NGÔ VƯƠNG QUYỀN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:07' 30-01-2026
Dung lượng: 745.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:07' 30-01-2026
Dung lượng: 745.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Ngô Vương Quyền
Chia sẻ ebook: http://www.downloadsach.com
Follow us on Facebook: https://www.facebook.com/caphebuoitoi
Table of Contents
NGÔ VƯƠNG QUYỀN
LỜI GIỚI THIỆU
Quy cách biên tập
TỰA
Đoạn thứ Nhất. Người Dân
II. NHỤC HÌNH
III. CẶP MẮT ĐEN
IV. ĐẠO SĨ
V. VIÊN THẦY BÓI CỬA ĐÔNG
Đoạn thứ Hai. Nhà Tướng
VII. ĐƯỜNG HẦM
VIII. LIỄU NHI
IX. TRÊN BỜ SÔNG MÃ
X. GIẾT CON ONG
Đoạn thứ Ba. Vì Vua
XII. GIỌT NƯỚC BẮN TUNG
XIII. BẠCH ĐẰNG
XIV. ĐỨA BÉ LẠ LÙNG
XV. ÁNH BÌNH MINH
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
Chú Thích
Trần
NGÔ
Bản quyền © Trần Thanh Mại
Thanh
VƯƠNG
Mại
QUYỀN
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc
bảo tồn, gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào
có thể gánh vác được, nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của
từng nhân tố trong mỗi chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không
phải là việc thống kê sự kiện một cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến
trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt
không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị
của thực dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần
Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng,
không ngừng tranh đấu hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát
triển cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền
tảng giáo dục vững chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần
thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên ý thức về
nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định
hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và nhân vật - dù gây
tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang
là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt
Nam, Quỹ Phát triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ
chức khác đã và đang kiên trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học
lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa
dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” đặc biệt quan tâm tới việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền
thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch
sử” ở không ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều
nguồn tư liệu, công trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện
nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét
những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ phần sách Alpha đã triển khai dự án
xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất bản lại và xuất bản mới một
cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn học có giá trị… về
lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu tiên của dự án
này.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
Quy cách biên tập
Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời mục đích giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm
hay, có giá trị, đồng thời góp phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất
nước. Để thực hiện bộ sách này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn hóa vùng
miền trong tác phẩm (trừ khẩu âm).
2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái bản trên bản
năm nào.
3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ lục
(nếu cần thiết)...
5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước ngoài khi có
đủ tài liệu tra cứu tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã dịch thành thuần
Việt).
7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử, chúng
tôi sẽ chú thích hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng tôi sẽ đăng
bổ sung - thay thế các hình ảnh có nội dung tương tự, chất lượng tốt (nếu
có).
Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ chúng tôi hoàn thiện tủ
sách này.
Alpha Books
TỰA
Chắc đã khuya lắm rồi. Đồng hồ, trẻ con đã cất đi từ hồi tối. Tôi có tính làm việc
không xem giờ. Đồng hồ hay làm rối não mình. Bao giờ nó cũng nhắc mình một cái gì,
báo hiệu cho mình một điều không hay nào. Nhưng tôi biết đêm đã khuya lắm. Tiếng
mõ canh trong những ngày tháng Chín hồi hộp này đã bặt đi dưới điếm lạnh bên bờ
tre rền rĩ. Tiếng ễnh ương kêu khóc một nỗi oan ức ngàn xưa vang dội ngoài xa và
đưa đến trí tôi cái ám ảnh những cánh đồng ngập nước.
Không ai thức với tôi hết, mà tôi thì không ngủ được.
Bản nham1 đọc xong vừa xếp lại, ngòi bút không việc cứ tô mãi cái tên sách viết lối
chữ cái in và cứ làm cho nó to dần ra đến hỏng cả chân ở hai lề giấy.
Óc bận rộn. Lòng nặng nề. Tôi thấy mình không bằng lòng một tí nào và như có cái gì
ở đây, ở chỗ này, cấm cái khó chịu, có lẽ là chỗ lương tâm thường ở đấy hẳn.
Một tiếng ở đâu nổi lên, như một bản kèn hát máy trong ấy chiếc kim bị vấp ở một
chỗ hỏng nào của đường sứa đĩa, cứ lè nhè mãi câu tố giác:
- Nói gì thì nói, đây không phải là sự thực, tất cả sự thực!
Ngô Vương Quyền không phải là sự thực hoàn toàn. Đây không phải là lịch sử trăm
phần trăm. Đây là lịch sử bị tiểu thuyết hóa ít nhiều.
Tôi tự hình dung một người thợ với những mảnh vỡ của một chiếc thống2 cổ. Tiếc
một vật quý giá vô song, anh ta cặm cụi ngồi lắp lại cho thành hình, nhưng đây chỉ là
một ít mảnh mà thôi; những mảnh khác đã bị thời gian tứ tán tiêu ma đi hết. Nhưng
mà những mảnh còn lại ấy nó đẹp làm sao? Nó khêu gợi làm sao. Ý gian thoáng qua
óc anh và anh đem nó ra thực hành ngay. Anh tạo lấy những mảnh giả khác, cũng
nặn bằng những chất sứ ấy, cũng tráng bằng thứ men ấy, cũng vẽ bằng một nước
thuốc ấy. Anh cố hết sức cho cái thống của anh ra dạng nguyên lành, chính thức.
Công việc làm xong, anh đem nó ra trưng bày. Nhiều khán giả hiền lành và vô tâm có
thể không thấy đấy là đâu.
Nhưng mà lương tâm anh vẫn không yên.
***
Tôi lại tự hỏi: thế thì duyên cớ chi mà người thợ kia phải nhọc công chế tạo những
mảnh sứ giả. Vì tuân theo thúc giục chi mà tôi cặm cụi viết quyển sách này, để mà
viết xong thì lại không bằng lòng?
Thì ra có cả một vui thích trong sự gian dối kia. Vì ở đây, sự gian dối đã biến thành
nghệ thuật. Ở đây nó đã hóa thành sáng tạo.
Tôi tin rằng làm bạc giấy giả kia – tôi lấy cái “ca” một người Việt Nam, núp trong cái
tủ và đồ nghề chỉ gồm mỗi một tờ giấy quyến3, đôi cây bút lông và ít chén màu – tôi
tin rằng người ấy, ngoài sự làm tiền để tiêu dùng, còn thấy cả một thú vị say sưa
trong sự thi thố tài giả mạo của mình, còn ngây ngất khoái chí khi tự tay mình kẻ đến
mấy dòng chữ: “Điều thứ 139 hình luật phạt tội khổ sai chung thân kẻ nào giả mạo…”
Có nhiều nhà nghệ sĩ, cũng như nhiều nhà khoa học, nhiều viên phù thủy, nhiều vị
đạo sĩ, đã phải đến phát điên vì tác phẩm sáng tạo của mình.
Đối với nghệ sĩ gia, lịch sử là gì? Chỉ là một đoạn ảo ảnh liên tiếp. Cho nên quyển sách
này cũng khởi đầu bằng một ảo ảnh: một chàng thanh niên qua chuyến đò ngang
trong đám sương mù để đến thành Đại La, đương còn ở dưới quyền đô hộ của quân
Tàu; và sau cùng lại kết thúc cũng bằng một ảo ảnh: một đứa bé bước trong ánh nắng
bình minh, tay kẹp thanh gươm quá nặng đối với sức nó, thanh gươm đã thắng quân
Nam Hán trong trận Bạch Đằng mà nó vừa xin được.
Thêm vào đấy ít nhiều ảo ảnh khác nữa, cho quây quần chung quanh cái ảo ảnh
chính, cái ảo ảnh hùng tráng, vĩ đại, oanh liệt, huyền hoặc là trận Bạch Đằng giang –
một nắm quân Nam, dưới ánh trăng mờ, trên làn nước bạc, đánh tan mười vạn quân
Tàu; cái ảo ảnh huyền bí, vô lý, truyền kiếp, nó sẽ diễn lại trong những trường hợp
như nhau, với những kết quả như nhau, hơn ba trăm năm mươi năm về sau… cũng
một nắm quân Nam, cũng đánh tan mười vạn quân Tàu, dưới ánh trăng mờ, trên làn
nước bạc…
Ở giữa lòng những ảo ảnh ấy, lại đâm xuyên qua, để xâu lấy, như một sợi dây trong
một chuỗi hạt, một dãy ảo ảnh dài, đi suốt từ đầu đến cuối truyện, liên tiếp không
bao giờ gián đoạn. Ấy là cuộc chiến đấu không ngừng và vô cùng kịch liệt giữa sự bạo
tàn phản trắc với sự chính đại quang minh; giữa tính gian trá với lòng dũng cảm, tiêu
biểu do hai tên bất hủ: Kiều Công Tiễn và Ngô Quyền, mà sau cùng là cuộc đại thắng
của Thiện trên Ác, của Ánh sáng trên Bóng tối, của Quyền trên Tiện, và là cuộc gieo
vãi mầm độc lập đầu tiên cho Tổ quốc Việt Nam!
Một vài vai mượn, cũng không nhiều nhõi4 gì: Liễu Nhi với mối chung tình khôn tỏ
của nàng; viên thấy bói cửa Đông cùng là Dương Cáp với học thuật huyền bí của
người trên và tiết tháo si cuồng của kẻ dưới; từng ấy vai cần thiết để chống đỡ cái
lâu đài cho vững, để bảo toàn sự lộng lẫy nguy nga của nó.
Đó là tất cả bí quyết trong việc tạo thành quyển Ngô Vương Quyền. Nhà ảo thuật,
một khi đã nói rõ mánh khóe của mình rồi, thì không còn mong được ai hoan nghênh
nữa. Nhưng thế tất phải nói.
Bây giờ bạn đọc yêu quý đã được mách trước rồi, đã được chỉ rõ đâu là thị phi, đâu
là chân giả, thì lòng tôi có nhẹ nhõm hơn. Thôi, đêm đã khuya lắm rồi, còn phải đi
ngủ để mai còn mong mời bạn đến xem… chiếc thống sành của tôi vừa lắp lại.
Trần Thanh Mại
Đoạn thứ Nhất. Người Dân
Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những phường giá áo, túi cơm sá gì?
Nguyễn Du
I. PHIÊN CHỢ
Chàng ngồi chồm dậy.
Tiếng trong nhà của chủ quán quát tháo đầy tớ và tiếng của khách ngoài đường đã
nhao nhao cả lên.
Gà vừa gáy canh tư.
Trời còn tối đặc…
Ngọn gió sông thổi mạnh, tắt lên, tắt xuống ngọn đèn treo ở cửa mới chống lên, làm
cho chủ quán cứ loay hoay, chạy ra chạy vào, vừa thổi ở đống trấu cho ra lửa, vừa
ngồm ngoàm những câu chửi rủa trong mồm.
Có người ghé vào quán ăn bánh chưng, uống nước, hay là cho trẻ ăn, có lẽ trù đi lâu,
sợ chúng không nhịn đói được như người lớn.
Nhiều kẻ đi thẳng xuống bến đò, mặc những lời mời mọc ân cần và ầm ĩ của những
bạn quen trong quán.
Chàng thanh niên trả tiền ngủ, mang gói đi theo.
Chuyến sang ngang tấp nập, vui vẻ.
Trời chưa sáng, nhưng ở chỗ nước bao giờ cũng có một thứ ánh sáng riêng chiếu lên.
Sương phủ đầy sông và giả không có ngọn lửa của nhà quán bến bên kia, tưởng
người ta khó lòng tìm ra lối.
Nước sông chảy mạnh, những lưỡi sóng luôn luôn đập lắp tắp vào mạn đò, làm cho ai
nấy càng thấy lạnh thêm.
Chàng thanh niên sửa lại chiếc áo da cho được ấm hơn và không hiểu sao, chợt thấy
vui thích vì cái lạnh ấy. Có lẽ vì nó nhắc chàng nhớ đến cuộc du lịch của mình, khiến
chàng để ý đến quang cảnh lạ mắt chung quanh và bắt tưởng tượng trước những
quang cảnh dị kỳ hơn mà chàng sắp được thấy. Trong trí chàng, những chữ Tô Lịch
giang, Đại La thành, An Nam đô hộ phủ, Tiết độ sứ dinh, gợi ra bấy nhiêu hứng thú.
Những chữ ấy có cái hiệu lực của những tiếng chuông, mỗi khi đọc lên một mình,
hình như có những tiếng ngân ở đâu bỗng nổi lên, rung động cả tâm hồn chàng ngây
ngây như say nhẹ.
Cái tuổi hăm tám không còn ngây thơ mộc mạc, sức trai tráng dũng mãnh và chí mạo
hiểm của chàng khiến chàng cứ thấy hứng khởi mỗi buổi mai chàng rời quán trọ ra
đi. Chẳng bao giờ chàng thấy mình cô độc bơ vơ và lo sợ chốn đất lạ người dưng.
Chàng đi như thế này, chẳng phải là để tránh cái tầm thường, cái bằng phẳng, cái
quen thuộc? Chàng đi, chẳng phải là để kiếm chuyện mới lạ, để xây cuộc đời theo cái
thúc giục rạo rực của tâm linh?
Những ý nghĩ đâu đâu khiến chàng vơ vẩn, quên lửng5 hiện tại, duy chỉ khi nghe một
câu nói của một người ngồi ngay trước mặt, nãy giờ không hết nhìn chàng và hình
như nói thẳng với chàng, chàng mới sực tỉnh. Người ấy nói:
- Phiên chợ hôm nay hẳn đông lắm.
Chàng không cốt đi chợ phiên. Nhưng chàng cũng trả lời:
- Vâng, chắc đông lắm.
Thấy mình có vẻ hờ hững và sợ mất lòng người kia, chàng hỏi thêm:
- Sao ở đây chợ đông sớm như thế này nhỉ, bác nhỉ?
- Ấy! Phải đông sớm để cầu chóng xong việc, may có thoát khỏi tay quân Đô hộ phủ.
Chúng nó lấy thuế tàn nhẫn lắm.
- Thì đi đông ở chỗ khác hay là không đông hẳn có được không?
- Ồ? Chỗ nào mà chúng nó lại không lùng đến? Mà không đông thì lấy gì mà ăn? Chả
lẽ chúng tôi ở làng Cái, làng Bân, xóm Mộc, xóm Bầu, mà lại lên tận Đường Lâm, Cẩm
Khê…
- Đường Lâm, chính là quê tôi đấy bác ạ! - Chàng thanh niên ngây thơ mách.
- Thế à? Đấy bác xem! Chả lẽ tôi ở đây lại lên trên ấy đi chợ, hay là về tận Đằng Châu,
Bố Hải? Huống nữa, nhà trong thành đến bốn mươi vạn nóc, người hơn trăm vạn
miệng, còn quan gia lính tráng nhà nó, không có cho chúng nó đâu được? Nghỉ đi một
phiên là chúng đi cướp về để ăn, nhiều khi giết hại tàn bạo nữa là khác. Thành thử,
bác ạ, buồn cười lắm cơ! Chợ không đông, không được, đông sớm, tan sớm, không
chờ chúng nó, lại như không đông. Ấy thế mà ai ai cũng muốn đi sớm để xong việc
mình trước người khác, để mong khỏi tai bay vạ gió. Oái oăm chưa?
Hai người đồng cười. Mấy người ngồi gần quanh, nghe lý luận ấy, cũng cười theo.
Thuyền ghé bến.
Lên bờ bên này, người càng đông. Chàng thanh niên phải chen chúc mới bước lên
trước được. Màn sương đã dần dần rút cao; ở phương đông những ráng hoe hồng
nhạt bắt đầu đượm. Bỗng một cảnh tượng cực kỳ hùng tráng khiến chàng giật mình,
khấp khởi. Chàng thấy ngay mình đứng dưới một thành chạy dài suốt cả chân trời,
cao hơn hai trượng, phía trên có dựng thêm một lớp tường, khoắn khoản có một
vọng địch lâu cao vót, cắm chiếc phướn to dài, phất phơ trước gió.
Vui thích, chàng tự nhủ:
- Đại La thành!
Bất giác chàng liên tưởng đến người đắp nên thành ấy và thấy lại hình ảnh quan Tiết
độ sứ Cao Biền bỏ tóc xõa, mặc áo phù thủy, cưỡi con diều giấy, bay khắp bốn mặt
thành, làm phép yểm các long mạch và ra lệnh cho thiên lôi đánh tan các quả núi đá,
tiếng nổ vang trời…
Phiên chợ nhóm ngay ngoài cửa tam quan, dưới chân thành. Tiếng người mua bán
đổi chác nhao nhao lên như ong. Chàng không mua gì, nhưng cứ dạo qua các hàng,
mỗi chỗ đứng một chặp, cũng thấy vui vui. Phiên chợ kinh khác ở xứ chàng sinh
trưởng ở chỗ to lớn gấp trăm phần, cái ấy đã đành; nhưng cũng khác ở chỗ có nhiều
cái lạ, chàng chưa từng biết đến. Chẳng hạn, người ta đổi một đứa trẻ lấy một con lợn
có chửa, hay là bán một ông lão già lấy năm đồng tiền Đại trung, giá một cái váy vải
nâu.
Người đàn ông nói chuyện ở trong đò vẫn đi theo chàng. Một mối cảm tình đã sinh
ra, ràng buộc lấy hai người. Chàng thanh niên, tìm thấy ở bạn một kẻ hướng dẫn
hoàn toàn, hiền lành, vui vẻ, lại thông thái nữa; mà người này cũng sung sướng được
dịp giúp ích cho một người xa lạ, quê mùa, mà nét mặt, điệu bộ và lời nói tỏ ra không
phải một kẻ tầm thường.
Hai người vừa đi, vừa nói chuyện. Trước hàng nào lạ mắt, chàng thanh niên lại
ngừng bước, hỏi bạn. Bỗng một toán kỵ mã chừng hơn mười người từ cửa thành phi
ra, báo tin quan Đông dinh Thái thú cùng gia quyến sắp ra xem phiên chợ. Thôi thời,
cả đám người buôn bán luống cuống cả lên, vẻ rộn rịp tăng lên bội phần, ai nấy đều
hớt hơ, hớt hải, loay hoay sắp đặt lại hàng hóa của mình, thu giấu bớt đi, hay là
chuyền gửi cho người khác ngồi chỗ khuất hơn. Toán kỵ mã đã dẹp xong các lối đi và
chia nhau vây quanh chợ.
Một điệu đàn sáo nổi lên, dần tiến lại gần. Xa xa thoáng thấy màu sắc dập dìu của cờ
xí, lọng tàn. Một đội lính hộ vệ vác xà mâu6 đi trước, ai nấy đều khắc bốn chữ “Đông
thứ sử dinh” trước trán. Kế đến một đoàn kỵ binh bồng gươm trần đi ngay trước
một cỗ xe tứ mã che tàn hoa, ở trong một người béo mập ngồi chễm chệ mà chàng
thanh niên đoán chắc là quan Thái thú. Điều ngộ nhất mà chàng chú ý, là quanh cỗ xe
đi rất chậm, có nhiều người mặc áo rộng, nâng cao những đỉnh trầm hương đốt cháy,
hương khói tỏa ra mịt mù thơm nức.
Người bạn đồng hành với chàng kéo chàng ra xe, hạ giọng xuống, cắt nghĩa:
- Thằng chó, nó muốn bắt chước đức Long Độ đình hầu ngày xưa đấy!
Chàng thanh niên suy nghĩ giây lát, rồi nói:
- Phải chăng là bác muốn nói quan Thái thú Sĩ Nhiếp. Học lâu ngày quá, tôi quên mất
cả.
- Phải đấy! Ngày xưa Long Độ đình hầu đi ra là dân sự hai bên đường tự ý mang trầm
hương ra đốt và đi theo suốt cả dọc đường. Ấy là đời thái bình thịnh trị, có đâu như
bây giờ?
Nhưng chàng thanh niên đã không lắng tai nữa, mắt chàng mãi để vào cỗ xe sau,
những cỗ xe có màn che kín, do các tỳ nữ đẩy, mà trong một chiếc chàng thoáng thấy
một bàn tay đưa lên ngang mắt, vén hé bức là. Hai mắt đen lánh ở trong xe đưa
quanh một vòng, ngừng lại một lát trên mặt chàng, rồi cỗ xe lướt qua.
- Bác nhỉ! Đấy là hầu vợ con cái quan Thái thú đấy chứ gì?
- Đấy là những hầu thiếp thằng giặc đói ấy nó đi cướp về đấy. Vợ nó, nó để cả bên
Tàu kia.
- Sao lại có thể thế được nhỉ?
- Ồ! Sao lại không thể thế được?
Những quân ấy làm gì mà chả được ở đất Giao Châu này? Bác ở dưới đất mới đục lên
hay ở trên trời mới sa xuống mà lại không biết những điều người ta thán oán về
chúng nó?
- Ở trên tôi, thỉnh thoảng cũng có nghe một đôi việc hà hiếp bạo ngược, nhưng không
biết là quá đáng như vậy. Bác nhỉ, thế mà ở đây chẳng có ai vì muôn dân, đứng lên
mà trừ mối hại chung sao?
- Ai? Chả lẽ lại là tôi hay bác?
Chàng thanh niên thẳng mình dậy, nhìn bạn một cách tức tối, ngập ngừng như muốn
nói điều gì, nhưng lại thôi. Chàng gật đầu:
- Ừ nhỉ! Bọn mình thì làm quái gì được.
Nghỉ một lát, chàng vỗ vai bạn, cười mỉm:
- Bác ạ! Thế mà xứ tôi, làng tôi, đã sản xuất được vị anh hùng rồi đấy!
- Phải, tôi biết: Bố Cái đại vương!
- Ấy! Sao bác biết được!
- Bác chẳng đã khai với tôi, bác người Đường Lâm là gì?
- À! Vâng!
Nghỉ một lúc, người kia lại nói:
- Bác ạ, bây giờ cũng đã trưa, ta lại hàng quán nào gần đây, ăn cái gì, uống rượu để
nghỉ chân luôn thể. Dậy sớm quá, tôi thấy đã mỏi.
- Xin tùy bác.
Hai người vào một hàng bày ngay dưới gốc một cây đa to tướng, không có mái che và
chỉ gồm mỗi một cái chõng thấp và ít cái đòn ngồi. Quán tồi và bán rặt một thứ bánh
đúc đỏ và thứ thịt cầy bọc đất sét lủi tro lâu ngày, nhưng được cái vắng khách, hai
người có thể tự do trò chuyện.
Sau một hồi nín lặng, ai nấy vẩn vơ theo đuổi ý nghĩ của mình, người kia hất hàm,
hỏi:
- Chúng ta nói gì rồi nhỉ? À! Luận anh hùng! Đấy, bác xem! Anh hùng Giao Châu ta có
thiếu đâu, nói chi cho xa đến bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, nói chi đến
Bố Cái đại vương? Chỉ nói chuyện gần đây, mắt tôi trông thấy: đức Đồng Bình
chương sự dấy nghiệp ở Hồng Châu, nhà Đại Đường và nhà Hậu Lương cũng phải
kính nể. Cha truyền con nối, đến đời cháu là ông Tiết độ sứ Thừa Mỹ, vì vụng một tí,
mà bị hãm hại và đem cả nhân dân vào chỗ đồ thán khôn cùng! Bác biết cả rồi đấy
chứ? Bác ạ! Khó không phải ở chỗ biết đứng lên. Khó ở chỗ đứng lên rồi mà biết ngồi
đấy! Chúng ta hỏng ở chỗ ấy.
Chàng thanh niên gật đầu, cười:
- Bác trông vẻ thạo đời lắm. Giá có người nào biết dùng bác làm quân sư hay là
thuyết khách như ở thời Chiến Quốc, thì lo gì đại cuộc không sớm định?
Chàng vỗ mạnh vào đùi bạn, ngã ngửa người ra cười.
Nhưng chàng ngạc nhiên nín ngay, vì thấy bạn vẫn giữ vẻ trầm ngâm của mình như
tuồng không cho câu khôi hài của chàng là quá đáng.
Người bạn nhìn trước nhìn sau, rồi cũng hạ giọng xuống nữa, nói:
- Chẳng giấu gì bác, tôi có một chuyện đã muốn nói cùng bác ngay sau khi được trực
tiếp bác ít điều, lúc sang ngang.
- Chuyện gì bác cứ nói, đừng ngại.
- Vâng. Tôi biết bác có chí lớn. Tôi trông người xem tướng ít khi lầm. Nếu ngại, tôi đã
không cố tâm theo bác từ mai đến giờ. Này bác! Bác có từng nghe tiếng một người họ
Dương tên là Diên Nghệ không?
- Dương tướng quân là thủ hạ của đức Đồng Bình chương sự Khúc Thừa Dụ và là nha
trảo của con người quan Tiết độ sứ Hạo. Bình sinh, cha tôi có dạy chuyện cho tôi
nghe. Thuở ấy cha tôi còn làm quan mục ở Phong Châu, tôi còn nhỏ quá! Về sau ra
thế nào thì tôi không được biết.
- Ấy, ra bác cũng là dòng dõi quý phái đấy chứ. Thảo nào!
- Bác dạy quá lời. Dân sơn cước như tôi thì còn được kể về hàng ngũ nào?
- Dương chủ tướng phò ba đời chúa, một tấm gan trung, không hề lay chuyển. Hồi
ông Tiết độ sứ Mỹ, mặc dầu ông ấy nghe rộng thấy nhiều và có qua ở làm con tin bên
triều Nam Hán hằng mấy năm trời, nhưng vốn thực là người hữu dũng vô mưu, lại
thêm còn thiếu niên tự phụ, chỉ biết nhìn trong con mắt mình mà không biết thấy ra
ngoài đời. Bên Tàu, nhà Đường mất, nhà Hậu Lương chật vật lắm mới cất đầu lên nổi,
nhưng yếu thế quá, đến nỗi anh em thằng mọi họ Lưu ở nước Việt cũng xưng hùng
xưng bá, dựng nên cơ nghiệp nhà Nam Hán. Khi về nước kế vị cho cha, Khúc Thừa
Mỹ lại bỏ họ Lưu mà thần phục Lương triều, xin thọ phong ở đó. Dương nguyên soái
can gián mãi không được, cũng tưởng là khi ở Phiên ngung, Tiết độ sức Mỹ tất đã có
dò xét hư thực kỹ càng. Không ngờ thằng Lưu Cung nó thù vặt, sai thằng giặc Lý Khắc
Chính đem quân qua vấn tội. Dương tướng quân ba lần phá vòng vây, ba lần thất bại,
không sao cứu nổi Khúc sứ quân, ngài phải bỏ mình. Vạn bất đắc dĩ, Dương tướng
quân phải lui về lánh tại Hồng Châu động. Họ Lý chiếm quyền, cai trị Giao Châu, sự
tàn bạo kể đà khôn xiết. Nay dân tình ta thán, ai nấy chỉ ngầm đợi một hiệu lệnh là
đến tựu ngay dưới lá cờ khởi nghĩa. Tôi là người tướng quân sai đi ra cái hiệu lệnh
ấy.
Nói xong thò tay vào túi, lấy ra một gói đẹp và dài, mở lần lần mà đợi câu trả lời.
Chàng thanh niên nhìn điệu bộ của bạn, hiểu ngay ý định của người đối diện, mỉm
cười tinh nghịch:
- Việc ấy can hệ đến cả đời tôi, bác để thư thả cho tôi nghĩ kỹ đã. Vả chăng, từ quê
nhà ra đi, tôi chưa hề tính đến việc làm gì cả.
Chàng thấy người kia chớp đôi sắc diện đứng dậy, chàng bèn cũng đứng theo, sẵn
sàng để đối phó với mọi sự nguy nan, thì vừa nghe đằng xa có tiếng kêu cứu vang
trời.
Người ta đổ xô cả lại chỗ ấy. Hai người chạy theo.
Ở một góc chợ, một người thiếu phụ giằng co với ba tên lính, trong khi một tên khác
dâng hèo7 phang lấy phang để vào một người dân.
Người này máu chảy đầy đầu, quỳ ở đất khóc:
- Bẩm lạy ông lớn, con có bán vợ con đâu? Nào nó có tội làm đĩ lấy trai gì để đem bán
cho đang? Chẳng qua con nghèo túng, không có tiền nộp thuế, phải tình thế đem cầm
đỡ nó đấy thôi. Lạy ông lớn, ông lớn đoái thương cho con nhờ…
Một viên quản cơ sấn ngựa đến sát bên mình người dân, vó ngựa đạp nhầu lên đầu
hắn, quát mắng rằng.
- Mày là đồ ngu. Vợ mày có nhan sắc, quan Thái thú đoái thương đến cho, thế là hồng
phúc ba mươi đời nhà mày rồi, còn đoái thương cách nào nữa? Im mà cút đi, không
có đến chết toi bây
Chia sẻ ebook: http://www.downloadsach.com
Follow us on Facebook: https://www.facebook.com/caphebuoitoi
Table of Contents
NGÔ VƯƠNG QUYỀN
LỜI GIỚI THIỆU
Quy cách biên tập
TỰA
Đoạn thứ Nhất. Người Dân
II. NHỤC HÌNH
III. CẶP MẮT ĐEN
IV. ĐẠO SĨ
V. VIÊN THẦY BÓI CỬA ĐÔNG
Đoạn thứ Hai. Nhà Tướng
VII. ĐƯỜNG HẦM
VIII. LIỄU NHI
IX. TRÊN BỜ SÔNG MÃ
X. GIẾT CON ONG
Đoạn thứ Ba. Vì Vua
XII. GIỌT NƯỚC BẮN TUNG
XIII. BẠCH ĐẰNG
XIV. ĐỨA BÉ LẠ LÙNG
XV. ÁNH BÌNH MINH
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
Chú Thích
Trần
NGÔ
Bản quyền © Trần Thanh Mại
Thanh
VƯƠNG
Mại
QUYỀN
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc
bảo tồn, gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào
có thể gánh vác được, nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của
từng nhân tố trong mỗi chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không
phải là việc thống kê sự kiện một cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến
trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt
không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị
của thực dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần
Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng,
không ngừng tranh đấu hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát
triển cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền
tảng giáo dục vững chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần
thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên ý thức về
nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định
hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và nhân vật - dù gây
tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang
là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt
Nam, Quỹ Phát triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ
chức khác đã và đang kiên trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học
lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa
dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” đặc biệt quan tâm tới việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền
thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch
sử” ở không ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều
nguồn tư liệu, công trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện
nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét
những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ phần sách Alpha đã triển khai dự án
xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất bản lại và xuất bản mới một
cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn học có giá trị… về
lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu tiên của dự án
này.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
Quy cách biên tập
Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời mục đích giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm
hay, có giá trị, đồng thời góp phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất
nước. Để thực hiện bộ sách này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn hóa vùng
miền trong tác phẩm (trừ khẩu âm).
2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái bản trên bản
năm nào.
3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ lục
(nếu cần thiết)...
5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước ngoài khi có
đủ tài liệu tra cứu tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã dịch thành thuần
Việt).
7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử, chúng
tôi sẽ chú thích hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng tôi sẽ đăng
bổ sung - thay thế các hình ảnh có nội dung tương tự, chất lượng tốt (nếu
có).
Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ chúng tôi hoàn thiện tủ
sách này.
Alpha Books
TỰA
Chắc đã khuya lắm rồi. Đồng hồ, trẻ con đã cất đi từ hồi tối. Tôi có tính làm việc
không xem giờ. Đồng hồ hay làm rối não mình. Bao giờ nó cũng nhắc mình một cái gì,
báo hiệu cho mình một điều không hay nào. Nhưng tôi biết đêm đã khuya lắm. Tiếng
mõ canh trong những ngày tháng Chín hồi hộp này đã bặt đi dưới điếm lạnh bên bờ
tre rền rĩ. Tiếng ễnh ương kêu khóc một nỗi oan ức ngàn xưa vang dội ngoài xa và
đưa đến trí tôi cái ám ảnh những cánh đồng ngập nước.
Không ai thức với tôi hết, mà tôi thì không ngủ được.
Bản nham1 đọc xong vừa xếp lại, ngòi bút không việc cứ tô mãi cái tên sách viết lối
chữ cái in và cứ làm cho nó to dần ra đến hỏng cả chân ở hai lề giấy.
Óc bận rộn. Lòng nặng nề. Tôi thấy mình không bằng lòng một tí nào và như có cái gì
ở đây, ở chỗ này, cấm cái khó chịu, có lẽ là chỗ lương tâm thường ở đấy hẳn.
Một tiếng ở đâu nổi lên, như một bản kèn hát máy trong ấy chiếc kim bị vấp ở một
chỗ hỏng nào của đường sứa đĩa, cứ lè nhè mãi câu tố giác:
- Nói gì thì nói, đây không phải là sự thực, tất cả sự thực!
Ngô Vương Quyền không phải là sự thực hoàn toàn. Đây không phải là lịch sử trăm
phần trăm. Đây là lịch sử bị tiểu thuyết hóa ít nhiều.
Tôi tự hình dung một người thợ với những mảnh vỡ của một chiếc thống2 cổ. Tiếc
một vật quý giá vô song, anh ta cặm cụi ngồi lắp lại cho thành hình, nhưng đây chỉ là
một ít mảnh mà thôi; những mảnh khác đã bị thời gian tứ tán tiêu ma đi hết. Nhưng
mà những mảnh còn lại ấy nó đẹp làm sao? Nó khêu gợi làm sao. Ý gian thoáng qua
óc anh và anh đem nó ra thực hành ngay. Anh tạo lấy những mảnh giả khác, cũng
nặn bằng những chất sứ ấy, cũng tráng bằng thứ men ấy, cũng vẽ bằng một nước
thuốc ấy. Anh cố hết sức cho cái thống của anh ra dạng nguyên lành, chính thức.
Công việc làm xong, anh đem nó ra trưng bày. Nhiều khán giả hiền lành và vô tâm có
thể không thấy đấy là đâu.
Nhưng mà lương tâm anh vẫn không yên.
***
Tôi lại tự hỏi: thế thì duyên cớ chi mà người thợ kia phải nhọc công chế tạo những
mảnh sứ giả. Vì tuân theo thúc giục chi mà tôi cặm cụi viết quyển sách này, để mà
viết xong thì lại không bằng lòng?
Thì ra có cả một vui thích trong sự gian dối kia. Vì ở đây, sự gian dối đã biến thành
nghệ thuật. Ở đây nó đã hóa thành sáng tạo.
Tôi tin rằng làm bạc giấy giả kia – tôi lấy cái “ca” một người Việt Nam, núp trong cái
tủ và đồ nghề chỉ gồm mỗi một tờ giấy quyến3, đôi cây bút lông và ít chén màu – tôi
tin rằng người ấy, ngoài sự làm tiền để tiêu dùng, còn thấy cả một thú vị say sưa
trong sự thi thố tài giả mạo của mình, còn ngây ngất khoái chí khi tự tay mình kẻ đến
mấy dòng chữ: “Điều thứ 139 hình luật phạt tội khổ sai chung thân kẻ nào giả mạo…”
Có nhiều nhà nghệ sĩ, cũng như nhiều nhà khoa học, nhiều viên phù thủy, nhiều vị
đạo sĩ, đã phải đến phát điên vì tác phẩm sáng tạo của mình.
Đối với nghệ sĩ gia, lịch sử là gì? Chỉ là một đoạn ảo ảnh liên tiếp. Cho nên quyển sách
này cũng khởi đầu bằng một ảo ảnh: một chàng thanh niên qua chuyến đò ngang
trong đám sương mù để đến thành Đại La, đương còn ở dưới quyền đô hộ của quân
Tàu; và sau cùng lại kết thúc cũng bằng một ảo ảnh: một đứa bé bước trong ánh nắng
bình minh, tay kẹp thanh gươm quá nặng đối với sức nó, thanh gươm đã thắng quân
Nam Hán trong trận Bạch Đằng mà nó vừa xin được.
Thêm vào đấy ít nhiều ảo ảnh khác nữa, cho quây quần chung quanh cái ảo ảnh
chính, cái ảo ảnh hùng tráng, vĩ đại, oanh liệt, huyền hoặc là trận Bạch Đằng giang –
một nắm quân Nam, dưới ánh trăng mờ, trên làn nước bạc, đánh tan mười vạn quân
Tàu; cái ảo ảnh huyền bí, vô lý, truyền kiếp, nó sẽ diễn lại trong những trường hợp
như nhau, với những kết quả như nhau, hơn ba trăm năm mươi năm về sau… cũng
một nắm quân Nam, cũng đánh tan mười vạn quân Tàu, dưới ánh trăng mờ, trên làn
nước bạc…
Ở giữa lòng những ảo ảnh ấy, lại đâm xuyên qua, để xâu lấy, như một sợi dây trong
một chuỗi hạt, một dãy ảo ảnh dài, đi suốt từ đầu đến cuối truyện, liên tiếp không
bao giờ gián đoạn. Ấy là cuộc chiến đấu không ngừng và vô cùng kịch liệt giữa sự bạo
tàn phản trắc với sự chính đại quang minh; giữa tính gian trá với lòng dũng cảm, tiêu
biểu do hai tên bất hủ: Kiều Công Tiễn và Ngô Quyền, mà sau cùng là cuộc đại thắng
của Thiện trên Ác, của Ánh sáng trên Bóng tối, của Quyền trên Tiện, và là cuộc gieo
vãi mầm độc lập đầu tiên cho Tổ quốc Việt Nam!
Một vài vai mượn, cũng không nhiều nhõi4 gì: Liễu Nhi với mối chung tình khôn tỏ
của nàng; viên thấy bói cửa Đông cùng là Dương Cáp với học thuật huyền bí của
người trên và tiết tháo si cuồng của kẻ dưới; từng ấy vai cần thiết để chống đỡ cái
lâu đài cho vững, để bảo toàn sự lộng lẫy nguy nga của nó.
Đó là tất cả bí quyết trong việc tạo thành quyển Ngô Vương Quyền. Nhà ảo thuật,
một khi đã nói rõ mánh khóe của mình rồi, thì không còn mong được ai hoan nghênh
nữa. Nhưng thế tất phải nói.
Bây giờ bạn đọc yêu quý đã được mách trước rồi, đã được chỉ rõ đâu là thị phi, đâu
là chân giả, thì lòng tôi có nhẹ nhõm hơn. Thôi, đêm đã khuya lắm rồi, còn phải đi
ngủ để mai còn mong mời bạn đến xem… chiếc thống sành của tôi vừa lắp lại.
Trần Thanh Mại
Đoạn thứ Nhất. Người Dân
Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những phường giá áo, túi cơm sá gì?
Nguyễn Du
I. PHIÊN CHỢ
Chàng ngồi chồm dậy.
Tiếng trong nhà của chủ quán quát tháo đầy tớ và tiếng của khách ngoài đường đã
nhao nhao cả lên.
Gà vừa gáy canh tư.
Trời còn tối đặc…
Ngọn gió sông thổi mạnh, tắt lên, tắt xuống ngọn đèn treo ở cửa mới chống lên, làm
cho chủ quán cứ loay hoay, chạy ra chạy vào, vừa thổi ở đống trấu cho ra lửa, vừa
ngồm ngoàm những câu chửi rủa trong mồm.
Có người ghé vào quán ăn bánh chưng, uống nước, hay là cho trẻ ăn, có lẽ trù đi lâu,
sợ chúng không nhịn đói được như người lớn.
Nhiều kẻ đi thẳng xuống bến đò, mặc những lời mời mọc ân cần và ầm ĩ của những
bạn quen trong quán.
Chàng thanh niên trả tiền ngủ, mang gói đi theo.
Chuyến sang ngang tấp nập, vui vẻ.
Trời chưa sáng, nhưng ở chỗ nước bao giờ cũng có một thứ ánh sáng riêng chiếu lên.
Sương phủ đầy sông và giả không có ngọn lửa của nhà quán bến bên kia, tưởng
người ta khó lòng tìm ra lối.
Nước sông chảy mạnh, những lưỡi sóng luôn luôn đập lắp tắp vào mạn đò, làm cho ai
nấy càng thấy lạnh thêm.
Chàng thanh niên sửa lại chiếc áo da cho được ấm hơn và không hiểu sao, chợt thấy
vui thích vì cái lạnh ấy. Có lẽ vì nó nhắc chàng nhớ đến cuộc du lịch của mình, khiến
chàng để ý đến quang cảnh lạ mắt chung quanh và bắt tưởng tượng trước những
quang cảnh dị kỳ hơn mà chàng sắp được thấy. Trong trí chàng, những chữ Tô Lịch
giang, Đại La thành, An Nam đô hộ phủ, Tiết độ sứ dinh, gợi ra bấy nhiêu hứng thú.
Những chữ ấy có cái hiệu lực của những tiếng chuông, mỗi khi đọc lên một mình,
hình như có những tiếng ngân ở đâu bỗng nổi lên, rung động cả tâm hồn chàng ngây
ngây như say nhẹ.
Cái tuổi hăm tám không còn ngây thơ mộc mạc, sức trai tráng dũng mãnh và chí mạo
hiểm của chàng khiến chàng cứ thấy hứng khởi mỗi buổi mai chàng rời quán trọ ra
đi. Chẳng bao giờ chàng thấy mình cô độc bơ vơ và lo sợ chốn đất lạ người dưng.
Chàng đi như thế này, chẳng phải là để tránh cái tầm thường, cái bằng phẳng, cái
quen thuộc? Chàng đi, chẳng phải là để kiếm chuyện mới lạ, để xây cuộc đời theo cái
thúc giục rạo rực của tâm linh?
Những ý nghĩ đâu đâu khiến chàng vơ vẩn, quên lửng5 hiện tại, duy chỉ khi nghe một
câu nói của một người ngồi ngay trước mặt, nãy giờ không hết nhìn chàng và hình
như nói thẳng với chàng, chàng mới sực tỉnh. Người ấy nói:
- Phiên chợ hôm nay hẳn đông lắm.
Chàng không cốt đi chợ phiên. Nhưng chàng cũng trả lời:
- Vâng, chắc đông lắm.
Thấy mình có vẻ hờ hững và sợ mất lòng người kia, chàng hỏi thêm:
- Sao ở đây chợ đông sớm như thế này nhỉ, bác nhỉ?
- Ấy! Phải đông sớm để cầu chóng xong việc, may có thoát khỏi tay quân Đô hộ phủ.
Chúng nó lấy thuế tàn nhẫn lắm.
- Thì đi đông ở chỗ khác hay là không đông hẳn có được không?
- Ồ? Chỗ nào mà chúng nó lại không lùng đến? Mà không đông thì lấy gì mà ăn? Chả
lẽ chúng tôi ở làng Cái, làng Bân, xóm Mộc, xóm Bầu, mà lại lên tận Đường Lâm, Cẩm
Khê…
- Đường Lâm, chính là quê tôi đấy bác ạ! - Chàng thanh niên ngây thơ mách.
- Thế à? Đấy bác xem! Chả lẽ tôi ở đây lại lên trên ấy đi chợ, hay là về tận Đằng Châu,
Bố Hải? Huống nữa, nhà trong thành đến bốn mươi vạn nóc, người hơn trăm vạn
miệng, còn quan gia lính tráng nhà nó, không có cho chúng nó đâu được? Nghỉ đi một
phiên là chúng đi cướp về để ăn, nhiều khi giết hại tàn bạo nữa là khác. Thành thử,
bác ạ, buồn cười lắm cơ! Chợ không đông, không được, đông sớm, tan sớm, không
chờ chúng nó, lại như không đông. Ấy thế mà ai ai cũng muốn đi sớm để xong việc
mình trước người khác, để mong khỏi tai bay vạ gió. Oái oăm chưa?
Hai người đồng cười. Mấy người ngồi gần quanh, nghe lý luận ấy, cũng cười theo.
Thuyền ghé bến.
Lên bờ bên này, người càng đông. Chàng thanh niên phải chen chúc mới bước lên
trước được. Màn sương đã dần dần rút cao; ở phương đông những ráng hoe hồng
nhạt bắt đầu đượm. Bỗng một cảnh tượng cực kỳ hùng tráng khiến chàng giật mình,
khấp khởi. Chàng thấy ngay mình đứng dưới một thành chạy dài suốt cả chân trời,
cao hơn hai trượng, phía trên có dựng thêm một lớp tường, khoắn khoản có một
vọng địch lâu cao vót, cắm chiếc phướn to dài, phất phơ trước gió.
Vui thích, chàng tự nhủ:
- Đại La thành!
Bất giác chàng liên tưởng đến người đắp nên thành ấy và thấy lại hình ảnh quan Tiết
độ sứ Cao Biền bỏ tóc xõa, mặc áo phù thủy, cưỡi con diều giấy, bay khắp bốn mặt
thành, làm phép yểm các long mạch và ra lệnh cho thiên lôi đánh tan các quả núi đá,
tiếng nổ vang trời…
Phiên chợ nhóm ngay ngoài cửa tam quan, dưới chân thành. Tiếng người mua bán
đổi chác nhao nhao lên như ong. Chàng không mua gì, nhưng cứ dạo qua các hàng,
mỗi chỗ đứng một chặp, cũng thấy vui vui. Phiên chợ kinh khác ở xứ chàng sinh
trưởng ở chỗ to lớn gấp trăm phần, cái ấy đã đành; nhưng cũng khác ở chỗ có nhiều
cái lạ, chàng chưa từng biết đến. Chẳng hạn, người ta đổi một đứa trẻ lấy một con lợn
có chửa, hay là bán một ông lão già lấy năm đồng tiền Đại trung, giá một cái váy vải
nâu.
Người đàn ông nói chuyện ở trong đò vẫn đi theo chàng. Một mối cảm tình đã sinh
ra, ràng buộc lấy hai người. Chàng thanh niên, tìm thấy ở bạn một kẻ hướng dẫn
hoàn toàn, hiền lành, vui vẻ, lại thông thái nữa; mà người này cũng sung sướng được
dịp giúp ích cho một người xa lạ, quê mùa, mà nét mặt, điệu bộ và lời nói tỏ ra không
phải một kẻ tầm thường.
Hai người vừa đi, vừa nói chuyện. Trước hàng nào lạ mắt, chàng thanh niên lại
ngừng bước, hỏi bạn. Bỗng một toán kỵ mã chừng hơn mười người từ cửa thành phi
ra, báo tin quan Đông dinh Thái thú cùng gia quyến sắp ra xem phiên chợ. Thôi thời,
cả đám người buôn bán luống cuống cả lên, vẻ rộn rịp tăng lên bội phần, ai nấy đều
hớt hơ, hớt hải, loay hoay sắp đặt lại hàng hóa của mình, thu giấu bớt đi, hay là
chuyền gửi cho người khác ngồi chỗ khuất hơn. Toán kỵ mã đã dẹp xong các lối đi và
chia nhau vây quanh chợ.
Một điệu đàn sáo nổi lên, dần tiến lại gần. Xa xa thoáng thấy màu sắc dập dìu của cờ
xí, lọng tàn. Một đội lính hộ vệ vác xà mâu6 đi trước, ai nấy đều khắc bốn chữ “Đông
thứ sử dinh” trước trán. Kế đến một đoàn kỵ binh bồng gươm trần đi ngay trước
một cỗ xe tứ mã che tàn hoa, ở trong một người béo mập ngồi chễm chệ mà chàng
thanh niên đoán chắc là quan Thái thú. Điều ngộ nhất mà chàng chú ý, là quanh cỗ xe
đi rất chậm, có nhiều người mặc áo rộng, nâng cao những đỉnh trầm hương đốt cháy,
hương khói tỏa ra mịt mù thơm nức.
Người bạn đồng hành với chàng kéo chàng ra xe, hạ giọng xuống, cắt nghĩa:
- Thằng chó, nó muốn bắt chước đức Long Độ đình hầu ngày xưa đấy!
Chàng thanh niên suy nghĩ giây lát, rồi nói:
- Phải chăng là bác muốn nói quan Thái thú Sĩ Nhiếp. Học lâu ngày quá, tôi quên mất
cả.
- Phải đấy! Ngày xưa Long Độ đình hầu đi ra là dân sự hai bên đường tự ý mang trầm
hương ra đốt và đi theo suốt cả dọc đường. Ấy là đời thái bình thịnh trị, có đâu như
bây giờ?
Nhưng chàng thanh niên đã không lắng tai nữa, mắt chàng mãi để vào cỗ xe sau,
những cỗ xe có màn che kín, do các tỳ nữ đẩy, mà trong một chiếc chàng thoáng thấy
một bàn tay đưa lên ngang mắt, vén hé bức là. Hai mắt đen lánh ở trong xe đưa
quanh một vòng, ngừng lại một lát trên mặt chàng, rồi cỗ xe lướt qua.
- Bác nhỉ! Đấy là hầu vợ con cái quan Thái thú đấy chứ gì?
- Đấy là những hầu thiếp thằng giặc đói ấy nó đi cướp về đấy. Vợ nó, nó để cả bên
Tàu kia.
- Sao lại có thể thế được nhỉ?
- Ồ! Sao lại không thể thế được?
Những quân ấy làm gì mà chả được ở đất Giao Châu này? Bác ở dưới đất mới đục lên
hay ở trên trời mới sa xuống mà lại không biết những điều người ta thán oán về
chúng nó?
- Ở trên tôi, thỉnh thoảng cũng có nghe một đôi việc hà hiếp bạo ngược, nhưng không
biết là quá đáng như vậy. Bác nhỉ, thế mà ở đây chẳng có ai vì muôn dân, đứng lên
mà trừ mối hại chung sao?
- Ai? Chả lẽ lại là tôi hay bác?
Chàng thanh niên thẳng mình dậy, nhìn bạn một cách tức tối, ngập ngừng như muốn
nói điều gì, nhưng lại thôi. Chàng gật đầu:
- Ừ nhỉ! Bọn mình thì làm quái gì được.
Nghỉ một lát, chàng vỗ vai bạn, cười mỉm:
- Bác ạ! Thế mà xứ tôi, làng tôi, đã sản xuất được vị anh hùng rồi đấy!
- Phải, tôi biết: Bố Cái đại vương!
- Ấy! Sao bác biết được!
- Bác chẳng đã khai với tôi, bác người Đường Lâm là gì?
- À! Vâng!
Nghỉ một lúc, người kia lại nói:
- Bác ạ, bây giờ cũng đã trưa, ta lại hàng quán nào gần đây, ăn cái gì, uống rượu để
nghỉ chân luôn thể. Dậy sớm quá, tôi thấy đã mỏi.
- Xin tùy bác.
Hai người vào một hàng bày ngay dưới gốc một cây đa to tướng, không có mái che và
chỉ gồm mỗi một cái chõng thấp và ít cái đòn ngồi. Quán tồi và bán rặt một thứ bánh
đúc đỏ và thứ thịt cầy bọc đất sét lủi tro lâu ngày, nhưng được cái vắng khách, hai
người có thể tự do trò chuyện.
Sau một hồi nín lặng, ai nấy vẩn vơ theo đuổi ý nghĩ của mình, người kia hất hàm,
hỏi:
- Chúng ta nói gì rồi nhỉ? À! Luận anh hùng! Đấy, bác xem! Anh hùng Giao Châu ta có
thiếu đâu, nói chi cho xa đến bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, nói chi đến
Bố Cái đại vương? Chỉ nói chuyện gần đây, mắt tôi trông thấy: đức Đồng Bình
chương sự dấy nghiệp ở Hồng Châu, nhà Đại Đường và nhà Hậu Lương cũng phải
kính nể. Cha truyền con nối, đến đời cháu là ông Tiết độ sứ Thừa Mỹ, vì vụng một tí,
mà bị hãm hại và đem cả nhân dân vào chỗ đồ thán khôn cùng! Bác biết cả rồi đấy
chứ? Bác ạ! Khó không phải ở chỗ biết đứng lên. Khó ở chỗ đứng lên rồi mà biết ngồi
đấy! Chúng ta hỏng ở chỗ ấy.
Chàng thanh niên gật đầu, cười:
- Bác trông vẻ thạo đời lắm. Giá có người nào biết dùng bác làm quân sư hay là
thuyết khách như ở thời Chiến Quốc, thì lo gì đại cuộc không sớm định?
Chàng vỗ mạnh vào đùi bạn, ngã ngửa người ra cười.
Nhưng chàng ngạc nhiên nín ngay, vì thấy bạn vẫn giữ vẻ trầm ngâm của mình như
tuồng không cho câu khôi hài của chàng là quá đáng.
Người bạn nhìn trước nhìn sau, rồi cũng hạ giọng xuống nữa, nói:
- Chẳng giấu gì bác, tôi có một chuyện đã muốn nói cùng bác ngay sau khi được trực
tiếp bác ít điều, lúc sang ngang.
- Chuyện gì bác cứ nói, đừng ngại.
- Vâng. Tôi biết bác có chí lớn. Tôi trông người xem tướng ít khi lầm. Nếu ngại, tôi đã
không cố tâm theo bác từ mai đến giờ. Này bác! Bác có từng nghe tiếng một người họ
Dương tên là Diên Nghệ không?
- Dương tướng quân là thủ hạ của đức Đồng Bình chương sự Khúc Thừa Dụ và là nha
trảo của con người quan Tiết độ sứ Hạo. Bình sinh, cha tôi có dạy chuyện cho tôi
nghe. Thuở ấy cha tôi còn làm quan mục ở Phong Châu, tôi còn nhỏ quá! Về sau ra
thế nào thì tôi không được biết.
- Ấy, ra bác cũng là dòng dõi quý phái đấy chứ. Thảo nào!
- Bác dạy quá lời. Dân sơn cước như tôi thì còn được kể về hàng ngũ nào?
- Dương chủ tướng phò ba đời chúa, một tấm gan trung, không hề lay chuyển. Hồi
ông Tiết độ sứ Mỹ, mặc dầu ông ấy nghe rộng thấy nhiều và có qua ở làm con tin bên
triều Nam Hán hằng mấy năm trời, nhưng vốn thực là người hữu dũng vô mưu, lại
thêm còn thiếu niên tự phụ, chỉ biết nhìn trong con mắt mình mà không biết thấy ra
ngoài đời. Bên Tàu, nhà Đường mất, nhà Hậu Lương chật vật lắm mới cất đầu lên nổi,
nhưng yếu thế quá, đến nỗi anh em thằng mọi họ Lưu ở nước Việt cũng xưng hùng
xưng bá, dựng nên cơ nghiệp nhà Nam Hán. Khi về nước kế vị cho cha, Khúc Thừa
Mỹ lại bỏ họ Lưu mà thần phục Lương triều, xin thọ phong ở đó. Dương nguyên soái
can gián mãi không được, cũng tưởng là khi ở Phiên ngung, Tiết độ sức Mỹ tất đã có
dò xét hư thực kỹ càng. Không ngờ thằng Lưu Cung nó thù vặt, sai thằng giặc Lý Khắc
Chính đem quân qua vấn tội. Dương tướng quân ba lần phá vòng vây, ba lần thất bại,
không sao cứu nổi Khúc sứ quân, ngài phải bỏ mình. Vạn bất đắc dĩ, Dương tướng
quân phải lui về lánh tại Hồng Châu động. Họ Lý chiếm quyền, cai trị Giao Châu, sự
tàn bạo kể đà khôn xiết. Nay dân tình ta thán, ai nấy chỉ ngầm đợi một hiệu lệnh là
đến tựu ngay dưới lá cờ khởi nghĩa. Tôi là người tướng quân sai đi ra cái hiệu lệnh
ấy.
Nói xong thò tay vào túi, lấy ra một gói đẹp và dài, mở lần lần mà đợi câu trả lời.
Chàng thanh niên nhìn điệu bộ của bạn, hiểu ngay ý định của người đối diện, mỉm
cười tinh nghịch:
- Việc ấy can hệ đến cả đời tôi, bác để thư thả cho tôi nghĩ kỹ đã. Vả chăng, từ quê
nhà ra đi, tôi chưa hề tính đến việc làm gì cả.
Chàng thấy người kia chớp đôi sắc diện đứng dậy, chàng bèn cũng đứng theo, sẵn
sàng để đối phó với mọi sự nguy nan, thì vừa nghe đằng xa có tiếng kêu cứu vang
trời.
Người ta đổ xô cả lại chỗ ấy. Hai người chạy theo.
Ở một góc chợ, một người thiếu phụ giằng co với ba tên lính, trong khi một tên khác
dâng hèo7 phang lấy phang để vào một người dân.
Người này máu chảy đầy đầu, quỳ ở đất khóc:
- Bẩm lạy ông lớn, con có bán vợ con đâu? Nào nó có tội làm đĩ lấy trai gì để đem bán
cho đang? Chẳng qua con nghèo túng, không có tiền nộp thuế, phải tình thế đem cầm
đỡ nó đấy thôi. Lạy ông lớn, ông lớn đoái thương cho con nhờ…
Một viên quản cơ sấn ngựa đến sát bên mình người dân, vó ngựa đạp nhầu lên đầu
hắn, quát mắng rằng.
- Mày là đồ ngu. Vợ mày có nhan sắc, quan Thái thú đoái thương đến cho, thế là hồng
phúc ba mươi đời nhà mày rồi, còn đoái thương cách nào nữa? Im mà cút đi, không
có đến chết toi bây
 









Các ý kiến mới nhất