viết khá tiếng Pháp. Anh luôn nhớ mình là người Việt, dân của một nước
thuộc địa Pháp, nên nếu muốn quay về bản xứ làm an thì phải biết vài chữ tiếng Tây
để lận lưng. Vậy nên
khi có điêu kiện tiếp xúc với người Pháp, anh đêu có gắng học thêm thứ tiếng
của họ, kể cả đọc và viết. Không những thế, anh còn chịu khó đọc sách, báo bằng tiếng
Pháp để có kiến thức về ngôn ngữ này.
Ngoài ra, anh Độ cũng biết, để có thể làm ăn trong điều kiện hiện nay ở Thái Lan
cũng phải cần biết thêm tiếng Anh, nên anh đã chăm chỉ học thêm khi có thời gian rỗi.

Những bạn cùng làm ăn chung chỉ biết anh Độ thông thạo tiếng Pháp và Anh,
nhưng chẳng biết trình độ thực của anh. Anh Độ không học ngoại ngữ qua trường lớp,
nên khó có thể biết anh giỏi các thứ tiếng này ở mức độ nào. Nhiều người biết anh sử
dụng tiếng Pháp thông thạo, dù phát âm chưa chuẩn chất giọng Paris.
1.2
Trên ba mươi, anh Độ là một người đàn ông gầy nhẳng, trắng trẻo vì chủ yếu
làm việc trong mát. Với dáng vẻ gầy nên trông anh khá cao, so với người bình thường.
Anh Độ đã sớm biết, muốn không bị khinh khi và dễ kiếm công ăn việc làm, ngoài
sự học, còn phải tạo cho mình phong cách của một kẻ có học vấn, có văn hóa. Vì vậy,
anh đã cố học hỏi để dần tạo được bộ dáng của một công chức hay kiểu cách của một
thầy ký.
Hằng ngày, ai gặp cũng đểu nhận thấy, ở anh là một con người ăn nói chững
chạc, lịch sự, tế nhị, nhiều hiểu biết và hóm hỉnh. Không những thế, anh còn tạo dáng
vẻ bề ngoài, từ trang phục cho đến râu tóc lúc nào cũng sạch sẽ, gọn gàng. Nếu không
biết quá khứ, sẽ chẳng ai nghĩ anh là hạng người trôi sông lạc chợ đi tìm kế sinh nhai.
Nước Thái Lan người đông, việc ít. Những công việc nhẹ nhàng, lương cao bổng
hậu chủ yếu dành cho người Thái. Cộng đổng người Việt sống nhờ ở đất Thái phải làm
những công việc nặng nhọc mà lương bổng rất ít ỏi.
Đã có nhiều Việt kiều rủ nhau qua Lào sinh sống. Theo họ, xứ Lào dân thưa mà
đất rộng, dù chỉ làm nông cũng đủ khá giả.
Sau một thời gian đắn đo, suy tính, anh Độ quyết định rời bỏ đất Thái Lan để
sang Lào tìm thời vận. Anh vốn là người nghèo đang lo kiếm sống, nên cũng bị ảnh
hưởng tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ”.
Rất may, tiếng Thái và Lào khá giống nhau, chỉ khác chút ít về từ ngữ và phát âm,
nên anh Độ có thể yên tâm rằng mình sẽ dễ dàng hội nhập được vào xã hội Lào. Anh
hoàn toàn tự tin rằng, dù mình không có bằng cấp, nhưng đủ siêng năng và kiến thức
để kiếm việc làm trên đất Lào.

Việt kiều sống ở đất Thái Lan bị kiểm soát rất gắt gao, nên việc rời đi nơi khác để
làm ăn, sinh sống cũng khó.
Anh Độ vốn là người giao du rộng, bạn bè nhiều, nên dễ dàng nhờ giúp đỡ. Anh
dự định sẽ qua Lào từ cửa khẩu Nông Khai. Tại cửa khẩu này qua Lào là gần Viên Chăn
nhất, dân hai nước qua lại nhiều nên dễ tìm ra cơ hội thuận lợi. Lính biên phòng Thái
và Lào kiểm tra việc qua lại của dân hai nước tại cửa khẩu này khá kỹ lưỡng.
Nhưng người xưa vẫn nói “chỗ nguy hiểm chính là nơi an toàn”. Ở đây có thể
hiểu, chỗ bị kiểm soát chặt chẽ chính là nơi có nhiều sơ hở.
Đầu tiên, anh Độ nghĩ, có thể qua biên giới bằng đường công khai. Tuy nhiên,
sau khi tìm hiểu kỹ, anh biết rằng, chỉ có thể vượt biên lậu. Anh không có đủ giấy tờ
hợp lệ để đi bằng con đường chính thức.
Con sông Mekong là biên giới tự nhiên của hai nước Lào, Thái. Tại Nông Khai,
sông Mekong không rộng lắm, lại có nhiều ghe thuyền qua lại tấp nập. Đây chính là cơ
hội để có thể vượt biên.
Như đã nói, anh Độ vốn có nhiều quan hệ bè bạn thân thiết. Qua giới thiệu của
người bạn thân, anh tìm đến một người làm tài công tàu khách. Người này chuyên đưa
rước người qua lại giữa hai nước. Anh tài công này vốn là một Việt kiều, gốc miền Tây
Nam bộ, tên Nguyễn Văn Tầm, rất nhiệt tình và cũng nhiều mưu trí. Khi anh Độ đến
gặp, chỉ giới thiệu vài câu anh Tâm đã tiếp nhận như với người bạn thân lâu ngày.
Anh Tâm thấp đậm, cơ bắp chắc nịch, da đen nhẻm, rất khó phân biệt anh là
người Việt hay Thái. Chỉ khi nghe nói tiếng Việt với giọng miền Tây Nam bộ đặc sệt thì
mới biết anh là dân Việt. Theo anh Độ biết, anh Tâm đã qua đây làm ăn gần chục năm
nay, từ thời Việt Nam còn chiến tranh với người Pháp. Vì đã được giới thiệu trước nên
anh Độ không ngại ngần nói với người bạn mới về dự định vượt biên của mình.
Khi nghe anh Độ nói ý định, anh Tâm suy nghĩ một lúc rồi nghĩ ra ngay một kế,
nói:

- Chuyện này không khó, anh cứ làm như thế, như thế... ắt qua mặt được lính
biên phòng. Lính canh cả hai nước đều quen biết tôi, chắc sẽ êm thôi. Nếu lỡ bị lộ cũng
không sợ bị bắt, vì họ không có cớ nói là mình vượt biên.
Thật ra, anh Tâm chẳng phải suy nghĩ lâu, vì theo kế này, anh đã đưa nhiều bằng
hữu qua lại giữa hai nước Lào, Thái.
Theo kế hoạch của anh Tâm, anh Độ thay quần áo thợ thuyền, bôi dầu mỡ khá
lem luốc, xách thùng đổ nghề thản nhiên đi theo anh Tâm như người phụ việc. Anh
Tâm xách cặp quần áo của anh Độ đi trước, gặp ai cũng chào hỏi rất thân thiện. Anh
Độ tùy trường hợp, hoặc gật đẩu, hoặc một tay cầm thùng đồng nghề, bàn tay kia dựng
trước ngực như phật hiệu, cúi đẩu chào.
Cứ thế mà hai người xuống tàu đò dễ dàng, chẳng ai để ý.
Khi tàu đò cặp bến trên đất Lào. Chờ hành khách lên bờ để qua trạm kiểm soát.
Theo bổn cũ soạn lại, anh Tâm cầm cặp đi trước, anh Độ xách thùng đổ nghề theo sau.
Gặp ai quen, thấy anh Tâm cúi chào, anh Độ cũng cúi chào, miệng cười tươi như đã
quen biết lâu ngày. Lính biên phòng và những người chức trách bên Lào cũng quá quen
biết với anh Tâm nên chẳng hỏi han gì. Chẳng ai để ý đến anh thợ ăn mặc lôi thôi, dầu
mỡ dơ dáy, chẳng nhận ra nhân dạng.
Hai người đi ngang trạm gác ở biên giới Lào, giống như mọi lẩn anh Tâm vào phố
tìm nơi sửa chữa máy tàu, chẳng ai hỏi đến. Lính gác bên Lào vốn không thích thêm
việc, nên rất dửng dưng. Họ bận tìm kiếm những người nào có vẻ khả nghi.
Hai người thuê xe tuk tuk vào Viên Chăn. Từ cửa khẩu đến Viên Chăn chỉ hơn
chục cây số. Họ thuê phòng trọ để tắm rửa, thay quẩn áo... rồi cùng đi ăn trưa.
1.3
Viên Chăn là thủ đô của Vương quốc Lào.
Theo nhận xét ban đầu của anh Độ, Viên Chăn là một thành phố nhỏ bé, xinh
đẹp, với những căn nhà nhỏ, mái cong kèm những hoa văn mang màu sắc tôn giáo.

Những căn nhà này rất dễ hòa trộn với những ngôi chùa nhỏ nằm rải rác khắp
thành phố.
Nhà và chùa chiềng ở Viên Chăn khá giống trên đất Thái, nơi anh Độ từng sống.
Có lẽ do văn hóa hai nước cùng chung nguồn gốc? Hay là do ảnh hưởng lẫn nhau?
Nước nào bị ảnh hưởng của nước kia thì chỉ các nhà nghiên cứu sử mới làm rõ được.
Ba nước Đông Dương có cả trăm năm lịch sử từng là thuộc địa của Pháp, vì vậy
mà qui hoạch và nhiều kiến trúc nhà cửa, biệt thự ở Viện Chăn có nhiều nét giống với
châu Âu. Các biệt thự, các tòa nhà tân thời phẩn nhiều giống kiến trúc Pháp.
Đường phố Viên Chăn không lớn, nhưng sạch sẽ, vỉa hè khá rộng. Khách bộ hành
cảm thấy mát mẻ nhờ những cây cổ thụ mọc dọc vỉa hè, che nắng vào những ngày oi
bức.
Viên Chăn có các cung điện, những dinh thự, biệt thự, ẩn mình một cách khiêm
nhường dưới các tàng cây trong khuôn viên đất rộng rãi, êm ả, tạo nên cảm giác thanh
bình, khó có thành phố nào trên thế giới giống như vậy.
Chỉ riêng ở Viên Chăn có đến hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ, làm cho anh Độ có
ngay cảm giác, đây là vương quốc Phật giáo.
Thành phố Viên Chăn nằm gác mình bên bờ sông Mekong hùng vĩ.
Đoạn sông chảy ngang Viên Chăn không lớn. Từ bên này sông, nhìn thấy rõ nhà
cửa, chùa chiền và sinh hoạt trên vùng đất của vương quốc Thái Lan. Cả hai vùng đất
có điều gì đó rất giống nhau, khiến cho nhiều người nghĩ rằng hai quốc gia này chung
một nền văn hóa.
Ăn trưa xong, anh Tâm hỏi:
- Ở đất Viên Chăn này anh có quen ai không?
- Thật ra thì chưa quen ai, nhưng có người bạn giới thiệu vài địa chỉ, có thể nhờ
cậy được, anh đừng lo. Tôi là dân trôi sông lạc chợ từ nhỏ, lo gì không kiếm được chỗ
tá túc.

Anh Độ tuy là người Bắc Việt, nhưng sống với người Nam bộ khá lâu, vì vậy mà
giọng nói pha âm hưởng người Nam và ngôn từ cũng bị ảnh hưởng nhiều. Cái câu “trôi
sông lạc chợ” vốn là của dân sông nước miền Tây Nam bộ.
- Anh có tiền chưa? Tôi đưa thêm cho, ít ra cũng phải đủ sống vài ngày để chờ
cơ hội. Tối nay anh cứ tạm thời ngủ ở nhà trọ này, tôi đã thanh toán tiền đến trưa ngày
mai.
Câu nói thật lòng này khiến anh Độ vô cùng cảm động, bởi nó mang đậm nét hào
phóng của người Nam bộ, dù trong hoàn cảnh lưu lạc xứ người vẫn không làm phai
mờ.
-Cám ơn anh, tôi cũng còn có chút tiền, tích lũy được trong thời gian đi làm.
-Vậy thì nên đổi ra tiền Lào để xài cho dễ. Thôi, anh ở lại đây nghen, tôi phải quay
về tàu để kịp giờ cho chuyến sau. Anh biết nhà tôi rồi, có gì nhắn cho tôi hay. Nếu thấy
bên Lào sống không được thì quay lại Thái với tôi.
-Cám ơn anh nhiều lắm. có địa chỉ mới, tôi sẽ báo cho anh biết.

Chương II
ỔN ĐỊNH VIỆC LÀM
2.1
Trên con đường tìm kế sinh nhai, anh Độ chơi thân với ba người con lớn của gia
đình ông bà Bùi. Chính họ giới thiệu anh qua Lào, tìm đến ông bà Bùi nhờ nương tựa.
Theo địa chỉ anh Độ tìm đến nhà ông bà Bùi không mấy khó khăn. Viên Chăn quả
là một thành phố không lớn.
Lúc đó là giờ nghỉ trưa. Anh Độ đã tính đúng thời điểm để kịp gặp ông Bùi. Anh
bước đến gõ cửa.
Ông Bùi bước ra, nhìn thấy một người đàn ông còn khá trẻ. Tuy vậy theo dáng
cách, thái độ chững chạc thì đã bước vào tuổi trung niên. Ông đã được các con báo
trước, nên không ngẩn ngại hỏi:
- Cậu từ chỗ thằng Hùng đến tìm tôi?
Anh Độ đã nhìn thấy hình ông Bùi nhiều lần, nên khi thấy người đàn ông trung
niên có dáng người thấp đậm thì nhận ra ngay, nhã nhặn nói:
- Cháu chào bác! cháu là bạn của các anh Hùng, Dũng và Cường. Cháu được các
anh ấy giới thiệu đến gặp bác.
Ông Bùi hơn anh Độ khoảng chục tuổi, xưng hô là anh cũng được. Nhưng vì là
bạn của con ông, nên anh Độ gọi bằng bác. Người Bắc vốn thích được kính trọng, nên
lối xưng hô này khiến ông Bùi có thiện cảm.
- Mời cậu vào nhà, rửa mặt rổi ăn cơm trưa với chúng tôi.
- Cháu vừa từ bên Thái qua, đã ăn cơm ngoài tiệm rồi, xin bác và cả nhà cứ tự
nhiên.

Ông bà Bùi là người gốc Bắc, đã có tuổi, ông họ Lê, vốn được giáo dục theo nho
giáo xưa. Anh Độ đã biết qua về ông bà nên rất thận trọng trong giao tiếp. Người Bắc
mà có ăn học như ông bà Bùi thì chuộng lễ giáo và cũng rất khắt khe.
Ông Bùi rất vui mừng vì được gặp bạn của các con, nên muốn hỏi nhiều điều,
ông nói: “Cậu đừng khách sáo, nếu chưa ăn thì cùng ngồi xuống đây. Nếu ăn cơm rồi
thì cũng cứ ngồi đây uống nước, nói chuyện cho vui”.
Sau vài câu chuyện, anh Độ đã hoàn toàn thuyết
phục được ông Bùi, rằng mình chính là bạn thân của các con ông.
Ông bà Bùi khi biết đúng là bạn của các con nên trong lòng rất vui vẻ, thâm tâm
sẵn sàng giúp đỡ người khách này.
2.2
Ông Bùi trước làm công nhân ở mỏ than Mạo Khê, Quảng Ninh, nhờ có học mà
vươn lên đến chức cai. Sau đo ông qua Lào làm thầu xây dựng và cưới vợ, sanh con.
Thời Đông Dương xảy ra chiến tranh với người Pháp, ông đem vợ con về xứ, vừa để
cho họ biết quê hương. Nhân đó, ông cũng muốn tìm con đường làm ăn ít lệ thuộc
nhất. Về đến quê nhà, ông hoàn toàn thất vọng. Ở quê nhà, chiến tranh còn ác liệt hơn
trên đất Lào gấp nhiều lần. Ở Lào tuy có chiến tranh, nhưng bom đạn tránh xa Viên
Chăn. Thế rồi ông lại đem vợ con quay lại Lào. Tuy nhiên, chiến tranh đâu có để cho ai
đi lại dễ dàng, vì vậy mà ba cậu con trai lớn của ông bị thất lạc trong cơn chạy loạn. Mãi
đến hai ba năm gần đây ông mới biết ba người con trai đã trưởng thành và làm ăn khá
ổn định trên đất Thái. Tuy đã liên lạc được với nhau, nhưng ba người con đều vẫn chưa
có cơ hội gặp lại bố mẹ. Điều này khiến ông bà rất buồn, vẫn hằng mong cả nhà được
đoàn tụ.
Gặp lại Độ, ông bà cảm thấy an ủi như gặp lại chính các con của mình. Nhìn người
đàn ông này, ông bà đã có ngay hảo cảm. Khi biết anh Độ mới chân ướt chân ráo đến
Viên Chăn, ông chủ động mở lời:

- Cậu mới qua Viên Chăn, chắc chưa có chỗ ở? Thôi cứ tạm ở nhà tôi, khi nào
làm ăn khá thì hãy đi thuê nhà khác.
Ông Bùi nói vậy chẳng qua để khách đỡ e ngại. Khi nhắn tin, các con ông đã có
nói về điều này, rằng cần phải cưu mang anh Độ thời kỳ mới chân ướt chân ráo sang
Lào.
- Dạ, cháu cám ơn hai bác. Ban đầu có lẽ phải quấy quả hai bác. Hai bác cứ xem
cháu như người nhà. Nếu cháu có điểu gì sai thì cứ trách mắng, cần gì thì cứ sai bảo.
- Tôi đâu dám, các con tôi đã gởi gắm thì tôi phải xem cậu như chính chúng vậy.
Tạm thời tôi sẽ giới thiệu cậu vào làm ở hãng Calavy. Hay cậu cứ nghỉ vài ngày cho khỏe
rồi tôi xem có thể bố trí cậu vào chỗ nào được.
Nói rồi, ông Bùi hỏi thêm anh Độ về những việc có thể làm để ông tiện giới thiệu.
Anh Độ trình bày hết những khả năng của mình, những việc từng làm.
Bữa cơm chiều, mọi người lại nói chuyện vui vẻ. Mấy người con sau của ông Bùi
hỏi han anh Độ tíu tít về các anh. Anh Độ lại có dịp nhắc đến ba người con của ông bà
Bùi. Ông bà Bùi không cầm được nước mắt khi nghe nói đến ba người con thất lạc.
Chuyện vãn một lúc, khi đã đủ thân tình, họ nói đến công sở, chợt ông Bùi như sực nhớ
ra điều gì, nói:
- Trong thời gian làm thầu xây dựng cho hãng Calavy, chúng tôi có nhận khá
nhiều thầy thợ Việt Nam, cả ở hai miền Nam, Bắc. Ngày nay, miền Bắc thuộc về chính
quyền cộng sản nên chỉ còn thầy thợ đến từ miền Nam. Chủ hãng thích nhận người
Việt, vì đa phần họ làm ăn siêng năng, cần cù và rất chí thú. Trong số thầy thợ này, từng
có một người đàn ông, tên Nguyễn Văn Đan, từ Sài Gòn lên đây làm ăn. Tôi không nhớ
chính xác ông Đan quê ở tỉnh nào, nhưng biết cũng là dần gốc Bắc như cậu, hình như
là di cư vào Nam. Chúng tôi nhận ông Đan này làm thầy ký, ông ấy trạc tuổi cậu. Gần
đây, chẳng hiểu nguyên nhân gì, thầy Đan bỏ về Sài Gòn rồi mất tin tức luôn. Hãng có
nhắn tin tìm kiếm, nhưng thầy Đan vẫn bặt vô âm tín. Tôi e rằng thầy ấy hoặc đã mất,
hoặc đã sang nước ngoài định cư rồi. Hiện nay giấy cư trú màu vàng của thầy ấy còn
nằm trong beauraux của tôi.

Anh Độ suy nghĩ rất nhanh “biết đâu, đây là cơ hội cho mình”, bèn ướm lời nói:
“Anh Hùng nói rằng bác có thể giúp cháu kiếm công ăn việc làm ở đây...”. “Tôi cũng
đang nghĩ đến điều này. Cậu mới đến, chân ướt chân ráo, khó mà kiếm được việc làm
dễ thở ở xứ này”.
- Cháu không tiện mở lời nhờ bác giúp đỡ...
- Tôi coi cậu như con cháu mình, nên sẽ giúp hết lòng.
Anh Độ nhận thấy tình cảm chân thật của ông Bùi, nên ướm thử:
- Bác có thể lấy giấy tờ của thầy Đan về đây cho cháu xem được không?
- Được, để mai tôi đem về cho cậu xem.
Hôm sau, đi làm về, ông Bùi đưa thẻ cư trú màu vàng mang tên Nguyễn Văn Đan
cho anh Độ xem. Anh Độ chợt nghĩ ngay ra cách thức sử dụng thẻ này.
Trong giấy, thầy Đan trẻ hơn anh Độ khoảng ba tuổi, nhưng xem hình thì hai
người xấp xỉ nhau. Anh Độ nói thật với ông Bùi: “Cháu định thay thầy Đan, như vậy
đương nhiên là thư ký của hãng, bác không cần phải lo nghĩ đến chuyện xin việc cho
cháu”.
- Làm như vậy được không? Tôi chưa biết cậu có thể làm được các công việc của
thầy Đan?
- Cháu nghĩ là mình có thể đảm nhận được chân thư ký của hãng. Cháu có vốn
tiếng Pháp đủ dùng, tiếng Anh cũng tạm được. Còn việc thay đổi giấy tờ thì không khó,
vì lúc ở bên Thái tụi bạn cháu cũng có làm rồi. Cháu đã biết cách, bác chỉ cần tìm cách
mượn bộ hồ sơ gốc của thầy Đan đem về đây, phần còn lại cháu sẽ chỉ cách bác làm.
Ông Bùi hơi có phần lo lo, nên lưỡng lự hỏi: “Nhưng lấy lý do gì để mượn bộ hồ
sơ gốc?”
- Bác có biết ai giữ bộ hồ sơ gốc này không?
- Colonel Phào, tôi có quen với ông ta. Nhưng có lẽ phải chi ít tiền thì ông ta mới
chịu l
 
Gửi ý kiến