yhknN17lzRNk9w

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:33' 02-02-2026
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:33' 02-02-2026
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
GIỮA KHU RỪNG THIÊNG
---❊ ❖ ❊--Tác giả: Nhiều tác giả
Thể loại: Truyện - Kí
Nhà xuất bản: Quân Đội Nhân Dân
Đóng gói: @nguyenthanh-cuibap
KÝ ỨC RỪNG CHIẾN KHU Đ
TRƯƠNG NGUYÊN VIỆT
… Cho đến khi đặt chân tới Mã Đà - vùng rừng núi Chiến khu Đ
lịch sử ngày đánh Pháp, cũng đang là căn cứ địa đánh Mỹ lúc bấy
giờ, thì cả 28 anh em mới hiểu rằng mình đã về tới đất Mẹ, nước
mắt cùng chảy trên má họ. Miền Nam đây rồi. Quê hương đây rồi.
Đồng chí, đồng bào đây rồi. Các anh ùa hết xuống sông Đồng Nai,
vốc nước uống cho đã khát đã thèm, rồi quỳ xuống hất nước khắp
người cho đẫm ướt tình yêu…
T
ôi nghiệm ra rằng, mỗi cuộc kháng chiến của chúng ta đều
bắt đầu bằng những cuộc hành quân kỳ vĩ, với những khúc
quân hành cháy lửa, giàu sức thúc giục lòng người. Ấy là khi ta nhớ
lại những đoàn quân Nam tiến năm xưa, với tiếng hát: “Tiếng súng
vang sông núi miền Nam. Ầm đất nước Việt Nam. Ta muốn băng
mình tới phương Nam. Giết hết quân tham tàn…”. Ta lại nhớ tới
những đoàn quân xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước hôm qua: “Ta
vượt trên triền núi cao Trường Sơn. Đá mòn mà đôi gót không mòn.
Ta đi nhằm phương Nam gió ngàn đưa chân ta về quê hương. Quân
về trong gió đang dâng triều lên…”.
Nhưng, tôi cũng biết, còn rất nhiều cuộc hành quân thiêng liêng,
kỳ vĩ, nhưng lại hết sức âm thầm, lặng lẽ, không một khúc quân
hành trên môi. Anh Sáu Thượng (Nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Tây
Ninh) với hơn 30 năm sống đời chiến sĩ đang ngồi trước mặt tôi
đây, đã có nhiều cuộc hành quân như vậy. Một trong những cuộc
hành quân ấy chính là ngày trở về quê mẹ.
Cuối năm 1959, đang từ một đơn vị của Sư đoàn 338 (sư đoàn
của những cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết) đóng ở Xuân Mai
(Hòa Bình cũ), anh Sáu được Quân ủy Trung ương gọi về Hà Nội,
chuẩn bị công tác mới. Cả một sư đoàn hàng nghìn người, mà trên
chỉ gọi một vài anh em, hẳn là một nhiệm vụ gì quan trọng lắm. Một
linh cảm rạo rực trong anh: Hay mình chuẩn bị được trở về quê với
mẹ? Mới là linh cảm thôi, nhưng đã cảm thấy sung sướng và hạnh
phúc vô vàn…
Quê của anh - một làng nhỏ, tên gọi Đức Hòa, miền Chợ Lớn
cũ. Ở nơi ấy, má sinh ra anh, tiếng ru ầu ơ của người mẹ nghèo
suốt đời tê tái trong anh. Cha đi làm thuê được chút tiền nào, là
dành hết cho con theo thầy đi học chữ. Nhưng rồi mới được dăm ba
buổi, mẹ mất, nhà nghèo lại càng nghèo hơn, vậy là anh phải bỏ học
và lại theo nghề làm thuê cuốc mướn của cha.
Cái quê mẹ ấy của anh, nghèo thì thiệt nghèo, nhưng kiên
cường cách mạng thì không thua kém bất cứ một miền đất nào.
Năm mới 13 tuổi, chính mắt anh đã chứng kiến cả quê hương đứng
dậy làm Nam Kỳ khởi nghĩa. Trong đoàn người đi diệt tề, diệt lính ở
Giồng Cám, Mỹ Hạnh, có cha anh, có chú, bác và bà con ruột thịt
của anh. Máu cách mạng đã bắt đầu ngấm vô anh từ ấy. Rồi một
thời gian ngắn sau, khi phong trào bị đàn áp, tại trường bắn do quân
thù dựng lên, trái tim tuổi thơ của anh đã lần đầu nhói đau khi những
loạt đạn của quân thù bắn vô lồng ngực của người bác, người chú
ruột trong một chiều bị tử hình cùng với đồng chí Võ Văn Tần.
13 tuổi, lần đầu tiên anh thấy đau đớn khi những viên đạn của
quân thù bắn vào những người chiến sĩ cách mạng, bắn vào chú
bác ruột của mình, bắn vào quê hương, như bắn vào chính da thịt
của mình.
Đất Mẹ của anh là thế, nghèo và kiên cường. Anh lớn lên không
chỉ bằng bát cơm của cha, lời ru của mẹ, mà còn bằng cả không khí,
bằng cả phong trào cách mạng của quê hương. Chính từ nơi này,
ngày giặc Pháp quay lại gây hấn, anh đã ra đi làm một người chiến
sĩ, chiến đấu bảo vệ cách mạng, bảo vệ quê hương.
Những năm tháng đánh Pháp tuy chiến trường của anh không
ở ngay trên miền đất quê mình, nhưng sự cách xa cũng chẳng bao
nhiêu. Anh chỉ thật sự xa quê từ năm 1954, cùng đồng đội lên tàu ra
Bắc tập kết, hẹn hai năm sau trở về.
Hai năm, bốn năm, rồi gần sáu năm. Quân thù đã phản bội Hiệp
định, hằng mong biên giới của Hoa Kỳ vĩnh viễn kéo dài tới vĩ tuyến
17. Không những thế, biết bao tội ác của chúng gây ra chất chồng
trên đất Mẹ này. Với những người con của quê hương trên đất Bắc,
có thể nói rằng không bữa cơm nào được ngon, không giấc ngủ nào
được trọn, không chỉ vì nỗi thương nhớ quê hương, mà còn bởi sự
âu lo cho số phận bà con, cô bác, của quê hương đang bị quân thù
giày xéo.
Giờ đây, tất cả đang kêu gọi và chờ đón các anh trở về.
*
Ngay khi rời đơn vị về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, dù chưa biết
cụ thể là nhiệm vụ gì, nhưng linh cảm đã làm anh có cảm tưởng như
đã bắt đầu được lên đường, thực hiện khao khát của mình. Nhưng
nghiệt ngã làm sao, tới Hà Nội chưa được ấm chỗ, thì anh lại bị trả
về đơn vị.
Nguyên do là tất cả các anh em được đưa về để chuẩn bị nhận
nhiệm vụ mới này đều phải qua phòng khám sức khỏe. Khi khám
cho anh, đồng chí thiếu tá bác sĩ đã bàng hoàng khi phát hiện trong
buồng phổi của anh còn cả một mảnh đạn. Đó là một mảnh đạn của
giặc Pháp còn găm lại từ cuộc kháng chiến lần trước, mà tới giờ vẫn
chưa gắp ra được, hoặc nói đúng hơn là không thể lấy ra được nữa.
Và đây là lý do duy nhất để anh bị trả về.
Khi biết đích xác rằng việc các anh được tập trung về đây là để
chuẩn bị cho những đoàn quân đầu tiên trở về miền Nam chiến đấu
thì anh nhất quyết không chịu bó tay nữa. Không thể vì một vết đạn
“xoàng” ấy mà mất đi hạnh phúc lớn lao, không có tới lần thứ hai
trong đời. Anh nhất quyết ở lại, tìm đến cả các đồng chí lãnh đạo
cấp cao nhất của Đảng, của quân đội để trình bày nguyện vọng của
mình. Và rồi nhiệt tình cháy bỏng của anh đã được chấp thuận, anh
lại được ở lại để chuẩn bị lên đường.
Có thể nói, đây là một trong những đơn vị quân đội đầu tiên của
chúng ta vượt Trường Sơn trở về miền Nam chiến đấu. Các anh có
28 người, là những sĩ quan trẻ, quê ở miền Nam. Đồng chí Bùi
Thanh Vân (sau này là Trung tướng) là trưởng đoàn và anh Sáu
Thượng được làm bí thư chi bộ.
Trước ngày lên đường, các anh được đưa về tăng cường sức
mạnh chiến đấu ở một vùng rừng núi kín đáo, lặng lẽ thuộc tỉnh Hòa
Bình cũ. Mặc dù ở nơi xa xôi này, nhưng cả Bác Hồ, Bác Tôn, cả
các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng như: Lê Duẩn, Phạm
Hùng… đều đã lên thăm và trực tiếp giảng bài cho các anh. Có thể
nói, đó là những tình cảm vô cùng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân
dành cho những người con trở về miền Nam chiến đấu, hay nói
đúng hơn là dành cho cả miền Nam ruột thịt.
Anh nhớ đó là một buổi chiều đông, trong cái lạnh thấu da thấu
thịt của vùng núi rừng Tây Bắc, mặc dù bận trăm công nghìn việc, từ
Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ kính yêu đã vượt đường xa, gió lạnh để lên
thăm các anh. Đó là điều mà thật sự mọi người đều không ngờ tới.
Khi Bác xuất hiện, mọi người cùng đứng lặng đi, rồi cùng ào tới ôm
chầm lấy Bác.
Người ôm hôn từng người con, từng giọt máu của miền Nam
ruột thịt. Rồi Người thân mật căn dặn các anh rất kỹ lưỡng mọi điều
để có thể hoàn thành các nhiệm vụ lớn lao sắp tới. Và lời dặn cuối
cùng của Bác, làm mọi người không kìm được nước mắt:
- Các chú đi trước, nhớ chuyển lời thăm hỏi của Bác tới đồng
bào, đồng chí của miền Nam ruột thịt. Rồi nhất định một ngày, Bác
sẽ vô thăm miền Nam.
Thật sự, hơn tất cả mọi điều, ngay khi được nghe lời dặn dò
của Bác, mọi người đã muốn khoác ba lô lên đường ngay. Hãy sớm
mang tình cảm của Bác tới từng đồng bào, đồng chí, từng người
mẹ, người chị, người em của miền Nam quê hương. Bởi đó chính là
nguồn sức mạnh lớn lao cho cả miền Nam vượt qua hết thảy đau
thương, chết chóc, để vững bước trên con đường giải phóng.
Khi Bác ra về, các anh còn đứng lặng, vẫy tay theo mãi. Tay vẫy
mà nước mắt mọi người cứ rơi rơi. Bởi tất cả đều cùng hiểu rằng,
sẽ rất lâu nữa mới được gặp Bác. Ngày thống nhất, Bác sẽ vô thăm
miền Nam. “Thưa Bác, chúng con sẽ cùng quê hương chiến đấu hết
mình, cho mau chóng tới ngày thống nhất, để chúng con và cả miền
Nam lại được gặp Bác”.
Nghĩ vậy, nhưng không có ai có thể ngờ được rằng chỉ ít ngày
sau đó lại một lần nữa, các anh được gặp Bác. Bác và các đồng chí
lãnh đạo của Đảng, của quân đội đến tiễn đưa đơn vị lên đường.
Anh nhớ buổi ấy, anh được may mắn ngồi rất gần Bác. Khi Bác
mời cơm anh em, anh còn được Bác gắp thức ăn ngon cho vào bát
của mình nữa. Xúc động quá anh không ăn được. Nhìn sang Bác,
anh thấy bát cơm của Bác cũng vẫn đang đầy. Còn tay đũa của
Người thì chăm chăm gắp các món ăn cho từng chiến sĩ.
Anh cứ ngồi nhìn Bác, như nhìn một người Cha hết sức thiêng
liêng mà xiết bao gần gũi…
Cũng trong những ngày ở Hòa Bình chuẩn bị ra đi ấy, các anh
thường gặp một người anh lớn: Anh Ba, tên mà đông đảo cán bộ và
chiến sĩ miền Nam thường gọi đồng chí Lê Duẩn kính mến từ
những ngày đánh giặc Pháp ở chiến trường Nam Bộ.
Anh Ba thường đến với anh em giảng bài, thăm hỏi, tâm sự với
từng cán bộ, chiến sĩ. Mỗi lần gặp anh Ba như thế, dù là giữa vùng
rừng núi Tây Bắc, mọi người lại cứ ngỡ như đang lại được cùng
sống với anh Ba ở núi rừng Chiến khu Đ của quê hương Nam Bộ.
“Thưa anh Ba, tôi không sao quên được những ngày được
sống và chiến đấu gần anh ở Chiến khu Đ. Ngày đó gian khổ và ác
liệt quá phải không anh? Tôi nhớ có những thời gian anh em ngược
xuôi khắp nơi, ráng tìm được một chút dầu trắng cho anh thắp đèn
làm việc đêm, mà cũng còn hết sức khó khăn. Nhưng không bao giờ
chúng tôi quên anh đã nhường cho chúng tôi và các chiến sĩ bên
anh từng lon gạo trắng. Tôi còn nhớ hoài một lần anh Sáu Thọ (tức
đồng chí Lê Đức Thọ) đi công tác miền Tây về, lặn lội mang theo về
được ít lon gạo trắng. Anh em bàn để bồi dưỡng cho riêng anh, vậy
mà rồi nồi cơm nấu lên, anh lại gọi anh em tới xới cho mỗi người
lưng bát ăn cùng. Tôi nhớ hoài nụ cười của anh lúc đó: “Quà của
anh Sáu đó, anh em!”.
Thưa anh Ba, tới đây chúng tôi lại trở về chiến trường thân thiết
xưa. Có thể khó khăn, gian khổ, ác liệt còn nhiều hơn nữa, nhưng
trong chúng tôi, không một ai thối chí đâu anh. Chúng tôi hiểu sâu
sắc rằng, trái tim của Bác, của anh, của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân ta lúc này đang ở miền Nam. Trái tim những người chiến
sĩ chúng tôi đang ở đó. Chúng tôi sẽ nguyện hết sức mình để chiến
đấu giải phóng quê hương, thực hiện tốt những lời chỉ bảo của Bác,
của anh và của các đồng chí lãnh đạo khác…”.
Đã nhiều lần anh Sáu Thượng đã tính thưa với anh Ba như vậy,
nhưng rồi cứ mỗi lần tính nói, lại thấy cổ họng nghèn nghẹn. Dường
như anh Ba hiểu được điều đó. Cho nên mắt anh Ba cũng ánh lên
bao tình cảm thân thương…
Tháng 11, các anh lên đường. Do yêu cầu bí mật tuyệt đối, cuộc
hành quân này tuy trang nghiêm, nhưng hết sức lặng lẽ, không một
khúc quân hành vang theo.
Qua Nam Định, Thanh Hóa, Vinh… những xóm làng miền Bắc
thân yêu hằng ấp ủ và chấp cánh cho các anh trở về quê mẹ hôm
nay. Cho tới Vĩnh Linh, khi dòng sông Bến Hải bên trong, bên đục
hiện ra trước mắt, thì đơn vị đột ngột ngoặt sang một bến kín vượt
sông. Rồi từ đây, các anh bắt đầu cặp theo triền Trường Sơn đi miết
về phía Nam.
Hành trang trên vai mỗi người lúc ấy. Khoảng hơn 30 ki-lô-gam.
Ngoài một bộ quần áo và thuốc men, lương thực, còn lại là vũ khí.
Đây là những khẩu súng, những viên đạn… đầu tiên của miền Bắc
trang bị cho miền Nam. Cũng không thể không nhắc đến một mặt
hàng hết sức quan trọng khác mang trên vai các anh lúc đó là vàng.
Vàng của đất nước, của miền Bắc gửi cho miền Nam để chuẩn bị
bước vào cuộc chiến đấu mới.
Cả đơn vị cứ lặng lẽ đi men theo triền núi. Theo những con
đường do chính mình khai phá. Nhưng lại không được để lại một
dấu vết gì. Nhất là dấu giày, vết dép. Chính do vậy nên mọi người
phải lội đất trong khi đó thì giày dép lại phải mang cả trên vai. Cứ
đầu trần, chân đất như vậy mà vượt núi, băng rừng, đạp gai, dẫm
đá. Những buổi đầu đôi chân phồng rát lên, có người còn bị tướt cả
máu nữa. Nhưng đi mãi rồi cũng thành quen…
Riêng với anh Sáu, một hoàn cảnh khắc nghiệt hơn đến với
anh. Đi được quãng một phần ba chặng đường, bỗng thấy nhói bên
ngực phải. Cứ nghĩ do quai ba lô siết. Nhưng nới quai rồi vẫn thấy
đau, càng đi càng đau. Cho đến lúc anh ói, ói ra máu đỏ nọc. Đồng
đội nhìn anh ói mà nước mắt lưng tròng. Cái mảnh đạn tai quái
trong buồng phổi của anh đó, rình lúc căng thẳng, mệt mỏi, lại trỗi
dậy hành hạ anh. Trước tình hình sức khỏe của anh như vậy, chi bộ
họp và quyết định phải đưa anh trở lại miền Bắc. Nhưng với quyền
Bí thư, anh gắng thuyết phục mọi người cho mình đi tiếp. Có lẽ do
quá thông cảm và nể tình, cho nên mọi cánh tay lại giơ lên phủ
quyết lại quyết định trước đó của mình. Và rồi chính những cánh tay
đồng chí đã mở ra, gánh vác giùm anh những khối hành lý nặng nề
trên vai.
Mỗi chặng đường đi, lại gặp mỗi khó khăn mới. Càng về cuối
con đường, lương thực càng vơi cạn.
Cho đến lúc chỉ còn lại những lon gạo cuối cùng. Chi bộ lại phải
họp và quyết định từ đây chỉ được ăn rau rừng, dành phần gạo còn
rất ít ỏi đó phòng những trường hợp thật đặc biệt. Hai tháng trời
ròng rã chỉ ăn rau rừng, lá rừng, người ai cũng xanh mướt. Mãi cho
tới lúc gần tới Phước Long, anh Sáu mới reo lên với anh em:
- Yên tâm đi! Sắp tới Phước Long rồi. Bí thư ở đó là anh Bảy
Thẩm, trước kia mình rất thân. Mai này qua đó, mình sẽ vô xin chi
viện cho chúng mình lương thực…
Khi đi ngang qua vùng căn cứ Bà Rịa, anh Sáu Thượng dặn
anh em đứng chờ bên ngoài, để anh tìm vô căn cứ của các đồng chí
Tỉnh ủy Phước Long. Nhưng thiệt không thể tưởng tượng nổi, trong
những rừng le, anh Bảy Thẩm cùng ba đồng chí còn sót lại của Tỉnh
ủy đang phải chịu đựng một cuộc sống gian khổ gấp nhiều lần nỗi
cực khổ của các anh. Hàng tháng trời nay các đồng chí trong Tỉnh
ủy này không có lấy một hạt bắp, chứ đừng nói gì hạt gạo để ăn.
Ngoài ra, lại còn bị bệnh tật, sốt rét triền miên mà cũng không có lấy
một viên thuốc. Nhìn thấy các đồng chí còn da bọc xương, anh Sáu
ôm lấy anh Bảy mà nước mắt giàn giụa trên má. Mãi rất lâu, anh
Bảy mới run run đề nghị:
- Mới ở miền Bắc vô, còn gạo ủng hộ cho bọn mình với…
Anh Sáu lặng lẽ đi ra ngoài, ngồi kể lại với anh em. Và mọi
người dồn hết số gạo còn lại cho các đồng chí Phước Long. Riêng
anh Sáu còn lại một củ sâm duy nhất mà Trung ương dành bồi
dưỡng cho các anh phòng khi đi đường, anh cũng mang vô tặng
anh Bảy và anh em ở Tỉnh ủy…
*
Cho đến khi đặt chân tới Mã Đà, vùng rừng núi Chiến khu Đ lịch
sử ngày đánh Pháp, cũng đang là căn cứ địa đánh Mỹ lúc bấy giờ,
thì cả 28 anh em mới hiểu rằng mình đã về tới đất Mẹ, nước mắt
cùng chảy trên má họ. Miền Nam đây rồi. Quê hương đây rồi. Đồng
chí, đồng bào đây rồi. Các anh ùa hết xuống sông Đồng Nai, vốc
nước uống cho đã khát đã thèm, rồi quỳ xuống hất nước khắp
người cho đẫm ướt tình yêu…
Trước mắt họ là những cánh rừng già trang nghiêm. Nơi đây,
suốt bao năm đen tối qua, bao trái tim kiên cường của Đảng, của
quê hương vẫn thao thức bền bỉ nhen nhóm ngọn lửa đánh Mỹ. Khi
các anh vừa đặt chân tới, tất cả các đồng chí có mặt ở chiến khu lúc
ấy cùng ùa ra mở rộng vòng tay ôm chầm lấy anh em, mừng mừng
tủi tủi. Thay mặt toàn đoàn, anh Vân, anh Sáu Thượng đã báo cáo
lại với các đồng chí trong Khu ủy tình cảm của Bác, của Trung
ương, của quân đội, và cả của nhân dân miền Bắc với miền Nam.
Rồi các anh trao lại cho Khu ủy tất cả súng đạn và vàng bạc, máy
móc mà Trung ương trang bị cho Cách mạng miền Nam. Cầm
những khẩu súng trên tay, các đồng chí Khu ủy cùng run lên vì xúc
động. Võ khí của Đảng đây rồi. Võ trang đây rồi. Có võ khí, có võ
trang, có quân đội là có ngày chiến thắng.
Một thời gian rất ngắn sau, vào tháng 7 năm 1961 từ 28 cán bộ
quân đội này, tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Chiến trường Nam Bộ
được thành lập. Đồng chí Hai Xô - Thường vụ Khu ủy phụ trách
quân sự chỉ rõ: “Tiểu đoàn đầu tiên là đốm lửa, và sau này cháy
thành rừng lửa để góp phần cùng toàn quân đánh thắng giặc Mỹ
xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…”.
Từ tiểu đoàn đầu tiên đó, chiến dịch sau đã trở thành Trung
đoàn Bình Giã và rồi trưởng thành lên thành một sư đoàn anh hùng.
Và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, sư đoàn đã góp phần
xứng đáng vào trận cuối cùng quét sạch Mỹ, ngụy trên đất nước
chúng ta, hoàn thành sứ mệnh lịch sử và lời hứa thiêng liêng của
những cán bộ, chiến sĩ đầu tiên đã hứa trước Trung ương và Bác
Hồ yêu quý ngày trở về quê hương…
(Bài đã in Báo Nhân dân)
NỤ CƯỜI ÔNG SÁU PHONG
NGUYỄN KHẮC VĂN
1
T
ôi được gặp ông lần đầu tiên trong buổi họp mặt đầu Xuân
1992 tại Tòa soạn Báo Sông Bé, lúc ấy ông tròn 50 tuổi, vừa
được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, giữ chức
vụ Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé. Là sinh viên mới ra trường, được dự
buổi họp mặt có lãnh đạo cao cấp, tôi dán mắt vào ông, nghe ông
nói như nuốt từng lời. Ông nói giọng miền Nam ấm áp, thỉnh thoảng
nở nụ cười thật đẹp, thật tươi.
Những năm sau đó, cả nước chứng kiến sự trỗi dậy của tỉnh
Sông Bé - Bình Dương, đặc biệt là về thu hút đầu tư (Ngày 1 tháng 1
năm 1997, tỉnh Sông Bé được tách thành hai tỉnh Bình Dương và
Bình Phước). Ông Sáu Phong - Nguyễn Minh Triết, Bí thư Tỉnh ủy
Bình Dương được dư luận trong và ngoài nước chú ý với câu nói
nổi tiếng: “Bình Dương trải chiếu hoa mời gọi đầu tư, trải thảm đỏ
thu hút nhân tài”. Và không chỉ nói, ông cùng lãnh đạo tỉnh Bình
Dương thời kỳ đó vận hành cơ chế “một cửa” để phục vụ các nhà
đầu tư, tranh thủ tối đa cơ hội hợp tác đầu tư. Từ đó, Bình Dương
“ăn nên làm ra” và trở thành thành viên của vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam. Cũng từ đó, hình ảnh ông Sáu Phong xuất hiện ngày
càng nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Rồi ông
tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ
Chính trị các khóa tiếp theo, giữ các trọng trách: Trưởng ban Dân
vận Trung ương, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch
nước. Ở cương vị nào ông cũng thể hiện phong thái đĩnh đạc của
một chính khách, với nụ cười tươi tắn, đôn hậu.
2
Ông Tư Kinh Nghiệm (tên thật là Nguyễn Văn Chóa, anh ruột
của ông Sáu Phong) lúc sinh thời có kể cho chúng tôi: “Cha mẹ tôi
có tám người con. Chú Triết là con thứ sáu, hồi đó ở nhà gọi là Bảy
Triết. Thời gian hoạt động cách mạng, chú Triết lấy bí danh là Trần
Phong - Sáu Phong. Hồi nhỏ chú Triết học giỏi, học nhảy một năm
mà thi đâu đậu đó. Nhà nghèo, ngoài giờ học, chú Triết còn phải đi
chèo đò. Tôi xuống Sài Gòn làm thợ sửa xe gắn máy và xe hơi, kéo
chú Triết xuống ở với tôi để ăn học. Chú Triết đậu vô Trường Petrus
Ký (nay là Trường trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong),
đến năm 1960 theo học cử nhân Toán tại Đại học Khoa học Sài Gòn,
tham gia phong trào đấu tranh của học sinh - sinh viên Sài Gòn.
Năm 1963, chú Triết vào chiến khu…”. Cách kể chuyện của ông Tư
mộc mạc. Ông Tư kể nhiều về những kỷ niệm tuổi thơ nghèo khó
thời đạn bom ở Phú An, những ngày sống vất vả ở Sài Gòn. Ông Tư
còn kể cả chuyện chú Triết gặp rồi cưới cô Chi. Cuối cuộc trò
chuyện với chúng tôi, ông Tư nhận xét: “Ngay từ nhỏ, chú Triết đã
thể hiện rõ là một người thông minh, tình cảm, sống đạo đức và có
chí khí cách mạng”.
3
Ngày 18 tháng 9 năm 2010, đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết làm trưởng đoàn tham gia khóa
họp lần thứ 65 Đại hội đồng Liên Hợp quốc tại New York, Hoa Kỳ
nhằm tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước,
thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Lịch làm
việc của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong 5 ngày ở đây đặc
kín.
Được tháp tùng ông trong chuyến đi này để đưa tin, viết bài,
chúng tôi chứng kiến sức làm việc mạnh mẽ của ông: gặp gỡ các
bạn bè Hoa Kỳ đã tích cực ủng hộ Việt Nam trong vụ kiện chất độc
da cam và các đại diện kiều bào tiêu biểu; dự lễ khai mạc hội nghị
cấp cao Liên Hợp quốc; phát biểu tại phiên toàn thể hội nghị cấp
cao Liên Hợp quốc; tiếp xúc song phương với Tổng Thư ký Liên
Hợp quốc; tiếp tổng thống và thủ tướng các nước: Đức, Na-mi-bi-a,
Cộng hòa Trung Phi, Phi-lip-pin, U-crai-na; dự lễ trao giải thưởng
“Xích đạo” của Liên Hợp quốc về đa dạng sinh học; gặp gỡ cựu
Tổng thống Hoa Kỳ Bin Clin-tơn; gặp gỡ lãnh đạo một số tập đoàn
lớn của Hoa Kỳ; dự và phát biểu về “Đầu tư tại Việt Nam” tại Hội
nghị Đầu tư toàn cầu; cùng Tổng thống Hoa Kỳ Ba-rắc Ô Ba-ma chủ
trì Hội nghị Hoa Kỳ - ASEAN…
Mặc dù làm việc căng thẳng như vậy, nhưng mỗi sáng Chủ tịch
nước Nguyễn Minh Triết vẫn dậy sớm xuống nhà ăn khách sạn ăn
sáng cùng bàn với các anh chị em trong đoàn, trò chuyện cởi mở,
vui vẻ. Ông luôn giữ phong thái đĩnh đạc của một nguyên thủ quốc
gia. Chúng tôi không bao giờ quên hình ảnh ông ung dung bước lên
bục phát biểu tại hội nghị cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp quốc vào
sáng 21 tháng 9 năm 2010: “Việt Nam trân trọng thông báo đã hoàn
thành trước thời hạn nhiều mục tiêu thiên niên kỷ và có thể đạt các
mục tiêu còn lại vào năm 2015. Đó là những thành tựu đầy phấn
khởi về xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học, thúc đẩy
bình đẳng giới, giảm tỷ lệ tử vong trẻ em, cải thiện sức khỏe bà mẹ,
đẩy lùi sốt rét và các bệnh dịch. Nhà nước Việt Nam thực hiện cam
kết qua việc cụ thể hóa các mục tiêu thiên niên kỷ, để thực hiện có
hiệu quả, lồng ghép các mục tiêu này vào chiến lược, kế hoạch,
chương trình phát triển ở các cấp, phát huy sự tham gia của người
dân. Các tiến bộ này gắn liền với những thành tựu của công cuộc
đổi mới toàn diện và sự hỗ trợ hiệu quả của cộng đồng quốc tế…”.
4
Từ Thành phố Hồ Chí Minh theo quốc lộ 13 đến cuối thành phố
Thủ Dầu Một, rẽ trái qua khỏi cầu Ông Cộ khoảng 2 ki-lô-mét là đặt
chân đến xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Thời kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước vùng đất này được gọi tên là chiến khu
“Tam giác sắt”. Dưới lòng đất nơi đây có cả một địa đạo dài 30 ki-lômét, là một dấu tích quý báu về lịch sử chiến tranh.
Xã Phú An hiện nay có diện tích 1.974 héc-ta, trong đó có trên
60 phần trăm là đất nông nghiệp, với trên 1.400 hộ dân. Người dân ở
đây không chỉ với nghề trồng lúa, cây ăn trái mà còn trồng cao su,
trồng điều, làm bánh tráng, nuôi thủy sản, kinh doanh dịch vụ… Hơn
chục nhà máy, xí nghiệp mới được xây dựng trên địa bàn xã cũng
đã giải quyết được nhiều việc làm cho người dân tại chỗ. Phú An
hiện có 1 trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở kiêm trung học
phổ thông, 1 trạm xá đạt chuẩn quốc gia. Tại làng Tre ở xã nay mới
mọc lên công trình Trung tâm Bảo tồn sinh thái Phú An. Những năm
2006 - 2011, người dân xã Phú An tự hào về một điều thú vị, bốn vị
chủ tịch đương nhiệm đều quê quán tại xã Phú An: Chủ tịch nước
Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương
Nguyễn Hoàng Sơn, Chủ tịch huyện Bến Cát Nguyễn Văn Khải và
Chủ tịch xã Phú An Nguyễn Văn Tuấn.
Những ngày cuối năm 2013, đoàn cán bộ Báo Sài Gòn giải
phóng đến Phú An thăm ông. Ông về sống ở đây được hơn 2 năm,
sau khi nghỉ hưu. Căn nhà tranh nằm sâu trong lộ nhỏ cạnh bến đò
xưa, nơi gắn liền với tuổi thơ của ông, nay được xây thành căn nhà
tường nhỏ. Ông niềm nở đón chúng tôi, trò chuyện, nhắc nhớ
những kỷ niệm với Báo Sài Gòn giải phóng, với Thành phố Hồ Chí
Minh. Ông hỏi thăm sức khỏe, công việc từng người. Ông không nói
nhiều về mình, chỉ kể về một số vi
---❊ ❖ ❊--Tác giả: Nhiều tác giả
Thể loại: Truyện - Kí
Nhà xuất bản: Quân Đội Nhân Dân
Đóng gói: @nguyenthanh-cuibap
KÝ ỨC RỪNG CHIẾN KHU Đ
TRƯƠNG NGUYÊN VIỆT
… Cho đến khi đặt chân tới Mã Đà - vùng rừng núi Chiến khu Đ
lịch sử ngày đánh Pháp, cũng đang là căn cứ địa đánh Mỹ lúc bấy
giờ, thì cả 28 anh em mới hiểu rằng mình đã về tới đất Mẹ, nước
mắt cùng chảy trên má họ. Miền Nam đây rồi. Quê hương đây rồi.
Đồng chí, đồng bào đây rồi. Các anh ùa hết xuống sông Đồng Nai,
vốc nước uống cho đã khát đã thèm, rồi quỳ xuống hất nước khắp
người cho đẫm ướt tình yêu…
T
ôi nghiệm ra rằng, mỗi cuộc kháng chiến của chúng ta đều
bắt đầu bằng những cuộc hành quân kỳ vĩ, với những khúc
quân hành cháy lửa, giàu sức thúc giục lòng người. Ấy là khi ta nhớ
lại những đoàn quân Nam tiến năm xưa, với tiếng hát: “Tiếng súng
vang sông núi miền Nam. Ầm đất nước Việt Nam. Ta muốn băng
mình tới phương Nam. Giết hết quân tham tàn…”. Ta lại nhớ tới
những đoàn quân xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước hôm qua: “Ta
vượt trên triền núi cao Trường Sơn. Đá mòn mà đôi gót không mòn.
Ta đi nhằm phương Nam gió ngàn đưa chân ta về quê hương. Quân
về trong gió đang dâng triều lên…”.
Nhưng, tôi cũng biết, còn rất nhiều cuộc hành quân thiêng liêng,
kỳ vĩ, nhưng lại hết sức âm thầm, lặng lẽ, không một khúc quân
hành trên môi. Anh Sáu Thượng (Nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Tây
Ninh) với hơn 30 năm sống đời chiến sĩ đang ngồi trước mặt tôi
đây, đã có nhiều cuộc hành quân như vậy. Một trong những cuộc
hành quân ấy chính là ngày trở về quê mẹ.
Cuối năm 1959, đang từ một đơn vị của Sư đoàn 338 (sư đoàn
của những cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết) đóng ở Xuân Mai
(Hòa Bình cũ), anh Sáu được Quân ủy Trung ương gọi về Hà Nội,
chuẩn bị công tác mới. Cả một sư đoàn hàng nghìn người, mà trên
chỉ gọi một vài anh em, hẳn là một nhiệm vụ gì quan trọng lắm. Một
linh cảm rạo rực trong anh: Hay mình chuẩn bị được trở về quê với
mẹ? Mới là linh cảm thôi, nhưng đã cảm thấy sung sướng và hạnh
phúc vô vàn…
Quê của anh - một làng nhỏ, tên gọi Đức Hòa, miền Chợ Lớn
cũ. Ở nơi ấy, má sinh ra anh, tiếng ru ầu ơ của người mẹ nghèo
suốt đời tê tái trong anh. Cha đi làm thuê được chút tiền nào, là
dành hết cho con theo thầy đi học chữ. Nhưng rồi mới được dăm ba
buổi, mẹ mất, nhà nghèo lại càng nghèo hơn, vậy là anh phải bỏ học
và lại theo nghề làm thuê cuốc mướn của cha.
Cái quê mẹ ấy của anh, nghèo thì thiệt nghèo, nhưng kiên
cường cách mạng thì không thua kém bất cứ một miền đất nào.
Năm mới 13 tuổi, chính mắt anh đã chứng kiến cả quê hương đứng
dậy làm Nam Kỳ khởi nghĩa. Trong đoàn người đi diệt tề, diệt lính ở
Giồng Cám, Mỹ Hạnh, có cha anh, có chú, bác và bà con ruột thịt
của anh. Máu cách mạng đã bắt đầu ngấm vô anh từ ấy. Rồi một
thời gian ngắn sau, khi phong trào bị đàn áp, tại trường bắn do quân
thù dựng lên, trái tim tuổi thơ của anh đã lần đầu nhói đau khi những
loạt đạn của quân thù bắn vô lồng ngực của người bác, người chú
ruột trong một chiều bị tử hình cùng với đồng chí Võ Văn Tần.
13 tuổi, lần đầu tiên anh thấy đau đớn khi những viên đạn của
quân thù bắn vào những người chiến sĩ cách mạng, bắn vào chú
bác ruột của mình, bắn vào quê hương, như bắn vào chính da thịt
của mình.
Đất Mẹ của anh là thế, nghèo và kiên cường. Anh lớn lên không
chỉ bằng bát cơm của cha, lời ru của mẹ, mà còn bằng cả không khí,
bằng cả phong trào cách mạng của quê hương. Chính từ nơi này,
ngày giặc Pháp quay lại gây hấn, anh đã ra đi làm một người chiến
sĩ, chiến đấu bảo vệ cách mạng, bảo vệ quê hương.
Những năm tháng đánh Pháp tuy chiến trường của anh không
ở ngay trên miền đất quê mình, nhưng sự cách xa cũng chẳng bao
nhiêu. Anh chỉ thật sự xa quê từ năm 1954, cùng đồng đội lên tàu ra
Bắc tập kết, hẹn hai năm sau trở về.
Hai năm, bốn năm, rồi gần sáu năm. Quân thù đã phản bội Hiệp
định, hằng mong biên giới của Hoa Kỳ vĩnh viễn kéo dài tới vĩ tuyến
17. Không những thế, biết bao tội ác của chúng gây ra chất chồng
trên đất Mẹ này. Với những người con của quê hương trên đất Bắc,
có thể nói rằng không bữa cơm nào được ngon, không giấc ngủ nào
được trọn, không chỉ vì nỗi thương nhớ quê hương, mà còn bởi sự
âu lo cho số phận bà con, cô bác, của quê hương đang bị quân thù
giày xéo.
Giờ đây, tất cả đang kêu gọi và chờ đón các anh trở về.
*
Ngay khi rời đơn vị về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, dù chưa biết
cụ thể là nhiệm vụ gì, nhưng linh cảm đã làm anh có cảm tưởng như
đã bắt đầu được lên đường, thực hiện khao khát của mình. Nhưng
nghiệt ngã làm sao, tới Hà Nội chưa được ấm chỗ, thì anh lại bị trả
về đơn vị.
Nguyên do là tất cả các anh em được đưa về để chuẩn bị nhận
nhiệm vụ mới này đều phải qua phòng khám sức khỏe. Khi khám
cho anh, đồng chí thiếu tá bác sĩ đã bàng hoàng khi phát hiện trong
buồng phổi của anh còn cả một mảnh đạn. Đó là một mảnh đạn của
giặc Pháp còn găm lại từ cuộc kháng chiến lần trước, mà tới giờ vẫn
chưa gắp ra được, hoặc nói đúng hơn là không thể lấy ra được nữa.
Và đây là lý do duy nhất để anh bị trả về.
Khi biết đích xác rằng việc các anh được tập trung về đây là để
chuẩn bị cho những đoàn quân đầu tiên trở về miền Nam chiến đấu
thì anh nhất quyết không chịu bó tay nữa. Không thể vì một vết đạn
“xoàng” ấy mà mất đi hạnh phúc lớn lao, không có tới lần thứ hai
trong đời. Anh nhất quyết ở lại, tìm đến cả các đồng chí lãnh đạo
cấp cao nhất của Đảng, của quân đội để trình bày nguyện vọng của
mình. Và rồi nhiệt tình cháy bỏng của anh đã được chấp thuận, anh
lại được ở lại để chuẩn bị lên đường.
Có thể nói, đây là một trong những đơn vị quân đội đầu tiên của
chúng ta vượt Trường Sơn trở về miền Nam chiến đấu. Các anh có
28 người, là những sĩ quan trẻ, quê ở miền Nam. Đồng chí Bùi
Thanh Vân (sau này là Trung tướng) là trưởng đoàn và anh Sáu
Thượng được làm bí thư chi bộ.
Trước ngày lên đường, các anh được đưa về tăng cường sức
mạnh chiến đấu ở một vùng rừng núi kín đáo, lặng lẽ thuộc tỉnh Hòa
Bình cũ. Mặc dù ở nơi xa xôi này, nhưng cả Bác Hồ, Bác Tôn, cả
các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng như: Lê Duẩn, Phạm
Hùng… đều đã lên thăm và trực tiếp giảng bài cho các anh. Có thể
nói, đó là những tình cảm vô cùng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân
dành cho những người con trở về miền Nam chiến đấu, hay nói
đúng hơn là dành cho cả miền Nam ruột thịt.
Anh nhớ đó là một buổi chiều đông, trong cái lạnh thấu da thấu
thịt của vùng núi rừng Tây Bắc, mặc dù bận trăm công nghìn việc, từ
Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ kính yêu đã vượt đường xa, gió lạnh để lên
thăm các anh. Đó là điều mà thật sự mọi người đều không ngờ tới.
Khi Bác xuất hiện, mọi người cùng đứng lặng đi, rồi cùng ào tới ôm
chầm lấy Bác.
Người ôm hôn từng người con, từng giọt máu của miền Nam
ruột thịt. Rồi Người thân mật căn dặn các anh rất kỹ lưỡng mọi điều
để có thể hoàn thành các nhiệm vụ lớn lao sắp tới. Và lời dặn cuối
cùng của Bác, làm mọi người không kìm được nước mắt:
- Các chú đi trước, nhớ chuyển lời thăm hỏi của Bác tới đồng
bào, đồng chí của miền Nam ruột thịt. Rồi nhất định một ngày, Bác
sẽ vô thăm miền Nam.
Thật sự, hơn tất cả mọi điều, ngay khi được nghe lời dặn dò
của Bác, mọi người đã muốn khoác ba lô lên đường ngay. Hãy sớm
mang tình cảm của Bác tới từng đồng bào, đồng chí, từng người
mẹ, người chị, người em của miền Nam quê hương. Bởi đó chính là
nguồn sức mạnh lớn lao cho cả miền Nam vượt qua hết thảy đau
thương, chết chóc, để vững bước trên con đường giải phóng.
Khi Bác ra về, các anh còn đứng lặng, vẫy tay theo mãi. Tay vẫy
mà nước mắt mọi người cứ rơi rơi. Bởi tất cả đều cùng hiểu rằng,
sẽ rất lâu nữa mới được gặp Bác. Ngày thống nhất, Bác sẽ vô thăm
miền Nam. “Thưa Bác, chúng con sẽ cùng quê hương chiến đấu hết
mình, cho mau chóng tới ngày thống nhất, để chúng con và cả miền
Nam lại được gặp Bác”.
Nghĩ vậy, nhưng không có ai có thể ngờ được rằng chỉ ít ngày
sau đó lại một lần nữa, các anh được gặp Bác. Bác và các đồng chí
lãnh đạo của Đảng, của quân đội đến tiễn đưa đơn vị lên đường.
Anh nhớ buổi ấy, anh được may mắn ngồi rất gần Bác. Khi Bác
mời cơm anh em, anh còn được Bác gắp thức ăn ngon cho vào bát
của mình nữa. Xúc động quá anh không ăn được. Nhìn sang Bác,
anh thấy bát cơm của Bác cũng vẫn đang đầy. Còn tay đũa của
Người thì chăm chăm gắp các món ăn cho từng chiến sĩ.
Anh cứ ngồi nhìn Bác, như nhìn một người Cha hết sức thiêng
liêng mà xiết bao gần gũi…
Cũng trong những ngày ở Hòa Bình chuẩn bị ra đi ấy, các anh
thường gặp một người anh lớn: Anh Ba, tên mà đông đảo cán bộ và
chiến sĩ miền Nam thường gọi đồng chí Lê Duẩn kính mến từ
những ngày đánh giặc Pháp ở chiến trường Nam Bộ.
Anh Ba thường đến với anh em giảng bài, thăm hỏi, tâm sự với
từng cán bộ, chiến sĩ. Mỗi lần gặp anh Ba như thế, dù là giữa vùng
rừng núi Tây Bắc, mọi người lại cứ ngỡ như đang lại được cùng
sống với anh Ba ở núi rừng Chiến khu Đ của quê hương Nam Bộ.
“Thưa anh Ba, tôi không sao quên được những ngày được
sống và chiến đấu gần anh ở Chiến khu Đ. Ngày đó gian khổ và ác
liệt quá phải không anh? Tôi nhớ có những thời gian anh em ngược
xuôi khắp nơi, ráng tìm được một chút dầu trắng cho anh thắp đèn
làm việc đêm, mà cũng còn hết sức khó khăn. Nhưng không bao giờ
chúng tôi quên anh đã nhường cho chúng tôi và các chiến sĩ bên
anh từng lon gạo trắng. Tôi còn nhớ hoài một lần anh Sáu Thọ (tức
đồng chí Lê Đức Thọ) đi công tác miền Tây về, lặn lội mang theo về
được ít lon gạo trắng. Anh em bàn để bồi dưỡng cho riêng anh, vậy
mà rồi nồi cơm nấu lên, anh lại gọi anh em tới xới cho mỗi người
lưng bát ăn cùng. Tôi nhớ hoài nụ cười của anh lúc đó: “Quà của
anh Sáu đó, anh em!”.
Thưa anh Ba, tới đây chúng tôi lại trở về chiến trường thân thiết
xưa. Có thể khó khăn, gian khổ, ác liệt còn nhiều hơn nữa, nhưng
trong chúng tôi, không một ai thối chí đâu anh. Chúng tôi hiểu sâu
sắc rằng, trái tim của Bác, của anh, của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân ta lúc này đang ở miền Nam. Trái tim những người chiến
sĩ chúng tôi đang ở đó. Chúng tôi sẽ nguyện hết sức mình để chiến
đấu giải phóng quê hương, thực hiện tốt những lời chỉ bảo của Bác,
của anh và của các đồng chí lãnh đạo khác…”.
Đã nhiều lần anh Sáu Thượng đã tính thưa với anh Ba như vậy,
nhưng rồi cứ mỗi lần tính nói, lại thấy cổ họng nghèn nghẹn. Dường
như anh Ba hiểu được điều đó. Cho nên mắt anh Ba cũng ánh lên
bao tình cảm thân thương…
Tháng 11, các anh lên đường. Do yêu cầu bí mật tuyệt đối, cuộc
hành quân này tuy trang nghiêm, nhưng hết sức lặng lẽ, không một
khúc quân hành vang theo.
Qua Nam Định, Thanh Hóa, Vinh… những xóm làng miền Bắc
thân yêu hằng ấp ủ và chấp cánh cho các anh trở về quê mẹ hôm
nay. Cho tới Vĩnh Linh, khi dòng sông Bến Hải bên trong, bên đục
hiện ra trước mắt, thì đơn vị đột ngột ngoặt sang một bến kín vượt
sông. Rồi từ đây, các anh bắt đầu cặp theo triền Trường Sơn đi miết
về phía Nam.
Hành trang trên vai mỗi người lúc ấy. Khoảng hơn 30 ki-lô-gam.
Ngoài một bộ quần áo và thuốc men, lương thực, còn lại là vũ khí.
Đây là những khẩu súng, những viên đạn… đầu tiên của miền Bắc
trang bị cho miền Nam. Cũng không thể không nhắc đến một mặt
hàng hết sức quan trọng khác mang trên vai các anh lúc đó là vàng.
Vàng của đất nước, của miền Bắc gửi cho miền Nam để chuẩn bị
bước vào cuộc chiến đấu mới.
Cả đơn vị cứ lặng lẽ đi men theo triền núi. Theo những con
đường do chính mình khai phá. Nhưng lại không được để lại một
dấu vết gì. Nhất là dấu giày, vết dép. Chính do vậy nên mọi người
phải lội đất trong khi đó thì giày dép lại phải mang cả trên vai. Cứ
đầu trần, chân đất như vậy mà vượt núi, băng rừng, đạp gai, dẫm
đá. Những buổi đầu đôi chân phồng rát lên, có người còn bị tướt cả
máu nữa. Nhưng đi mãi rồi cũng thành quen…
Riêng với anh Sáu, một hoàn cảnh khắc nghiệt hơn đến với
anh. Đi được quãng một phần ba chặng đường, bỗng thấy nhói bên
ngực phải. Cứ nghĩ do quai ba lô siết. Nhưng nới quai rồi vẫn thấy
đau, càng đi càng đau. Cho đến lúc anh ói, ói ra máu đỏ nọc. Đồng
đội nhìn anh ói mà nước mắt lưng tròng. Cái mảnh đạn tai quái
trong buồng phổi của anh đó, rình lúc căng thẳng, mệt mỏi, lại trỗi
dậy hành hạ anh. Trước tình hình sức khỏe của anh như vậy, chi bộ
họp và quyết định phải đưa anh trở lại miền Bắc. Nhưng với quyền
Bí thư, anh gắng thuyết phục mọi người cho mình đi tiếp. Có lẽ do
quá thông cảm và nể tình, cho nên mọi cánh tay lại giơ lên phủ
quyết lại quyết định trước đó của mình. Và rồi chính những cánh tay
đồng chí đã mở ra, gánh vác giùm anh những khối hành lý nặng nề
trên vai.
Mỗi chặng đường đi, lại gặp mỗi khó khăn mới. Càng về cuối
con đường, lương thực càng vơi cạn.
Cho đến lúc chỉ còn lại những lon gạo cuối cùng. Chi bộ lại phải
họp và quyết định từ đây chỉ được ăn rau rừng, dành phần gạo còn
rất ít ỏi đó phòng những trường hợp thật đặc biệt. Hai tháng trời
ròng rã chỉ ăn rau rừng, lá rừng, người ai cũng xanh mướt. Mãi cho
tới lúc gần tới Phước Long, anh Sáu mới reo lên với anh em:
- Yên tâm đi! Sắp tới Phước Long rồi. Bí thư ở đó là anh Bảy
Thẩm, trước kia mình rất thân. Mai này qua đó, mình sẽ vô xin chi
viện cho chúng mình lương thực…
Khi đi ngang qua vùng căn cứ Bà Rịa, anh Sáu Thượng dặn
anh em đứng chờ bên ngoài, để anh tìm vô căn cứ của các đồng chí
Tỉnh ủy Phước Long. Nhưng thiệt không thể tưởng tượng nổi, trong
những rừng le, anh Bảy Thẩm cùng ba đồng chí còn sót lại của Tỉnh
ủy đang phải chịu đựng một cuộc sống gian khổ gấp nhiều lần nỗi
cực khổ của các anh. Hàng tháng trời nay các đồng chí trong Tỉnh
ủy này không có lấy một hạt bắp, chứ đừng nói gì hạt gạo để ăn.
Ngoài ra, lại còn bị bệnh tật, sốt rét triền miên mà cũng không có lấy
một viên thuốc. Nhìn thấy các đồng chí còn da bọc xương, anh Sáu
ôm lấy anh Bảy mà nước mắt giàn giụa trên má. Mãi rất lâu, anh
Bảy mới run run đề nghị:
- Mới ở miền Bắc vô, còn gạo ủng hộ cho bọn mình với…
Anh Sáu lặng lẽ đi ra ngoài, ngồi kể lại với anh em. Và mọi
người dồn hết số gạo còn lại cho các đồng chí Phước Long. Riêng
anh Sáu còn lại một củ sâm duy nhất mà Trung ương dành bồi
dưỡng cho các anh phòng khi đi đường, anh cũng mang vô tặng
anh Bảy và anh em ở Tỉnh ủy…
*
Cho đến khi đặt chân tới Mã Đà, vùng rừng núi Chiến khu Đ lịch
sử ngày đánh Pháp, cũng đang là căn cứ địa đánh Mỹ lúc bấy giờ,
thì cả 28 anh em mới hiểu rằng mình đã về tới đất Mẹ, nước mắt
cùng chảy trên má họ. Miền Nam đây rồi. Quê hương đây rồi. Đồng
chí, đồng bào đây rồi. Các anh ùa hết xuống sông Đồng Nai, vốc
nước uống cho đã khát đã thèm, rồi quỳ xuống hất nước khắp
người cho đẫm ướt tình yêu…
Trước mắt họ là những cánh rừng già trang nghiêm. Nơi đây,
suốt bao năm đen tối qua, bao trái tim kiên cường của Đảng, của
quê hương vẫn thao thức bền bỉ nhen nhóm ngọn lửa đánh Mỹ. Khi
các anh vừa đặt chân tới, tất cả các đồng chí có mặt ở chiến khu lúc
ấy cùng ùa ra mở rộng vòng tay ôm chầm lấy anh em, mừng mừng
tủi tủi. Thay mặt toàn đoàn, anh Vân, anh Sáu Thượng đã báo cáo
lại với các đồng chí trong Khu ủy tình cảm của Bác, của Trung
ương, của quân đội, và cả của nhân dân miền Bắc với miền Nam.
Rồi các anh trao lại cho Khu ủy tất cả súng đạn và vàng bạc, máy
móc mà Trung ương trang bị cho Cách mạng miền Nam. Cầm
những khẩu súng trên tay, các đồng chí Khu ủy cùng run lên vì xúc
động. Võ khí của Đảng đây rồi. Võ trang đây rồi. Có võ khí, có võ
trang, có quân đội là có ngày chiến thắng.
Một thời gian rất ngắn sau, vào tháng 7 năm 1961 từ 28 cán bộ
quân đội này, tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Chiến trường Nam Bộ
được thành lập. Đồng chí Hai Xô - Thường vụ Khu ủy phụ trách
quân sự chỉ rõ: “Tiểu đoàn đầu tiên là đốm lửa, và sau này cháy
thành rừng lửa để góp phần cùng toàn quân đánh thắng giặc Mỹ
xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…”.
Từ tiểu đoàn đầu tiên đó, chiến dịch sau đã trở thành Trung
đoàn Bình Giã và rồi trưởng thành lên thành một sư đoàn anh hùng.
Và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, sư đoàn đã góp phần
xứng đáng vào trận cuối cùng quét sạch Mỹ, ngụy trên đất nước
chúng ta, hoàn thành sứ mệnh lịch sử và lời hứa thiêng liêng của
những cán bộ, chiến sĩ đầu tiên đã hứa trước Trung ương và Bác
Hồ yêu quý ngày trở về quê hương…
(Bài đã in Báo Nhân dân)
NỤ CƯỜI ÔNG SÁU PHONG
NGUYỄN KHẮC VĂN
1
T
ôi được gặp ông lần đầu tiên trong buổi họp mặt đầu Xuân
1992 tại Tòa soạn Báo Sông Bé, lúc ấy ông tròn 50 tuổi, vừa
được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, giữ chức
vụ Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé. Là sinh viên mới ra trường, được dự
buổi họp mặt có lãnh đạo cao cấp, tôi dán mắt vào ông, nghe ông
nói như nuốt từng lời. Ông nói giọng miền Nam ấm áp, thỉnh thoảng
nở nụ cười thật đẹp, thật tươi.
Những năm sau đó, cả nước chứng kiến sự trỗi dậy của tỉnh
Sông Bé - Bình Dương, đặc biệt là về thu hút đầu tư (Ngày 1 tháng 1
năm 1997, tỉnh Sông Bé được tách thành hai tỉnh Bình Dương và
Bình Phước). Ông Sáu Phong - Nguyễn Minh Triết, Bí thư Tỉnh ủy
Bình Dương được dư luận trong và ngoài nước chú ý với câu nói
nổi tiếng: “Bình Dương trải chiếu hoa mời gọi đầu tư, trải thảm đỏ
thu hút nhân tài”. Và không chỉ nói, ông cùng lãnh đạo tỉnh Bình
Dương thời kỳ đó vận hành cơ chế “một cửa” để phục vụ các nhà
đầu tư, tranh thủ tối đa cơ hội hợp tác đầu tư. Từ đó, Bình Dương
“ăn nên làm ra” và trở thành thành viên của vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam. Cũng từ đó, hình ảnh ông Sáu Phong xuất hiện ngày
càng nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Rồi ông
tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ
Chính trị các khóa tiếp theo, giữ các trọng trách: Trưởng ban Dân
vận Trung ương, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch
nước. Ở cương vị nào ông cũng thể hiện phong thái đĩnh đạc của
một chính khách, với nụ cười tươi tắn, đôn hậu.
2
Ông Tư Kinh Nghiệm (tên thật là Nguyễn Văn Chóa, anh ruột
của ông Sáu Phong) lúc sinh thời có kể cho chúng tôi: “Cha mẹ tôi
có tám người con. Chú Triết là con thứ sáu, hồi đó ở nhà gọi là Bảy
Triết. Thời gian hoạt động cách mạng, chú Triết lấy bí danh là Trần
Phong - Sáu Phong. Hồi nhỏ chú Triết học giỏi, học nhảy một năm
mà thi đâu đậu đó. Nhà nghèo, ngoài giờ học, chú Triết còn phải đi
chèo đò. Tôi xuống Sài Gòn làm thợ sửa xe gắn máy và xe hơi, kéo
chú Triết xuống ở với tôi để ăn học. Chú Triết đậu vô Trường Petrus
Ký (nay là Trường trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong),
đến năm 1960 theo học cử nhân Toán tại Đại học Khoa học Sài Gòn,
tham gia phong trào đấu tranh của học sinh - sinh viên Sài Gòn.
Năm 1963, chú Triết vào chiến khu…”. Cách kể chuyện của ông Tư
mộc mạc. Ông Tư kể nhiều về những kỷ niệm tuổi thơ nghèo khó
thời đạn bom ở Phú An, những ngày sống vất vả ở Sài Gòn. Ông Tư
còn kể cả chuyện chú Triết gặp rồi cưới cô Chi. Cuối cuộc trò
chuyện với chúng tôi, ông Tư nhận xét: “Ngay từ nhỏ, chú Triết đã
thể hiện rõ là một người thông minh, tình cảm, sống đạo đức và có
chí khí cách mạng”.
3
Ngày 18 tháng 9 năm 2010, đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết làm trưởng đoàn tham gia khóa
họp lần thứ 65 Đại hội đồng Liên Hợp quốc tại New York, Hoa Kỳ
nhằm tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước,
thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Lịch làm
việc của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong 5 ngày ở đây đặc
kín.
Được tháp tùng ông trong chuyến đi này để đưa tin, viết bài,
chúng tôi chứng kiến sức làm việc mạnh mẽ của ông: gặp gỡ các
bạn bè Hoa Kỳ đã tích cực ủng hộ Việt Nam trong vụ kiện chất độc
da cam và các đại diện kiều bào tiêu biểu; dự lễ khai mạc hội nghị
cấp cao Liên Hợp quốc; phát biểu tại phiên toàn thể hội nghị cấp
cao Liên Hợp quốc; tiếp xúc song phương với Tổng Thư ký Liên
Hợp quốc; tiếp tổng thống và thủ tướng các nước: Đức, Na-mi-bi-a,
Cộng hòa Trung Phi, Phi-lip-pin, U-crai-na; dự lễ trao giải thưởng
“Xích đạo” của Liên Hợp quốc về đa dạng sinh học; gặp gỡ cựu
Tổng thống Hoa Kỳ Bin Clin-tơn; gặp gỡ lãnh đạo một số tập đoàn
lớn của Hoa Kỳ; dự và phát biểu về “Đầu tư tại Việt Nam” tại Hội
nghị Đầu tư toàn cầu; cùng Tổng thống Hoa Kỳ Ba-rắc Ô Ba-ma chủ
trì Hội nghị Hoa Kỳ - ASEAN…
Mặc dù làm việc căng thẳng như vậy, nhưng mỗi sáng Chủ tịch
nước Nguyễn Minh Triết vẫn dậy sớm xuống nhà ăn khách sạn ăn
sáng cùng bàn với các anh chị em trong đoàn, trò chuyện cởi mở,
vui vẻ. Ông luôn giữ phong thái đĩnh đạc của một nguyên thủ quốc
gia. Chúng tôi không bao giờ quên hình ảnh ông ung dung bước lên
bục phát biểu tại hội nghị cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp quốc vào
sáng 21 tháng 9 năm 2010: “Việt Nam trân trọng thông báo đã hoàn
thành trước thời hạn nhiều mục tiêu thiên niên kỷ và có thể đạt các
mục tiêu còn lại vào năm 2015. Đó là những thành tựu đầy phấn
khởi về xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học, thúc đẩy
bình đẳng giới, giảm tỷ lệ tử vong trẻ em, cải thiện sức khỏe bà mẹ,
đẩy lùi sốt rét và các bệnh dịch. Nhà nước Việt Nam thực hiện cam
kết qua việc cụ thể hóa các mục tiêu thiên niên kỷ, để thực hiện có
hiệu quả, lồng ghép các mục tiêu này vào chiến lược, kế hoạch,
chương trình phát triển ở các cấp, phát huy sự tham gia của người
dân. Các tiến bộ này gắn liền với những thành tựu của công cuộc
đổi mới toàn diện và sự hỗ trợ hiệu quả của cộng đồng quốc tế…”.
4
Từ Thành phố Hồ Chí Minh theo quốc lộ 13 đến cuối thành phố
Thủ Dầu Một, rẽ trái qua khỏi cầu Ông Cộ khoảng 2 ki-lô-mét là đặt
chân đến xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Thời kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước vùng đất này được gọi tên là chiến khu
“Tam giác sắt”. Dưới lòng đất nơi đây có cả một địa đạo dài 30 ki-lômét, là một dấu tích quý báu về lịch sử chiến tranh.
Xã Phú An hiện nay có diện tích 1.974 héc-ta, trong đó có trên
60 phần trăm là đất nông nghiệp, với trên 1.400 hộ dân. Người dân ở
đây không chỉ với nghề trồng lúa, cây ăn trái mà còn trồng cao su,
trồng điều, làm bánh tráng, nuôi thủy sản, kinh doanh dịch vụ… Hơn
chục nhà máy, xí nghiệp mới được xây dựng trên địa bàn xã cũng
đã giải quyết được nhiều việc làm cho người dân tại chỗ. Phú An
hiện có 1 trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở kiêm trung học
phổ thông, 1 trạm xá đạt chuẩn quốc gia. Tại làng Tre ở xã nay mới
mọc lên công trình Trung tâm Bảo tồn sinh thái Phú An. Những năm
2006 - 2011, người dân xã Phú An tự hào về một điều thú vị, bốn vị
chủ tịch đương nhiệm đều quê quán tại xã Phú An: Chủ tịch nước
Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương
Nguyễn Hoàng Sơn, Chủ tịch huyện Bến Cát Nguyễn Văn Khải và
Chủ tịch xã Phú An Nguyễn Văn Tuấn.
Những ngày cuối năm 2013, đoàn cán bộ Báo Sài Gòn giải
phóng đến Phú An thăm ông. Ông về sống ở đây được hơn 2 năm,
sau khi nghỉ hưu. Căn nhà tranh nằm sâu trong lộ nhỏ cạnh bến đò
xưa, nơi gắn liền với tuổi thơ của ông, nay được xây thành căn nhà
tường nhỏ. Ông niềm nở đón chúng tôi, trò chuyện, nhắc nhớ
những kỷ niệm với Báo Sài Gòn giải phóng, với Thành phố Hồ Chí
Minh. Ông hỏi thăm sức khỏe, công việc từng người. Ông không nói
nhiều về mình, chỉ kể về một số vi
 









Các ý kiến mới nhất