_binh-nguyen-loc-dat-nuoc-va-con-nguoi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:58' 02-02-2026
Dung lượng: 433.9 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:58' 02-02-2026
Dung lượng: 433.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Mục lục
Chương 1: Tiểu Sử
Chương 2: Việc Thất Lạc Văn Bản Và Sự Đánh Giá Sai Lầm Về Bình Nguyên Lộc
Chương 3: Thịnh Ký
Chương 4: Tinh Thần Hoà Hợp Dân Tộc
Chương 5: Nhốt Gió, Ý Thức Về Tự Do
Chương 6: Âm Thanh Của Đời Sống
Chương 7: Khuynh Hướng Hiện Thực Thô Lậu
Chương 8: Sàigòn, Thổ Ngơi Thơm Phức Hồn Ma Cũ
Chương 9: Cuộc Cạnh Tranh Sinh Tồn
Chương 10: Cõi Âm
Chương 11: Tiêu Diệt Dân Chàm
Chương 12: Lịch Sử DI Dân Và Ý Nghĩa Đất Nước
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 1: Tiểu Sử
Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 7/3/1914 (giấy tờ
ghi 1915) tại làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hoà (nay
thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Ðồng Nai); mất ngày 7/3/1987 tại Rancho
Cordova, Sacramento, California, Hoa Kỳ. Các bút hiệu khác: Phong Ngạn,
Hồ Văn Huấn. Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, mười đời ở đất
Tân Uyên, cha là Tô Phương Sâm làm nghề buôn gỗ, mẹ là Dương Thị
Mão. Thuở nhỏ học chữ nho với thầy đồ, tiểu học ở trường làng; trung học
(1928-1934) Pétrus Ký, Sài Gòn. Rời trường không bằng cấp. 1934, kết
hôn với cô Dương Thị Thiệt, 1935, vào làm công chức ở kho bạc Thủ Dầu
Một. 1936, đổi về Sài Gòn làm kế toán viên ở Tổng Nha Ngân Khố. Tháng
tám 1945, bỏ việc, tham gia kháng chiến. 1946, hồi cư về Lái Thiêu và
1949 rời Lái Thiêu về hẳn Sài Gòn viết văn làm báo.
Bình Nguyên Lộc bắt đầu viết từ 1942, cộng tác với tạp chí Thanh Niên
của Huỳnh Tấn Phát, nhưng đến 1946, mới thực sự bước vào nghề văn,
nghề báo. 1950, in tập truyện ngắn Nhốt gió. 1958, chủ trương tuần báo
Vui Sống và nhà xuất bản Bến Nghé. 1985, di cư sang Hoa Kỳ, hai năm
sau ông mất.
Bình Nguyên Lộc đã viết hàng trăm tác phẩm, nhưng bản thảo bị thất
lạc cũng nhiều, phần in trên các báo, chưa xuất bản thành sách cũng lớn.
Tác phẩm đã in:
Thơ:Thơ tay trái, Việt sử trường ca và Thơ ba Mén (tiểu thuyết thơ).
Sưu tầm, chú giải: Thổ ngơi Ðồng Nai (ca dao miền Nam, và chú giải
cổ văn, viết chung với Nguyễn Ngu Í), Chiêu hồn và Tiếc thay duyên Tấn
https://thuviensach.vn
phận Tần, Tự tình khúc và Thu dạ lữ hoài ngâm, Tỳ bà hành và Trường hận
ca.
Dân tộc học và ngôn ngữ học: Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam
(1971), Lột trần Việt ngữ (1972)...
Truyện ngắn: Nhốt gió (Thời thế, 1950), Ký thác (Bến Nghé, 1960),
Tân liêu trai (Bến Nghé, 1960), Tâm trạng hồng (Sống Mới, 1963). Mưa
thu nhớ tằm (Phù Sa, 1965), Tình đất (Thời Mới, 1966), Cuống rún chưa
lìa (Lá Bối,1969), Nụ cười nước mắt học trò (Trương gia, 1967)...
Tạp bút: Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc
(Thịnh Ký, 1966).
Truyện dài: Ðò dọc (Bến Nghé, 1959), Gieo gió gặt bão (Bến Nghé,
1960), Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương (Thế Kỷ, 63), Mối tình cuối
cùng (Thế Kỷ, 1963), Bóng ai qua ngoài song cửa (Thế Kỷ, 1963), Bí mật
của nàng (Thế Kỷ, 1963), Hoa hậu Bồ Ðào (Sống Mới, 1963), Xô ngã bức
tường rêu (Sống Mới, 1963), Nhện chờ mối ai (Nam Cường, 1963), Nửa
đêm... Trãng sụp (Nam Cường, 1963), Ðừng hỏi tại sao (Tia Sáng, 1965),
Quán tai heo (Văn Xương, 67), Một nàng hai chàng (1967), Thầm lặng
(1967), Trăm nhớ ngàn thương (1967), Uống lộn thuốc tiên (1967), Ðèn
Cần Giờ (1968), Diễm Phương (1968), Sau đêm bố ráp (1968), Khi Từ
Thức về trần (1969), Nhìn xuân người khác (1969), Tỳ vết tâm linh (?),Lữ
đoàn mông đen (Xuân Thu, Hoa Kỳ, 2001)
Truyện dài chưa in: Ngụy Khôi, Ðôi giày cũ chữ Phạn, Thuyền Trưởng
sông Lô, Mà vẫn chưa nguôi hình bóng cũ, Người săn ảo ảnh, Suối đổi lốt,
Trử La bến cũ, Bọn xé rào, Cô sáu Nam Vang, Một chuyến ra khơi, Trọng
Thủy-Mị Ðường, Sở đoản của đàn ông, Luật rừng, Trai cưới gái nào,
Cuồng ca thế kỷ, Bóng ma dĩ vãng, Gái mẹ, Món nợ thiêng liêng, Khi chim
lià tổ lạnh, Ngõ 25, Hột cơm Ngô chúa, Lưỡi dao cùn, Con khỉ đột trò xiếc,
Con quỷ ban trưa, Quật mồ người đẹp, Nguời đẹp bến Ninh Kiều, Bưởi
Biên Hoà, Giấu tận đáy lòng, Quang Trung du Bắc, Xóm Ðề bô, Hai kiếp
nhả tơ, Muôn triệu năm xưa, Hổ phách thời gian,... (Theo Nguyễn Ngu Í
https://thuviensach.vn
trong Sống và viết với...( 1966), đến ngày 31/5/1966 Bình Nguyên Lộc đã
viết: 820 truyện ngắn (in năm tập), 52 tiểu thuyết (in 11 quyển).
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 2: Việc Thất Lạc Văn Bản Và Sự Đánh Giá Sai Lầm Về Bình
Nguyên Lộc
Có sự trùng hợp lạ lùng giữa ngày sinh và ngày mất của Bình Nguyên
Lộc: cùng 7/3, cách nhau 73 năm: 7 và 3 như hai yếu tố biện chứng của
định mệnh, như thể nhà văn đã quyết định chấm dứt đời mình trong vòng
bẩy, ba; ba, bẩy. Một thân phận ba chìm bẩy nổi gắn bó với chữ nghiã, khổ
đau vì chữ nghiã: suốt đời bị thất lạc tác phẩm. Ngay từ năm 1965, khi trả
lời phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í (trong cuốn Sống và viết với...) Bình
Nguyên Lộc cho biết: Tác phẩm đầu tay tựa đề Hương gió Ðồng Nai viết
trong gần mười năm (1935-1942), là "tập truyện ngắn và tùy bút bát ngát
hương đồng gió nội, và dẫy đầy màu sắc điạ phương này, đã được hai nhà
thơ có tiếng đương thời: Xuân Diệu và Huy Cận tán thưởng" (Nguyễn Ngu
Í, sđd, trang 220), bản thảo bị thất lạc trong lúc tản cư, khi Pháp trở lại
chiếm Tân Uyên cuối 1945. Dấu vết Hương gió Ðồng Nai chỉ còn lại một
truyện ngắn và một tuỳ bút (đăng báo khoảng năm 1943). Mấy chục năm
sau, Bình Nguyên Lộc còn có lời rao trên báo, tìm người nào tình cờ giữ
được trọn vẹn hay một phần bản thảo, rồi ông đã thử viết lại Hương gió
Ðồng Nai, nhưng cả hai cố gắng đều vô hiệu.
Phù sa, tác phẩm thứ nhì, khởi viết năm 1942, cũng chung số phận như
Hương gió Ðồng Nai, nhưng may mắn hơn, đoạn mở đầu đã đăng trên báo
Thanh Niên năm 1943, với tên Di dân lập ấp (khiến độc giả biết đến ông)
và về sau ông viết lại được độ 1/6 tác phẩm, cho in trên tuần báo Nhân
Loại. Theo lời Bình Nguyên Lộc, Phù sa là "tác phẩm quan trọng nhất" của
ông, làm sống lại cuộc "tiến vào Nam" của đồng bào Nam-Ngãi để dựng
nên miền Lục Tỉnh (sđd, trang 221).
https://thuviensach.vn
Trong những sách đã xuất bản, Bình Nguyên Lộc phân biệt: loại sách
không thương mại, mà ông cho là không mấy ai đọc, in thật ít, còn ghi
thêm không bao giờ tái bản, như cuốn Những bước lang thang trên hè phố
của gã Bình Nguyên Lộc (1966) Thịnh Ký in 658 cuốn. Thầm lặng (1967)
cũng được ông liệt vào loại này; ngoài ra còn cuốn Thu hẹp thiên nhiên,
mới thấy quảng cáo sẽ in 569 cuốn và cũng không bao giờ tái bản, nhưng
có lẽ đã không in được, vì không thấy các tư liệu về Bình Nguyên Lộc
nhắc đến cuốn sách này. Tập Nhốt gió (1950) khi ông còn sống cũng
không tái bản. Số phận bộ sách biên khảo Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc
Việt Nam (đã in một phần năm 1971), sau 75, được Mai Thảo thuật lại
trong bài Nhân cách Bình Nguyên Lộc. Theo lời người thân kể lại, khi rời
nước năm 1985, ông bị lạc một va-li tác phẩm và bản thảo, những gì còn
vớt vát lại của một đời văn.
Mặc dù với những khó khăn về văn bản như thế, ở hải ngoại đã có
những cố gắng đáng kể trong việc bảo tồn những tác phẩm giá trị của Bình
Nguyên Lộc:
Nhà xuất bản Văn Nghệ của Võ Thắng Tiết đã in lại hai tập truyện ngắn
Ký thác (1986) và Cuống rún chưa lìa (1987). Tạp chí Văn Học, do Nguyễn
Mộng Giác chủ biên, ra số đặc biệt tưởng niệm nhà văn, sau khi ông qua
đời (số 18, tháng 7/1987), trong có bài nhận định đặc sắc của Hồ Trường
An về Bình Nguyên Lộc và in lại bài Bình Nguyên Lộc trả lời phỏng vấn
Nguyễn Nam Anh (Nguyễn Xuân Hoàng), đã in trên báo Văn trước 75 với
những thông tin chính xác về tác giả. Năm 1999, nhà xuất bản An Tiêm của
Thanh Tuệ đã cố gắng in tuyển tập Bình Nguyên Lộc, với lời giới thiệu của
Võ Phiến. Rất tiếc, trong bài "giới thiệu" này, Võ Phiến không cho độc giả
thấy cái hay của Bình Nguyên Lộc (lý do làm tuyển tập), mà ông lại kín
đáo chứng minh sự "bất tài" của Bình Nguyên Lộc, với những nhận định
giễu cợt mỉa mai như: "Cả tháng trời, Sơn Nam đọc từng đoạn (cuốn Nhốt
gió) như thế, và ông lâng lâng. Thì ra ông có đọc truyện đâu! Tay cầm cuốn
truyện, ông đọc... ca dao!
Như thế, Sơn Nam quả là tay sành sõi. Ông Cao Huy Khanh, ông
Nguyễn Văn Sâm đọc truyện của Bình Nguyên Lộc, và không mấy bằng
lòng...", "Chúng ta có cảm tưởng ông Bình Nguyên Lộc có hảo ý muốn làm
https://thuviensach.vn
vui người đọc. Hảo ý không thuộc về nghệ thuật" (Sđd, trang XVII, và
XIX). Việc Võ Phiến trích lại những nhận định sai lầm của Cao Huy Khanh
và Nguyễn Văn Sâm trong Văn Học số 18, đưa vào tuyển tập như những
nhận định chính xác về Bình Nguyên Lộc là một việc làm đáng tiếc, vô tình
hay hữu ý nhân cái sai làm hai. Bởi Cao Huy Khanh không muốn, hay
không thể hiểu và thông cảm cái mà ông gọi là "tâm lý bình dân" mà ông
cho là "tủn mủm" và "dễ dãi" trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc, và Ðò
dọc cũng không phải là "sự thành công duy nhất và quá hiếm hoi so với sự
nghiệp sáng tác đồ sộ của tác giả", như Cao Huy Khanh đã nhận định.
Nhà xuất bản Trẻ ở Sài Gòn, năm 1999, cho in lại cuốn "Những bước
lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc", do Sơn Nam viết tựa.
Sơn Nam biến Sài Gòn thành "vùng tạm chiếm", và ông có ý "biện hộ" cho
một Bình Nguyên Lộc "nhà văn tiểu tư sản yêu nước". Nhưng điều đó cũng
chưa đáng tiếc bằng việc họ đã bỏ lời nói đầu trong bản Thịnh Ký (1966)
mà có lẽ do chính Bình Nguyên Lộc viết. Mấy lời nói đầu rất ngắn, nhưng
đầy đủ thông tin về văn bản, như sau:
"Nhà văn Bình Nguyên Lộc có viết một thiên điều tra phóng sự dài,
nhan là "Thám hiểm đô thành", gồm nhiều bài ngắn và chia ra làm hai
phần.
Phần thứ nhứt, cho đăng báo hằng ngày, kể những chuyện lạ của Sàigòn
mà chưa báo nào nói đến, chẳng hạn như những bài "Ma máy đá", tả cái
viện cơ thể học đầy dẫy xác chết ngâm thuốc của trường Y khoa Ðại học,
chẳng hạn bài "Người chuột cống", theo dõi những người phu của ty vệ
sinh đô thành họ chun xuống hệ thống cống tối thui và chằng chịt như
mạng nhện để vét bùn đất cho thông cống.
Phần thứ nhứt ấy, tác giả không muốn in thành sách.
Ðây là phần thứ hai mà tác giả đã cho đang riêng ở các tạp chí. (Nhân
Loại, Thời Trân, Sáng Tạo, v.v..) không có tính cách xã hội, hoặc "giựt gân"
như các bài của phần thứ nhứt mà chỉ nên thơ hoặc đượm một tý triết lý
vụn vặt nào đó thôi".
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 3: Thịnh Ký
Theo lời tựa này, thì Những bước lang thang... chỉ là phần "không giựt
gân", tức là "hiền lành" hơn, có thể không hay bằng phần thứ nhất? Vậy
sưu tầm lại phần thứ nhất, sẽ rất bổ ích cho văn bản học và văn học.
Sự thất lạc tác phẩm, kèm theo việc bị đánh giá sai lầm, và thêm khó
khăn thứ ba: chưa có công trình tập hợp toàn bộ sáng tác đồ sộ của ông,
một nhà văn có bút lực dồi dào như Lê Văn Trương, Hồ Biểu Chánh, (trên
dưới 100 tác phẩm), để lựa ra phần chủ yếu, phần đáng kể nhất. Chính
Bình Nguyên Lộc cũng đã "tâm sự" với Nguyễn Văn Sâm: "viết hai, ba
chục bài mới mong thấy được một bài khá" (Xin được lần cuối gọi bằng
anh, Nguyễn Văn Sâm, Văn học, số 18, trang 67). Nếu chấp nhận sự đánh
giá nghiêm khắc này của nhà văn thì qua trên dưới 1000 truyện ngắn, tùy
bút ông đã viết, cũng có trên dưới 50 "bài khá", (không chỉ một, hai, như ý
kiến của Nguyễn Văn Sâm), và nếu nghiên cứu một số những "bài khá" ấy,
con số 50 quả là đáng kể, không phải nhà văn nào cũng có thể đạt được.
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 4: Tinh Thần Hoà Hợp Dân Tộc
Bình Nguyên Lộc có một lập trường văn học riêng, không theo Bắc,
hoàn toàn theo Bắc như Ðông Hồ, cũng không giữ nguyên đặc chất Nam
kỳ như Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển... Nếu trong truyện ngắn chất
Nam thường nổi bật, thì trong truyện dài ông ngả theo lối Bắc. Ðó là một
thái độ lựa chọn: Bình Nguyên Lộc chọn thái độ trung dung trong tinh thần
giao hoà Nam Bắc, kết hợp lịch sử di dân với ngôn ngữ con người.
Ngay từ đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh đã dùng tiếng Nam như một
chính ngữ; như thể Hồ muốn chống lại thành kiến của số đông người Bắc,
tự cho tiếng Bắc là "chính", là "chuẩn", tiếng Nam là "phụ", là tiếng "địa
phương", "quê mùa", "hủ lậu". Thành kiến này, gần đây, vì lý do chính trị,
có vẻ được củng cố mạnh mẽ hơn, cho nên ba mươi năm sau ngày thống
nhất đất nước, vẫn có người không bằng lòng khi thấy một số bảng hiệu ở
ngoài Bắc đã bắt đầu dùng tiếng Nam. Ðối với môt số thành phần bảo thủ
ở Bắc, tiếng Nam, vẫn tiếp tục là thứ tiếng ngoại vi "không chấp nhận"
được. Dùng tiếng Nam làm chính ngữ, Hồ Biểu Chánh chỉ làm một việc tự
nhiên, nhưng nó mang tính cách thách thức: dựng nên một vùng đất mới
của ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ giàu có, sống động, đầy âm thanh, tiết
điệu, thành quả của sự kết hợp âm thanh ngôn ngữ Việt với những nền văn
hoá phía Nam. Hồ chẳng quan tâm gì đến "gốc Bắc". Ðối với Hồ, Nam Kỳ
cũng là một "gốc", một địa phận, một thổ ngơi, từ đó phát sinh ra văn
chương, tư tưởng và xã hội miền Nam.
Sự so sánh văn phong Hồ Biểu Chánh với văn phong Bình Nguyên Lộc
sẽ là một đề tài lý thú cho phê bình, nhìn dưới lăng kính đối chiếu ngôn
ngữ, để xác định hai thời kỳ xã hội: thời đầu thế kỷ, khuynh hướng "Nam
kỳ tự trị" còn mạnh và thời sau 1954, với làn sóng di cư, khuynh hướng
https://thuviensach.vn
Bắc Nam hoà hợp trổi dậy, đồng thời sự chia rẽ cũng đã manh nha vì
nghịch cảnh chia đôi đất nước.
Ðông Hồ Lâm Tấn Phác đi ngược lại phong cách Hồ Biểu Chánh. Tâm
hồn Ðông Hồ và ngôn ngữ Ðông Hồ dường như đã bị "Bắc hoá" hoàn
toàn. Dưới con mắt những người như Vương Hồng Sển, Ðông Hồ có thể
bị "khai trừ" khỏi "thổ ngơi" miền Nam. Văn phong Ðông Hồ không thoát
khỏi không khí Tương Phố, Á Nam Trần Tuấn Khải.
Bình Nguyên Lộc bắc cầu giữa hai khuynh hướng trên: Ông không theo
Bắc, hoàn toàn theo Bắc như Ðông Hồ, mà cũng không giữ nguyên đặc
chất Nam kỳ như Hồ biểu Chánh, Vương Hồng Sển. Bình mở con đường
thứ ba: giao lưu văn hoá Bắc Nam trong truyền thống di dân và tiếp cận
ngôn ngữ.
Cái "gốc Bắc", "tổ tiên" nguồn cội ngoài Bắc, được Bình trân trọng tìm
kiếm, không riêng gì khía cạnh lịch sử Nam tiến, mà còn cả về nguồn cội
ngôn ngữ. Ngoài sách biên khảo, trong tiểu thuyết, khi dùng một chữ có
tính chất đặc biệt địa phương miền Nam, ông thường tìm cách giải thích
ngay bên cạnh, chữ này ngoài Bắc dùng chữ gì. Ðôi khi còn phê bình luôn
là chữ Nam hay chữ Bắc hay hơn, có lý hơn, hoặc nói rõ xuất xứ tại sao lại
có sự khác biệt như vậy. Tất cả những lý giải, nhiều khi trở thành nhược
điểm làm nặng sáng tác, nhưng chúng thoát thai từ lối kể chuyện đường
dài, trong truyền thống "kể", "nói" của văn chương miền Nam.
Trong hoàn cảnh thiếu tư liệu để có một cái nhìn hoàn chỉnh về tiểu
thuyết của Bình Nguyên Lộc, bài viết này tập trung khảo sát truyện ngắn.
Tuy vậy, qua một vài tác phẩm đã đọc, chúng tôi tin rằng: Bình Nguyên Lộc
tiếp nối truyền thống tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn. Ông chưa mở ra được
một hướng đi mới cho tiểu thuyết như ông đã làm cho truyện ngắn: ảnh
hưởng Khái Hưng, Nhất Linh bàng bạc trong cách phát triển kỹ thuật
truyện dài. Cuốn Ðò dọc (1959) được giải thưởng văn chương toàn quốc
1960 (của miền Nam), mang dấu ấn truyện tâm lý viết theo lối Bắc, khác
hẳn lối viết của Hồ Biểu Chánh. Ðò dọc là cuốn tiểu thuyết đầu tay, trong
những cuốn sau, Bình Nguyên Lộc đào sâu thêm, như Ái ân thâu ngắn cho
dài tiếc thương (1963), Hoa hậu Bồ Ðào (1963), sự phân tích tâm lý đã
https://thuviensach.vn
chiếm gần trọn tác phẩm, mở rộng và đào sâu về hướng hiện thực xã hội
thành thị miền Nam.
Ðò dọc viết về gia đình ông bà Nam Thành và bốn người con gái. Ông
Nam Thành nguyên là thầy giáo làng, gốc ở Bạc Liêu, trôi dạt lên Sài Gòn
thời Pháp thuộc những năm 50, kiếm sống bằng nghề bán rương và va-li
da cho lính Pháp. Năm 1954, khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, gia đình
này phải về quê, tìm cách chăn nuôi và trồng trọt để độ thân. Ðây là một
mẫu ảnh của người dân chợ (Bắc gọi là kẻ chợ) phải về quê (Nam gọi là về
vườn). Và hai mẫu đất vườn, đất mới này của họ, cũng là thứ "nửa quê
nửa tỉnh", nằm trên đường Sài Gòn-Thủ Ðức, một con đường "thiên lý",
một thứ xa lộ tương lai.
Người di dân ngược xuôi như chuyến đò dọc, bị bấn từ Bạc Liêu lên
Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn sang gần miệt Thủ Ðức. Gia đình Nam Thành khi
nói "nhớ" là không biết "nhớ" đâu: cha mẹ thì nhớ quê má Bạc Liêu, các cô
con gái thì nhớ Sài Gòn. Nhưng rồi cuối cùng ngôn ngữ cũng mách cho họ
một thứ nguồn gốc xa xôi hơn: "gốc Bắc".
Ðò Dọc cho thấy tư tưởng chủ yếu của Bình Nguyên Lộc: ở thời điểm
1954, khi đợt sóng di dư từ Bắc tràn vào, vừa có một đòi hỏi đoàn kết Bắc
Nam, nhưng lại có một thực tại kỳ thị, khác biệt lối sống và cá tính đôi bên,
có sự trịch thượng của người Bắc di cư trên văn đàn, có tình trạng người
Nam bị chiếm thị trường chữ nghĩa và kinh tế. Tất cả những yếu tố ấy đôi
co, dằn vặt nhau, trong không khí xã hội ngấm ngầm căng thẳng, khi nhẫn
nhục chịu đựng, khi trực diện đối đầu. Ðò dọc là tác phẩm bao dung và
nhân hậu mở vòng tay chào đón đồng bào di cư, trong giai đoạn lịch sử khó
khăn, bằng con đường kết hợp dân tộc, bằng cách nhắc lại lịch sử di dân,
khai phá đất hoang, mở rộng cõi bờ và giao hoà ngôn ngữ. Có lẽ đó là một
trong những lý do khiến Mai Thảo, ngoài sự kính trọng tài năng, còn tìm
thấy ở Bình Nguyên Lộc, một nhân cách lớn, và Nhất Linh đã sớm coi
Bình Nguyên Lộc là một nhân tài, cho nên ông không đề nghị "đưa" Bình
vào Tự Lực Văn Ðoàn như một nhà văn đàn em. Dòng tư tưởng hoà hợp
đất nước và con người trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc, không phải đợi
đến 1954 mới xuất hiện, mà nó đã sống trong ông từ lâu, nằm trong xương
thịt các tác phẩm đầu tay, dù đã thất lạc, nhưng vẫn còn để lại những cái tên
https://thuviensach.vn
đầy ý nghiã: Hương gió Ðồng Nai, Phù sa, và chúng ta có thể nhận diện
tinh thần ấy ngay trong tác phẩm đầu tiên được in ra năm 1950: Nhốt gió.
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 5: Nhốt Gió, Ý Thức Về Tự Do
Nhốt gió là gì? Làm sao mà nhốt được gió?
"Cả bàn ăn đều kinh ngạc". Truyện bắt đầu bằng một câu ngắn như vậy.
Kinh ngạc cái gì? Chưa biết.
1- Kinh ngạc vì "thằng Kiệt không được thưởng xe máy theo lời hứa?
2 - Vì thằng Kiệt có những ý muốn làm cho mẹ nó khiếp đảm?
3 - Vì thằng Kiệt tái diễn sự xô sát thế hệ (giữa cha nó và ông bà nó)?
4 - Vì thằng Kiệt có những tư tưởng mà cha nó không thể nào ngăn cản
được?
5 - Vì thằng Kiệt có một nhân sinh quan khác người?
Cả 5 giả thiết đều có thể đúng hoặc sai, và đến dòng chót, độc giả vẫn
chưa biết "cả bàn đều kinh ngạc" cái gì. Ðọc không được thì phải đoán.
Trước mắt bạn là một văn bản không hiển nhiên, bắt bạn phải suy nghĩ,
phải xử dụng đến "chất xám" của mình: vậy là một văn bản bất thường,
một tác phẩm có tham vọng làm đảo lộn nội quy thường trú. Bình Nguyên
Lộc tung ra một lúc hai đòn bí mật: nhốt gió, và kinh ngạc, để làm lạc
hướng những người đọc truyền thống.
Thủ pháp đầu tiên là "hãm" thời gian, "nhốt" nó lại. Bảo nó đừng chảy
nữa, bắt phải đợi chờ, đùa với những hấp tấp của những "kẻ đọc" vội vàng
muốn tìm ngay đến kết luận.
https://thuviensach.vn
Hãm trở thành động tác chính trong truyện: nhốt tất cả những gì không
giam hãm được. Trước tiên hãm nằm trong ý đồ của nhân vật Tạo, người
cha muốn nhốt con trong vòng giáo dục "tiến bộ" của mình. Tạo là một
kiến trúc sư Tây học, tưởng mình văn minh, tưởng mình hiểu con lắm. Tạo
có thấy thế giới chung quanh thay đổi và chính chàng cũng đang thay đổi:
kiểu nhà vừa vẽ xong, chàng đã thấy chán ngắt, nhưng Tạo là kẻ cầu an,
không chịu dùng kinh nghiệm thực tiễn, để tìm bài học cho mình, chàng
quen dựa vào kinh nghiệm của những người đi trước, cho việc giáo dục con
cái xưa nay tự nhiên vẫn thế: mình bắt gì chúng phải nghe như vậy. Tạo
thuộc lớp người biết hãm, biết nhốt mà không biết thả. Tình cờ chàng
được mục kích cảnh thằng nhỏ năm tuổi "tiếp xúc" với gió, thấy cách nó
đối xử với gió, chàng chợt tìm thấy lối thoát cho mình. Thử xem thằng nhỏ
làm như thế nào:
"- Mẹ, sập hoài!
Tạo giựt mình, dòm xuống cỏ. Trên khoảng đất hẹp giữa xóm nhà lá và
dãy phố chàng ở, một đứa bé chừng năm tuổi đương ngồi chơi gì trên cỏ.
Ðứa bé ở trần, đưa lưng đen thui lại phía chàng. Nó mặc một cái quần dài
đen. Chàng bước sấn lại thì thấy nó đương loay hoay với những cành cây
nhỏ và ngắn. Nó cắm trên cát bốn cành cây đầu trên có nạng, rồi gác ngang
lên nạng những cành khác. Thì ra nó chơi cất nhà. Khi nó vừa phủ lên cái
giàn đó một tấm lá chuối để làm nóc nhà thì gió ở đâu thổi đến. Nóc nhà
của nó bay lên, bốn cây cột đều ngã. Thằng nhỏ gương mặt dễ thương này
tức giận chưởi thề nữa, nhưng không nản chí, bắt đầu xây dựng lại. Gió lại
thổi lên phá hoại công trình của nó. Lần này nó nắm chặt hai tay bặm môi
như muốn đánh ai. Ðoạn nghĩ ra điều gì, nó cởi tuột quần ra, mò dưới cỏ
tìm gặp hai sợi dây chuối, nó cột túm hai ống quần lại. Nó phành lưng
quần đưa ra trước gió như người lớn phành bao bố hứng gạo và nói: "Nhốt
mày lại coi mày còn phá nữa hết". Gió chun vào thổi phồng quần lên. Hai
ống quần bọc no nứt gió, bay nằm ngang trên không trung như hai khúc
dồi. Nó vừa muốn túm lưng quần lại để gói gió trong ấy, thì chợt nhận ra
rằng ở đâu cũng có gió hết, gió chạy trên người nó để trôi ra phía sau, gió
thổi cát bay, gió lay tầu chuối. [...]
https://thuviensach.vn
Ðứa bé đang lính quýnh vì gió nhiều quá không biết đâu mà hốt cho
hết. Một tay nó thả lưng quần, cào gió lại, chơn nó đá như muốn đuổi gió
đi. [...]
Một cơn gió đổi chiều làm cho cái quần nó ốm xếp ve và bành bạch bay
day qua hướng khác.
Thằng bé thấy mình thất bại vội bỏ quần xuống đất, giăng tay ra rước
gió. Nó hít gió, nó nuốt gió, mặt nó sung sướng trông thấy. Ðoạn nó cầm
quần lên phành lưng đưa trước chiều gió mới. Lần này nó không có ý nhốt
gió nữa mà lại hớn hở nhìn hai ống quần no như hai khúc dồi. Nó giỡn với
gió chứ không ghét gió nữa
Tạo mỉm cười nói lầm thầm: "Thằng nhỏ biết điều quá". (trích Nhốt
gió, nxb Văn Nghệ thành phố in lại, 1998, trang 8-9).
Nhốt gió là hành động tiếp xúc đầu tiên của con người với thiên nhiên,
Husserl gọi là "cuộc gặp gỡ đầu tiên của ta với thế giới". Gặp gió, thằng
nhỏ đã coi ngay gió như một thực thể có thể giao thiệp được. Nếu một
người lớn biết làm như vậy, thì có thể bảo là anh ta đang áp dụng "phương
pháp giảm trừ hiện tượng", nghĩa là gạt bỏ tất cả mọi thành kiến mà anh ta
có về gió qua sách vở, qua những kiến thức lượm được từ bên ngoài, để
tiếp xúc với gió như lần gặp gỡ đầu tiên, chưa bị bất cứ thành kiến nào về
gió chi phối. Thằng nhỏ năm tuổi, dĩ nhiên là chưa bị sách vở đầu độc,
chưa bị môi trường ảnh hưởng, cho nên nó đãi gió một cách chân tình, nhờ
sự chân tình đó mà nó tìm ra chân lý: không thể nhốt gió, nó bèn thả gió.
Không nhốt được gió, thằng nhỏ xử huề, nó tìm cách chơi với gió. Bắt
tay với đối thủ, thằng nhỏ "biết người biết ta". Cái lý mà chỉ trong nháy
mắt một thằng nhỏ năm tuổi đã "thấu triệt", người lớn lại "ngu lâu". Bởi vì
thằng bé dùng kinh nghiệm trực tiếp của mình, không qua trung gian, mối
lái, tức là nó đã bỏ hẳn giai đoạn suy nghĩ, lập luận, lý giải (đương nhiên, vì
nó bé), để trực tiếp thể nghiệm sự tiếp xúc giữa thân xác nó và thân xác
gió, và thằng bé hiểu ngay là phải cộng sinh với gió, nó không thể bắt được
gió cũng như gió không dạy được nó: giữa gió và nó có mối tương quan
biện chứng hệt như tự do và con người; hệt như tư tưởng và con người:
https://thuviensach.vn
con người không thể nhốt tư tư
Mục lục
Chương 1: Tiểu Sử
Chương 2: Việc Thất Lạc Văn Bản Và Sự Đánh Giá Sai Lầm Về Bình Nguyên Lộc
Chương 3: Thịnh Ký
Chương 4: Tinh Thần Hoà Hợp Dân Tộc
Chương 5: Nhốt Gió, Ý Thức Về Tự Do
Chương 6: Âm Thanh Của Đời Sống
Chương 7: Khuynh Hướng Hiện Thực Thô Lậu
Chương 8: Sàigòn, Thổ Ngơi Thơm Phức Hồn Ma Cũ
Chương 9: Cuộc Cạnh Tranh Sinh Tồn
Chương 10: Cõi Âm
Chương 11: Tiêu Diệt Dân Chàm
Chương 12: Lịch Sử DI Dân Và Ý Nghĩa Đất Nước
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 1: Tiểu Sử
Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 7/3/1914 (giấy tờ
ghi 1915) tại làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hoà (nay
thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Ðồng Nai); mất ngày 7/3/1987 tại Rancho
Cordova, Sacramento, California, Hoa Kỳ. Các bút hiệu khác: Phong Ngạn,
Hồ Văn Huấn. Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, mười đời ở đất
Tân Uyên, cha là Tô Phương Sâm làm nghề buôn gỗ, mẹ là Dương Thị
Mão. Thuở nhỏ học chữ nho với thầy đồ, tiểu học ở trường làng; trung học
(1928-1934) Pétrus Ký, Sài Gòn. Rời trường không bằng cấp. 1934, kết
hôn với cô Dương Thị Thiệt, 1935, vào làm công chức ở kho bạc Thủ Dầu
Một. 1936, đổi về Sài Gòn làm kế toán viên ở Tổng Nha Ngân Khố. Tháng
tám 1945, bỏ việc, tham gia kháng chiến. 1946, hồi cư về Lái Thiêu và
1949 rời Lái Thiêu về hẳn Sài Gòn viết văn làm báo.
Bình Nguyên Lộc bắt đầu viết từ 1942, cộng tác với tạp chí Thanh Niên
của Huỳnh Tấn Phát, nhưng đến 1946, mới thực sự bước vào nghề văn,
nghề báo. 1950, in tập truyện ngắn Nhốt gió. 1958, chủ trương tuần báo
Vui Sống và nhà xuất bản Bến Nghé. 1985, di cư sang Hoa Kỳ, hai năm
sau ông mất.
Bình Nguyên Lộc đã viết hàng trăm tác phẩm, nhưng bản thảo bị thất
lạc cũng nhiều, phần in trên các báo, chưa xuất bản thành sách cũng lớn.
Tác phẩm đã in:
Thơ:Thơ tay trái, Việt sử trường ca và Thơ ba Mén (tiểu thuyết thơ).
Sưu tầm, chú giải: Thổ ngơi Ðồng Nai (ca dao miền Nam, và chú giải
cổ văn, viết chung với Nguyễn Ngu Í), Chiêu hồn và Tiếc thay duyên Tấn
https://thuviensach.vn
phận Tần, Tự tình khúc và Thu dạ lữ hoài ngâm, Tỳ bà hành và Trường hận
ca.
Dân tộc học và ngôn ngữ học: Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam
(1971), Lột trần Việt ngữ (1972)...
Truyện ngắn: Nhốt gió (Thời thế, 1950), Ký thác (Bến Nghé, 1960),
Tân liêu trai (Bến Nghé, 1960), Tâm trạng hồng (Sống Mới, 1963). Mưa
thu nhớ tằm (Phù Sa, 1965), Tình đất (Thời Mới, 1966), Cuống rún chưa
lìa (Lá Bối,1969), Nụ cười nước mắt học trò (Trương gia, 1967)...
Tạp bút: Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc
(Thịnh Ký, 1966).
Truyện dài: Ðò dọc (Bến Nghé, 1959), Gieo gió gặt bão (Bến Nghé,
1960), Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương (Thế Kỷ, 63), Mối tình cuối
cùng (Thế Kỷ, 1963), Bóng ai qua ngoài song cửa (Thế Kỷ, 1963), Bí mật
của nàng (Thế Kỷ, 1963), Hoa hậu Bồ Ðào (Sống Mới, 1963), Xô ngã bức
tường rêu (Sống Mới, 1963), Nhện chờ mối ai (Nam Cường, 1963), Nửa
đêm... Trãng sụp (Nam Cường, 1963), Ðừng hỏi tại sao (Tia Sáng, 1965),
Quán tai heo (Văn Xương, 67), Một nàng hai chàng (1967), Thầm lặng
(1967), Trăm nhớ ngàn thương (1967), Uống lộn thuốc tiên (1967), Ðèn
Cần Giờ (1968), Diễm Phương (1968), Sau đêm bố ráp (1968), Khi Từ
Thức về trần (1969), Nhìn xuân người khác (1969), Tỳ vết tâm linh (?),Lữ
đoàn mông đen (Xuân Thu, Hoa Kỳ, 2001)
Truyện dài chưa in: Ngụy Khôi, Ðôi giày cũ chữ Phạn, Thuyền Trưởng
sông Lô, Mà vẫn chưa nguôi hình bóng cũ, Người săn ảo ảnh, Suối đổi lốt,
Trử La bến cũ, Bọn xé rào, Cô sáu Nam Vang, Một chuyến ra khơi, Trọng
Thủy-Mị Ðường, Sở đoản của đàn ông, Luật rừng, Trai cưới gái nào,
Cuồng ca thế kỷ, Bóng ma dĩ vãng, Gái mẹ, Món nợ thiêng liêng, Khi chim
lià tổ lạnh, Ngõ 25, Hột cơm Ngô chúa, Lưỡi dao cùn, Con khỉ đột trò xiếc,
Con quỷ ban trưa, Quật mồ người đẹp, Nguời đẹp bến Ninh Kiều, Bưởi
Biên Hoà, Giấu tận đáy lòng, Quang Trung du Bắc, Xóm Ðề bô, Hai kiếp
nhả tơ, Muôn triệu năm xưa, Hổ phách thời gian,... (Theo Nguyễn Ngu Í
https://thuviensach.vn
trong Sống và viết với...( 1966), đến ngày 31/5/1966 Bình Nguyên Lộc đã
viết: 820 truyện ngắn (in năm tập), 52 tiểu thuyết (in 11 quyển).
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 2: Việc Thất Lạc Văn Bản Và Sự Đánh Giá Sai Lầm Về Bình
Nguyên Lộc
Có sự trùng hợp lạ lùng giữa ngày sinh và ngày mất của Bình Nguyên
Lộc: cùng 7/3, cách nhau 73 năm: 7 và 3 như hai yếu tố biện chứng của
định mệnh, như thể nhà văn đã quyết định chấm dứt đời mình trong vòng
bẩy, ba; ba, bẩy. Một thân phận ba chìm bẩy nổi gắn bó với chữ nghiã, khổ
đau vì chữ nghiã: suốt đời bị thất lạc tác phẩm. Ngay từ năm 1965, khi trả
lời phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í (trong cuốn Sống và viết với...) Bình
Nguyên Lộc cho biết: Tác phẩm đầu tay tựa đề Hương gió Ðồng Nai viết
trong gần mười năm (1935-1942), là "tập truyện ngắn và tùy bút bát ngát
hương đồng gió nội, và dẫy đầy màu sắc điạ phương này, đã được hai nhà
thơ có tiếng đương thời: Xuân Diệu và Huy Cận tán thưởng" (Nguyễn Ngu
Í, sđd, trang 220), bản thảo bị thất lạc trong lúc tản cư, khi Pháp trở lại
chiếm Tân Uyên cuối 1945. Dấu vết Hương gió Ðồng Nai chỉ còn lại một
truyện ngắn và một tuỳ bút (đăng báo khoảng năm 1943). Mấy chục năm
sau, Bình Nguyên Lộc còn có lời rao trên báo, tìm người nào tình cờ giữ
được trọn vẹn hay một phần bản thảo, rồi ông đã thử viết lại Hương gió
Ðồng Nai, nhưng cả hai cố gắng đều vô hiệu.
Phù sa, tác phẩm thứ nhì, khởi viết năm 1942, cũng chung số phận như
Hương gió Ðồng Nai, nhưng may mắn hơn, đoạn mở đầu đã đăng trên báo
Thanh Niên năm 1943, với tên Di dân lập ấp (khiến độc giả biết đến ông)
và về sau ông viết lại được độ 1/6 tác phẩm, cho in trên tuần báo Nhân
Loại. Theo lời Bình Nguyên Lộc, Phù sa là "tác phẩm quan trọng nhất" của
ông, làm sống lại cuộc "tiến vào Nam" của đồng bào Nam-Ngãi để dựng
nên miền Lục Tỉnh (sđd, trang 221).
https://thuviensach.vn
Trong những sách đã xuất bản, Bình Nguyên Lộc phân biệt: loại sách
không thương mại, mà ông cho là không mấy ai đọc, in thật ít, còn ghi
thêm không bao giờ tái bản, như cuốn Những bước lang thang trên hè phố
của gã Bình Nguyên Lộc (1966) Thịnh Ký in 658 cuốn. Thầm lặng (1967)
cũng được ông liệt vào loại này; ngoài ra còn cuốn Thu hẹp thiên nhiên,
mới thấy quảng cáo sẽ in 569 cuốn và cũng không bao giờ tái bản, nhưng
có lẽ đã không in được, vì không thấy các tư liệu về Bình Nguyên Lộc
nhắc đến cuốn sách này. Tập Nhốt gió (1950) khi ông còn sống cũng
không tái bản. Số phận bộ sách biên khảo Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc
Việt Nam (đã in một phần năm 1971), sau 75, được Mai Thảo thuật lại
trong bài Nhân cách Bình Nguyên Lộc. Theo lời người thân kể lại, khi rời
nước năm 1985, ông bị lạc một va-li tác phẩm và bản thảo, những gì còn
vớt vát lại của một đời văn.
Mặc dù với những khó khăn về văn bản như thế, ở hải ngoại đã có
những cố gắng đáng kể trong việc bảo tồn những tác phẩm giá trị của Bình
Nguyên Lộc:
Nhà xuất bản Văn Nghệ của Võ Thắng Tiết đã in lại hai tập truyện ngắn
Ký thác (1986) và Cuống rún chưa lìa (1987). Tạp chí Văn Học, do Nguyễn
Mộng Giác chủ biên, ra số đặc biệt tưởng niệm nhà văn, sau khi ông qua
đời (số 18, tháng 7/1987), trong có bài nhận định đặc sắc của Hồ Trường
An về Bình Nguyên Lộc và in lại bài Bình Nguyên Lộc trả lời phỏng vấn
Nguyễn Nam Anh (Nguyễn Xuân Hoàng), đã in trên báo Văn trước 75 với
những thông tin chính xác về tác giả. Năm 1999, nhà xuất bản An Tiêm của
Thanh Tuệ đã cố gắng in tuyển tập Bình Nguyên Lộc, với lời giới thiệu của
Võ Phiến. Rất tiếc, trong bài "giới thiệu" này, Võ Phiến không cho độc giả
thấy cái hay của Bình Nguyên Lộc (lý do làm tuyển tập), mà ông lại kín
đáo chứng minh sự "bất tài" của Bình Nguyên Lộc, với những nhận định
giễu cợt mỉa mai như: "Cả tháng trời, Sơn Nam đọc từng đoạn (cuốn Nhốt
gió) như thế, và ông lâng lâng. Thì ra ông có đọc truyện đâu! Tay cầm cuốn
truyện, ông đọc... ca dao!
Như thế, Sơn Nam quả là tay sành sõi. Ông Cao Huy Khanh, ông
Nguyễn Văn Sâm đọc truyện của Bình Nguyên Lộc, và không mấy bằng
lòng...", "Chúng ta có cảm tưởng ông Bình Nguyên Lộc có hảo ý muốn làm
https://thuviensach.vn
vui người đọc. Hảo ý không thuộc về nghệ thuật" (Sđd, trang XVII, và
XIX). Việc Võ Phiến trích lại những nhận định sai lầm của Cao Huy Khanh
và Nguyễn Văn Sâm trong Văn Học số 18, đưa vào tuyển tập như những
nhận định chính xác về Bình Nguyên Lộc là một việc làm đáng tiếc, vô tình
hay hữu ý nhân cái sai làm hai. Bởi Cao Huy Khanh không muốn, hay
không thể hiểu và thông cảm cái mà ông gọi là "tâm lý bình dân" mà ông
cho là "tủn mủm" và "dễ dãi" trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc, và Ðò
dọc cũng không phải là "sự thành công duy nhất và quá hiếm hoi so với sự
nghiệp sáng tác đồ sộ của tác giả", như Cao Huy Khanh đã nhận định.
Nhà xuất bản Trẻ ở Sài Gòn, năm 1999, cho in lại cuốn "Những bước
lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc", do Sơn Nam viết tựa.
Sơn Nam biến Sài Gòn thành "vùng tạm chiếm", và ông có ý "biện hộ" cho
một Bình Nguyên Lộc "nhà văn tiểu tư sản yêu nước". Nhưng điều đó cũng
chưa đáng tiếc bằng việc họ đã bỏ lời nói đầu trong bản Thịnh Ký (1966)
mà có lẽ do chính Bình Nguyên Lộc viết. Mấy lời nói đầu rất ngắn, nhưng
đầy đủ thông tin về văn bản, như sau:
"Nhà văn Bình Nguyên Lộc có viết một thiên điều tra phóng sự dài,
nhan là "Thám hiểm đô thành", gồm nhiều bài ngắn và chia ra làm hai
phần.
Phần thứ nhứt, cho đăng báo hằng ngày, kể những chuyện lạ của Sàigòn
mà chưa báo nào nói đến, chẳng hạn như những bài "Ma máy đá", tả cái
viện cơ thể học đầy dẫy xác chết ngâm thuốc của trường Y khoa Ðại học,
chẳng hạn bài "Người chuột cống", theo dõi những người phu của ty vệ
sinh đô thành họ chun xuống hệ thống cống tối thui và chằng chịt như
mạng nhện để vét bùn đất cho thông cống.
Phần thứ nhứt ấy, tác giả không muốn in thành sách.
Ðây là phần thứ hai mà tác giả đã cho đang riêng ở các tạp chí. (Nhân
Loại, Thời Trân, Sáng Tạo, v.v..) không có tính cách xã hội, hoặc "giựt gân"
như các bài của phần thứ nhứt mà chỉ nên thơ hoặc đượm một tý triết lý
vụn vặt nào đó thôi".
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 3: Thịnh Ký
Theo lời tựa này, thì Những bước lang thang... chỉ là phần "không giựt
gân", tức là "hiền lành" hơn, có thể không hay bằng phần thứ nhất? Vậy
sưu tầm lại phần thứ nhất, sẽ rất bổ ích cho văn bản học và văn học.
Sự thất lạc tác phẩm, kèm theo việc bị đánh giá sai lầm, và thêm khó
khăn thứ ba: chưa có công trình tập hợp toàn bộ sáng tác đồ sộ của ông,
một nhà văn có bút lực dồi dào như Lê Văn Trương, Hồ Biểu Chánh, (trên
dưới 100 tác phẩm), để lựa ra phần chủ yếu, phần đáng kể nhất. Chính
Bình Nguyên Lộc cũng đã "tâm sự" với Nguyễn Văn Sâm: "viết hai, ba
chục bài mới mong thấy được một bài khá" (Xin được lần cuối gọi bằng
anh, Nguyễn Văn Sâm, Văn học, số 18, trang 67). Nếu chấp nhận sự đánh
giá nghiêm khắc này của nhà văn thì qua trên dưới 1000 truyện ngắn, tùy
bút ông đã viết, cũng có trên dưới 50 "bài khá", (không chỉ một, hai, như ý
kiến của Nguyễn Văn Sâm), và nếu nghiên cứu một số những "bài khá" ấy,
con số 50 quả là đáng kể, không phải nhà văn nào cũng có thể đạt được.
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 4: Tinh Thần Hoà Hợp Dân Tộc
Bình Nguyên Lộc có một lập trường văn học riêng, không theo Bắc,
hoàn toàn theo Bắc như Ðông Hồ, cũng không giữ nguyên đặc chất Nam
kỳ như Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển... Nếu trong truyện ngắn chất
Nam thường nổi bật, thì trong truyện dài ông ngả theo lối Bắc. Ðó là một
thái độ lựa chọn: Bình Nguyên Lộc chọn thái độ trung dung trong tinh thần
giao hoà Nam Bắc, kết hợp lịch sử di dân với ngôn ngữ con người.
Ngay từ đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh đã dùng tiếng Nam như một
chính ngữ; như thể Hồ muốn chống lại thành kiến của số đông người Bắc,
tự cho tiếng Bắc là "chính", là "chuẩn", tiếng Nam là "phụ", là tiếng "địa
phương", "quê mùa", "hủ lậu". Thành kiến này, gần đây, vì lý do chính trị,
có vẻ được củng cố mạnh mẽ hơn, cho nên ba mươi năm sau ngày thống
nhất đất nước, vẫn có người không bằng lòng khi thấy một số bảng hiệu ở
ngoài Bắc đã bắt đầu dùng tiếng Nam. Ðối với môt số thành phần bảo thủ
ở Bắc, tiếng Nam, vẫn tiếp tục là thứ tiếng ngoại vi "không chấp nhận"
được. Dùng tiếng Nam làm chính ngữ, Hồ Biểu Chánh chỉ làm một việc tự
nhiên, nhưng nó mang tính cách thách thức: dựng nên một vùng đất mới
của ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ giàu có, sống động, đầy âm thanh, tiết
điệu, thành quả của sự kết hợp âm thanh ngôn ngữ Việt với những nền văn
hoá phía Nam. Hồ chẳng quan tâm gì đến "gốc Bắc". Ðối với Hồ, Nam Kỳ
cũng là một "gốc", một địa phận, một thổ ngơi, từ đó phát sinh ra văn
chương, tư tưởng và xã hội miền Nam.
Sự so sánh văn phong Hồ Biểu Chánh với văn phong Bình Nguyên Lộc
sẽ là một đề tài lý thú cho phê bình, nhìn dưới lăng kính đối chiếu ngôn
ngữ, để xác định hai thời kỳ xã hội: thời đầu thế kỷ, khuynh hướng "Nam
kỳ tự trị" còn mạnh và thời sau 1954, với làn sóng di cư, khuynh hướng
https://thuviensach.vn
Bắc Nam hoà hợp trổi dậy, đồng thời sự chia rẽ cũng đã manh nha vì
nghịch cảnh chia đôi đất nước.
Ðông Hồ Lâm Tấn Phác đi ngược lại phong cách Hồ Biểu Chánh. Tâm
hồn Ðông Hồ và ngôn ngữ Ðông Hồ dường như đã bị "Bắc hoá" hoàn
toàn. Dưới con mắt những người như Vương Hồng Sển, Ðông Hồ có thể
bị "khai trừ" khỏi "thổ ngơi" miền Nam. Văn phong Ðông Hồ không thoát
khỏi không khí Tương Phố, Á Nam Trần Tuấn Khải.
Bình Nguyên Lộc bắc cầu giữa hai khuynh hướng trên: Ông không theo
Bắc, hoàn toàn theo Bắc như Ðông Hồ, mà cũng không giữ nguyên đặc
chất Nam kỳ như Hồ biểu Chánh, Vương Hồng Sển. Bình mở con đường
thứ ba: giao lưu văn hoá Bắc Nam trong truyền thống di dân và tiếp cận
ngôn ngữ.
Cái "gốc Bắc", "tổ tiên" nguồn cội ngoài Bắc, được Bình trân trọng tìm
kiếm, không riêng gì khía cạnh lịch sử Nam tiến, mà còn cả về nguồn cội
ngôn ngữ. Ngoài sách biên khảo, trong tiểu thuyết, khi dùng một chữ có
tính chất đặc biệt địa phương miền Nam, ông thường tìm cách giải thích
ngay bên cạnh, chữ này ngoài Bắc dùng chữ gì. Ðôi khi còn phê bình luôn
là chữ Nam hay chữ Bắc hay hơn, có lý hơn, hoặc nói rõ xuất xứ tại sao lại
có sự khác biệt như vậy. Tất cả những lý giải, nhiều khi trở thành nhược
điểm làm nặng sáng tác, nhưng chúng thoát thai từ lối kể chuyện đường
dài, trong truyền thống "kể", "nói" của văn chương miền Nam.
Trong hoàn cảnh thiếu tư liệu để có một cái nhìn hoàn chỉnh về tiểu
thuyết của Bình Nguyên Lộc, bài viết này tập trung khảo sát truyện ngắn.
Tuy vậy, qua một vài tác phẩm đã đọc, chúng tôi tin rằng: Bình Nguyên Lộc
tiếp nối truyền thống tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn. Ông chưa mở ra được
một hướng đi mới cho tiểu thuyết như ông đã làm cho truyện ngắn: ảnh
hưởng Khái Hưng, Nhất Linh bàng bạc trong cách phát triển kỹ thuật
truyện dài. Cuốn Ðò dọc (1959) được giải thưởng văn chương toàn quốc
1960 (của miền Nam), mang dấu ấn truyện tâm lý viết theo lối Bắc, khác
hẳn lối viết của Hồ Biểu Chánh. Ðò dọc là cuốn tiểu thuyết đầu tay, trong
những cuốn sau, Bình Nguyên Lộc đào sâu thêm, như Ái ân thâu ngắn cho
dài tiếc thương (1963), Hoa hậu Bồ Ðào (1963), sự phân tích tâm lý đã
https://thuviensach.vn
chiếm gần trọn tác phẩm, mở rộng và đào sâu về hướng hiện thực xã hội
thành thị miền Nam.
Ðò dọc viết về gia đình ông bà Nam Thành và bốn người con gái. Ông
Nam Thành nguyên là thầy giáo làng, gốc ở Bạc Liêu, trôi dạt lên Sài Gòn
thời Pháp thuộc những năm 50, kiếm sống bằng nghề bán rương và va-li
da cho lính Pháp. Năm 1954, khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, gia đình
này phải về quê, tìm cách chăn nuôi và trồng trọt để độ thân. Ðây là một
mẫu ảnh của người dân chợ (Bắc gọi là kẻ chợ) phải về quê (Nam gọi là về
vườn). Và hai mẫu đất vườn, đất mới này của họ, cũng là thứ "nửa quê
nửa tỉnh", nằm trên đường Sài Gòn-Thủ Ðức, một con đường "thiên lý",
một thứ xa lộ tương lai.
Người di dân ngược xuôi như chuyến đò dọc, bị bấn từ Bạc Liêu lên
Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn sang gần miệt Thủ Ðức. Gia đình Nam Thành khi
nói "nhớ" là không biết "nhớ" đâu: cha mẹ thì nhớ quê má Bạc Liêu, các cô
con gái thì nhớ Sài Gòn. Nhưng rồi cuối cùng ngôn ngữ cũng mách cho họ
một thứ nguồn gốc xa xôi hơn: "gốc Bắc".
Ðò Dọc cho thấy tư tưởng chủ yếu của Bình Nguyên Lộc: ở thời điểm
1954, khi đợt sóng di dư từ Bắc tràn vào, vừa có một đòi hỏi đoàn kết Bắc
Nam, nhưng lại có một thực tại kỳ thị, khác biệt lối sống và cá tính đôi bên,
có sự trịch thượng của người Bắc di cư trên văn đàn, có tình trạng người
Nam bị chiếm thị trường chữ nghĩa và kinh tế. Tất cả những yếu tố ấy đôi
co, dằn vặt nhau, trong không khí xã hội ngấm ngầm căng thẳng, khi nhẫn
nhục chịu đựng, khi trực diện đối đầu. Ðò dọc là tác phẩm bao dung và
nhân hậu mở vòng tay chào đón đồng bào di cư, trong giai đoạn lịch sử khó
khăn, bằng con đường kết hợp dân tộc, bằng cách nhắc lại lịch sử di dân,
khai phá đất hoang, mở rộng cõi bờ và giao hoà ngôn ngữ. Có lẽ đó là một
trong những lý do khiến Mai Thảo, ngoài sự kính trọng tài năng, còn tìm
thấy ở Bình Nguyên Lộc, một nhân cách lớn, và Nhất Linh đã sớm coi
Bình Nguyên Lộc là một nhân tài, cho nên ông không đề nghị "đưa" Bình
vào Tự Lực Văn Ðoàn như một nhà văn đàn em. Dòng tư tưởng hoà hợp
đất nước và con người trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc, không phải đợi
đến 1954 mới xuất hiện, mà nó đã sống trong ông từ lâu, nằm trong xương
thịt các tác phẩm đầu tay, dù đã thất lạc, nhưng vẫn còn để lại những cái tên
https://thuviensach.vn
đầy ý nghiã: Hương gió Ðồng Nai, Phù sa, và chúng ta có thể nhận diện
tinh thần ấy ngay trong tác phẩm đầu tiên được in ra năm 1950: Nhốt gió.
https://thuviensach.vn
BÌNH NGUYÊN LỘC, ÐẤT NƯỚC VÀ CON
NGƯỜI
Thụy Khuê
dtv-ebook.com
Chương 5: Nhốt Gió, Ý Thức Về Tự Do
Nhốt gió là gì? Làm sao mà nhốt được gió?
"Cả bàn ăn đều kinh ngạc". Truyện bắt đầu bằng một câu ngắn như vậy.
Kinh ngạc cái gì? Chưa biết.
1- Kinh ngạc vì "thằng Kiệt không được thưởng xe máy theo lời hứa?
2 - Vì thằng Kiệt có những ý muốn làm cho mẹ nó khiếp đảm?
3 - Vì thằng Kiệt tái diễn sự xô sát thế hệ (giữa cha nó và ông bà nó)?
4 - Vì thằng Kiệt có những tư tưởng mà cha nó không thể nào ngăn cản
được?
5 - Vì thằng Kiệt có một nhân sinh quan khác người?
Cả 5 giả thiết đều có thể đúng hoặc sai, và đến dòng chót, độc giả vẫn
chưa biết "cả bàn đều kinh ngạc" cái gì. Ðọc không được thì phải đoán.
Trước mắt bạn là một văn bản không hiển nhiên, bắt bạn phải suy nghĩ,
phải xử dụng đến "chất xám" của mình: vậy là một văn bản bất thường,
một tác phẩm có tham vọng làm đảo lộn nội quy thường trú. Bình Nguyên
Lộc tung ra một lúc hai đòn bí mật: nhốt gió, và kinh ngạc, để làm lạc
hướng những người đọc truyền thống.
Thủ pháp đầu tiên là "hãm" thời gian, "nhốt" nó lại. Bảo nó đừng chảy
nữa, bắt phải đợi chờ, đùa với những hấp tấp của những "kẻ đọc" vội vàng
muốn tìm ngay đến kết luận.
https://thuviensach.vn
Hãm trở thành động tác chính trong truyện: nhốt tất cả những gì không
giam hãm được. Trước tiên hãm nằm trong ý đồ của nhân vật Tạo, người
cha muốn nhốt con trong vòng giáo dục "tiến bộ" của mình. Tạo là một
kiến trúc sư Tây học, tưởng mình văn minh, tưởng mình hiểu con lắm. Tạo
có thấy thế giới chung quanh thay đổi và chính chàng cũng đang thay đổi:
kiểu nhà vừa vẽ xong, chàng đã thấy chán ngắt, nhưng Tạo là kẻ cầu an,
không chịu dùng kinh nghiệm thực tiễn, để tìm bài học cho mình, chàng
quen dựa vào kinh nghiệm của những người đi trước, cho việc giáo dục con
cái xưa nay tự nhiên vẫn thế: mình bắt gì chúng phải nghe như vậy. Tạo
thuộc lớp người biết hãm, biết nhốt mà không biết thả. Tình cờ chàng
được mục kích cảnh thằng nhỏ năm tuổi "tiếp xúc" với gió, thấy cách nó
đối xử với gió, chàng chợt tìm thấy lối thoát cho mình. Thử xem thằng nhỏ
làm như thế nào:
"- Mẹ, sập hoài!
Tạo giựt mình, dòm xuống cỏ. Trên khoảng đất hẹp giữa xóm nhà lá và
dãy phố chàng ở, một đứa bé chừng năm tuổi đương ngồi chơi gì trên cỏ.
Ðứa bé ở trần, đưa lưng đen thui lại phía chàng. Nó mặc một cái quần dài
đen. Chàng bước sấn lại thì thấy nó đương loay hoay với những cành cây
nhỏ và ngắn. Nó cắm trên cát bốn cành cây đầu trên có nạng, rồi gác ngang
lên nạng những cành khác. Thì ra nó chơi cất nhà. Khi nó vừa phủ lên cái
giàn đó một tấm lá chuối để làm nóc nhà thì gió ở đâu thổi đến. Nóc nhà
của nó bay lên, bốn cây cột đều ngã. Thằng nhỏ gương mặt dễ thương này
tức giận chưởi thề nữa, nhưng không nản chí, bắt đầu xây dựng lại. Gió lại
thổi lên phá hoại công trình của nó. Lần này nó nắm chặt hai tay bặm môi
như muốn đánh ai. Ðoạn nghĩ ra điều gì, nó cởi tuột quần ra, mò dưới cỏ
tìm gặp hai sợi dây chuối, nó cột túm hai ống quần lại. Nó phành lưng
quần đưa ra trước gió như người lớn phành bao bố hứng gạo và nói: "Nhốt
mày lại coi mày còn phá nữa hết". Gió chun vào thổi phồng quần lên. Hai
ống quần bọc no nứt gió, bay nằm ngang trên không trung như hai khúc
dồi. Nó vừa muốn túm lưng quần lại để gói gió trong ấy, thì chợt nhận ra
rằng ở đâu cũng có gió hết, gió chạy trên người nó để trôi ra phía sau, gió
thổi cát bay, gió lay tầu chuối. [...]
https://thuviensach.vn
Ðứa bé đang lính quýnh vì gió nhiều quá không biết đâu mà hốt cho
hết. Một tay nó thả lưng quần, cào gió lại, chơn nó đá như muốn đuổi gió
đi. [...]
Một cơn gió đổi chiều làm cho cái quần nó ốm xếp ve và bành bạch bay
day qua hướng khác.
Thằng bé thấy mình thất bại vội bỏ quần xuống đất, giăng tay ra rước
gió. Nó hít gió, nó nuốt gió, mặt nó sung sướng trông thấy. Ðoạn nó cầm
quần lên phành lưng đưa trước chiều gió mới. Lần này nó không có ý nhốt
gió nữa mà lại hớn hở nhìn hai ống quần no như hai khúc dồi. Nó giỡn với
gió chứ không ghét gió nữa
Tạo mỉm cười nói lầm thầm: "Thằng nhỏ biết điều quá". (trích Nhốt
gió, nxb Văn Nghệ thành phố in lại, 1998, trang 8-9).
Nhốt gió là hành động tiếp xúc đầu tiên của con người với thiên nhiên,
Husserl gọi là "cuộc gặp gỡ đầu tiên của ta với thế giới". Gặp gió, thằng
nhỏ đã coi ngay gió như một thực thể có thể giao thiệp được. Nếu một
người lớn biết làm như vậy, thì có thể bảo là anh ta đang áp dụng "phương
pháp giảm trừ hiện tượng", nghĩa là gạt bỏ tất cả mọi thành kiến mà anh ta
có về gió qua sách vở, qua những kiến thức lượm được từ bên ngoài, để
tiếp xúc với gió như lần gặp gỡ đầu tiên, chưa bị bất cứ thành kiến nào về
gió chi phối. Thằng nhỏ năm tuổi, dĩ nhiên là chưa bị sách vở đầu độc,
chưa bị môi trường ảnh hưởng, cho nên nó đãi gió một cách chân tình, nhờ
sự chân tình đó mà nó tìm ra chân lý: không thể nhốt gió, nó bèn thả gió.
Không nhốt được gió, thằng nhỏ xử huề, nó tìm cách chơi với gió. Bắt
tay với đối thủ, thằng nhỏ "biết người biết ta". Cái lý mà chỉ trong nháy
mắt một thằng nhỏ năm tuổi đã "thấu triệt", người lớn lại "ngu lâu". Bởi vì
thằng bé dùng kinh nghiệm trực tiếp của mình, không qua trung gian, mối
lái, tức là nó đã bỏ hẳn giai đoạn suy nghĩ, lập luận, lý giải (đương nhiên, vì
nó bé), để trực tiếp thể nghiệm sự tiếp xúc giữa thân xác nó và thân xác
gió, và thằng bé hiểu ngay là phải cộng sinh với gió, nó không thể bắt được
gió cũng như gió không dạy được nó: giữa gió và nó có mối tương quan
biện chứng hệt như tự do và con người; hệt như tư tưởng và con người:
https://thuviensach.vn
con người không thể nhốt tư tư
 









Các ý kiến mới nhất