Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

1ZvElqO3QT

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:04' 02-02-2026
Dung lượng: 10.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
o ộ l NVa VỌH NỴA Nya iv n x ỴHN P Ị

HNIM HHd

DI TÍCH
DANH THẮNG
TUYÊN Q U A N G

PHỦ NINH

DI TÍCH
DẤM THẮNG
TUYÊN Q U A N G

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA DÂN T ộ c

Hà Nôi - 2008

LỜI NÓI ĐẦU

^ u y ê n Quang là phần
lãnh thổ tươi đẹp, lâu đời của Tổ quốc
Việt Nain. Trên đất Tuyên Quang đã diễn
ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Đặc
biệt thời kỳ cách mạng tháng Tám và
kháng chiến chống thực dân Pháp, Tuyên
Quang nằm trong căn cứ địa, có Tân Trào
dược chọn làm thủ dô lâm thời Khu Giải
phóng, là An toàn khu của Trung ương
Đảng, Chính phủ, các bộ, ban, ngành,
dơn vị quân đội. Tuyên Quang cũng là
mảnh đất làm nên những chiến công
Binh Ca, Khe Lau. Xuất bản cuốn sách
"Di tích, danh thắng Tuyên Quang"
0

DI TÍCH. DANH THANG TUYÊN QUANG

chúng tôi nhằm giới thiệu quê hương
Tuyên Quang cùng đồng bào cả nước.
Còn nhiều nguồn tài liệu chưa được
phát hiện và do hạn chế về trình độ năng
lực của người viết, chắc chắn cuốn sách
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong bạn đọc chỉ giáo, cũng như cung
cấp cho chúng tôi thêm tài liệu để sửa
chữa, bổ sung khi có dịp tái bản.
Xin trân trọng cảm ơn.
PHÙ NINH

•ớ*

TẤM BIA CHỬA BẢO NINH SÙNG PHÚC

gò Khuôn Khoai xã Yên Nguyên
huyện Chiêm Hóa còn lưu giữ được một hiện vật quí,
đó là tấm bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc.
Bia được làm bàng phiến đá xanh cao 14,5 m rộng
0,80 m, dày 0,20 m, đặt trên lưng con rùa đá. Bia khắc
bằng chữ Hán chân phương, còn đọc rõ. Trán bia trang
trí hình rồng, mây, có dòng chữ lớn: Bảo Ninh Sùng
Phúc tự bi nghĩa là bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc.
Tại nơi đặt bia còn dấu tích của chùa, một công
trình kiến trúc khá lớn, những phiến đá chân cột, những
mảnh ngói lẫn trong đất.

về địa điểm của chùa, văn bia chùa Bảo Ninh Sùng
Phúc g h i:
"Thái phó dắt hương lão, xem hướng ở góc quận


DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

chọn đất phía nam Hãn Lộc, giáp bên mạn bắc Mầu
Cung làm nơi dựng chùa".
Người soạn bia là Lý Thừa Ân, sống dưới hai triều
Vua Lý Nhân Tông (1072- 1127) và Lý Thần Tông
(1128-1137) làm quan với chức Triều thỉnh đại phu,
Thượng thư viên ngoại lang. Văn bia được soạn theo
lệnh của Hà Di Khánh, là nhân vật (Thái phó) được
nhắc đến trong bia. Bên cạnh phần giáo lý đạo Phật,
nội dung bia nói về gia thế của dòng họ Hà từng 15 đời
làm Châu mục châu Vị Long (tức huyện Chiêm Hóa
ngày nay), hai người làm quan đến chức Thái bảo và
Thái phó. Một trong hai người đó là Hà Di Khánh.
Bấy giờ, nhân lúc Vua Lý Nhân Tông lên ngôi mới
7 tuổi, nhà Tống tập trung lực lượng tại các trấn thành
phía nam, chuẩn bị xâm lược nước ta.
Thái úy Lý Thường Kiệt đề xuất chiến lược tiến
quân trước chặn bước quân giặc, tháng 10 năm 1075,
thống lĩnh hai đạo thủy bộ 10 vạn quân tập kích vào đất
Tống. Binh mã châu VỊ Long do Hà Hưng Tông (cha
của Hà Di Khánh) chỉ huy là lực lượng quan trọng
trong cuộc tân công. Sau 42 ngày đêm công phá, quân
ta đã chiếm được châu ưng, châu Khâm, châu Liêm,
trong đó châu Ung là căn cử quân sự lớn nhất. Quân ta
phá huỷ kho tàng khí giới, lấy đá lấp sông ngăn chặn sự
^ ồ •đ*

PHÙ NINH

vận chuyển của đối phương. Cuộc tấn công chiến lược
có tác dụng làm suy giảm lực lượng và phương tiện
chiến tranh của địch.
Văn bia ghi: " Thản phụ Thải phó chinh đốn vương
sư đảnh sang ải Bẳc, váy thành Ung cho bỗ giận, bắt
tướng võ, dăng từ binh, do đó được nhà vua ban chức
Hĩm đại liêu ban đoàn luyện xứ”.
Nhờ công lao của cha nên Hà Di Khánh năm 9
tuổi được kết làm em Vua Lý, năm 10 tuổi (1078) được
phong chức Tả đại liêu ban và kết duyên với Công
chúa Khâm Thánh. Đen năm 1086 được nối tước Thái
phó kiêm Tri châu Vị Long.
Đoạn kết của văn bia như sau (tạm dịch):
Lớn thay họ Hà, rỡ ràng tiếng tốt
Tiên tổ qua đời, con cháu nổi gót
Bổn mươi chín động, trải mivời lăm đời
Non sông giữ vững, nhân ải giúp thời
Chần tình sảng suốt, căn tuệ vững bền
Ngói xanh mái lợp, cỗi vàng dựng nền
Phía nam Hãn Lộc, phía bắc Mau Cung
Đất không bụi bặm, hơi núi mịt mùng
Người giỏi ra đời, đạo thì thống nhất
Công đức tạc bia, như non khôn mất.

DI TÍCH. DANH THẮNG TUYÊN QUANG

Văn bia khớp với sử liệu phản ánh một hiện thực
triều Lý là chính quyền phong kiến được củng cố từ
triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê đen nhà Lý bằng cả bạo
lực và chính trị: Một mặt dùng quân sự dẹp các cuộc
nổi dậy, một mặt thi hành chính sách ràng buộc bằng
hôn nhân và phong chức tước. Tù trưởng giữ các châu
mục, nhận chức tước của triều đình, điều đó thể hiện
vùng này đã nam trong hệ thong hành chính của Nhà
nước thống nhất; đồng bào các dân tộc cùng với người
Kinh nằm trong khối cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Việc trai tráng các dân tộc châu Vị Long do tù trưởng
họ Hà chỉ huy dưới sự thống lĩnh của Lý Thường Kiệt
đánh giặc Tống xâm lược là một cứ liệu về truyền
thống đoàn kết giữ nước của các dân tộc trong đại gia
đình dân tộc Việt Nam.
Di tích bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc được xếp
hạng Di tích Quốc gia theo Quyết định số 95, ngày 241-1998 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin. Hiện
đang thực thi dự án xây dựng lại chùa, sẽ hoàn thành
dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long.

10

THÀNH TUYÊN QUANG

^ /h à n h Tuyên Quang nằm giữa hai khu
phố Xuân Hoà và Tam Cờ, thuộc địa phận phường Tân
Quang, thị xã Tuyên Quang ngày nay. Tương truyền,
thành xây dựng năm 1592 dưới thời Mạc Mậu Hợp.
Gạch xây thành làm bằng thứ đất có quặng sắt, rất rắn.
Căn cứ vào kích thước và chất liệu gạch cho thấy thời
điểm xây dựng thành theo tương truyền là hợp lý.
Thành xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều dài 275m;
tường thành cao 3,5m dày 0,8m. ờ giữa mỗi mặt thành
có một cửa bán nguyệt. Trên cửa xây tháp, mái lợp
bằng ngói vảy. Phía trong tường có một con đường nhỏ
để tiếp đạn dược lên thành. Ngoài cùng, bao bọc tường
thành là một lófp hào ngập nước sâu. Đầu đời Nguyễn
thành được sửa chữa, gia cổ thêm, xây bằng loại gạch
nhỏ. Đồi Thổ Sơn trong thành cao gần 50m dốc đứng,
11 •đ*

DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

hướng chếch bắc. Thành án ngữ bên bờ sông Lô, nằm
trên trục giao thông thủy bộ thuận lợi. Địa hình và cấu
trúc như vậy khiến cho thành trở nên một vị trí quân sự
trọng yếu.
Thành là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử:
Bao vây làm cho quân Pháp khốn đốn
Năm 1884, sau khi chiếm Hà Nội, thực dân Pháp
đánh lên Tuyên Quang. Không cam chịu làm nô lệ,
cùng với quân của Lưu Vĩnh Phúc, đồng bào các dân
tộc do Lãnh Chân, Đốc Thịnh chỉ huy dũng cảm đánh
giặc. Từ tháng 8-1884, nghĩa quân chặn đánh các chiến
thuyên tiếp tế, không ngừng nã đạn, đào đường hầm,
dùng thuốc nổ để công phá thành. Nhiều lần bộc phá nổ
đã khoét thủng tường thành, nhưng do hoả lực yếu nên
nghĩa quân không vào được.
Hơn 600 tên địch trong thành bị vây hãm, thiếu
lương ăn nước uống, bị sốt rét, kiết lỵ hoành hành,
ĩrone tám tháng, hơn 200 tên bị tiêu diệt, hầu hết sĩ
quan và một nửa binh lính địch bị thương.
Kết hợp đấu tranh vũ trang và chính trị buộc
quân Nhật đầu hàng
Ngày 15 tháng 8, trên đường đi dự Quốc dân Đại
hội, đồng chí Song Hào được giao nhiệm vụ chỉ huy
12

PHÙ NINH

khởi nghĩa giải phóng tỉnh lỵ Tuyên Quang. Uỷ ban
khởi nghĩa của tỉnh được thành lập gồm các đồng chí
Song Hào, Tạ Xuân Thu, Trần Thế Môn. Đêm 16 tháng
8, quân Giải phóng, tự vệ địa phương tập kết tại đồn
điền Châu Khiết, xã Ỷ La huyện Hàm Yên. Lúc 2 giờ
sáng ngày 17 tháng 8 xuất quân, chia làm 2 mũi nhanh
chóng đánh chiếm dinh lỉnh trưởng, trại bảo an, nhà
bưu điện, sở kho bạc. Bị bao vây, quân Nhật đóng
trong thành xin được điều dinh. Tuy nhiên khi biết
đồng bọn từ Hà Giang về, quân Nhật trong thành trở
mặt, bắn pháo và đại liên vào các khu phố làm chết 2 tự
vệ và 3 người dân.
Kiên quyết đập tan âm mưu của địch, ngày 20
tháng 8, một dơn vị quân Giải phóng cấp tốc hành quân
cản đường cánh quân Nhật từ Hà Giang xuống dồng
thời tập trung lực lượng mở đợt tẩn công vào thành và
tổ chức đông đảo quần chúng tuần hành thị uy rầm rộ.
Licn tục bị tấn công cả về quân sự và chính trị, ngày 21
tháng 8 quân Nhật buộc phải đầu hàng.
Ngày 24 tháng 8, hàng vạn nhân dân tham gia mít
tinh do Lfỷ ban khởi nghĩa tổ chức, ưỷ ban nhân dân
Cách mạng lâm thời của tinh Tuyên Quang tuyên bố
thành lập.
13

DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

Hai lần chứng kiến quăn Pháp thất bại
Thu đông 1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công
lớn lên Việt Bắc, dùng đường sông Lô làm một trong
hai gọng kìm. Trước khi tản cư, nhân dân thị xã Tuyên
Quang thực hiện triệt để tiêu thổ kháng chiến. Khi quân
Pháp đến, thị xã Tuyên Quang hoàn toàn hoang vắng.
Hành quân lên Chiêm Hóa, chúng vấp phải nhiều trận
bị phục kích cả đường bộ lẫn đường sông. Hai binh
đoàn không hội quân được với nhau. Trên đường rút lui
chúng liên tiếp bị đánh chặn, thiệt hại nhiều về binh lực
và phương tiện chiến tranh. Đêm 21 tháng 11 năm
1947, để tránh những đòn truy kích, quân Pháp bỏ lại
toàn bộ quân trang quân dụng, bí mật rút khỏi thị xã
Tuyên Quang.
Ngày 23 tháng 12 năm 1947, lễ mừng chiến thắng
tổ chức tại sân vận động chân núi Thổ Sơn. Đồng chí
Võ Nguyên Giáp Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và
dân quân tự vệ Việt Nam chuyển lời khen ngợi của Hồ
Chủ tịch và Chính phủ và đọc bản Nhật lệnh;
"Hôm nay Tuyên Quang lại được vinh dự chọn
làm nơi cử hành le duyệt bỉnh và tuyên dương công
trạng trong khi trên đường rút lui của giặc, tiếng súng
truy kích của quân đội ta vừa mới ngớt. ... Tuyên Quang
14

PHÙ NINH

cùng Phủ Đoan, Bình Ca, Khe Lau trên bờ sông Lô đã
oanh liệt chiến thẳng thuỷ quân và lục quân của giặc ” .
Đồng chí Tổng tư lệnh gắn huân chương lên quân
kỳ Trung đoàn Sông Lô, Tiểu đoàn Bông Lau, Tiểu
đoàn Bình Ca, Tiểu đoàn pháo binh 410.
Tháng 5 năm 1949, Bộ chỉ huy Pháp mở cuộc hành
quân Pô-môn đánh lên Phú Thọ, Tuyên Quang hòng
phá hoại hậu phương kháng chiến và đỡ đòn cho hướng
Tây Bắc. Địch huy động vào cuộc hành quân 2.600
binh lính gồm bộ binh, pháo binh, công binh, cả thuỷ
quân, quân dù và một phi đội không quân. Địch hành
quân bằng cơ giới đến Đoan Hùng, rẽ quốc lộ 70 qua
Tây Cốc sang phà Hiên, đánh vào thị xã Tuyên Quang
từ hướng tây, chiếm các cao điểm nhà thờ, Thổ Sơn.
Bộ Chỉ huy chiến dịch sông Lô được thành lập
gồm các tướng Bằng Giang, Vương Thừa Vũ, Lâm
Kính. Quân dân ta phục kích đánh địch trên các nẻo
đường Trung Môn, Ỷ La, đường Hiên. Pháo binh từ
các vị trí Ghềnh Quýt, Tràng Đà, làng Giao bắn vào
quân địch trong thành.
Bị bao vây, tập kích từ nhiều phía, sau ba tuần
chiếm đóng thị xã Tuyên Quang, giữa tháng 5 năm
1949, mặt trận Sông Thao mở màn, địch vội vã rút quân.
Đồng chí Trường Chinh viết: "'Thêm một chiến
15

DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

công sông Lô nữa ghi vào lịch sử kháng chiến của dân
tộc ta. Một lần nữa sông Lô chiến thẳng ” .
Ngày 17 tháng 5 năm 1949 thực dân Pháp rút chạy
khỏi thị xã Tuyên Quang.
Nơi Bác Hồ nói chuyện với đồng bào và chiến sĩ
các dân tộc tỉnh Tuyên Quang
Ngày 20 tháng 3 năm 1961 nhân dân Tuyên
Quang phấn khởi mít tinh đón mừng Chủ tịch Hồ Chí
Minh lên thăm và làm việc tại sân vận động chân núi
Thổ Son. Bác Hồ ân cần thăm hỏi đồng bào, các cụ phụ
lão, các gia đình có công với cách mạng; gia đình bộ
dội, thương binh. Bác Hồ nói: ""Trước kia, đồng bào
tinh ta đã góp phần xứng đáng trong Cách mạng thảng
Tám và cuộc kháng chiến cíni nước. Ngày nay tôi chắc
rằng đồng bào ta sẽ phát huy truyền thống anh dũng
sẵn có và góp phần nhiều hơn nữa trong công cuộc
kiến thiết chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất
nước nhà ”.
Đông bào các dân tộc, cán bộ, bộ đội ghi sâu lời chỉ
bảo ân cần của Người.
Di tích Thành 'ỉ uyên Quang được xếp hạng Di tích
Quốc gia theo Quyết định sổ 1548, ngày 30-8-1991 của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin.

A-16

THÀNH NHÀ BẦU

( ^ ọ c theo đường từ thị xã Tuyên Quang
đi về phía nam, cách bến Binh Ca chừng 400m có một
khu đất rộng vài ki lô mét vuông. Trên khu đất này còn
dấu tích nhiều đoạn thành, có đoạn là đất đắp, có đoạn
xây gạch. Đường lên thành lát những phiến đá xanh
lớn. Gạch xây thành có kích thước lớn, thường thấy
trong những kiến trúc thời Lê. Thành bao bọc một dải
gò cao, tầm kiểm soát rộng. Khảo sát kiến trúc của phế
tích cho thấy thành có quy mô khá lớn, một công trình
quân sự hiểm yếu và bền vừng. Khu vực này tìm thấy
một tấm bia bàng chữ Hán bị mờ và rất nhiều đạn đá
đường kính từ 2 - 3 cm. Đó là thành nhà Bầu, do Chúa
Bầu chỉ huy xây dựng.
Chúa Bầu là tên tôn xưng của Vũ Công Mật, một
trong hai thủ lĩnh cát cứ vùng đất Tuyên Quang, Yên
Bái, Lào Cai vào cuối triều Lê. Hai anh em Vũ Công
17

DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

Uyên, Vũ Công Mật quê ở làng Ba Đông Hạ xã Đồng
Quang huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương. Nhà nghèo, cha
mất sớm, mẹ ở vậy tần tảo nuôi con. Thủa nhỏ Mật
được đi học nhưng không bao lâu khi mẹ bị thủy nạn
qua đời ông phải bỏ học. Hai anh em ông đều có sức
khỏe hơn người, làm nghề đánh cá nuôi nhau. Năm
1522 do bị ức hiếp, Vũ Công Uyên giết tên xã quan tàn
ác rồi cùng em trốn chạy lên mạn ngược. Theo Lê Quý
Đôn trong "Kiến văn tiểu lục" thì lúc mới nổi dậy, Vũ
Công Mật ở xã Khổng Tuyền (Suối Khổng, tức khu
vực xã Hồng Lạc thuộc huyện Sơn Dương).
Khởi nghiệp từ Khổng Tuyền nhưng không muốn
mưu đồ sớm bị phát lộ, anh em Uyên, Mật chuyển đến
xóm Khuân Bầu xã Đại Đồng châu Thu Vật (huyện
Yên Bình ngày nay. Khi đó châu Thu Vật thuộc Tuyên
Quang). Trước cảnh triều chính đổ nát, quan lại tham
tàn, lòng người oán hận, Uyên và Mật bèn tập họp dân
chúng nổi lên giết quan lại đánh chiếm huyện đường
châu Thu Vật, mở đầu cuộc khởi nghĩa chống triều
đình nhà Lê. Vũ Công Uyên tự xưng là Đô tướng rồi
họp lực với Mạc Đăng Dung cùng chống nhà Lê. Thế
lực của anh em họ Vũ dần mạnh lên. Nhận thấy Mạc
Đăng Dung giành ngôi vua từ nhà Lê không được tầng
lóp quan lại nhà Lê ủng hộ, anh em họ Vũ bèn tuyệt
giao với Mạc Đăng Dung; đồng thời Vũ Công Uyên
18

•é*

PHÙ NINH

vào hành cung Vua Lê ở Thanh Hóa qui phục, giương
cờ phò Lê cự Mạc. Vua Lê Chiêu Tông phong Vũ
Công Uyên làm Đô thống sứ, tước Khánh dương hầu.
Từ một cuộc khởi nghĩa chống phong kiến áp bức, khi
đạt được thang lợi nhất định họ bắt đầu thỏa mãn,
nhanh chóng chuyển hẳn sang hàng ngũ giai cấp thống
trị, trở thành dòng họ thế tập, quay lại áp bức bóc lột
nhân dân. Đó là hạn chế lịch sử của thời đại, con đường
cha con họ Vũ buộc phải đi, không thể tránh khỏi.
Vũ Công Uyên mất, trao quyền cho em là Vũ Công
Mật. Vua Lê phong cho Mật chức Gia quốc công thế
tập, cho Mật cai quản một vùng hiểm yểu cả đất Tuyên
Quang, các huyện Lâm Thao, Đoan Hùng, Đà Dương
(Sơn Dương).
Vũ Công Mật truyền cho con là Vũ Công Kỷ tước
Nhân quận công. Tiếp đến Vũ Công ứng tước Tụ quận
công; Vũ Công Sực tước Tống quận công; Vũ Công
Tuấn tước Khoan quận công. Vũ Công Tuấn quay lại
chống nhà Lê, bị Chúa Trịnh đánh bại vào năm 1667.
Đen đây sự nghiệp của họ Vũ kết thúc. Họ Vũ khởi lên
từ Vũ Công Uyên, Vũ Công Mật, trải 5 đời, gần 150
năm, ngang 7 đời Vua Lê từ Lê Trang Tông đến Lê
Huyền Tông, đồng thời với 6 đời Chúa Trịnh, từ Trịnh
Kiểm đến Trịnh Tạc. Cũng ngang 10 đời nhà Mạc từ
Mạc Đăng Dung đến Mạc Kính Vũ.
19 -A

DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

Trong phạm vi các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai,
Yên Bái hiện nay còn dấu tích nhiều thành lớn nhỏ
cũng mang tên là thành nhà Bầu, đều do anh em, cha
con họ Vũ chỉ huy xây đắp để chống nhau với nhà
Mạc, như thành Đại Đồng (thành này nằm trong lòng
hồ Thác Bà), thành Nghị Lang ở Lào Cai. Riêng thành
nhà Bầu ở Bình Ca là nơi anh em họ. Vũ có ý định lập
đại bản doanh để rồi đóng đô ở đấy. Đoạn sông Lô
chảy qua Bình Ca có khúc uốn hình chữ u, hiện còn
một mạch đất trũng nối hai đầu đoạn sông. Tương
truyền vệt đất ấy do Chúa Bầu định khơi một đoạn
sông đào. Neu đoạn sông đào làm xong thì toàn bộ khu
vực của thành được sông Lô bao bọc. Họ Vũ định lấy
sông làm hào, một ý định táo bạo, độc đáo về mặt
phòng thủ. Nhưng công trình chưa hoàn thành thì lực
lượng của họ Vũ bắt đầu suy yếu.
Xung quanh khu vực bến Bình Ca thuộc địa phận
An Khang còn những tên xóm, tên làng có xuất xứ liên
quan đến hoạt động của Chúa Bầu như xóm Thúc Thủy
là nơi hội quân đường sông, xóm Trường Thi là nơi
tuyển chọn nhân tài.
Những dấu vết thành trì của nhà Bầu cho thấy vị
trí quân sự quan trọng của Bình Ca. Dồng thời cũng là
những cứ liệu giúp lim hiểu nhiều mặt về một giai đoạn
lịch sử Tuyên Quang.
20

ĐỂN HẠ

lền Hạ thuộc phường Tân Quang thị
xã Tuyên Quang, bên bờ sông Lô, xa xa phía sau đền
có núi Là làm thế tựa. Vị trí đền được miêu tả trong câu
đối cửa đền:
Lô Giang tại kỳ tiền
La Sơn tại kỳ hậu
(Sồng Lô ở trước mặt
Núi Là ở sau lưng)
Trải qua các thời kỳ, đền có tên gọi khác nhau. Đời
Lý gọi là đền Tam Kỳ (cổng đền còn chữ "Tam Kỳ
từ"), đời Trần có tên là đền Hiệp Thuận (lúc đó đền
thuộc thôn Hiệp Thuận xã Ỷ La huyện Hàm Yên). Đời
Hậu Lê mới có tên là đền Hạ như ngày nay.
Niên đại xây dựng đền với quy mô lớn là năm
21

DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

1878, triều Nguyễn. Căn cử niên đại trên chuông lớn có
thể thấy đền được tạo dựng muộn nhất vào thời Lê.
Đen thờ hai Công chúa Ngọc Lan và Phương Dung,
còn có tên là Mai Hoa và Quỳnh Hoa. Hai người là chị
em ruột. Truyền thuyết kể rằng, hai công chúa theo xa
giá vua cha đi kinh lý. Thuyền đỗ ở bờ sông Lô, đêm
trời nổi mưa to, gió lớn, hai công chúa bay về trời. Sau
lấy nơi thuyền đỗ để dựng đền.
Truyền thuyết biểu hiện sự tôn thờ các lực lượng tự
nhiên mang dấu ấn của thời kỳ mẫu hệ. Lực lượng tự
nhiên ở đây là núi non, sông nước với Mầu Thượng
Thiên, Mầu Thượng Ngàn, Mầu Thoải.
Kiến trúc của đền lần xây dựng năm 1878, phần lớn
còn đến hiện nay theo lối nội công ngoại quốc, hướng
chính đông, nhìn thẳng ra sông Lô. Bước vào cổng đền,
theo đường gạch lát nghiêng, qua trước ba gian tam
phù vào sân chầu. Trước sân chầu là hệ thống cổng phụ
có bổn trụ. Trên mỗi đỉnh trụ gắn con phượng đắp nổi,
tư thế chầu về bốn phương đông tây nam bắc. Cạnh sân
chầu là hai lầu cô. Cạnh hai miếu có hai cửa vòm. Cửa
bên trái đền dẫn ra nhà oản và lầu tế. Lầu đặt tượng Đệ
nhị Thượng Ngàn. Nhà oản là nơi đón tiếp khách thập
phương nghỉ chân trước khi vào cúng lễ, dự hội. Đi qua
cửa vòm bên phải đền gặp ba gian tam phủ. Đơn
22

•é*

PHÙ NINH

nguyên kiến trúc này hình chữ đinh (J) bài trí tượng Đệ
nhất Thượng Thiên, cùng hàng ngàn bát nhang của
khách thập phương. Ba gian chính của đền kiến trúc
hình chữ tam (=), gồm ba cung: Cung Đệ nhất, cung Đệ
nhị, cung Đệ tam. Cạnh cửa vào cung Đệ nhất có hai
hộ pháp. Trong cung Đệ nhất đặt hai mâm bồng ở giữa
với bức hoành chạm tứ linh, tứ quý. Trên bệ thờ đặt
rriột bộ đỉnh, quả chuông và chiếc khánh lớn. Minh
chuông ghi; Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên tuế
nhị thập tuế, tại Kỷ Mão trọng đông cổc nhật cẩn thức.
Nghĩa là: Vì sao sáng Cảnh Hưng vạn vạn năm,
năm thứ hai mươi Kỷ Mão chính đông, ngày tốt đúc
xong kính báo cho biết. (Kỷ Mão là năm 1759, đời vua
Lê Hiển Tông).
Thượng lương gian giữa ghi: Tuế thít Mậu Ngọ
niên lục nguyệt nhị thập bát nhật thiên trụ thitợng
lương cá t.
Nghĩa là: Thượng lương ở cung thượng tự linh từ
dựng ngày 28 tháng 6 năm Mậu Ngọ (Mậu Ngọ là năm
1878, đời vua Tự Đức). Cung Đệ nhất còn có ban thờ
hai ông Quận. Hậu cung bài trí hai ngai thờ. Ngai trên
đặt tượng Mầu chính cung; ngai dưới đặt tượng Mầu
Phủ Giầy. Cạnh ngai treo quả chuông nhỏ, đường kính
20cm, cao 30cm. Phần giáp mái có nhiều bức chạm
23

•ớ*

DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

tinh xảo. Phần mái có bốn đầu đao và các biểu tượng
lưỡng long chầu nguyệt, bốn con nghê bổn góc. Hai
đầu hồi là hai mặt hổ phù ngậm chữ Thọ, có biểu tượng
mặt nguyệt cùng hình hai con cá chép đắp nổi. Miệng
cá cũng là ống thoát nước mưa từ mái đao xuống.
Nghệ thuật kiến trúc của đền nổi bật ở phần chạm
khắc gỗ. Tất cả cột, kèo, thượng lương, cửa võng, cửa
xiếp đều được chạm trổ tinh xảo. Đề tài chính các hình
chạm là tứ linh Long Ly Quy Phượng, tứ quý Tùng
Cúc Trúc Mai. Nhiều hơn cả là hình rồng. Trên thân
cột chạm hình long giáng thủy cung. Đặc biệt những
hình cây, hoa đục rỗng trên cửa võng mềm mại như
tranh vẽ.
Giá trị nghệ thuật điêu khắc của các tượng thờ cũng
rất độc đáo. Cả thảy còn lại sáu pho tượng bằng gỗ mít.
Gương mặt các pho Bà Chúa Thượng Ngàn toát lên vẻ
đẹp thanh tao. Các tư thể của tay, các nếp khăn áo đều
được bàn tay khéo léo của người thợ thể hiện rất sinh
động. Ngoài ra còn phải kể đến hình trang trí trên các
đồ thờ như chuông, khánh, đỉnh. Quai chuông hình
rồng uốn khúc mềm mại là một tác phẩm điêu khắc có
giá trị.
Hội đền chính vào tháng 2 âm lịch. Ngày 12 rước
24

•ớ*

PHÙ NINH

Mầu từ đền Thượng xuống đền Hạ. Cùng ngày rước
Mầu từ đền Ỷ La ra đền Hạ. Sau ba ngày tế lễ hội hè,
ngày 16 rước Mầu hoàn cung từ đền Hạ trở lại hai đền
Thượng và đền Ỷ La. Lễ đền còn vào các ngày 12 đến
16 tháng 7. Sách '''Tuyên Quang phong thổ k ỹ ' của
Nguyễn Văn Bân chép: Cứ mỗi năm đến trung tuần
tháng 2 và tháng 7, người từ bốn phương kéo đến hành
hương đông như nước chảy. Hội còn có các trò: Hát đối
trổng quân, bắt chạch trong chum, đánh cờ người, bơi
chải, đánh đu, vật, chọi gà, ném còn.
Đen Hạ được xếp hạng Di tích Quốc gia theo
Quyết định số 1009, ngày 26-7-1994 của Bộ trưởng Bộ
Văn hóa - Thông tin.

25

CÁNH ĐỒNG HÒA MỤC
BÃI THA MA QUÂN PHÁP

Olánh đồng Hòa Mục thuộc xã Thái
Long huyện Yên Son nằm bên hữu ngạn sông Lô. Cánh
đồng không lớn, hình cánh diều, rộng ở giữa, hai đầu
nam bắc hẹp dần. Phía tây bắc có một dải đồi thấp
hình lưỡi liềm ôm lấy cánh đồng. Mùa tiếp mùa mía ngô
tươi tốt. Dưới sông thấp thoáng tàu, thuyền xuôi ngược.
Cảnh thanh bình ấy khiển ít ai tưởng tượng nơi đây từng
là bãi chiến trường ngút trời khói súng.
Tháng 2 năm 1885, sau khi ký hiệp ước hòa hoãn
với nhà Thanh, thực dân Pháp vội mở cuộc hành quân
nhằm giải vây cho binh lính đang bị vây hãm trong
thành Tuyên Quang. Lực lượng địch gồm một binh
đoàn do thiếu tướng Pi-e-đơ-lít chỉ huy. Chúng chuyển
quân bàng đường thủy theo sông Lô.
26

•ỔS

PHÙ NINH

Lưu Vĩnh Phúc là người cầm đầu cuộc khởi nghĩa
của nông dân miền nam Trung Hoa chống lại triều đình
nhà Thanh đầu hàng trước các thế lực xâm lược
phương Tây. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, Lưu tập hợp
lực lượng lập ra đội quân “Cờ Đen” tránh sang Việt
Nam. Lúc đó ở Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn liên
tiếp để mất đất vào tay quân Pháp xâm lược, sẵn có
lòng căm ghét ngoại xâm, Lưu hợp tác với các lực
lượng yêu nước Việt Nam chổng Pháp. Đáng kể nhất là
trận Cầu Giấy giết chết tên chỉ huy Gác-nhi-ê. Quân
Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng, Lưu rút lực lượng
lên miền núi dựa vào đồng bào các dân tộc và địa hình
hiểm trở tiếp tục đánh Pháp. Tuy nhiên quân Cờ Đen là
những nông dân bị bần cùng hoá, không thoát khỏi hệ
tư tưởng phong kiến, họ có những hành động cướp bóc
kiểu thổ phỉ.
Hoà Mục nằm trên bờ sông, trong khi quân địch
tiến bàng đường thuỷ, nhưng Lưu Vĩnh Phúc chọn đây
làm quyết chiến điểm bởi lẽ từ Hoà Mục đến thị xã
Tuyên Quang đường bộ gần hơn đường thủy, quân địch
thì nôn nóng giải vây cho đồng bọn đang nguy khốn.
Lưu cho rằng nhất định chúng sẽ chuyển sang đi theo
đường bộ. Phán đoán đúng ý đồ đó, Lưu lệnh cho quân
sĩ tiến hành đào một hệ thống công sự ngách hào chi
27

DI TÍCH, DANH THANG TUYÊN QUANG

chít tỏa khẳp cánh đồng. Bấy giờ, cánh đồng còn chưa
được khai phá nhiều, đây đó cỏ tranh, lau sậy, mây mái
mọc um tùm. Con đường hẹp chạy dọc cánh đồng, một
bên là sông Lô, một bên là rừng rậm rạp.
Đườne hào được nguy trang kín đáo, trồng lau cỏ
lên bờ. Phía trước hệ thống công sự này, dọc theo con
đường mòn mà dự kiến quân địch phải đi qua, Lưu cho
đặt nhiều địa lôi tự chế sức công phá lớn. H
 
Gửi ý kiến