Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

_vat-ly-vui-tap-1

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:57' 02-02-2026
Dung lượng: 943.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Table of Contents
1- Băng trên mái nhà hình thành như thế nào? 
2- Tiếng nói của người tí hon và khổng lồ trong "Guylive"
3- Ánh sáng đom đóm có từ đâu?
4- Người nhảy dù rơi như thế nào?
5- Bức tranh kỳ lạ dưới ánh chớp
6- Vò đất sét làm mát nước như thế nào?
7- Tại sao khi quạt lại thấy mát?
8- Con mực bơi như thế nào?
9- Làm thế nào để bảo vệ mình giữa cơn dông?
10- Tại sao ngọn lửa không tự tắt?
11- Tại sao nước làm tắt lửa?
12- Băng phẳng và băng mấp mô, thứ nào trơn hơn?
13- Tại sao mắt mèo một ngày biến đổi 3 lần?
14- Ai đã nghĩ ra từ gas?
15- Tại sao khi có gió lại thấy lạnh hơn?
16- Tại sao con cù quay không đổ?
17- Lực hấp dẫn - dây cáp vô hình siêu khỏe

18- Tại sao tên lửa bay được?
19- Tại sao diều bay được lên cao?
20 - Khi gặp sét, nên đứng hay nên ngồi?
21- Sét cũng lựa chọn
22- Chúng ta có thể chịu được nóng đến mức nào?
23- Dùng băng lấy lửa như thế nào?
24- Mặt trời mọc vào lúc nào?
25- Chúng ta uống như thế nào?
26- Nếu như không có ma sát?
27- Sản xuất băng khô từ than như thế nào?
28- Nước đá bỏng tay
29- Trái bom dưa hấu
30- Cái nào nặng hơn?
31- Câu đố về hai bình cà phê
32- Người ta đào đường ngầm như thế nào?
33- Tại sao thuyền buồm có thể chạy ngược gió?
34- Cuộc sống trong con mắt người cận thị
35- Có dễ dàng bóp vỡ được vỏ trứng không?
36- Cuộc du lịch rẻ tiền nhất!
37- Muốn làm lạnh vật, đặt trên hay dưới nước đá?

38- Tại sao đóng chặt cửa sổ mà vẫn cảm thấy gió?
39- Dùng lửa để dập lửa như thế nào?
40- Ở đâu các vật nặng hơn
41- Có thật kiến là những kẻ lao động gương mẫu?
42- Dưới chân chúng ta là mùa gì?
43- Làm thế nào phân biệt được trứng chín, trứng sống?
44- Bí ẩn của bánh xe
45- Khi nào chúng ta chuyển động quanh mặt trời nhanh hơn?
46- Dùng tay tóm được viên đạn
47- Liệu Archimède có thể nhấc bổng trái đất?
 

VẬT LÝ VUI
Nguồn: vnexpress
Thực hiện ebook: vvn
Ngày làm xong: mùng 3 Tết Đinh Hợi.
(Convert PRC>EBUP: BT 2018-Jan)

1- Băng trên mái nhà hình thành như thế
nào?

Góc mặt trời tới nóc nhà lớn hơn góc tới trên mặt đất, nên đốt nóng
tuyết ở đây, làm tuyết tan.
Đã bao giờ bạn tự hỏi, những cột nước đá buông thõng từ mái nhà
xuống hình thành trong giai đoạn băng tan hay băng giá. Nếu trong ngày
băng tan, thì chẳng lẽ nước có thể đóng băng ở nhiệt độ trên số không?
Còn nếu trong ngày băng giá, thì lấy đâu ra nước trên mái nhà?
Vấn đề không đơn giản như chúng ta tưởng. Muốn hình thành những
cột băng thì trong cùng một lúc phải có hai nhiệt độ: nhiệt độ để làm tan
băng - trên số không, và nhiệt độ để làm đóng băng - dưới số không.
Trong thực tế đúng như vậy: Tuyết trên mái nhà dốc tan ra vì ánh mặt
trời sưởi nóng nó tới nhiệt độ trên số không, nhưng khi chảy đến rìa mái
gianh thì nó đông lại, vì nhiệt độ ở đây dưới số không.
Bạn hãy hình dung một cảnh thế này. Vào một ngày quang mây, trời
băng giá vẫn là 1-2 độ dưới không. Mặt trời tỏa ánh sáng, song những tia
nắng xiên ấy không sưởi ấm trái đất đủ làm cho tuyết có thể tan. Nhưng
trên mái dốc hướng về phía mặt trời, tia nắng chiếu xuống không xiên
như trên mặt đất, mà dựng dứng hơn, nghiêng một góc gần với góc
vuông hơn. Mà ta biết rằng góc hợp bởi tia sáng và mặt phẳng nó chiếu
tới càng lớn thì tia sáng càng mạnh và sưởi nóng nhiều hơn (tác dụng của
tia sáng tỷ lệ với sin của góc đó, như trường hợp hình trên, tuyết trên nóc
nhà nhận được nhiệt nhiều gấp 2,5 lần so với tuyết trên mặt đất nằm
ngang, bởi vì sin 60 độ lớn gấp 2,5 lần sin 20 độ). Đó là lý do tại sao mặt
dốc của nóc nhà được sưởi nóng mạnh hơn và tuyết ở trên đó có thể tan
ra.

Nước tuyết vừa tan chảy thành từng giọt, từng giọt xuống rìa mái
gianh. Nhưng ở bên dưới rìa mái gianh, nhiệt độ thấp hơn số không và
giọt nước (do còn bị bốc hơi nữa) nên đóng băng lại. Tiếp đó, giọt nước
tuyết thứ hai chảy đến cũng đông lại… cứ thế tiếp tục mãi, dần dần hình
thành một mỏm băng nho nhỏ. Rồi một lần khác, thời tiết cũng tương tự
như thế, và những mỏm băng này được dài thêm ra, cuối cùng trở thành
những cột băng giống như những thạch nhũ đá vôi trong các hang động
vậy. Nói chung trên các căn nhà không được sưởi ấm, các cột băng cũng
hình thành tương tự như trên.
 

2- Tiếng nói của người tí hon và khổng lồ
trong "Guylive"
Trong bộ phim "Guylive du ký" của Liên Xô cũ, những người tí hon
nói chuyện bằng âm điệu cao, bởi chỉ có âm điệu cao mới thích hợp với
cuống họng nhỏ của họ, còn người khổng lồ Pêchya thì lại nói bằng
giọng thấp. Nhưng khi quay phim đó thì người lớn lại đóng vai người tí
hon và các em nhỏ đóng vai Pêchya. Vậy làm thế nào để đổi được giọng
nói trên phim?
Đạo diễn Pơtusơco cho biết, lúc quay phim các diễn viên vẫn nói
giọng bình thường, còn trong quá trình quay phim, người ta đã thay đổi
tông bằng một phương pháp độc đáo, căn cứ vào đặc điểm vật lý của âm.
Muốn làm cho giọng của những người tí hon cao lên và giọng của
Pêchya thấp xuống, các chuyên gia đã dùng những băng ghi âm chuyển
động chậm để ghi lời nói của các diễn viên đóng vai người tí hon. Ngược
lại, họ dùng băng ghi âm chuyển động nhanh để ghi lời nói của Pêchya.
Khi chiếu phim thì cho cuốn phim chạy với vận tốc bình thường. Kết quả
chiếu phim phù hợp với điều mà đạo diễn mong muốn. 

Điều này xảy ra là vì khi giọng nói của người tí hon truyền đến tai
thính giả, vì số lần dao động đã nhiều hơn hẳn so với các âm thanh thông
thường nên đương nhiên tông sẽ cao lên. Còn khi giọng nói của Pêchya
truyền đến tai thính giả, vì số lần dao động đã ít hơn âm thanh thông
thường rất nhiều, nên tông sẽ thấp xuống. Tóm lại, trong cuốn phim này,
âm điệu của giọng nói của người tí hon cao hơn người thường một quãng
năm, và giọng nói của Pêchya thấp hơn âm điệu thông thường một quãng
năm.
Với âm thanh, "kính lúp thời gian" đã được vận dụng một cách độc
đáo như vậy. Hiện tượng này cũng thường xảy ra khi ta vặn máy hát với
vận tốc lớn hơn hoặc nhỏ hơn vận tốc thông thường.
 

3- Ánh sáng đom đóm có từ đâu?

Đom đóm
 
Thử di nát trên đất một con đom đóm phát sáng, bạn sẽ thấy để lại
trên mặt đất là một vệt dài, vẫn tiếp tục nhấp nháy, sau đó mới mờ dần
rồi mất hẳn. Như vậy, ánh sáng do đom đóm phát ra là sản phẩm của một
quá trình hoá học, chứ không phải là quá trình sinh học.
Bởi vì, sau khi côn trùng đã chết mà ánh sáng vẫn còn, thì rõ ràng con
vật chỉ làm nhiệm vụ liên tục sinh ra loại chất phát sáng mà thôi.

Đom đóm có hai nhóm là đom đóm bay và đom đóm bò dưới đất. Cả
hai nhóm này đều có thể phát ra cùng một thứ ánh sáng lạnh đặc biệt,
không toả nhiệt như ánh sáng nhân tạo. Đó là vì trong quá trình phát
sáng, hầu như toàn bộ năng lượng được sinh vật chuyển thành quang
năng, chứ không tiêu hao thành nhiệt như ở những nguồn sáng nhân tạo
khác.
Ánh sáng của đom đóm được phát ra từ một vài đốt cuối bụng. Ban
ngày, các đốt này chỉ có màu trắng xám, về đêm mới phát ra ánh sáng
huyền ảo qua lớp da trong suốt. Bên trong lớp da bụng là dãy các tế bào
phát quang, trong cùng là lớp tế bào phản quang, có chức năng như mặt
gương giúp phản chiếu ánh sáng ra ngoài.
Các tế bào phát quang có chứa hai loại chất là luciferin và luciferaza.
Khi tách rời nhau, chúng chỉ là những hoá chất bình thường, không có
khả năng phát sáng. Nhưng khi ở cạnh nhau, men luciferaza sẽ xúc tác,
thúc đẩy quá trình oxy hoá luciferin (quá trình dùng ôxy đốt cháy
luciferin). Quá trình oxy hoá này tạo ra quang năng.
Đom đóm chỉ có thể phát sáng lập loè mà không liên tục, bởi vì chúng
tự khống chế việc cung cấp ôxy, sao cho phản ứng phát sáng thực hiện
được lâu dài.
 

4- Người nhảy dù rơi như thế nào?

Nhiều người thường nghĩ rằng, khi “rơi như hòn đá” mà không mở
dù, thì người sẽ bay xuống dưới với vận tốc tăng lên mãi, và thời gian
của cú nhảy đường dài sẽ ngắn hơn nhiều. Song, thực tế không phải như
vậy.
Sức cản của không khí đã không cho vận tốc tăng mãi lên. Vận tốc
của người nhảy dù chỉ tăng lên trong vòng 10 giây đầu tiên, trên quãng
đường mấy trăm mét đầu tiên. Sức cản không khí tăng khi vận tốc tăng,
mà lại tăng nhanh đến nỗi chẳng mấy chốc vận tốc đã không thể tăng
hơn được nữa. Chuyển động nhanh dần trở thành chuyển động đều.
Tính toán cho thấy, sự rơi nhanh dần của người nhảy dù (khi không
mở dù) chỉ kéo dài trong 12 giây đầu tiên hay ít hơn một chút, tùy theo
trọng lượng của họ. Trong khoảng 10 giây đó, họ rơi được chừng 400500 mét và đạt được vận tốc khoảng 50 mét/giây. Và vận tốc này duy trì
cho tới khi dù được mở.
Những giọt nước mưa cũng rơi tương tự như thế. Chỉ có khác là, thời
kỳ rơi đầu tiên của giọt nước mưa (tức là thời kỳ vận tốc còn tăng) kéo
dài chừng một phút, thậm chí ít hơn nữa.
 

5- Bức tranh kỳ lạ dưới ánh chớp

Thử hình dung bạn đứng giữa cơn dông trong một thành phố cổ. Dưới
ánh chớp bạn sẽ thấy một quang cảnh kì dị. Phố đang nhộn nhịp dường

như hóa đá trong khoảnh khắc: những con ngựa giữ ở tư thế đang kéo xe,
chân giơ lên trong không khí; các cỗ xe cũng đứng im, trông thấy rõ từng
chiếc nan hoa..
Sở dĩ có sự bất động biểu kiến đó là vì tia chớp, cũng như mọi tia lửa
điện, tồn tại trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi - ngắn đến nỗi
không thể đo được bằng những phương tiện thông thường. Nhưng nhờ
những phương pháp gián tiếp, người ta đã biết được tia chớp tồn tại từ
0,001 đến 0,2 giây (tia chớp giữa các đám mây thì kéo dài hơn, tới 1,5
giây).    
Trong những khoảng thời gian ngắn như thế thì chẳng có gì di chuyển
một cách rõ rệt đối với mắt chúng ta cả. Mỗi nan hoa của bánh xe ở cỗ
xe chạy nhanh chỉ kịp chuyển đi được một phần rất nhỏ của milimét, và
đối với mắt thì điều đó cũng chẳng khác gì bất động hoàn toàn. Ấn tượng
càng được tăng cường hơn nữa vì rằng ảnh được lưu lại trong mắt còn
lâu hơn thời gian tồn tại của tia chớp.
 

6- Vò đất sét làm mát nước như thế nào?
 

Loại vò làm bằng đất sét không nung có khả năng làm cho nước ở bên
trong trở nên mát hơn. Loại vò này rất thông dụng ở các nước Trung Á

và có nhiều tên gọi: ở Tây Ban Nha gọi là "Alicaratxa", ở Ai Cập gọi là
"Gâula"...
Bí mật về tác dụng làm lạnh của những vò này rất đơn giản: nước
đựng trong vò thấm qua thành đất sét ra ngoài và từ từ bốc hơi, khi bốc
hơi nó sẽ lấy một phần nhiệt từ vò và từ nước đựng trong vò.
Tuy nhiên, tác dụng làm lạnh ở đây không lớn lắm. Nó phụ thuộc rất
nhiều điều kiện. Không khí càng nóng, nước thấm ra ngoài bình bốc hơi
càng nhanh, càng nhiều, làm cho nước ở trong vò càng lạnh đi. Sự lạnh
đi còn phụ thuộc vào độ ẩm của không khí xung quanh: nếu không khí
có nhiều hơi ẩm thì quá trình bốc hơi xảy ra rất chậm và nước lạnh đi
không nhiều lắm. Ngược lại, trong không khí khô ráo thì sự bay hơi xảy
ra rất nhanh, khiến cho nước lạnh đi rõ rệt. Gió càng thổi nhanh, quá
trình bay hơi càng mạnh và do đó tăng cường tác dụng làm lạnh (tác
dụng của gió cũng có thể thấy khi ta mặc áo ướt trong những ngày nóng
bức. Khi có gió, ta sẽ thấy mát mẻ, dễ chịu).
Sự giảm nhiệt độ trong các vò ướp mát thường không quá 5 độ C.
Trong những ngày nóng bức ở Trung Á, khi nhiệt kế chỉ 33 độ C thì
nước ở trong vò thường chỉ 28 độ C. Như vậy, tác dụng làm lạnh của loại
vò này chẳng có lợi là bao. Nhưng loại vò này giữ nước lạnh rất tốt và
người ta dùng chúng chủ yếu là nhằm vào mục đích đó.
Chúng ta có thể thử tính xem nước trong vò "alicaratxa" lạnh đến mức
độ nào. Thí dụ, ta có một vò đựng được 5 lít nước. Giả sử rằng nước ở
trong vò đã bay hơi mất 1/10 lít. Trong những ngày nóng 33 độ C, muốn
làm bay hơi 1 lít nước (1kg) phải mất chừng 580 calo, nước ở trong vò
đã bay hơi mất 1/10kg thành ra cần phải có 58 calo. Nếu như toàn bộ 58
calo này là do nước trong vò cung cấp thì nhiệt độ nước ở trong vò sẽ
giảm đi 58/5, tức là xấp xỉ 12 độ. Nhưng đa số nhiệt cần thiết cho sự bay
hơi lại được lấy từ thành vò; mặt khác, nước ở trong vò vừa đồng thời
lạnh đi lại vừa bị không khí nóng tiếp giáp với thành vò làm nóng lên.
Do đó, nước ở trong vò chỉ lạnh đi chừng nửa con số tìm được ở trên mà
thôi.

Khó mà nói được, ở đâu vò lạnh đi nhiều hơn - để ra ngoài hay trong
bóng mát. Ở ngoài nắng thì nước bay hơi nhanh hơn, nhưng đồng thời
nhiệt đi vào trong vò cũng nhiều hơn. Nhưng chắc chắn nhất là để vò ở
trong bóng râm, hơi có gió. 

7- Tại sao khi quạt lại thấy mát?

Khi phe phẩy quạt, chúng ta đã xua đuổi lớp không khí nóng ở mặt đi
và thay thế nó bằng lớp không khí lạnh. Tới lúc lớp khí mới này nóng lên
thì nó lại được thay thế bằng một lớp không khí chưa nóng khác... Chính
vì thế, ta luôn cảm thấy dễ chịu.
Thực tế, sau khi lớp không khí trực tiếp dính sát vào mặt ta nóng lên
thì nó trở thành cái chụp không khí vô hình úp vào mặt chúng ta, "ủ
nóng" mặt chúng ta, nghĩa là làm trì hoãn sự tiếp tục mất nhiệt ở đó. Nếu
lớp không khí này không lưu động thì nó chỉ bị không khí lạnh ở xung
quanh (và nặng hơn) đẩy lên trên một cách hết sức chậm chạp.
Nhưng khi chúng ta lấy quạt xua "cái chụp" ấy đi thì mặt chúng ta sẽ
luôn tiếp xúc với những lớp không khí mới chưa nóng lên, và truyền
nhiệt sang các lớp không khí ấy. Từ đó, thân thể chúng ta lạnh đi và cảm
thấy mát mẻ dễ chịu.
Điều đó cũng có nghĩa là, trong một căn phòng có đông người, việc
phe phẩy quạt giúp ta cảm thấy mát mẻ, bằng cách lấy đi không khí lạnh
xung quanh những người khác, và đẩy không khí nóng về phía họ. 

8- Con mực bơi như thế nào?
 

Con mực
 
Hẳn bạn sẽ vô cùng ngạc nhiên khi nghe nói: Với nhiều sinh vật thì
phương pháp hoang đường “tự túm tóc để nâng mình lên trên” lại chính
là cách di chuyển thông thường của chúng ở trong nước. Mực cũng thế.
Con mực và nói chung đa số các động vật nhuyễn thể lớp đầu túc đều
di chuyển trong nước theo cách: lấy nước vào lỗ máng qua khe hở bên và
cái phễu đặc biệt ở đằng trước thân, sau đó chúng dùng sức tống tia nước
qua cái phễu đó. Như thế, theo định luật phản tác dụng, chúng nhận được
một sức đẩy ngược lại đủ để thân chúng bơi khá nhanh về phía trước.
Ngoài ra con mực còn có thể xoay ống phễu về một bên hoặc về đằng
sau và khi ép mình để đẩy nước ra khỏi phễu thì nó có thể chuyển động
theo bất kỳ hướng nào cũng được.
Chuyển động của con sứa cũng tương tự như thế: nó co các cơ lại để
đẩy nước từ dưới cái thân hình chuông của nó ra và như thế nó bị đẩy về
phía ngược lại. Chuyển động của bọ nước, của các ấu trùng chuồn chuồn
và nhiều loài động vật dưới nước khác cũng theo phương pháp tương tự.

9- Làm thế nào để bảo vệ mình giữa cơn
dông?
Trong cơn dông, đáng sợ nhất không phải là bầu trời đen kịt, gió rít ào
ào, sấm giật hay màn nước táp xiên vào mặt, mà là những cú sét chết
người đánh xuống đất. Dưới đây là lời khuyên của các chuyên gia nếu
bạn chỉ có một mình trong cơn dông.

Các tình huống dễ bị sét đánh: cầm dụng cụ bằng sắt trên tay, đứng
gần gốc cây.
 
Trên các cánh đồng
Trước tiên, để không bị đe dọa bởi nguy cơ cái cây đổ xuống đúng
đầu, bạn hãy tránh xa các gốc cây, đặc biệt là những cây đứng riêng lẻ.
Thực tế là những ngọn gió mạnh trong suốt cơn mưa khiến cho khả năng
che mưa của cây không còn, nhất là khi trời mưa như trút nước. Sau nữa,
với độ cao của nó, cái cây sẽ thu hút sét. Và vì khung xương của người
có điện trở nhỏ hơn gỗ, nên chúng ta sẽ là một phương tiện tốt hơn cho
sét tiếp đất. Khi bạn đứng cách xa cây, thậm chí khi đứng thẳng, cũng
giảm nguy cơ thu hút sét hơn 50 lần.
Thế nhưng nguy hiểm vẫn còn. Người nông dân, với các dụng cụ
bằng sắt trên tay, cũng vô tình biến mình thành mục tiêu của sét. Vì vậy,
cách tốt nhất khi gặp dông tố ở nơi trống trải như cánh đồng là quỳ
xuống đất. Dù có hơi bẩn, nhưng bạn ít có nguy cơ chạm trán Thiên Lôi.

Còn nếu đang bơi
Một tình huống nguy hiểm! Sét không cần đánh trực tiếp lên một
người đang bơi vẫn có thể biến anh ta trở thành nạn nhân. Vì thực tế
dòng điện từ trên trời không biến mất ngay khi nó đánh xuống đất, mà
chỉ yếu dần trong môi trường đất. Bởi vì nước là một chất dẫn điện tốt.
Do vậy, khi đánh xuống nước, hoặc xuống mặt đất ở gần đó, dòng điện
sẽ rất dễ dàng chạy tới người. Vì vậy, không nên bơi khi trời nổi dông.
Trong xe hơi
Chiếc xe là một nơi ẩn nấp an toàn trong cơn dông. Ở đây, nó đóng
vai trò tương tự như một “chiếc lồng Faraday” (tên của nhà khoa học đầu
tiên đã chứng minh rằng việc ẩn mình phía trong một cấu trúc bằng kim
loại là biện pháp tốt nhất để tránh sét). Nếu sét đánh trúng xe thì điện sẽ
dẫn truyền trên vỏ xe mà không xuyên vào phía trong trước khi tiếp xúc
với mặt đất. Do vỏ xe bằng kim loại dẫn điện tốt hơn nhiều so với không
khí trong xe, nên dòng điện cực mạnh của sét sẽ được truyền nhanh
chóng xuống mặt đất. Tuy nhiên, trong tình huống này, những người
ngồi trong xe tuyệt đối không được sờ vào máy thu thanh hay bất kỳ một
bộ phận kim loại nào khác của xe. Và nhất là không được bỏ mui.
 

10- Tại sao ngọn lửa không tự tắt?

Ngọn lửa trong môi trường hấp dẫn bình thường

Lẽ thường, quá trình cháy tạo ra khí CO2 và hơi nước, đều là những
chất không có khả năng duy trì sự cháy. Những chất này sẽ bao bọc lấy
ngọn lửa, ngăn không cho nó tiếp xúc với không khí. Như vậy, ngọn lửa
phải tắt ngay từ lúc nó mới bắt đầu hình thành chứ?
Nhưng tại sao việc đó lại không xảy ra? Tại sao khi dự trữ nhiên liệu
chưa cháy hết thì quá trình cháy vẫn kéo dài không ngừng? Nguyên nhân
duy nhất là, chất khí sau khi nóng lên thì sẽ nở ra và trở nên nhẹ hơn.
Chính vì thế, các sản phẩm nóng của sự cháy không ở lại nơi chúng được
hình thành (nơi trực tiếp gần ngọn lửa), mà bị không khí mới lạnh hơn và
nặng hơn, đẩy lên phía trên một cách nhanh chóng.
Ở đây, nếu như định luật Acsimet không được áp dụng cho chất khí
(hoặc, nếu như không có trọng lực), thì bất kỳ ngọn lửa nào cũng chỉ
cháy được trong chốc lát rồi sẽ tự tắt ngay. Còn trong môi trường hấp
dẫn yếu, ngọn lửa sẽ có hình thù rất kỳ quặc.
Chúng ta dễ dàng thấy rõ tác dụng tai hại của những sản phẩm cháy
đối với ngọn lửa. Chính bạn cũng thường vô tình lợi dụng nó để làm tắt
ngọn lửa trong đèn. Bạn thường thổi tắt ngọn đèn dầu hỏa như thế nào?
Bạn thổi từ phía trên xuống, tức là đã dồn xuống dưới, về phía ngọn lửa,
những sản phẩm không cháy được (do sự cháy sinh ra), và ngọn lửa tắt
vì không có đủ không khí.
 

11- Tại sao nước làm tắt lửa?

Nước được dùng để dập lửa trong hầu hết các vụ hỏa hoạn.

Vấn đề tuy đơn giản, nhưng không phải ai cũng có đáp án chính xác
cho câu hỏi này. Dưới đây là giải thích của nhà vật lý Ia. I. Perenman.
Thứ nhất, hễ nước gặp một vật đang cháy thì nó biến thành hơi và hơi
này lấy đi rất nhiều nhiệt của vật đang cháy. Nhiệt cần thiết để biến nước
sôi thành hơi nhiều gấp 5 lần nhiệt cần thiết để đun cùng thể tích nước
lạnh ấy lên 100 độ.
Thứ hai, hơi nước hình thành lúc ấy chiếm một thể tích lớn gấp mấy
trăm lần thể tích của khối nước sinh ra nó. Khối hơi nước này bao vây
xung quanh vật đang cháy, không cho nó tiếp xúc với không khí. Thiếu
không khí, sự cháy sẽ không thể duy trì được.
Để tăng cường khả năng làm dập lửa của nước, đôi khi người ta còn
cho thêm … thuốc súng vào nước. Điều này thoạt nghe thì thấy lạ, nhưng
rất có lý: thuốc súng bị đốt hết rất nhanh, đồng thời sinh ra rất nhiều chất
khí không cháy. Những chất khí này bao vây lấy vật thể, làm cho sự cháy
gặp khó khăn.
 

12- Băng phẳng và băng mấp mô, thứ
nào trơn hơn?
Trên sàn nhà đánh thật bóng dễ trơn trượt hơn trên sàn nhà thường.
Có lẽ trên băng cũng giống thế mới phải, nghĩa là băng phẳng phải trơn
hơn băng lồi lõm, mấp mô. Nhưng thực tế lại trái với dự đoán đó.
Nếu có dịp kéo một xe trượt băng chở thật nặng qua mặt băng mấp
mô, bạn sẽ thấy chiếc xe nhẹ hơn đi trên mặt băng phẳng rất nhiều. Mặt
băng mấp mô trơn hơn mặt băng phẳng lỳ! Điều đó được giải thích như
sau: Tính trơn của băng không phụ thuộc vào sự bằng phẳng, mà hoàn
toàn do một nguyên nhân khác. Đó là điểm nóng chảy của băng giảm đi
khi tăng áp suất.

Ta hãy phân tích xem có điều gì xảy ra khi trượt băng trên giày trượt
hoặc bằng xe trượt. Đứng trên giày trượt, chúng ta tựa trên một diện tích
rất nhỏ, tổng cộng chỉ độ mấy milimét vuông. Trọng lượng toàn thân ta
nén cả trên cái diện tích bé nhỏ ấy, tạo ra một lực rất lớn. Dưới áp suất
lớn, băng tan ở nhiệt độ thấp. Lúc ấy, giữa đế giày trượt và băng có một
lớp nước mỏng. Thế là người trượt băng đi được.
Và khi chân anh ta vừa di chuyển đến nơi khác, thì lập tức ở đó lại
xảy ra hiện tượng giống như trên, nghĩa là băng dưới chân anh ta biến
thành một lớp nước mỏng. Trong tất cả các vật tồn tại trong thiên nhiên,
chỉ một mình băng có tính chất ấy. Một nhà vật lý Xô Viết đã gọi nó là
"vật trơn duy nhất trong thiên nhiên". Những vật khác tuy bằng phẳng
nhưng không trơn.
Bây giờ, ta trở lại vấn đề băng bằng phẳng và băng mấp mô, thứ nào
trơn hơn. Theo lý thuyết, cùng một vật đè nặng lên diện tích càng nhỏ,
thì áp suất nó gây ra càng mạnh. Vậy thì, người trượt băng sẽ tác dụng
lên trên đế tựa một áp suất lớn hơn khi đứng trên băng phẳng lỳ hay khi
đứng trên băng mấp mô? Rõ ràng là khi đứng trên băng mấp mô. Bởi vì
ở đây, họ chỉ đè lên một diện tích rất nhỏ chỗ nhô lên hay lồi ra của mặt
băng mà thôi. Mà áp suất trên băng càng lớn, thì băng tan càng nhanh, và
do đó băng càng trơn (nếu đế giày đủ rộng).
Nếu đế hẹp thì những điều giải thích trên không thích hợp nữa. Vì
trong trường hợp đó, đế tựa sẽ khía sâu vào những chỗ băng nhô ra, và
lúc này, năng lượng chuyển động đã bị tiêu hao vào việc khía băng.
 

13- Tại sao mắt mèo một ngày biến đổi 3
lần?

Đồng tử mắt mèo có thể co lại cực nhỏ để thích nghi với ánh sáng
mạnh.
Dân gian Trung Quốc có câu vè về sự giãn nở ngày 3 lần của đồng tử
mắt mèo như sau: “Dần, mão, thân, dậu như hạt táo; Thìn, tỵ, ngọ, mùi
như sợi chỉ; Tý, sửu, tuất, hợi như trăng rằm”. Điều gì khiến cho mắt
mèo có năng lực đó?
Thì ra, con ngươi (đồng tử) của mèo rất to, và năng lực co của cơ
vòng ở con ngươi rất khỏe. Ở người, nếu nhìn chăm chú vào mặt trời,
con ngươi của mắt sẽ thu nhỏ lại. Nhưng chúng ta chỉ nhìn được đến một
mức độ nhất định mà thôi, không thể thu nhỏ thêm nữa, vì lâu sẽ cảm
thấy nhức mắt. Còn nếu chong mắt lâu lâu một chút vào nơi tối tăm, ta sẽ
cảm thấy chóng mặt.
Nhưng mèo, dưới sự chiếu rọi của ánh sáng không như nhau, lại có
thể thích ứng rất tốt. Dưới ánh sáng rất mạnh vào ban ngày, con ngươi
của mèo có thể thu lại cực nhỏ, giống như một sợi chỉ. Đến đêm khuya
trời tối đen, con ngươi có thể mở to như trăng rằm. Dưới cường độ chiếu
sáng vào lúc sáng sớm hoặc nhá nhem tối, con ngươi sẽ có hình hạt táo.
Như vậy con ngươi của mắt mèo có khả năng co lại rất lớn so với con
ngươi trong mắt người, do đó khả năng phản ứng với ánh sáng cũng
nhạy hơn chúng ta. Cho nên, dù ánh sáng có quá mạnh hoặc quá yếu,
mèo vẫn nhìn rõ ràng các đồ vật như thường. 

14- Ai đã nghĩ ra từ gas?

Van Helmont.
Từ gas (tiếng Anh) thuộc về những khái niệm được nghĩ ra cùng lúc
với các từ nhiệt kế (thermometer) và khí quyển (atmosphere). Tác giả là
nhà khoa học người Hà Lan Jan Baptista van Helmont (1577-1644), sống
cùng thời với Galileo. Ông đã dựa vào chữ chaos của tiếng Hy Lạp cổ để
đặt ra chữ gas.
Sau khi khám phá ra rằng không khí gồm hai thành phần, trong đó
một phần duy trì sự cháy (ôxy) và một thành phần khác không có tính
chất như vậy, Helmont viết: "Chất khí duy trì sự cháy đó tôi gọi là gas, vì
nó h
 
Gửi ý kiến