Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
_nguoi-dua-dieu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:29' 02-02-2026
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:29' 02-02-2026
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục Lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Phụ Lục
Chương 1
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tháng Mười hai năm 2001
Tôi đã trở thành tôi như ngày hôm nay từ tuổi mười hai, vào một ngày
lạnh lẽo, ảm đạm mùa đông năm 1975. Tôi nhớ chính xác lúc đó đang khom
người sau bức tường đất sụp đổ, nhòm trộm vào lối nhỏ gần khe suối đóng
băng. Thời đó lâu lắm rồi, nhưng tôi biết những gì người ta nói về quá khứ,
mà tôi đã học được, về việc anh có thể chôn vùi nó đi, là một điều sai lầm.
Bởi vì quá khứ còn đang thay đổi. Bây giờ nhìn lại, tôi nhận ra tôi vẫn đang
nhòm vào cái lối nhỏ hoang vắng đó suốt hai mươi sáu năm qua.
Mùa hè vừa rồi, một hôm chú Rahim Khan gọi cho tôi từ Pakistan. Chú
yêu cầu tôi tới gặp chú. Đứng trong bếp, với máy nghe bên tai, tôi hiểu đó
không phải là chú Rahim Khan trên máy. Đó là quá khứ tội lỗi không được
chuộc của tôi. Sau khi treo máy, tôi đi dạo bộ dọc theo Hồ Spreckels ở phía
bắc công viên Cổng Vàng. Mặt trời buổi chiều sớm lấp lánh nước hồ, trên đó
hàng chục nhưng chiếc thuyền con đang giong buồm theo làn gió nhẹ khô.
Rồi tôi liếc nhìn lên, thấy một đôi diều màu đỏ với những chiếc đuôi đài màu
xanh lơ bay vút lên trời. Đôi diều nhào lộn tầng không, bên trên những hàng
cây đầu phía Tây công viên, bay qua những cối xay gió, bồng bềnh bên nhau
như một cặp mắt đang nhìn xuống San Francisco, thành phố giờ đây tôi gọi
là quê hương. Và bất chợt giọng nói của Hassan thì thào trong đầu tôi: vì
cậu, cả ngàn lần rồi. Hassan người đua diều môi hẻ.
Tôi ngồi trên băng ghế công viên cạnh một cây liễu rủ. Tôi nghĩ tới điều
gì đó Rahim Khan đã nói trước khi cúp máy, gần như chợt nghĩ thêm: luôn
có một con đường để tốt lành trở lại. Tôi ngước nhìn cặp diều sinh đôi. Tôi
nghĩ về Hassan. Nghĩ về Baba, Ali, Kabul. Tôi nghĩ về cuộc đời tôi đã từng
sống, cho tới khi mùa đông năm 1975 ập đến, làm thay đổi tất cả. Và khiến
tôi trở thành tôi như ngày hôm nay.
Chương 2
Khi còn là hai đứa trẻ, Hassan và tôi thường trèo lên những cây bạch
dương trên con đường xe chạy vào nhà cha tôi, và dùng một mảnh gương
chiếu ánh nắng vào nhà những người hàng xóm của chúng tôi làm họ tức
giận. Chúng tôi thường ngồi chéo nhau, trên một cặp cành cây cao, chân trần
đung đưa, túi quần đầy quả dâu tằm phơi khô và quả óc chó, thay nhau chiếu
gương, vừa ăn dâu tằm vừa ném vào nhau, khúc khích, cười vang. Tôi vẫn
như còn thấy Hassan trên cái cây đó, nắng lung linh xuyên qua kẽ lá chiếu
lên khuôn mặt gần như tròn xoe của cậu, một khuôn mặt giống như búp bê
Tàu được gọt từ gỗ cứng: mũi nở và tẹt, mắt vừa hẹp vừa xếch như lá tre, đôi
mắt nếu nhìn vào, tuỳ theo ánh sáng, lúc vàng, lúc xanh, lúc cả màu ngọc
bích nữa. Tôi vẫn có thể thấy đôi tai nhỏ mọc thấp, và mẩu cằm nhô ra có vẻ
như đắp thêm chút thịt, như sau đó mới thêm vào. Và chiếc môi hẻ tách ra ở
chính giữa, nơi mà người làm búp bê Tàu có thể đã để trượt đồ nghề, hoặc có
lẽ lúc đó chỉ đơn giản thấm mệt thành ra bất cẩn.
Đôi khi ngồi trên những ngọn cây đó, tôi xui Hassan lấy súng cao su bắn
quả óc chó vào con chó chăn cừu giống Đức chột mắt của ông hàng xóm.
Hassan chẳng bao giờ muốn vậy, nhưng nếu tôi yêu cầu, thực sự yêu cầu,
cậu sẽ không từ chối. Hassan chẳng bao giờ từ chối tôi bất cứ điều gì. Và cậu
bắn súng cao su chính xác chết người. Cha của Hassan, ông Ali, thường bắt
gặp chúng tôi và phát điên lên, điên theo cách người hiền hậu như Ali có thể
làm được. Ông thường bật ngón tay, vẫy chúng tôi tụt xuống. Ông giật lấy
mảnh gương và bảo chúng tôi bà nội của Hassan đã dạy ông rằng quỷ dữ
cũng chiếu những mảnh gương, chiếu để làm rối trí các tín đồ Hồi giáo trong
lúc cầu nguyện. Ông luôn quắc mắt nhìn con trai mình nói thêm “và quỷ
cũng cười hô hố trong khi làm như vậy.”
“Vâng, thưa cha”, Hassan thường lẩm bẩm, vừa nhìn xuống dưới chân.
Nhưng không bao giờ cậu đổ cho tôi. Không bao giờ nói rằng mảnh gương
cũng như việc bắn quả óc chó vào con chó của ông láng giềng luôn luôn là
trò nghịch ngợm của tôi.
Những cây bạch dương xếp thành hàng dọc con đường xe chạy lát gạch
đỏ dẫn tới đôi cổng sắt uốn. Đôi cổng kế tiếp mở vào phần mở rộng của
đường xe vào tư dinh của cha tôi. Ngôi nhà toạ lạc phía bên trái con đường
gạch, sân sau ở cuối đường.
Mọi người đều đồng ý là cha tôi, tức Baba của tôi, đã xây một ngôi nhà
đẹp nhất quận Wazir Akar Khan, vùng phụ cận mới và giàu có ở phần Bắc
Kabul. Vài người còn nghĩ đó là ngôi nhà xinh đẹp nhất trong toàn bộ Kabul.
Một lối vào rộng, hai bên là những khóm hồng dẫn tới một toà nhà trải dài
với sàn nhà bằng đá cẩm thạch và những cửa sổ rộng. Những viên gạch
khảm khắc cầu kỳ, mà Baba tự tay lựa chọn ở Isfahan, được lát cho sàn của
bốn phòng tắm. Những tấm thảm thêu sợi vàng, Baba mua ở Calcutta, chăng
dọc các bức tường. Một chùm đèn phalê treo dưới vòm trần.
Trên gác là phòng ngủ của tôi, phòng ngủ của Baba, phòng đọc của ông,
còn được coi như “phòng hút”, nơi không ngừng toả ra mùi thuốc lá và mùi
quế. Baba và bạn ông ngả người trên chiếc ghế đệm da màu đen ở đó, sau
khi Ali đã phục vụ cơm tối. Họ nhồi tẩu thuốc – riêng Baba luôn gọi đó là
“vỗ béo tẩu thuốc” – và tranh luận về ba đề tài ưa thích: chính trị, kinh doanh
và bóng đá. Đôi khi tôi hỏi Baba liệu tôi có thề ngồi cùng họ được không,
nhưng Baba thường đúng chặn trước cửa và nói “Làm việc của con đi, nhanh
lên nào. Giờ là lúc người lớn nói chuyện. Sao con không đọc một cuốn sách
nào đó của con?” Ông thường đóng cửa lại, để mặc tôi ngạc nhiên không
hiểu tại sao ông cứ “lúc người lớn nói chuyện” mãi thế. Tôi thường ôm đầu
gối ngồi ngay bên cửa. Đôi khi tôi ngồi đó một tiếng đồng hồ, có khi hai
tiếng, lắng nghe họ cười, họ chuyện gẫu với nhau.
Phòng khách ở tầng dưới có một bức tường cong với những chiếc tủ đóng
theo phong cách truyền thống. Trong phòng treo nhưng bức hình gia đình.
Một tấm ảnh giấy lụa cũ của ông nội tôi và quốc vương Nadir Shah chụp
năm 1931, hai năm trước khi quốc vương bị ám sát. Hai người đang đứng
bên ngắm một con nai chết, chân đi ủng cao tận đầu gối, súng khoác qua vai.
Kia là một bức hình đêm cưới cha mẹ tôi, Baba sang trọng trong bộ lễ phục
đen và mẹ tôi váy trắng với nụ cười của một nữ quận chúa trẻ. Đây là Baba
và người bạn quý nhất, bạn kinh doanh của ông, chú Rahim Khan, đứng
trước nhà của chúng tôi, chẳng ai mỉm cười. Tôi là đứa bé trong bức ảnh,
Baba đang bế tôi, trông có vẻ mệt mỏi ra nghiêm khắc. Tôi ở trong tay ông,
nhưng những ngón tay tôi cong lên ngoắc lấy ngón út của chú Rahim Khan.
Bức tường cong dẫn vào phòng ăn, giữa phòng là một chiếc bàn bằng gỗ
gụ có thể phục vụ thoải mái ba mươi thực khách – và hợp với sở thích của
cha tôi, những bữa tiệc cực kỳ tốn kém hầu như tuần nào cũng có. Ở đầu kia
của phòng ăn là một lò sưởi cao lớn bằng đá cẩm thạch, luôn luôn cháy sáng
ngọn lửa màu da cam trong suốt mùa đông.
Một cửa kính trượt rộng lớn mở ra cái hiên bán nguyệt bao quát non một
hécta đất phía sau và những hàng cây anh đào. Baba và Ali đã trồng một
vườn rau nhỏ dọc theo dãy tường Phía Đông, gồm cà chua, húng bạc hà, ớt
và cả một hàng ngô chẳng bao giờ thu hoạch mà Hassan và tôi quen gọi là
“Bức tường Ngô ốm”.
Đầu phía Nam của khu vườn, dưới bóng cây sơn trà là nhà của những
người giúp việc, một túp lều nhỏ tường đất khiêm tốn, nơi Hassan sống cùng
với bố mình.
Chính ở đó, trong túp lều nhỏ ấy, Hassan được sinh ra vào mùa đông năm
1964, đúng một năm sau khi mẹ tôi mất lúc sinh tôi.
Mười tám năm sống trong ngôi nhà này, tôi chỉ bước vào lãnh địa của
Hassan và Ali một vài lần. Khi mặt trời xuống thấp sau những dãy đồi và
chúng tôi đã chơi đùa hết cả ngày, Hassan và tôi ai về đường nấy. Tôi đi qua
những khóm hoa hồng về toà lầu của Baba, Hassan về túp lều đất nơi cậu đã
được sinh ra, nơi cậu sống đời mình. Tôi vẫn còn nhớ nơi đó vắng vẻ, sạch
sẽ và leo lét sáng nhờ hai cây đèn dầu. Có hai tấm đệm ở hai phía đối diện
căn lều, ở giữa là một tấm thảm Herati nhỏ đã cũ, xung quanh mòn xơ, một
chiếc ghế đẩu ba chân và chiếc bàn gỗ ở góc nhà đề Hassan vẽ tranh. Tường
xung quanh trần trụi, ngoại trừ một tấm thảm duy nhất đính các hạt cườm
thành mấy từ Allah-u-akbar[1], Baba đã mua nó cho ông Ali trong một
chuyến đi Mashad.
Chính trong túp lều đó mà mẹ của Hassan, bà Sanaubar đã sinh ra cậu vào
một ngày đông giá năm 1964. Trong khi mẹ tôi băng huyết chết khi sinh tôi,
Hassan lại mất mẹ lúc sinh ra chưa được một tuần. Mất mẹ, thì hầu hết người
Afghan đều coi là còn tệ hại hơn mẹ chết nhiều: Bà ấy bỏ đi theo một bộ tộc
vũ công và du ca.
Hassan chẳng bao giờ nói về mẹ, như thể bà ấy chưa bao giờ tồn tại. Tôi
luôn luôn thắc mắc không hiểu liệu cậu có mơ thấy mẹ mình không, bà ấy
trông như thế nào và đang ở đâu. Tôi không hiểu liệu cậu có mong gặp mẹ
không. Cậu có đau khổ về mẹ như tôi đau khổ vì không bao giờ được gặp
mẹ? Một hôm, chúng tôi đang cuốc bộ từ ngôi nhà của cha tôi đến rạp chiếu
phim Zainab để xem bộ phim mới của Iran. Chúng tôi đã di tắt qua trại lính
gần trường trung học Istiqlal – Baba đã cấm chúng tôi đi lối tắt ấy, nhưng lúc
này ông cùng chú Rahim Khan đang ở Pakistan. Chúng tôi nhảy qua hàng
rào vây quanh doanh trại, băng qua khe nước nhỏ và đột nhập vào một bãi
đất trống bẩn thỉu có những chiếc xe tăng cổ lỗ bỏ hoang phủ đầy bụi. Đám
lính tụ tập dưới bóng một chiếc xe tăng vừa hút thuốc lá vừa đánh bài. Một
gã trông thấy chúng tôi, huých khuỷu tay vào gã ngồi bên, gọi Hassan.
- Ê thằng nhỏ, – hắn nói. – Tao biết mày đấy.
Trước đó, chúng tôi đã bao giờ gặp hắn đâu. Hắn là một gã đàn ông to bè,
thấp béo, đầu cạo trọc, râu đen lởm chởm trên mặt. Cái cách hắn nhăn nhở
cười với chúng tôi, liếc nhìn dâm dật khiến tôi hoảng sợ. “Kệ, cứ đi,” tôi
lúng búng bảo Hassan.
- Mày! Thằng Hazara![2]Hãy nhìn tao khi tao nói với mày, – tên lính sủa.
Hắn đưa điếu thuốc đang hút cho thằng ngồi bên, một tay ngoắc ngón cái
vào ngón trỏ thành một vòng tròn. Ngón giữa tay bên kia thọc vào vòng tròn
đó. Thọc vào thọc ra. Thọc vào, thọc ra, – tao biết mẹ mày đấy, mày có hiểu
không? Tao biết mẹ mày hàng thật. Tao chơi mẹ mày từ phía sau, bên khe
nước, chỗ kia kìa.
Bọn lính cười rộ. Một tên trong bọn kêu ré lên. Tôi bảo Hassan cứ đi, kệ
cứ đi.
- Cái lều[3] xinh xinh nhỏ xíu của mẹ mày mới mùi mẫn làm sao!
Tên lính vừa nói vừa nhăn nhở cười, bắt tay những tên khác.
Lát sau, trong bóng tối, sau khi bộ phim bắt đầu chiếu, tôi nghe tiếng
Hassan ngồi bên tôi đang sụt sịt. Nước mắt chảy ròng ròng trên đôi má. Tôi
ngồi xích lại, dang cánh tay ôm lấy người cậu, kéo cậu sát vào tôi. Cậu ngả
đầu lên vai tôi. “Hắn nhầm cậu với ai đấy,” tôi thì thào. “Hắn nhầm cậu với
ai mà!”
Tôi nghe nói chẳng một ai thực sự ngạc nhiên khi Sanaubar bỏ nhà đi.
Mọi người đều phải nhướn mày khi Ali, một người đàn ông làu làu kinh
Koran, cưới Sanaubar, người đàn bà mười chín, trông trẻ hơn tuổi, một
người đàn bà đẹp nhưng tai tiếng, buông thả, sống bất chấp nhưng điều ô
nhục. Cũng giống như Ali, bà ta là một tín đồ Hồi giáo Shi'a và thuộc chủng
tộc Hazara. Bà cũng là em họ, con cô con cậu của ông và điều đó dẫn đến sự
chọn lựa tự nhiên cho hôn phối. Nhưng ngoài sự tương đồng ấy, Ali và
Sanaubar hầu như chẳng có điểm giống nhau nào, ít nhất là mọi vẻ bề ngoài
tương ứng. Trong khi đôi mắt Sanaubar long lanh xanh biếc, bộ mặt ranh
ma, nghe đồn đã dụ dỗ không biết bao nhiêu đàn ông rơi vào tội lỗi, thì Ali
lại bị liệt bẩm sinh cơ mặt dưới, nguyên nhân khiến ông không thể mỉm
cười, khiến ông mãi mãi có bộ mặt nghiêm khắc. Nếu thấy được bộ mặt như
đá tạc của Ali sung sướng hoặc buồn rầu thì đó là một điều kỳ lạ, bởi vì chỉ
có đôi mắt xếch màu nâu của ông loé lên thay cho nụ cười và tuôn ra nỗi sầu.
Người ta bảo đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Chẳng bao giờ có trường hợp
nào đúng hơn thế với Ali, con người chỉ có thể thổ lộ tâm can mình qua đôi
mắt.
Tôi nghe đồn rằng những bước đi khêu gợi và cái hông đung đưa của
Sanaubar đã khiến bao người đàn ông phải mơ đến cảnh phản bội vợ con.
Nhưng bệnh viêm tuỷ xám gây bại liệt đã để lại cho Ali chân phải vặn vẹo,
teo cơ, lớp da vàng sạm bên dưới chỉ là một lớp cơ mỏng bọc xương. Tôi
nhớ một hôm, năm tôi tám tuổi, Ali đem tôi ra phố chợ[4] mua một ít bánh
naan[5]. Tôi bước phía sau ông, bụm miệng, cố bắt chước bước đi của ông.
Tôi quan sát ông ngoáy chiếc chân khẳng khiu theo một vòng cung quét đất.
Tôi quan sát toàn thân ông nghiêng một cách khó khăn về bên phải mỗi lần
ông đặt chân đó xuống. Mỗi bước đi như vậy mà ông không bị lật nhào
dường như đã là một điều thần kỳ nho nhỏ. Khi cố bắt chước ông, tôi suýt bị
ngã xuống rãnh nước. Khiến tôi khúc khích cười. Ali quay lại, bắt gặp tôi
nhại theo ông. Ông không nói gì. Không lúc ấy. Không bao giờ hết. Ông chỉ
tiếp tục bước đi.
Bộ mặt của Ali và bước đi của ông làm đám trẻ nhỏ trong vùng hoảng sợ.
Nhưng điều phiền nhiễu thực sự là những đứa lớn hơn. Chúng bám theo ông
trên đường phố, và nhại theo ông mỗi khi ông cà nhắc đi qua. Có đứa còn
gọi ông là Bababu hay Ngoáo ộp. “Ê, Bababu, hôm nay ăn thịt ai rồi.”
Chúng đồng thanh sủa lên và cười phá. “Đồ Batabu Mũi Tẹt, mi ăn thịt ai
rồi?”
Chúng gọi ông là “đồ mũi tẹt” bởi vì Ali và Hassan mang đặc trưng chủng
tộc Hazara gốc Mông Cổ. Đã bao năm rồi, tất cả những gì tôi biết về người
Hazara là họ là hậu duệ của người Mông Cổ thời Đế chế Mogul và trông
giống như những người Trung Hoa bé nhỏ. Sách giáo khoa trong nhà trường
chỉ nhắc đến tổ tiên họ một cách qua loa. Thế rồi một hôm, tôi ở trong phòng
đọc của Baba, xem qua những sách linh tinh của ông, tôi tìm thấy một trong
những cuốn cổ sử của mẹ tôi. Cuốn sách do một người Iran có tên là
Khorami viết. Tôi thổi bụi đi, lén đem nó về giường tôi đêm đó, và sửng sốt
thấy cả một chương về lịch sử của người Hazara. Cả một chương riêng về
dân tộc của Hassan! Trong chương ấy, tôi đọc thấy dân tộc tôi, tộc Pashtun
đã ngược đãi và hà hiếp người Hazara. Chương sách nói người Hazara đã
gắng sức vùng lên chống lại người Pashtun vào thế kỷ mười chín, nhưng
người Pashtun đã “nghiền nát họ bằng bạo lực không thể tả xiết bằng lời.”
Cuốn sách nói dân chúng tôi đã giết người Hazara, đuổi họ khỏi đất đai của
họ, đốt nhà của họ, bán vợ con họ. Cuốn sách nói, một phần lý do khiến
người Pashtun áp bức người Hazara vì người Pashtun là những tín đồ hồi
giáo Sunni, trong khi đó người Hazara lại là Hồi giáo Shi'a. Cuốn sách viết
nhiều điều mà tôi không hiểu, những điều mà các thầy giáo tôi không nói
đến. Những điều mà cả Baba cũng chẳng bao giờ đề cập. Nó cũng nói một số
điều tôi đã biết, như mọi người gọi người Hazara là bọn ăn thịt chuột, mũi
tẹt, lũ lừa ưa nặng. Tôi đã từng nghe thấy mấy thằng nhãi ở vùng lân cận hét
lên những biệt hiệu ấy với Hassan.
Tuần sau đó, sau giờ học, tôi giơ cuốn sách cho thầy giáo tôi và chỉ vào
chương nói về người Hazara. Ông xem lướt qua vài trang, cười khẩy và trả
lại tôi cuốn sách. “Đó là điều duy nhất dân Shi'a làm đúng,” ông nói tiếp,
vừa thu dọn sách vở, “làm như những kẻ tuẫn đạo.” Ông nhăn mũi khi nói từ
Shi'a, như thể nó là một loại bệnh nào đó.
Nhưng mặc dầu kế thừa cùng dòng máu gia đình và chủng tộc với ông,
Sanaubar vẫn vào hùa với lũ trẻ trong vùng nhục mạ Ali. Tôi được nghe nói
bà ta chẳng cần giấu giếm gì việc bà ta khinh thị vẻ ngoài của ông.
- Thế này mà là chồng ư? – bà ta thường cười nhạo. – Tôi thấy mấy con
lừa già làm chồng còn thích hợp hơn.
Rốt cuộc, phần lớn mọi người đều ngờ cuộc hôn nhân này vốn là một sự
dàn xếp giữa Ali và cậu mình, cha của Sanaubar. Họ nói Ali đã cưới cô em
họ để giúp phục hồi đôi chút danh dự cho tên tuổi bị ô uế của cậu, cho dù
Ali, mồ côi từ hồi năm tuổi, đâu có chút của cải vật chất hay khoản thừa kế
nào.
Ali không bao giờ trả đũa bất kỳ kẻ nào hành hạ ông, tôi cho rằng một
phần vì ông không bao giờ có thể đuổi kịp họ bằng cái chân xoắn vặn kéo lê
phía sau. Nhưng chủ yếu bởi Ali đã miễn nhiễm trước những lời lăng nhục
của đám người công kích ông. Ông đã tìm thấy niềm vui, thấy thứ thuốc giải
độc của mình, lúc Sanaubar sinh hạ Hassan. Việc đó vốn khá đơn giản.
Không có nhân viên sản khoa, không có người gây mê, không có những thiết
bị kiểm tra thích hợp. Đúng là Sanaubar chỉ nằm ngửa ra trên một tấm đệm
trần bẩn thỉu, với Ali và một bà đỡ giúp việc sinh nở. Thật ra, Sanaubar cũng
chẳng cần giúp lắm, bởi vì, ngay trong khi ra đời, Hassan đã giống hệt như
bản chất của mình rồi. Cậu không thể làm tổn thương bất kỳ ai. Cằn nhằn vài
câu, đẩy mấy cái, thế là tòi ra Hassan. Tòi ra và cười.
Theo như lời thổ lộ với đày tớ nhà một người hàng xóm của cái bà đỡ hay
buôn chuyên, người đã kể lại với bất kỳ ai muốn nghe, thì Sanaubar liếc mắt
nhìn đứa trẻ trong cánh tay Ali, thấy cái môi hở, đã xổ ra một chuỗi cười cay
đắng.
- Đó. – Sanaubar nói. – Bây giờ thì ông đã có đứa con ngu xuẩn của chính
ông để nó cười hộ cho ông rồi đó! – Bà ta đã không chịu ngay cả bế Hassan,
và đúng năm ngày sau thì bỏ đi.
Baba thuê chính bà vú đã từng cho tôi bú để cho Hassan bú. Ali kể cho
chúng tôi, bà vú là một người đàn bà Hazara mắt xanh quê ở Bamiyan, thành
phố của những bức tượng Phật khổng lồ. “Bà ấy có giọng hát ru mới ngọt
ngào làm sao chứ!” Ông thường nói với chúng tôi như thế.
Bà ấy hát thế nào, Hassan và tôi luôn hỏi, dẫu hai đứa đã biết thừa – thật
ra vì Ali đã kể lại cho chúng tôi không biết bao lần. Chúng tôi chỉ muốn
nghe Ali hát.
Ông hắng giọng và bắt đầu:
Trên một ngọn núi cao tôi đứng,
Và gọi to tên của Ali, con Sư tử của Thượng đế.
Ôi Ali, Sư tử của Thượng đế, Vua của Con người,
Hãy mang lại niềm vui cho những trái tim
sầu não của chúng tôi.
Hát xong, ông thường nhắc nhở chúng tôi rằng có một tình anh em giữa
những con người được bú cùng một bầu vú mẹ, tình máu mủ mà ngay cả
thời gian cũng không thể phá vỡ.
Hassan và tôi bú cùng một bầu vú. Chúng tôi chập chững đi những bước
đầu tiên trên cùng một bãi cỏ trong cùng một chiếc sân. Và dưới cùng một
mái nhà, chúng tôi bập bẹ những tiếng nói đầu tiên:
Của tôi là Baba.
Của cậu ấy là Amir. Tên tôi.
Bây giờ nhìn lại, tôi nghĩ khởi nguồn của những gì đã xảy ra trong mùa
đông năm 1975 – và tất cả những gì tiếp theo sau đó – đã nằm sẵn trong
những tiếng bập bẹ đầu tiên ấy.
Chương 3
Tương truyền cha tôi, một bận, bằng hai tay không đã vật nhau với một
con gấu đen ở Baluchistan. Nếu chuyện kể về một ai khác, hẳn nó sẽ bị gạt
bỏ coi như chuyện Laaf[6], rằng người Afghan có khuynh hướng thổi phồng
mọi chuyện – buồn thay, hầu như đó lại là nỗi đau của đất nước. Nếu ai đó
khoe khoang con mình là bác sĩ, may ra đứa trẻ từng có lần vượt qua một
cuộc trắc khảo sinh học ở trường trung học. Nhưng lại chẳng một ai mảy
may nghi ngờ tính chính xác của bất kỳ chuyện nào về Baba. Va nếu họ nghi
ngờ, được thôi, Baba đã có ba vết sẹo sóng hàng xuống thành một đường xù
xì ở lưng ông. Tôi đã bao lần tưởng tượng ra những cuộc đấu vật của Baba,
cả mơ thấy nữa. Và trong những giấc mơ ấy, tôi chẳng bao giờ phân biệt rõ
Baba và con gấu.
Chính chú Rahim Khan là người đầu tiên gọi Baba bằng cái tên sau này
trở thành biệt danh nổi tiếng của ông, Toophan agha, hoặc “Ngài Bão tố”.
Đó là cái biệt danh khá thích hợp. Cha tôi là một sức mạnh từ trong bản chất,
một mẫu người Pashtun cao to sừng sững với bộ râu rậm, mớ tóc quăn màu
nâu cắt ngắn phóng túng không theo trật tự nào, như chính bản thân ông, đôi
bàn tay tưởng có thể nhổ bật rễ cả một cây liễu, và cái nhìn trừng trừng giận
dữ như muốn “bắt con quỷ quỳ xuống xin tha tội,” như chú Rahim vẫn
thường nói. Tại những bữa tiệc, khi cái thân hình một mét tám mươi lăm của
ông thình thịch bước vào phòng ăn, mọi con mắt dõi theo ông như hoa
hướng dương hướng về mặt trời.
Không thể nào mà lờ ông đi được, kể cả khi ông ngủ. Tôi thường phải nút
đầy bông vào hai tai, kéo chăn trùm kín đầu mà vẫn nghe thấy tiếng Baba
ngáy – to đến nỗi giống như tiếng gầm của động cơ xe tải – xuyên cả qua
tường. Từ phòng ngủ của tôi phải qua đại sảnh mới đến phòng ngủ của cha
tôi. Mẹ tôi làm thế nào để ngủ được cùng phòng với ông quả là một điều bí
ẩn đối với tôi. Có cả một danh sách những chuyện tôi muốn hỏi mẹ, nếu lúc
nào đó tôi gặp được mẹ.
Vào khoảng mấy năm cuối của thập kỷ sáu mươi, lúc tôi chừng năm sáu
tuổi, Baba quyết định xây một trại mồ côi. Tôi được nghe chuyện qua chú
Rahim Khan. Chú kể cho tôi, Baba đã tự mình vẽ những bản thiết kế, mặc dù
thật ra ông chẳng có một chút kinh nghiệm nào về kiến trúc cả. Những người
hoài nghi giục ông ngừng ngay trò điên rồ và phải thuê một kiến trúc sư. Tất
nhiên Baba không chịu, ai nấy đều lắc đầu phát ngán về những cung cách
ương bướng của ông. Thế rồi Baba thành công và mọi người lại lắc đầu
choáng váng trước những kiểu cách chiến thắng của ông. Baba trả tiền túi
của mình cho việc xây dựng trại mồ côi hai tầng này, ngay ngoài dải đất hẹp
của Fadeh Maywand ở phía Nam sông Kabul. Chú Rahim bảo tôi riêng Baba
tài trợ hoàn toàn cho dự án, trả công cho các kỹ sư, thợ điện, thợ nước và tất
cả nhân công, không đếm xỉa đến đám giới chức ở thành phố, loại “ria mép
cần phải bôi dầu.”
Phải mất ba năm để xây trại mồ côi. Đến lúc đó tôi đã tám tuổi. Tôi nhớ
hôm trước ngày khánh thành trại mồ côi, Baba mang tôi đến hồ Ghargha,
cách Kabul vài dặm về phía Bắc. Ông bảo tôi tìm Hassan nữa để cùng đi,
nhưng tôi nói dối ông rằng Hassan bị tiêu chảy. Tôi muốn Baba hoàn toàn là
của mình. Thêm nữa, một bận tại hồ Ghargha, Hassan và tôi ném thia lia đá,
Hassan lia đá nảy được tám lần. Tôi nhiều nhất chỉ được năm. Baba ở đó
theo dõi, và ông vỗ nhẹ vào lưng Hassan. Rồi còn đưa cánh tay quàng vai
cậu ấy nữa.
Chúng tôi ngồi vào bàn ăn picnic bên hồ, chỉ có mỗi Baba và tôi ăn trứng
luộc với bánh nhân thịt Kofia – một loại bánh naan cuốn thịt viên và dưa
góp. Nước hồ xanh biếc và ánh nắng lấp lánh trên mặt nước sáng như gương.
Vào những ngày thứ Sáu bờ hồ nhộn nhịp các gia đình đang mong có một
ngày phơi nắng. Nhưng hôm ấy là giữa tuần, chỉ có mỗi Baba và tôi, chúng
tôi và hai người khách du lịch tóc dài, râu rậm – “kiểu hippy”, tôi nghe thấy
họ được gọi thế. Họ ngồi trên bến, chân khuấy nước, cần câu trong tay. Tôi
hỏi Baba, tại sao họ lại để tóc dài, nhưng Baba chỉ càu nhàu không trả lời.
Ông đang chuẩn bị bài diễn văn cho ngày hôm sau, đang lật mở một mớ rối
tung những trang viết tay, lấy bút chì ghi chú chỗ này chỗ khác. Tôi cắn quả
trứng và hỏi Baba có đúng như một đứa bạn cùng trường bảo tôi, rằng nếu ăn
phải một miếng vỏ trứng thì thế nào cũng đái ra nó. Baba lại càu nhàu.
Tôi lại cắn một miếng bánh cuộn. Một trong hai người khách du lịch tóc
vàng cười và phát vào lưng người kia. Xa xa bên kia hồ, một chiếc xe tải ì
ạch chạy quanh góc lượn của đồi. Ánh nắng nhấp nháy trong chiếc gương
bên cửa xe.
- Con nghĩ con bị Saratan[7], – tôi nói. Đầy bụng. Baba ngẩng đầu lên
khỏi nhưng trang giấy đang sột soạt trong gió nhẹ. Bảo tôi có thể tự mình lấy
soda uống. Tất cả những gì tôi phải làm là tìm trong thùng xe.
Hôm sau, bên ngoài trại mồ côi, hết cả ghế ngồi cho mọi người. Số đông
phải đứng để xem lễ khai trương. Đó là một ngày giông gió, và tôi ngồi
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Phụ Lục
Chương 1
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tháng Mười hai năm 2001
Tôi đã trở thành tôi như ngày hôm nay từ tuổi mười hai, vào một ngày
lạnh lẽo, ảm đạm mùa đông năm 1975. Tôi nhớ chính xác lúc đó đang khom
người sau bức tường đất sụp đổ, nhòm trộm vào lối nhỏ gần khe suối đóng
băng. Thời đó lâu lắm rồi, nhưng tôi biết những gì người ta nói về quá khứ,
mà tôi đã học được, về việc anh có thể chôn vùi nó đi, là một điều sai lầm.
Bởi vì quá khứ còn đang thay đổi. Bây giờ nhìn lại, tôi nhận ra tôi vẫn đang
nhòm vào cái lối nhỏ hoang vắng đó suốt hai mươi sáu năm qua.
Mùa hè vừa rồi, một hôm chú Rahim Khan gọi cho tôi từ Pakistan. Chú
yêu cầu tôi tới gặp chú. Đứng trong bếp, với máy nghe bên tai, tôi hiểu đó
không phải là chú Rahim Khan trên máy. Đó là quá khứ tội lỗi không được
chuộc của tôi. Sau khi treo máy, tôi đi dạo bộ dọc theo Hồ Spreckels ở phía
bắc công viên Cổng Vàng. Mặt trời buổi chiều sớm lấp lánh nước hồ, trên đó
hàng chục nhưng chiếc thuyền con đang giong buồm theo làn gió nhẹ khô.
Rồi tôi liếc nhìn lên, thấy một đôi diều màu đỏ với những chiếc đuôi đài màu
xanh lơ bay vút lên trời. Đôi diều nhào lộn tầng không, bên trên những hàng
cây đầu phía Tây công viên, bay qua những cối xay gió, bồng bềnh bên nhau
như một cặp mắt đang nhìn xuống San Francisco, thành phố giờ đây tôi gọi
là quê hương. Và bất chợt giọng nói của Hassan thì thào trong đầu tôi: vì
cậu, cả ngàn lần rồi. Hassan người đua diều môi hẻ.
Tôi ngồi trên băng ghế công viên cạnh một cây liễu rủ. Tôi nghĩ tới điều
gì đó Rahim Khan đã nói trước khi cúp máy, gần như chợt nghĩ thêm: luôn
có một con đường để tốt lành trở lại. Tôi ngước nhìn cặp diều sinh đôi. Tôi
nghĩ về Hassan. Nghĩ về Baba, Ali, Kabul. Tôi nghĩ về cuộc đời tôi đã từng
sống, cho tới khi mùa đông năm 1975 ập đến, làm thay đổi tất cả. Và khiến
tôi trở thành tôi như ngày hôm nay.
Chương 2
Khi còn là hai đứa trẻ, Hassan và tôi thường trèo lên những cây bạch
dương trên con đường xe chạy vào nhà cha tôi, và dùng một mảnh gương
chiếu ánh nắng vào nhà những người hàng xóm của chúng tôi làm họ tức
giận. Chúng tôi thường ngồi chéo nhau, trên một cặp cành cây cao, chân trần
đung đưa, túi quần đầy quả dâu tằm phơi khô và quả óc chó, thay nhau chiếu
gương, vừa ăn dâu tằm vừa ném vào nhau, khúc khích, cười vang. Tôi vẫn
như còn thấy Hassan trên cái cây đó, nắng lung linh xuyên qua kẽ lá chiếu
lên khuôn mặt gần như tròn xoe của cậu, một khuôn mặt giống như búp bê
Tàu được gọt từ gỗ cứng: mũi nở và tẹt, mắt vừa hẹp vừa xếch như lá tre, đôi
mắt nếu nhìn vào, tuỳ theo ánh sáng, lúc vàng, lúc xanh, lúc cả màu ngọc
bích nữa. Tôi vẫn có thể thấy đôi tai nhỏ mọc thấp, và mẩu cằm nhô ra có vẻ
như đắp thêm chút thịt, như sau đó mới thêm vào. Và chiếc môi hẻ tách ra ở
chính giữa, nơi mà người làm búp bê Tàu có thể đã để trượt đồ nghề, hoặc có
lẽ lúc đó chỉ đơn giản thấm mệt thành ra bất cẩn.
Đôi khi ngồi trên những ngọn cây đó, tôi xui Hassan lấy súng cao su bắn
quả óc chó vào con chó chăn cừu giống Đức chột mắt của ông hàng xóm.
Hassan chẳng bao giờ muốn vậy, nhưng nếu tôi yêu cầu, thực sự yêu cầu,
cậu sẽ không từ chối. Hassan chẳng bao giờ từ chối tôi bất cứ điều gì. Và cậu
bắn súng cao su chính xác chết người. Cha của Hassan, ông Ali, thường bắt
gặp chúng tôi và phát điên lên, điên theo cách người hiền hậu như Ali có thể
làm được. Ông thường bật ngón tay, vẫy chúng tôi tụt xuống. Ông giật lấy
mảnh gương và bảo chúng tôi bà nội của Hassan đã dạy ông rằng quỷ dữ
cũng chiếu những mảnh gương, chiếu để làm rối trí các tín đồ Hồi giáo trong
lúc cầu nguyện. Ông luôn quắc mắt nhìn con trai mình nói thêm “và quỷ
cũng cười hô hố trong khi làm như vậy.”
“Vâng, thưa cha”, Hassan thường lẩm bẩm, vừa nhìn xuống dưới chân.
Nhưng không bao giờ cậu đổ cho tôi. Không bao giờ nói rằng mảnh gương
cũng như việc bắn quả óc chó vào con chó của ông láng giềng luôn luôn là
trò nghịch ngợm của tôi.
Những cây bạch dương xếp thành hàng dọc con đường xe chạy lát gạch
đỏ dẫn tới đôi cổng sắt uốn. Đôi cổng kế tiếp mở vào phần mở rộng của
đường xe vào tư dinh của cha tôi. Ngôi nhà toạ lạc phía bên trái con đường
gạch, sân sau ở cuối đường.
Mọi người đều đồng ý là cha tôi, tức Baba của tôi, đã xây một ngôi nhà
đẹp nhất quận Wazir Akar Khan, vùng phụ cận mới và giàu có ở phần Bắc
Kabul. Vài người còn nghĩ đó là ngôi nhà xinh đẹp nhất trong toàn bộ Kabul.
Một lối vào rộng, hai bên là những khóm hồng dẫn tới một toà nhà trải dài
với sàn nhà bằng đá cẩm thạch và những cửa sổ rộng. Những viên gạch
khảm khắc cầu kỳ, mà Baba tự tay lựa chọn ở Isfahan, được lát cho sàn của
bốn phòng tắm. Những tấm thảm thêu sợi vàng, Baba mua ở Calcutta, chăng
dọc các bức tường. Một chùm đèn phalê treo dưới vòm trần.
Trên gác là phòng ngủ của tôi, phòng ngủ của Baba, phòng đọc của ông,
còn được coi như “phòng hút”, nơi không ngừng toả ra mùi thuốc lá và mùi
quế. Baba và bạn ông ngả người trên chiếc ghế đệm da màu đen ở đó, sau
khi Ali đã phục vụ cơm tối. Họ nhồi tẩu thuốc – riêng Baba luôn gọi đó là
“vỗ béo tẩu thuốc” – và tranh luận về ba đề tài ưa thích: chính trị, kinh doanh
và bóng đá. Đôi khi tôi hỏi Baba liệu tôi có thề ngồi cùng họ được không,
nhưng Baba thường đúng chặn trước cửa và nói “Làm việc của con đi, nhanh
lên nào. Giờ là lúc người lớn nói chuyện. Sao con không đọc một cuốn sách
nào đó của con?” Ông thường đóng cửa lại, để mặc tôi ngạc nhiên không
hiểu tại sao ông cứ “lúc người lớn nói chuyện” mãi thế. Tôi thường ôm đầu
gối ngồi ngay bên cửa. Đôi khi tôi ngồi đó một tiếng đồng hồ, có khi hai
tiếng, lắng nghe họ cười, họ chuyện gẫu với nhau.
Phòng khách ở tầng dưới có một bức tường cong với những chiếc tủ đóng
theo phong cách truyền thống. Trong phòng treo nhưng bức hình gia đình.
Một tấm ảnh giấy lụa cũ của ông nội tôi và quốc vương Nadir Shah chụp
năm 1931, hai năm trước khi quốc vương bị ám sát. Hai người đang đứng
bên ngắm một con nai chết, chân đi ủng cao tận đầu gối, súng khoác qua vai.
Kia là một bức hình đêm cưới cha mẹ tôi, Baba sang trọng trong bộ lễ phục
đen và mẹ tôi váy trắng với nụ cười của một nữ quận chúa trẻ. Đây là Baba
và người bạn quý nhất, bạn kinh doanh của ông, chú Rahim Khan, đứng
trước nhà của chúng tôi, chẳng ai mỉm cười. Tôi là đứa bé trong bức ảnh,
Baba đang bế tôi, trông có vẻ mệt mỏi ra nghiêm khắc. Tôi ở trong tay ông,
nhưng những ngón tay tôi cong lên ngoắc lấy ngón út của chú Rahim Khan.
Bức tường cong dẫn vào phòng ăn, giữa phòng là một chiếc bàn bằng gỗ
gụ có thể phục vụ thoải mái ba mươi thực khách – và hợp với sở thích của
cha tôi, những bữa tiệc cực kỳ tốn kém hầu như tuần nào cũng có. Ở đầu kia
của phòng ăn là một lò sưởi cao lớn bằng đá cẩm thạch, luôn luôn cháy sáng
ngọn lửa màu da cam trong suốt mùa đông.
Một cửa kính trượt rộng lớn mở ra cái hiên bán nguyệt bao quát non một
hécta đất phía sau và những hàng cây anh đào. Baba và Ali đã trồng một
vườn rau nhỏ dọc theo dãy tường Phía Đông, gồm cà chua, húng bạc hà, ớt
và cả một hàng ngô chẳng bao giờ thu hoạch mà Hassan và tôi quen gọi là
“Bức tường Ngô ốm”.
Đầu phía Nam của khu vườn, dưới bóng cây sơn trà là nhà của những
người giúp việc, một túp lều nhỏ tường đất khiêm tốn, nơi Hassan sống cùng
với bố mình.
Chính ở đó, trong túp lều nhỏ ấy, Hassan được sinh ra vào mùa đông năm
1964, đúng một năm sau khi mẹ tôi mất lúc sinh tôi.
Mười tám năm sống trong ngôi nhà này, tôi chỉ bước vào lãnh địa của
Hassan và Ali một vài lần. Khi mặt trời xuống thấp sau những dãy đồi và
chúng tôi đã chơi đùa hết cả ngày, Hassan và tôi ai về đường nấy. Tôi đi qua
những khóm hoa hồng về toà lầu của Baba, Hassan về túp lều đất nơi cậu đã
được sinh ra, nơi cậu sống đời mình. Tôi vẫn còn nhớ nơi đó vắng vẻ, sạch
sẽ và leo lét sáng nhờ hai cây đèn dầu. Có hai tấm đệm ở hai phía đối diện
căn lều, ở giữa là một tấm thảm Herati nhỏ đã cũ, xung quanh mòn xơ, một
chiếc ghế đẩu ba chân và chiếc bàn gỗ ở góc nhà đề Hassan vẽ tranh. Tường
xung quanh trần trụi, ngoại trừ một tấm thảm duy nhất đính các hạt cườm
thành mấy từ Allah-u-akbar[1], Baba đã mua nó cho ông Ali trong một
chuyến đi Mashad.
Chính trong túp lều đó mà mẹ của Hassan, bà Sanaubar đã sinh ra cậu vào
một ngày đông giá năm 1964. Trong khi mẹ tôi băng huyết chết khi sinh tôi,
Hassan lại mất mẹ lúc sinh ra chưa được một tuần. Mất mẹ, thì hầu hết người
Afghan đều coi là còn tệ hại hơn mẹ chết nhiều: Bà ấy bỏ đi theo một bộ tộc
vũ công và du ca.
Hassan chẳng bao giờ nói về mẹ, như thể bà ấy chưa bao giờ tồn tại. Tôi
luôn luôn thắc mắc không hiểu liệu cậu có mơ thấy mẹ mình không, bà ấy
trông như thế nào và đang ở đâu. Tôi không hiểu liệu cậu có mong gặp mẹ
không. Cậu có đau khổ về mẹ như tôi đau khổ vì không bao giờ được gặp
mẹ? Một hôm, chúng tôi đang cuốc bộ từ ngôi nhà của cha tôi đến rạp chiếu
phim Zainab để xem bộ phim mới của Iran. Chúng tôi đã di tắt qua trại lính
gần trường trung học Istiqlal – Baba đã cấm chúng tôi đi lối tắt ấy, nhưng lúc
này ông cùng chú Rahim Khan đang ở Pakistan. Chúng tôi nhảy qua hàng
rào vây quanh doanh trại, băng qua khe nước nhỏ và đột nhập vào một bãi
đất trống bẩn thỉu có những chiếc xe tăng cổ lỗ bỏ hoang phủ đầy bụi. Đám
lính tụ tập dưới bóng một chiếc xe tăng vừa hút thuốc lá vừa đánh bài. Một
gã trông thấy chúng tôi, huých khuỷu tay vào gã ngồi bên, gọi Hassan.
- Ê thằng nhỏ, – hắn nói. – Tao biết mày đấy.
Trước đó, chúng tôi đã bao giờ gặp hắn đâu. Hắn là một gã đàn ông to bè,
thấp béo, đầu cạo trọc, râu đen lởm chởm trên mặt. Cái cách hắn nhăn nhở
cười với chúng tôi, liếc nhìn dâm dật khiến tôi hoảng sợ. “Kệ, cứ đi,” tôi
lúng búng bảo Hassan.
- Mày! Thằng Hazara![2]Hãy nhìn tao khi tao nói với mày, – tên lính sủa.
Hắn đưa điếu thuốc đang hút cho thằng ngồi bên, một tay ngoắc ngón cái
vào ngón trỏ thành một vòng tròn. Ngón giữa tay bên kia thọc vào vòng tròn
đó. Thọc vào thọc ra. Thọc vào, thọc ra, – tao biết mẹ mày đấy, mày có hiểu
không? Tao biết mẹ mày hàng thật. Tao chơi mẹ mày từ phía sau, bên khe
nước, chỗ kia kìa.
Bọn lính cười rộ. Một tên trong bọn kêu ré lên. Tôi bảo Hassan cứ đi, kệ
cứ đi.
- Cái lều[3] xinh xinh nhỏ xíu của mẹ mày mới mùi mẫn làm sao!
Tên lính vừa nói vừa nhăn nhở cười, bắt tay những tên khác.
Lát sau, trong bóng tối, sau khi bộ phim bắt đầu chiếu, tôi nghe tiếng
Hassan ngồi bên tôi đang sụt sịt. Nước mắt chảy ròng ròng trên đôi má. Tôi
ngồi xích lại, dang cánh tay ôm lấy người cậu, kéo cậu sát vào tôi. Cậu ngả
đầu lên vai tôi. “Hắn nhầm cậu với ai đấy,” tôi thì thào. “Hắn nhầm cậu với
ai mà!”
Tôi nghe nói chẳng một ai thực sự ngạc nhiên khi Sanaubar bỏ nhà đi.
Mọi người đều phải nhướn mày khi Ali, một người đàn ông làu làu kinh
Koran, cưới Sanaubar, người đàn bà mười chín, trông trẻ hơn tuổi, một
người đàn bà đẹp nhưng tai tiếng, buông thả, sống bất chấp nhưng điều ô
nhục. Cũng giống như Ali, bà ta là một tín đồ Hồi giáo Shi'a và thuộc chủng
tộc Hazara. Bà cũng là em họ, con cô con cậu của ông và điều đó dẫn đến sự
chọn lựa tự nhiên cho hôn phối. Nhưng ngoài sự tương đồng ấy, Ali và
Sanaubar hầu như chẳng có điểm giống nhau nào, ít nhất là mọi vẻ bề ngoài
tương ứng. Trong khi đôi mắt Sanaubar long lanh xanh biếc, bộ mặt ranh
ma, nghe đồn đã dụ dỗ không biết bao nhiêu đàn ông rơi vào tội lỗi, thì Ali
lại bị liệt bẩm sinh cơ mặt dưới, nguyên nhân khiến ông không thể mỉm
cười, khiến ông mãi mãi có bộ mặt nghiêm khắc. Nếu thấy được bộ mặt như
đá tạc của Ali sung sướng hoặc buồn rầu thì đó là một điều kỳ lạ, bởi vì chỉ
có đôi mắt xếch màu nâu của ông loé lên thay cho nụ cười và tuôn ra nỗi sầu.
Người ta bảo đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Chẳng bao giờ có trường hợp
nào đúng hơn thế với Ali, con người chỉ có thể thổ lộ tâm can mình qua đôi
mắt.
Tôi nghe đồn rằng những bước đi khêu gợi và cái hông đung đưa của
Sanaubar đã khiến bao người đàn ông phải mơ đến cảnh phản bội vợ con.
Nhưng bệnh viêm tuỷ xám gây bại liệt đã để lại cho Ali chân phải vặn vẹo,
teo cơ, lớp da vàng sạm bên dưới chỉ là một lớp cơ mỏng bọc xương. Tôi
nhớ một hôm, năm tôi tám tuổi, Ali đem tôi ra phố chợ[4] mua một ít bánh
naan[5]. Tôi bước phía sau ông, bụm miệng, cố bắt chước bước đi của ông.
Tôi quan sát ông ngoáy chiếc chân khẳng khiu theo một vòng cung quét đất.
Tôi quan sát toàn thân ông nghiêng một cách khó khăn về bên phải mỗi lần
ông đặt chân đó xuống. Mỗi bước đi như vậy mà ông không bị lật nhào
dường như đã là một điều thần kỳ nho nhỏ. Khi cố bắt chước ông, tôi suýt bị
ngã xuống rãnh nước. Khiến tôi khúc khích cười. Ali quay lại, bắt gặp tôi
nhại theo ông. Ông không nói gì. Không lúc ấy. Không bao giờ hết. Ông chỉ
tiếp tục bước đi.
Bộ mặt của Ali và bước đi của ông làm đám trẻ nhỏ trong vùng hoảng sợ.
Nhưng điều phiền nhiễu thực sự là những đứa lớn hơn. Chúng bám theo ông
trên đường phố, và nhại theo ông mỗi khi ông cà nhắc đi qua. Có đứa còn
gọi ông là Bababu hay Ngoáo ộp. “Ê, Bababu, hôm nay ăn thịt ai rồi.”
Chúng đồng thanh sủa lên và cười phá. “Đồ Batabu Mũi Tẹt, mi ăn thịt ai
rồi?”
Chúng gọi ông là “đồ mũi tẹt” bởi vì Ali và Hassan mang đặc trưng chủng
tộc Hazara gốc Mông Cổ. Đã bao năm rồi, tất cả những gì tôi biết về người
Hazara là họ là hậu duệ của người Mông Cổ thời Đế chế Mogul và trông
giống như những người Trung Hoa bé nhỏ. Sách giáo khoa trong nhà trường
chỉ nhắc đến tổ tiên họ một cách qua loa. Thế rồi một hôm, tôi ở trong phòng
đọc của Baba, xem qua những sách linh tinh của ông, tôi tìm thấy một trong
những cuốn cổ sử của mẹ tôi. Cuốn sách do một người Iran có tên là
Khorami viết. Tôi thổi bụi đi, lén đem nó về giường tôi đêm đó, và sửng sốt
thấy cả một chương về lịch sử của người Hazara. Cả một chương riêng về
dân tộc của Hassan! Trong chương ấy, tôi đọc thấy dân tộc tôi, tộc Pashtun
đã ngược đãi và hà hiếp người Hazara. Chương sách nói người Hazara đã
gắng sức vùng lên chống lại người Pashtun vào thế kỷ mười chín, nhưng
người Pashtun đã “nghiền nát họ bằng bạo lực không thể tả xiết bằng lời.”
Cuốn sách nói dân chúng tôi đã giết người Hazara, đuổi họ khỏi đất đai của
họ, đốt nhà của họ, bán vợ con họ. Cuốn sách nói, một phần lý do khiến
người Pashtun áp bức người Hazara vì người Pashtun là những tín đồ hồi
giáo Sunni, trong khi đó người Hazara lại là Hồi giáo Shi'a. Cuốn sách viết
nhiều điều mà tôi không hiểu, những điều mà các thầy giáo tôi không nói
đến. Những điều mà cả Baba cũng chẳng bao giờ đề cập. Nó cũng nói một số
điều tôi đã biết, như mọi người gọi người Hazara là bọn ăn thịt chuột, mũi
tẹt, lũ lừa ưa nặng. Tôi đã từng nghe thấy mấy thằng nhãi ở vùng lân cận hét
lên những biệt hiệu ấy với Hassan.
Tuần sau đó, sau giờ học, tôi giơ cuốn sách cho thầy giáo tôi và chỉ vào
chương nói về người Hazara. Ông xem lướt qua vài trang, cười khẩy và trả
lại tôi cuốn sách. “Đó là điều duy nhất dân Shi'a làm đúng,” ông nói tiếp,
vừa thu dọn sách vở, “làm như những kẻ tuẫn đạo.” Ông nhăn mũi khi nói từ
Shi'a, như thể nó là một loại bệnh nào đó.
Nhưng mặc dầu kế thừa cùng dòng máu gia đình và chủng tộc với ông,
Sanaubar vẫn vào hùa với lũ trẻ trong vùng nhục mạ Ali. Tôi được nghe nói
bà ta chẳng cần giấu giếm gì việc bà ta khinh thị vẻ ngoài của ông.
- Thế này mà là chồng ư? – bà ta thường cười nhạo. – Tôi thấy mấy con
lừa già làm chồng còn thích hợp hơn.
Rốt cuộc, phần lớn mọi người đều ngờ cuộc hôn nhân này vốn là một sự
dàn xếp giữa Ali và cậu mình, cha của Sanaubar. Họ nói Ali đã cưới cô em
họ để giúp phục hồi đôi chút danh dự cho tên tuổi bị ô uế của cậu, cho dù
Ali, mồ côi từ hồi năm tuổi, đâu có chút của cải vật chất hay khoản thừa kế
nào.
Ali không bao giờ trả đũa bất kỳ kẻ nào hành hạ ông, tôi cho rằng một
phần vì ông không bao giờ có thể đuổi kịp họ bằng cái chân xoắn vặn kéo lê
phía sau. Nhưng chủ yếu bởi Ali đã miễn nhiễm trước những lời lăng nhục
của đám người công kích ông. Ông đã tìm thấy niềm vui, thấy thứ thuốc giải
độc của mình, lúc Sanaubar sinh hạ Hassan. Việc đó vốn khá đơn giản.
Không có nhân viên sản khoa, không có người gây mê, không có những thiết
bị kiểm tra thích hợp. Đúng là Sanaubar chỉ nằm ngửa ra trên một tấm đệm
trần bẩn thỉu, với Ali và một bà đỡ giúp việc sinh nở. Thật ra, Sanaubar cũng
chẳng cần giúp lắm, bởi vì, ngay trong khi ra đời, Hassan đã giống hệt như
bản chất của mình rồi. Cậu không thể làm tổn thương bất kỳ ai. Cằn nhằn vài
câu, đẩy mấy cái, thế là tòi ra Hassan. Tòi ra và cười.
Theo như lời thổ lộ với đày tớ nhà một người hàng xóm của cái bà đỡ hay
buôn chuyên, người đã kể lại với bất kỳ ai muốn nghe, thì Sanaubar liếc mắt
nhìn đứa trẻ trong cánh tay Ali, thấy cái môi hở, đã xổ ra một chuỗi cười cay
đắng.
- Đó. – Sanaubar nói. – Bây giờ thì ông đã có đứa con ngu xuẩn của chính
ông để nó cười hộ cho ông rồi đó! – Bà ta đã không chịu ngay cả bế Hassan,
và đúng năm ngày sau thì bỏ đi.
Baba thuê chính bà vú đã từng cho tôi bú để cho Hassan bú. Ali kể cho
chúng tôi, bà vú là một người đàn bà Hazara mắt xanh quê ở Bamiyan, thành
phố của những bức tượng Phật khổng lồ. “Bà ấy có giọng hát ru mới ngọt
ngào làm sao chứ!” Ông thường nói với chúng tôi như thế.
Bà ấy hát thế nào, Hassan và tôi luôn hỏi, dẫu hai đứa đã biết thừa – thật
ra vì Ali đã kể lại cho chúng tôi không biết bao lần. Chúng tôi chỉ muốn
nghe Ali hát.
Ông hắng giọng và bắt đầu:
Trên một ngọn núi cao tôi đứng,
Và gọi to tên của Ali, con Sư tử của Thượng đế.
Ôi Ali, Sư tử của Thượng đế, Vua của Con người,
Hãy mang lại niềm vui cho những trái tim
sầu não của chúng tôi.
Hát xong, ông thường nhắc nhở chúng tôi rằng có một tình anh em giữa
những con người được bú cùng một bầu vú mẹ, tình máu mủ mà ngay cả
thời gian cũng không thể phá vỡ.
Hassan và tôi bú cùng một bầu vú. Chúng tôi chập chững đi những bước
đầu tiên trên cùng một bãi cỏ trong cùng một chiếc sân. Và dưới cùng một
mái nhà, chúng tôi bập bẹ những tiếng nói đầu tiên:
Của tôi là Baba.
Của cậu ấy là Amir. Tên tôi.
Bây giờ nhìn lại, tôi nghĩ khởi nguồn của những gì đã xảy ra trong mùa
đông năm 1975 – và tất cả những gì tiếp theo sau đó – đã nằm sẵn trong
những tiếng bập bẹ đầu tiên ấy.
Chương 3
Tương truyền cha tôi, một bận, bằng hai tay không đã vật nhau với một
con gấu đen ở Baluchistan. Nếu chuyện kể về một ai khác, hẳn nó sẽ bị gạt
bỏ coi như chuyện Laaf[6], rằng người Afghan có khuynh hướng thổi phồng
mọi chuyện – buồn thay, hầu như đó lại là nỗi đau của đất nước. Nếu ai đó
khoe khoang con mình là bác sĩ, may ra đứa trẻ từng có lần vượt qua một
cuộc trắc khảo sinh học ở trường trung học. Nhưng lại chẳng một ai mảy
may nghi ngờ tính chính xác của bất kỳ chuyện nào về Baba. Va nếu họ nghi
ngờ, được thôi, Baba đã có ba vết sẹo sóng hàng xuống thành một đường xù
xì ở lưng ông. Tôi đã bao lần tưởng tượng ra những cuộc đấu vật của Baba,
cả mơ thấy nữa. Và trong những giấc mơ ấy, tôi chẳng bao giờ phân biệt rõ
Baba và con gấu.
Chính chú Rahim Khan là người đầu tiên gọi Baba bằng cái tên sau này
trở thành biệt danh nổi tiếng của ông, Toophan agha, hoặc “Ngài Bão tố”.
Đó là cái biệt danh khá thích hợp. Cha tôi là một sức mạnh từ trong bản chất,
một mẫu người Pashtun cao to sừng sững với bộ râu rậm, mớ tóc quăn màu
nâu cắt ngắn phóng túng không theo trật tự nào, như chính bản thân ông, đôi
bàn tay tưởng có thể nhổ bật rễ cả một cây liễu, và cái nhìn trừng trừng giận
dữ như muốn “bắt con quỷ quỳ xuống xin tha tội,” như chú Rahim vẫn
thường nói. Tại những bữa tiệc, khi cái thân hình một mét tám mươi lăm của
ông thình thịch bước vào phòng ăn, mọi con mắt dõi theo ông như hoa
hướng dương hướng về mặt trời.
Không thể nào mà lờ ông đi được, kể cả khi ông ngủ. Tôi thường phải nút
đầy bông vào hai tai, kéo chăn trùm kín đầu mà vẫn nghe thấy tiếng Baba
ngáy – to đến nỗi giống như tiếng gầm của động cơ xe tải – xuyên cả qua
tường. Từ phòng ngủ của tôi phải qua đại sảnh mới đến phòng ngủ của cha
tôi. Mẹ tôi làm thế nào để ngủ được cùng phòng với ông quả là một điều bí
ẩn đối với tôi. Có cả một danh sách những chuyện tôi muốn hỏi mẹ, nếu lúc
nào đó tôi gặp được mẹ.
Vào khoảng mấy năm cuối của thập kỷ sáu mươi, lúc tôi chừng năm sáu
tuổi, Baba quyết định xây một trại mồ côi. Tôi được nghe chuyện qua chú
Rahim Khan. Chú kể cho tôi, Baba đã tự mình vẽ những bản thiết kế, mặc dù
thật ra ông chẳng có một chút kinh nghiệm nào về kiến trúc cả. Những người
hoài nghi giục ông ngừng ngay trò điên rồ và phải thuê một kiến trúc sư. Tất
nhiên Baba không chịu, ai nấy đều lắc đầu phát ngán về những cung cách
ương bướng của ông. Thế rồi Baba thành công và mọi người lại lắc đầu
choáng váng trước những kiểu cách chiến thắng của ông. Baba trả tiền túi
của mình cho việc xây dựng trại mồ côi hai tầng này, ngay ngoài dải đất hẹp
của Fadeh Maywand ở phía Nam sông Kabul. Chú Rahim bảo tôi riêng Baba
tài trợ hoàn toàn cho dự án, trả công cho các kỹ sư, thợ điện, thợ nước và tất
cả nhân công, không đếm xỉa đến đám giới chức ở thành phố, loại “ria mép
cần phải bôi dầu.”
Phải mất ba năm để xây trại mồ côi. Đến lúc đó tôi đã tám tuổi. Tôi nhớ
hôm trước ngày khánh thành trại mồ côi, Baba mang tôi đến hồ Ghargha,
cách Kabul vài dặm về phía Bắc. Ông bảo tôi tìm Hassan nữa để cùng đi,
nhưng tôi nói dối ông rằng Hassan bị tiêu chảy. Tôi muốn Baba hoàn toàn là
của mình. Thêm nữa, một bận tại hồ Ghargha, Hassan và tôi ném thia lia đá,
Hassan lia đá nảy được tám lần. Tôi nhiều nhất chỉ được năm. Baba ở đó
theo dõi, và ông vỗ nhẹ vào lưng Hassan. Rồi còn đưa cánh tay quàng vai
cậu ấy nữa.
Chúng tôi ngồi vào bàn ăn picnic bên hồ, chỉ có mỗi Baba và tôi ăn trứng
luộc với bánh nhân thịt Kofia – một loại bánh naan cuốn thịt viên và dưa
góp. Nước hồ xanh biếc và ánh nắng lấp lánh trên mặt nước sáng như gương.
Vào những ngày thứ Sáu bờ hồ nhộn nhịp các gia đình đang mong có một
ngày phơi nắng. Nhưng hôm ấy là giữa tuần, chỉ có mỗi Baba và tôi, chúng
tôi và hai người khách du lịch tóc dài, râu rậm – “kiểu hippy”, tôi nghe thấy
họ được gọi thế. Họ ngồi trên bến, chân khuấy nước, cần câu trong tay. Tôi
hỏi Baba, tại sao họ lại để tóc dài, nhưng Baba chỉ càu nhàu không trả lời.
Ông đang chuẩn bị bài diễn văn cho ngày hôm sau, đang lật mở một mớ rối
tung những trang viết tay, lấy bút chì ghi chú chỗ này chỗ khác. Tôi cắn quả
trứng và hỏi Baba có đúng như một đứa bạn cùng trường bảo tôi, rằng nếu ăn
phải một miếng vỏ trứng thì thế nào cũng đái ra nó. Baba lại càu nhàu.
Tôi lại cắn một miếng bánh cuộn. Một trong hai người khách du lịch tóc
vàng cười và phát vào lưng người kia. Xa xa bên kia hồ, một chiếc xe tải ì
ạch chạy quanh góc lượn của đồi. Ánh nắng nhấp nháy trong chiếc gương
bên cửa xe.
- Con nghĩ con bị Saratan[7], – tôi nói. Đầy bụng. Baba ngẩng đầu lên
khỏi nhưng trang giấy đang sột soạt trong gió nhẹ. Bảo tôi có thể tự mình lấy
soda uống. Tất cả những gì tôi phải làm là tìm trong thùng xe.
Hôm sau, bên ngoài trại mồ côi, hết cả ghế ngồi cho mọi người. Số đông
phải đứng để xem lễ khai trương. Đó là một ngày giông gió, và tôi ngồi
 








Các ý kiến mới nhất