_duoc-song-va-ke-lai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:35' 03-02-2026
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:35' 03-02-2026
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Chương 0: Lời tựa. 6
Chương 1: (không có tên) 7
Chương 2: Những vỡ vạc đầu tiên – Sự thơ mộng của gian lao. 14
Chương 3: Phân ly tụ họp – Những cuộc ra đi dằng dặc. 22
Chương 4: Dứt khỏi quá khứ - Ra đi không lời hẹn. 27
Chương 5: Núi rừng – Đi, đi, đi – Giai điệu gian lao trập trùng. 35
Chương 6: Binh trạm – Giới tuyến – Áp sát vào hơi thở của chiến địa. 39
Chương 7: Hiu quạnh chiến địa - Ấp chiến lược – Cơn mưa bất ngờ Những va quệt đầu tiên. 46
Chương 8: Những thử thách ban đầu – Chuyến trinh sát định mệnh –
Nhập cuộc. 53
Chương 9: Hầm ngầm dinh tỉnh trưởng – Thương binh – Sự biến mất
ngay bên cạnh mình. 63
Chương 10: Vào trận – Mạch máu qua sông – Mọi cái đều có thể trở nên
bình thường. 69
Chương 11: Sự cố gắng của thời gian – Công việc ở chiến trường – Cái
túi của thương gia. 78
Chương 12: Những người thoát lui – Thất thủ thành cổ – Không thể
khôn, chỉ là may mắn. 84
Chương 13: Làng đen – Cái chết lạ thường – Cơn đau bụng trời cho. 102
Chương 14: Xác người ở đâu – Cú điện thoại cảm động – “Giải lao” trở
về cao điểm 544. 106
Chương 15: Câu chuyện tình từ rừng sâu – Chiến sự trước hiệp định
ngừng bắn – Sư trưởng và chính ủy.
Chương 16: Cái chết của một thằng bạn – Bức thư của một thằng bạn –
Chuyện đơn vị – Chết hụt sau hiệ
Chương 17: Tù binh – Bức chân dung tội đồ – Bộ đội gái và làn gió đời
thường. 127
Chương 18: Đồng bằng lặng lẽ – Nghệ sĩ lính – Khoảng trời yên tĩnh kì
lạ. 134
Chương 19: Rừng thiêng – Chuẩn bị cho cơn bão lớn – Người ở lại, kẻ ra
đi 139
Chương 20: Xuống đồng bằng – Chè xanh và khoai lang luộc. 144
Chương 20: Đô thị phía Nam – Người phía Nam – Trời đất phía Nam..
148
Chương 21: Tâm tưởng trong mùi thơm – Những định hình lạ lẫm.. 152
Chương 22: Chiến địa trải dài – Cuộc rung mình dằng dặc. 157
Chương 23: Gang tấc của những cái chết – Lặng thinh và bùng nổ. 163
Chương 24: Chân đi ngày một nặng – Dòng Đồng Nai xa xăm.. 169
Chương 25: Ngày cuối cùng của 30 năm – Tử thần không nhớ tới – Lại
loanh quanh một mình. 172
Chương 26: Đêm duy nhất – Ngày duy nhất – Ly cà phê đầu tiên. 175
Chương 27: Thương nhớ thế giới này. 180
Phụ lục 1: Anh hùng thông tin trận “Thành cổ Quảng Trị” Mai Ngọc
Thoảng. 183
Được sống và kể lại
(Giải thưởng văn học Hội Nhà văn TP.HCM 2010)
Tác giả: Trần Luân Tín
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Nhà điêu khắc - nhà văn Trần Luân Tín
Bìa sách xuất bản năm 2009
Bìa sách tái bản năm 2013
Chương 0: Lời tựa
Cuốn sách này là hồi ức - đã được ấp ủ từ lâu - của bạn tôi, nhà điêu
khắc Trần Luân Tín.
Năm 1965 tôi và Tín cùng nhập học vào trường Cao đẳng Mỹ thuật
Việt Nam khi đó đang sơ tán ở Hà Bắc… Tín 14 tuổi, còn tôi mới 11…
Hai thằng nhóc đã cùng ngủ chung trên cái giường cá nhân bé tí, trong
căn nhà cũng bé tí của một gia đình nông dân nghèo, suốt 7 năm trời.
Những năm cuối của cuộc chiến tranh, đứa trước đứa sau lần lượt
nhập ngũ. Tín đi trước, làm lính thông tin ở mặt trận Quảng Trị, rồi đến
lượt tôi, lính bộ binh, vào Công Tum.
Gần 30 năm sau, như sự run rủi của số phận, hai đứa lại ở gần nhau,
khi tóc đã điểm bạc. Rất nhiều việc để chia sẻ, nhiều câu chuyện để kể
cho nhau nghe, nhưng ấn tượng nhất, sâu đậm nhất vẫn là chuyện về
những năm chiến tranh… với tất cả sự đồng cảm của những người bạn
từng sống bên nhau thời niên thiếu và từng là lính vào sinh ra tử…
Trong một lần sang nhà bạn chơi, uống trà, chuyện phiếm dông dài lại
quay về hồi tưởng. Tín thổ lộ ý định đã ấp ủ từ lâu về cuốn sách ghi lại
ký ức một thời đạn bom cực kỳ gian khổ, ác liệt, nhưng cũng rất nhiều
thi vị.
Dĩ nhiên, đó là việc nên làm. Thi thoảng cần nhìn lại những gì đã qua
để hiểu giá trị của những gì đang có. Bạn tôi là người từng trải, sâu sắc,
cuộc đời có nhiều điều đáng để suy ngẫm.
Tín viết, với mục đích giản dị ban đầu là kể cho hai đứa con của mình
nghe về một quãng đời cha đã trải qua… Viết xong đưa bạn bè đọc…
câu chuyện về quãng đời ấy thật ấn tượng.
Một ngày cuối năm, cuốn sách được xuất bản, thật mừng, bèn viết cho
bạn đôi lời chân thành, chia sẻ cảm nhận rưng rưng của mình qua ký ức
về quãng đời của một người bạn tri kỷ với tất cả…
12. 2008
Hoạ sĩ Nguyễn Thanh Bình
“Con, một đứa con như trăm ngàn đứa khác
Khoác trên vai chiếc áo mầu xanh bạc
Quẳng ba lô, ngồi phịch, nghỉ bên thềm”
Thu Bồn
Chương 1: (không có tên)
Viên cảnh sát da đen to lớn hơi nghiêng đầu chăm chú nhìn tôi, có vẻ
ngờ ngợ một người quen, lại như là chợt phát hiện ra một người quá lạ...
Tôi thoáng nhìn anh ta rồi tiếp tục kéo va ly đi. Trong hàng người từ máy
bay xuống có lẽ tôi là người nhỏ con nhất. Một người Việt đứng tuổi lại
hơi ốm yếu.
Viên cảnh sát bước mấy bước tới gần, đưa ngón tay chỉ vào tôi rồi
ngửa cả bàn tay vẽ thành một nửa vòng cung về phía cái quầy sắt sáng
choang. Tôi hiểu ý, tách ra khỏi hàng người, quay va ly, đẩy nó tới sát
cái quầy sắt.
Viên cảnh sát lại sải ba bước dài tiến tới bên tôi. Anh ta lịch sự
nghiêng người nói một câu tiếng Anh, rồi nhấc cái va ly đặt lên mặt
quầy. Cuộc kiểm tra hành lý đột xuất bắt đầu.
Dường như cái anh chàng to lớn đen thui này không mấy chăm chú
vào việc lục lọi hành lý của người bị nghi vấn. Lật lật vài bộ quần áo…
hai bàn tay thô kệch dừng lại rồi đột ngột vung lên, xếp đúng hình tư thế
bắn súng tiểu liên. Một mắt nheo, một mắt mở to nhắm vào tôi. “Bằm…
bằm…bằm… Vixi? Bằm…bằm…bằm…Vixi?...”. Con mắt mở của anh
ta sáng rực lên cùng với câu hỏi.
Tôi hiểu ý, nhoẻn cười vì động tác ngộ nghĩnh của người cảnh sát, bật
trả lời: “Yét… Đátroai!”.
“Ô, gút, gút…”. Bộ sắc phục cảnh sát nhàu nhò khi người da đen cúi
xuống ôm lấy vai tôi. Anh ta siết nhẹ rồi lắc nhẹ. Khi tôi chạy vội theo
kịp những người cùng đoàn rồi ngoái lại, thấy người cảnh sát to lớn vẫn
nhìn theo, anh đưa ngón tay cái lên giật giật, hai hàm răng trắng ngời mở
rộng.
Hoạt cảnh này xảy ra tại ga máy bay Lốt ăng giơ lét vào năm 1997,
khi tôi lần đầu tiên xuất ngoại, lại tiến thẳng tới cái đất nước cách đây
gần 30 năm đã ùn ùn kéo quân sang dày xéo tan tành quê hương tôi.
Người cảnh sát kia tuổi còn trẻ, hẳn không thể có mặt trong đoàn
quân viễn chinh của nước Mỹ ngày nào.
***
Tôi rong ruổi trên đất Mỹ. Loanh quanh qua những thành phố nhà cao
chọc trời. Đến miền Bắc tuyết lạnh, miền Trung đất đỏ, núi đỏ, ra biển
xanh ngăn ngắt. Cuối cùng thì trở về Cali, nơi có đông người Việt Nam
sinh sống.
Khí hậu Cali rất giống Sài Gòn, bầu trời cao trong và thoáng đãng.
Một buổi sáng, tôi ngồi uống cà phê với hai viên đại tá người Việt, họ là
đồng minh của Mỹ trong chiến tranh. Hai viên cựu sĩ quan đã có tuổi, họ
thận trọng, nhưng niềm nở.
Khó mà quên được những dãy quán của người Việt ở trên đất Mỹ, bởi
vì những chữ Việt, cũng vì cái âm Việt ở đây sao thấy xa xôi, mà lại thân
quen quá: Mỹ Tho, Cần Thơ, Trảng Bom… lại có cả Tràng An, Vĩ Dạ.
Hai người lính già vẻ như rất vui vì có khách, mà lại là khách đặc
biệt, một viên trung tá Việt cộng mới từ quê nhà sang. Họ hỏi nhiều điều
về đất nước, những câu hỏi chứng tỏ thông tin từ xứ sở vọng tới nơi này
là vô cùng ít ỏi. Rốt cuộc, người có bộ ria mép điểm bạc cũng bày tỏ
quan điểm, chắc là đã chất chứa trong lòng từ rất lâu:
- Hồi đó, anh em mình đánh nhau có phần vô lý, có thể giải quyết
theo cách khác được. Cuộc chiến tàn khốc quá, mà không đem lại cái gì
cho ai cả…
Đề tài mở ra có sức hút, người mặt hồng hào chồm tới, chống hai
khuỷu tay lên bàn:
- Cái này mình phải đặt vấn đề tâm tư của người Việt. Anh thấy sao?
Hồi đó lẽ ra phải đặt vấn đề này sớm, thì tránh được cuộc huynh đệ
tương tàn …
Hỏi nhưng không kịp để cho tôi đáp. Hai người già sôi nổi, vẻ như
lòng trắc ẩn với quê hương đất nước, dù muộn màng, cũng đã kịp chất
chứa trong lòng họ thành một nỗi niềm.
Tôi từng nghe cách lập luận này không ít lần. Cách thức là, rút đi các
dữ kiện lịch sử của thời điểm xẩy ra chiến tranh, chỉ giữ lại nguyên một
cục thương đau khốc liệt, đặt nó lên mặt bàn của hơn 20 năm sau, và
bình luận. Tôi đã nhiều lần xót xa vì sự chân thành ấy, bèn hỏi:
- Cuộc sống của các anh bây giờ thế nào… có tốt không?
- Hiện nay hả, rất tuyệt vời bạn ạ. Nước Mỹ là thiên đường. Việt Nam
mình không biết có ngày được bằng một góc của nó không. Có hy vọng
không?
Rồi lại không kịp để tôi trả lời, hai nhà truyền giáo sôi nổi, rất nhiệt
tâm muốn cho người đến từ nơi nghèo khó biết được thật nhiều những
điều sâu xa tuyệt vời của một xã hội văn minh.
Phải đợi khi cả hai bỗng dưng cùng nhấc ly cà phê lên uống tôi mới
có dịp nói được vài lời:
- Theo tôi thấy thì chiến tranh đã đem lại cho các anh nhiều đấy chứ.
Hai ly cà phê cùng đặt nhẹ xuống bàn. Không khí chùng lại…
Từ Mỹ bay trở về. Cánh máy bay ngang ngang trên nền đại dương
xanh ngăn ngắt. Bầu trời và quả đất vô cùng lơ đễnh, chúng như chẳng
có một mối quan tâm nào... Ở dưới ấy, trên mặt quả địa cầu vô tư có một
dải đất rất hẹp, rất nghèo, rất nhiều đau thương. Đấy là quê hương Việt
Nam yêu quý của tôi.
***
Năm 1971 miền Bắc lụt một trận rất lớn.
Tôi nhận giấy báo nhập ngũ khi đang cùng khoa điêu khắc của trường
Mỹ thuật dựng tượng đài ở Ninh Giang Hải Dương. Những ngày này trời
mưa tầm tã, làng quê ướt đầm đìa. Bọn học trò không có việc làm, suốt
ngày chơi bài, đọc sách hoặc là nghêu ngao hát.
Thầy Phước Sanh nói với tôi: “Em về thăm nhà đi, rồi sắp xếp lên Hà
Nội cho kịp ngày nhập ngũ”.
Tôi đạp xe về thị xã Hải Dương, cái bánh xe nhỏ xé làn nước lấp xấp
trên mặt đường đất. Mưa giăng kín trời. Về đến nhà buổi chiều thì xẩm
tối, con nước lớn ập đến. Nước sừng sừng dâng lên, nhanh chóng ngập
lút hết tầng trệt của tất cả các ngôi nhà. Đêm xuống, phố phường soi
bóng trên mặt nước mầu nâu bạc.
Sáng hôm sau con nước lắng lại, nó lờ lững oai vệ dạo quanh. Thuyền
bè bắt đầu xuất hiện, đông dần, rồi líu ríu ngang dọc trên lưng nước như
trẩy hội.
Xuồng của công an đi giữ trật tự trên sông phố. Người cảnh sát quần
áo ướt nhèm, một tay nắm chặt mạn xuồng để giữ thăng bằng, một tay
cầm loa pin oang oang truyền lệnh: “Chú ý, chú ý… thuyền bè đi về phía
tay phải. Đề nghị bà con chấp hành, chống xuồng đi về phía tay phải…
để tránh tai nạn giao thông!”
Vắng công an là có đua xuồng. Xuồng tự tạo bằng mọi thứ vật liệu có
thể nổi, nên chúng quay vòng là chính, tiến lên thì không mấy. Tiếng
cười sặc, tiếng hò la vang động.
Căn nhà của Má tôi không có tầng nào, nước dìm nó xuống gần như
mất hút, chỉ còn lại cái tam giác của mái nhà lộ ra. Phải bắc ván qua hai
đầu tường, lót thành một cái sàn rồi lom khom ở trong đó.
Hơn hai tuần trôi qua, không hề có giấu hiệu con nước sẽ rút.
Rồi một tuần nữa trôi qua, nước như là không có ý định trả lại mặt đất
cho người, nó lì lợm đến mức đứng im, không chuyển động
Tôi nói với Má tôi:
- Chắc con phải bơi về Hà Nội thôi Má.
Má thở dài:
- Đợi thêm vài ngày, chứ xa lắm, rắn rết nhiều lắm. Để hỏi xem có
thuyền bè chở khách thì đi.
Sốt ruột, tôi ra bưu điện báo cho nhà trường. Bưu điện của thị xã mở
cửa trên tầng hai, lối vào là cửa sổ. Tôi cặp bè rồi leo qua cửa, nhẩy lên
chiếc ghế băng dài, đi trên ghế thẳng tới bàn của chị điện báo viên. Có
vài người mặc quần đùi, đeo cặp táp, thõng chân xuống nước ngồi đợi
đến lượt mình được tiếp. Ngoài đường lịch kịch tiếng thuyền bè đụng
nhau, tiếng người rơi ùm xuống nước, tiếng cười nói ý ới.
Gửi được vài dòng chữ cho nhà trường, cũng đỡ nóng ruột hơn một
chút. Nhưng ba ngày nữa trôi qua, nước vẫn không chịu rút. Nhà cửa,
cây cối và con người cứ từ từ mỏng vơi đi, tái bạc đi.
Ở cầu Cất, người ta mới thiết lập tuyến ca nô Hải Dương – Hà Nội.
Thế là đã đến lúc phải lên đường.
Hôm ấy thằng Vinh em tôi chống hai chuyến bè mới chở hết cả nhà ra
cầu. Trời lất phất mưa, mây rất nặng.
Tôi bước xuống chiếc ca nô gỗ chao chiêng, nhìn lên cầu. Ba tôi, Má
tôi, hai đứa em tôi đứng trên đó. Phía sau là những đám mây màu chì và
một khoảng trời rợ lên màu sáng bạc. Cả nhà đưa tay vẫy… miếng vá
trên vai áo của Má, hơi ấm những củ khoai luộc bên hông tôi, những giọt
mưa gõ lộp bộp…
Đến bây giờ tôi còn giữ được mấy câu thơ viết trước lúc ra đi:
Con đi Ba Má nhé
Hai mươi năm tròn trịa
Con gói trong lòng
Và những ước mong
Con đem theo ra trận.
Kể gì một chút thời gian
Của cuộc đời khao khát
Nhưng muôn năm
Là hạt kim cương
Hỡi những giọt thời gian
Ngắn ngủi bình thường.
Con nhớ tất cả Ba Má ạ
Từ khi trí óc con và tâm hồn con
Biết nhận những gì con yêu
Thành kỷ niệm
Ôi những ngày lưu luyến
Cháy se lòng…
……
Lũ ở khu vực cầu Lai Vu (Hải Dương) (nguồn: archives.gov.vn)
***
Từ Hải Dương đến Hà Nội khoảng cách là hơn 50 cây số.
Chỉ có nước, sinh lực của đất không còn. Vài chiếc trực thăng vè vè
thả lương thực cứu đói. Những con trâu gầy đứng buồn bên những túp
lều rơm, trên lưng những quả đồi gồng cong lên.
Tôi về đến trường trước ngày nhập ngũ một ngày. Cả trường đã đi
thực tập, chỉ còn lại vài lớp đang học cơ bản. Buổi tối buồn buồn, tôi tha
thẩn quanh trường một mình. Cây bằng lăng hoa tím, hàng phi lao bên
sân bóng chuyền, những khóm tre đằng ngà xào xạc. Hành lang lớp học
và những bóng đèn tỏa ánh sáng vàng cho chúng tôi ngồi học thâu đêm
trước kỳ thi tốt nghiệp ngày nào.
Lớp điêu khắc rộng thênh, im lìm. Bức tượng nghiên cứu toàn thân
của tôi vẫn phủ ni lông đứng đó. Tôi mở tấm ni lông ra, chợt trào nước
mắt. Mùi của đất thân quen. Phải xa rồi, dường như xa chính mình. Mọi
thứ trong lồng ngực tôi chợt dựng ngợp lên, không thể nhận ra là cảm
xúc gì, cứ tràn ngập rồi lằng lặng... và rất buồn.
Những năm tháng học trò đã qua mất rồi. Một quãng đời vất vả, đói
và thiếu thốn vô cùng, nhưng kỷ niệm thì tròn đầy. Thầy trò, bè bạn đùm
bọc nhau, trau dồi nghề nghiệp say sưa trong niềm yêu nghề, yêu cuộc
sống. Tuổi thơ của chúng tôi thật nhiều gian lao nhưng chất đầy ưu ái.
Nó sinh động và thiết tha, mãi mãi là nguồn sinh lực của mỗi người.
***
Ở Chicagô, có lần tôi đến thăm một người bạn họa sĩ Mỹ. Ngôi nhà
xinh xắn của anh ngự trên một triền đồi cỏ xanh, rợp mát bóng cây.
Tôi rất muốn biết quang cảnh của nước Mỹ vào thời điểm mà họ
mang bom trút xuống Việt Nam, nên hỏi:
- Cách đây ba muơi năm nước Mỹ có khác bây giờ nhiều không?
- Không, nước Mỹ đã định hình, rất ít thay đổi.
Người họa sĩ râu xồm vừa tập trung điều khiển quả khí cầu nhỏ bay
lượn trong nhà, vừa trả lời rồi hỏi:
- Việt Nam thay đổi nhiều chưa? Tôi biết trong chiến tranh đất nước
ông rất nghèo. Có phải cái nghèo đã giúp cho chiến thắng?
- Sao nghèo lại giúp cho chiến thắng?
- Khát vọng đổi đời, phải thế không?
Sau này, khi đất nước bắt vào nhịp đổi mới, mọi sự thay đổi thật mau
lẹ, con người cũng vậy. Thỉnh thoảng tôi lại nhớ tới buổi trò chuyện với
anh bạn Họa sĩ này.
Với cách sống Mỹ thì ý nghĩ cho rằng cái nghèo đã giúp người Việt
chiến thắng có thể hiểu được, hoặc có thể cười được. Lạ là có nhiều
người Việt Nam cũng lằn nhằn như vậy về cuộc chiến đã qua.
Tôi hỏi:
- Thế còn sự hy sinh, tại sao người ta lại quên cả bản thân mình?
Quả khí cầu nhỏ khẽ đụng vào tường. Anh bạn ngửa cổ nốc một hơi
bia rồi bắt vào câu chuyện chăm chú hơn. Thằng em họ tôi ngồi dịch.
Thực ra nếu trong lòng vô tư thì nhìn vào lịch sử sẽ rất dễ sáng tỏ.
Người Việt vừa ra khỏi cuộc trường chinh thứ nhất, đuổi thực dân Pháp,
đã bị thúc ngay vào cuộc trường chinh thứ hai, đánh đế quốc Mỹ.
Không đánh thì bị đánh. Hiệp định Giơnevơ không được thực thi cho
thấy dã tâm của Mỹ. Họ coi thường một dân tộc nhỏ, tự cho có thể làm
được cái việc mà nước Pháp đã không thể làm được.
Người Việt Nam nghèo nhưng biết nghĩ về người khác, lo cho người
khác và hết lòng đùm bọc nhau… vì vậy nên thiên nhiên đùm bọc họ,
người với đất trời kết lại, tạo thành một khối sức mạnh không thể lường
nổi.
***
Mùa gặt.
Xóm làng thơm nồng mùi rơm. Sân kho phồng lên trong nắng.
Trung đội xếp thành hàng ngang. Lính quân nhu phân phát quân phục
cho lính mới.
Ba lô, quần áo, dép đúc, khăn mũ và những thứ thiết yếu khác được
những người lính già ném xuống chân những người đang mặc thường
phục. Cởi bỏ thường phục, mặc quân phục tại chỗ.
Tôi nhận được bộ số 1 với một cái áo trùm xuống tới gối, còn quần thì
kéo lên tới ngực. Người trung đội trưởng đứng trên bậc tam cấp nhà kho
rướn cổ nói rất to:
- Các đồng chí đổi cho nhau. Người nào không đổi được thì báo cho
quân nhu để đổi.
Sân kho hợp tác xã đầy nắng đang im phắc chợt nhốn nháo. Người
người nhấp nhổm săm soi quần áo. Bỏ áo vào quần, kéo ra rồi nhét vào.
Xắn ống quần lên rồi lại thả xuống.
Trung đội trưởng lại rướn cái cổ nổi đầy mạch máu, nói:
- Quân phục khác với xơvin, phải rộng rãi mới vận động chiến đấu
được. Các đồng chí cứ mặc rộng, rồi sẽ quen.
Mầu xanh thay đổi hoàn toàn cảm giác của ngày hôm qua. Không còn
viên chức, sinh viên hay thợ thuyền nữa, đột nhiên thấy gần gũi nhau
hơn.
Bọn học trò xúng xính trong quân phục, trông mới mẻ như những đọt
rau non. Túc thì mỏng tang. Tích Minh phồng lên như con nhái bén. Mai
Châu sẵn có bộ khung chuẩn nên rất ngay ngắn. Bọn Nghiêm, Huân,
Ứng, Thịnh, đứa nào trông cũng lạ hoắc.
Trước khi nhập ngũ tôi có hai bộ quần áo, một cũ, một mới. Bộ đồ
mới là bộ vía chuẩn bị cho ngày tốt nghiệp, Má tôi phải dành dụm tiền
mấy năm mới sắm được. Đấy là cái quần vải ximêli mầu xám tro và cái
áo pôpơlin trắng, tôi đã tặng cho Dũng, thằng bạn thân cùng lớp trước
lúc ra đi.
Còn bộ đồ cũ, nó phục vụ tôi suốt gần 6 năm, đến bây giờ đã ngắn cộc
và có hai miếng vá, một ở mông, một ở lưng. Nó đang nằm ở dưới chân
tôi, cái lai quần sờn rách thò ra, tôi lặng người như chợt nhìn thấy mình,
thấy ngày hôm qua… một thời thân thương đã qua rồi.
***
Cũng vẫn cái sân kho khô khốc của hợp tác xã, đến giờ ăn cơm thì
xanh rờn mầu xanh quân phục. Mấy trăm người ngồi xệp trên mặt sân
gạch, xôn xao, rào rào như tằm ăn rỗi. Sáu người quây quanh một mâm.
Thức ăn gồm có tép rang, đậu phụ rán và canh rau muống.
Sau bữa cơm, tôi ôm bộ quân phục mới toanh ra ao nhỏ sau nhà,
nhúng nó xuống nước, rồi đập, đạp, vò. Tôi muốn nó cũ đi một chút vì
không quen mặc đồ mới, đồ mới làm cho thấy tò te quá, mặc đồ cũ tự tin
hơn. Nhưng vải quân phục rất bền, dễ gì cũ đi trong phút chốc. Dù sao
thì nó cũng đỡ sột soạt hơn một chút.
Đây là làng Khuyến Lương thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Tôi nhập ngũ vào sư đoàn 325, lúc này là sư đoàn huấn luyện tân
binh. Một sư đoàn toàn lính mới, tất cả đều là sinh viên và cán bộ nhà
nước, có một số nghiên cứu sinh mới ở nước ngoài về.
Bộ khung huấn luyện gồm những người lính già dặn kinh nghiệm, đa
số đã trải qua chiến trường. Tiểu đội trưởng của tôi người Thái Bình, cấp
bậc hạ sĩ, mặt vuông, miệng nhọn rất hay cười, tên anh là Chữ.
Những ngày này thời gian được phủ kín mít. Sáng sớm tập thể dục,
rồi học chính tri, điều lệnh, nghiêm nghỉ, bước đều. Tối thì tập đi bộ,
từng trung đội xếp thành một hàng, nối nhau lòng vòng đi từ làng này
sang làng khác, chuyện trò rôm rả, không khí vui như trẩy hội.
Buổi trưa thường đượm vẻ trầm ngâm. Những chàng lính trí thức ưa
suy tư, nhớ nhà, lúc này mới có chút thời gian để lặng lẽ riêng mình.
Căn nhà tôi ở nằm ngoài rìa làng. Nhà không có chủ, tường vỡ, ngói
mục. Bên kia cái ao nhỏ đầy bèo là thửa ruộng mới gặt, những gốc rạ
khô nối nhau trải tới chân đê. Trên mặt đê, lâu lâu xuất hiện một vài
chiếc xe tải chạy rì rì. Có chiếc xe ca mầu xanh tróc lở chở khách chạy
qua chạy lại Hà Nội – Thanh Trì. Nhìn nó nhớ nhà, nhớ các bạn.
Tiểu đội trưởng Chữ bảo: “Đừng ngồi một mình, chỉ tổ nhớ vợ, sinh
ra tư tưởng”
Cuộc đời bộ đội thế là bắt đầu.
Từ đây câu chuyện sẽ dông dài, nếu kể theo trình tự thời gian thì lan
man. Nghĩ đi nghĩ lại tôi quyết định gói các việc vào trong các tiêu đề
nhỏ. Mong sao ghi được trung thực những năm tháng mà những người
tuổi trẻ thời ấy đã trải qua.
Chương 2: Những vỡ vạc đầu tiên – Sự thơ mộng của
gian lao
Buổi sinh hoạt trung đội đầu tiên. Trung đội trưởng cầm cây đèn dầu
trên tay, đứng trước hàng lính trẻ, tự giới thiệu:
- Tôi thì tên là Khiết. Như thế là 43 tuổi, có một vợ và 4 con - cả
trung đội cười ồ - Cháu lớn nhất năm nay 13 tuổi, cháu bé được 6 tuổi.
Quê tôi ở Hà Tây.
Rồi anh nói về tầm quan trọng của việc xác định tư tưởng riêng trong
tâm tư mỗi người, về những gian khổ của đời bộ đội, đặc biệt nhấn mạnh
sự đùm bọc nhau trong sinh tử chiến trận.
Ánh đèn dầu vàng ủng chập chờn trên gương mặt khắc khổ của người
sĩ quan. Giọng anh hơi khàn như được phát ra từ một cái nền đậm đặc
những khốc liệt. Hơn ba chục mái đầu xanh ngẩng lên, chăm chú.
Sau đó tôi được phân vào tổ ba người gồm anh Kế kỹ sư điện và anh
Kỳ ở bộ giao thông. Tổ ba người là nhóm sinh hoạt nhỏ nhất trong quân
đội, còn gọi là tổ tam tam.
Anh Kỳ làm tổ trưởng, tính tình anh đằm thắm, có niềm thích thú lớn
nhất là khuyên nhủ người khác. Còn đồng chí Kế thì sôi sùng sục, ăn to
nói lớn. Buổi tối, sau khi sinh hoạt trung đội xong, Kế thường chuồn đi
mất tăm, gần sáng mới mò về, lẻn vào khe khẽ thầm thì với Kỳ: “con bé
tình cảm quá ông ạ…”
Mấy thằng bạn cùng trường hay tụ họp trước bữa cơm. Gặp nhau thấy
đỡ trống trải. Trong đám, Huân già dặn hơn anh em. Nó từng đi lính một
năm rồi trở về, bây giờ tái ngũ. Kinh nghiệm và những tiên đoán về
đường đi nước bước mà chàng cựu binh truyền giảng luôn làm bọn lính
tò te phải dỏng tai lên chăm chú.
Sân kho hợp tác xã có cái mái hiên. Có hôm trời mưa, sấm giẫy đành
đạch trên trời. Bốn thằng nằm dài dưới hiên nhà. Huân lơ mơ ngủ. Tôi vỗ
nhẹ vào ngực Huân:
- Dậy, dậy về nhà, vợ gọi kìa.
Cả bọn cười ồ. Huân trở mình thở dài:
- Người cứ bã ra thế này…
Rồi ê a: “Nhớ thương không bến bờ… có anh đang đứng chờ…”.
Giọng nó gà gà y như khi còn là lớp trưởng của chúng tôi ở trường. Các
chàng thư sinh phút chốc rơi vào nhớ nhung. Có cái gì đó vô hình bất
chợp phồng lên trong ngực. Nắng vẫn nắng như thế, cây xanh vẫn xào
xạc, mái tranh của những ngôi nhà vẫn lìm lịm trong bóng mát. Những
thằng bạn quen thuộc từ thủa nhỏ vẫn đang ở gần bên nhau. Mà sao tất
cả như là khác lạ.
Vào bộ đội, bọn học trò đều hiểu đây là cuộc đời rồi. Cuộc đời sinh tử
rất cần phải cố gắng. Con đường đi đã quá rõ ràng, mà sao lòng vẫn cứ lơ
ngơ, như là hồi hộp, như là chưa định.
Những người bạn mới của tôi ở trung đội đa số là viên chức. Viên
chức thì tự hào về tuổi tác, về công việc đã làm và kinh nghiệm sống.
Còn sinh viên thì tự tin vào cái sự nhanh nhậy của tuổi trẻ. Chúng tôi
Chương 0: Lời tựa. 6
Chương 1: (không có tên) 7
Chương 2: Những vỡ vạc đầu tiên – Sự thơ mộng của gian lao. 14
Chương 3: Phân ly tụ họp – Những cuộc ra đi dằng dặc. 22
Chương 4: Dứt khỏi quá khứ - Ra đi không lời hẹn. 27
Chương 5: Núi rừng – Đi, đi, đi – Giai điệu gian lao trập trùng. 35
Chương 6: Binh trạm – Giới tuyến – Áp sát vào hơi thở của chiến địa. 39
Chương 7: Hiu quạnh chiến địa - Ấp chiến lược – Cơn mưa bất ngờ Những va quệt đầu tiên. 46
Chương 8: Những thử thách ban đầu – Chuyến trinh sát định mệnh –
Nhập cuộc. 53
Chương 9: Hầm ngầm dinh tỉnh trưởng – Thương binh – Sự biến mất
ngay bên cạnh mình. 63
Chương 10: Vào trận – Mạch máu qua sông – Mọi cái đều có thể trở nên
bình thường. 69
Chương 11: Sự cố gắng của thời gian – Công việc ở chiến trường – Cái
túi của thương gia. 78
Chương 12: Những người thoát lui – Thất thủ thành cổ – Không thể
khôn, chỉ là may mắn. 84
Chương 13: Làng đen – Cái chết lạ thường – Cơn đau bụng trời cho. 102
Chương 14: Xác người ở đâu – Cú điện thoại cảm động – “Giải lao” trở
về cao điểm 544. 106
Chương 15: Câu chuyện tình từ rừng sâu – Chiến sự trước hiệp định
ngừng bắn – Sư trưởng và chính ủy.
Chương 16: Cái chết của một thằng bạn – Bức thư của một thằng bạn –
Chuyện đơn vị – Chết hụt sau hiệ
Chương 17: Tù binh – Bức chân dung tội đồ – Bộ đội gái và làn gió đời
thường. 127
Chương 18: Đồng bằng lặng lẽ – Nghệ sĩ lính – Khoảng trời yên tĩnh kì
lạ. 134
Chương 19: Rừng thiêng – Chuẩn bị cho cơn bão lớn – Người ở lại, kẻ ra
đi 139
Chương 20: Xuống đồng bằng – Chè xanh và khoai lang luộc. 144
Chương 20: Đô thị phía Nam – Người phía Nam – Trời đất phía Nam..
148
Chương 21: Tâm tưởng trong mùi thơm – Những định hình lạ lẫm.. 152
Chương 22: Chiến địa trải dài – Cuộc rung mình dằng dặc. 157
Chương 23: Gang tấc của những cái chết – Lặng thinh và bùng nổ. 163
Chương 24: Chân đi ngày một nặng – Dòng Đồng Nai xa xăm.. 169
Chương 25: Ngày cuối cùng của 30 năm – Tử thần không nhớ tới – Lại
loanh quanh một mình. 172
Chương 26: Đêm duy nhất – Ngày duy nhất – Ly cà phê đầu tiên. 175
Chương 27: Thương nhớ thế giới này. 180
Phụ lục 1: Anh hùng thông tin trận “Thành cổ Quảng Trị” Mai Ngọc
Thoảng. 183
Được sống và kể lại
(Giải thưởng văn học Hội Nhà văn TP.HCM 2010)
Tác giả: Trần Luân Tín
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Nhà điêu khắc - nhà văn Trần Luân Tín
Bìa sách xuất bản năm 2009
Bìa sách tái bản năm 2013
Chương 0: Lời tựa
Cuốn sách này là hồi ức - đã được ấp ủ từ lâu - của bạn tôi, nhà điêu
khắc Trần Luân Tín.
Năm 1965 tôi và Tín cùng nhập học vào trường Cao đẳng Mỹ thuật
Việt Nam khi đó đang sơ tán ở Hà Bắc… Tín 14 tuổi, còn tôi mới 11…
Hai thằng nhóc đã cùng ngủ chung trên cái giường cá nhân bé tí, trong
căn nhà cũng bé tí của một gia đình nông dân nghèo, suốt 7 năm trời.
Những năm cuối của cuộc chiến tranh, đứa trước đứa sau lần lượt
nhập ngũ. Tín đi trước, làm lính thông tin ở mặt trận Quảng Trị, rồi đến
lượt tôi, lính bộ binh, vào Công Tum.
Gần 30 năm sau, như sự run rủi của số phận, hai đứa lại ở gần nhau,
khi tóc đã điểm bạc. Rất nhiều việc để chia sẻ, nhiều câu chuyện để kể
cho nhau nghe, nhưng ấn tượng nhất, sâu đậm nhất vẫn là chuyện về
những năm chiến tranh… với tất cả sự đồng cảm của những người bạn
từng sống bên nhau thời niên thiếu và từng là lính vào sinh ra tử…
Trong một lần sang nhà bạn chơi, uống trà, chuyện phiếm dông dài lại
quay về hồi tưởng. Tín thổ lộ ý định đã ấp ủ từ lâu về cuốn sách ghi lại
ký ức một thời đạn bom cực kỳ gian khổ, ác liệt, nhưng cũng rất nhiều
thi vị.
Dĩ nhiên, đó là việc nên làm. Thi thoảng cần nhìn lại những gì đã qua
để hiểu giá trị của những gì đang có. Bạn tôi là người từng trải, sâu sắc,
cuộc đời có nhiều điều đáng để suy ngẫm.
Tín viết, với mục đích giản dị ban đầu là kể cho hai đứa con của mình
nghe về một quãng đời cha đã trải qua… Viết xong đưa bạn bè đọc…
câu chuyện về quãng đời ấy thật ấn tượng.
Một ngày cuối năm, cuốn sách được xuất bản, thật mừng, bèn viết cho
bạn đôi lời chân thành, chia sẻ cảm nhận rưng rưng của mình qua ký ức
về quãng đời của một người bạn tri kỷ với tất cả…
12. 2008
Hoạ sĩ Nguyễn Thanh Bình
“Con, một đứa con như trăm ngàn đứa khác
Khoác trên vai chiếc áo mầu xanh bạc
Quẳng ba lô, ngồi phịch, nghỉ bên thềm”
Thu Bồn
Chương 1: (không có tên)
Viên cảnh sát da đen to lớn hơi nghiêng đầu chăm chú nhìn tôi, có vẻ
ngờ ngợ một người quen, lại như là chợt phát hiện ra một người quá lạ...
Tôi thoáng nhìn anh ta rồi tiếp tục kéo va ly đi. Trong hàng người từ máy
bay xuống có lẽ tôi là người nhỏ con nhất. Một người Việt đứng tuổi lại
hơi ốm yếu.
Viên cảnh sát bước mấy bước tới gần, đưa ngón tay chỉ vào tôi rồi
ngửa cả bàn tay vẽ thành một nửa vòng cung về phía cái quầy sắt sáng
choang. Tôi hiểu ý, tách ra khỏi hàng người, quay va ly, đẩy nó tới sát
cái quầy sắt.
Viên cảnh sát lại sải ba bước dài tiến tới bên tôi. Anh ta lịch sự
nghiêng người nói một câu tiếng Anh, rồi nhấc cái va ly đặt lên mặt
quầy. Cuộc kiểm tra hành lý đột xuất bắt đầu.
Dường như cái anh chàng to lớn đen thui này không mấy chăm chú
vào việc lục lọi hành lý của người bị nghi vấn. Lật lật vài bộ quần áo…
hai bàn tay thô kệch dừng lại rồi đột ngột vung lên, xếp đúng hình tư thế
bắn súng tiểu liên. Một mắt nheo, một mắt mở to nhắm vào tôi. “Bằm…
bằm…bằm… Vixi? Bằm…bằm…bằm…Vixi?...”. Con mắt mở của anh
ta sáng rực lên cùng với câu hỏi.
Tôi hiểu ý, nhoẻn cười vì động tác ngộ nghĩnh của người cảnh sát, bật
trả lời: “Yét… Đátroai!”.
“Ô, gút, gút…”. Bộ sắc phục cảnh sát nhàu nhò khi người da đen cúi
xuống ôm lấy vai tôi. Anh ta siết nhẹ rồi lắc nhẹ. Khi tôi chạy vội theo
kịp những người cùng đoàn rồi ngoái lại, thấy người cảnh sát to lớn vẫn
nhìn theo, anh đưa ngón tay cái lên giật giật, hai hàm răng trắng ngời mở
rộng.
Hoạt cảnh này xảy ra tại ga máy bay Lốt ăng giơ lét vào năm 1997,
khi tôi lần đầu tiên xuất ngoại, lại tiến thẳng tới cái đất nước cách đây
gần 30 năm đã ùn ùn kéo quân sang dày xéo tan tành quê hương tôi.
Người cảnh sát kia tuổi còn trẻ, hẳn không thể có mặt trong đoàn
quân viễn chinh của nước Mỹ ngày nào.
***
Tôi rong ruổi trên đất Mỹ. Loanh quanh qua những thành phố nhà cao
chọc trời. Đến miền Bắc tuyết lạnh, miền Trung đất đỏ, núi đỏ, ra biển
xanh ngăn ngắt. Cuối cùng thì trở về Cali, nơi có đông người Việt Nam
sinh sống.
Khí hậu Cali rất giống Sài Gòn, bầu trời cao trong và thoáng đãng.
Một buổi sáng, tôi ngồi uống cà phê với hai viên đại tá người Việt, họ là
đồng minh của Mỹ trong chiến tranh. Hai viên cựu sĩ quan đã có tuổi, họ
thận trọng, nhưng niềm nở.
Khó mà quên được những dãy quán của người Việt ở trên đất Mỹ, bởi
vì những chữ Việt, cũng vì cái âm Việt ở đây sao thấy xa xôi, mà lại thân
quen quá: Mỹ Tho, Cần Thơ, Trảng Bom… lại có cả Tràng An, Vĩ Dạ.
Hai người lính già vẻ như rất vui vì có khách, mà lại là khách đặc
biệt, một viên trung tá Việt cộng mới từ quê nhà sang. Họ hỏi nhiều điều
về đất nước, những câu hỏi chứng tỏ thông tin từ xứ sở vọng tới nơi này
là vô cùng ít ỏi. Rốt cuộc, người có bộ ria mép điểm bạc cũng bày tỏ
quan điểm, chắc là đã chất chứa trong lòng từ rất lâu:
- Hồi đó, anh em mình đánh nhau có phần vô lý, có thể giải quyết
theo cách khác được. Cuộc chiến tàn khốc quá, mà không đem lại cái gì
cho ai cả…
Đề tài mở ra có sức hút, người mặt hồng hào chồm tới, chống hai
khuỷu tay lên bàn:
- Cái này mình phải đặt vấn đề tâm tư của người Việt. Anh thấy sao?
Hồi đó lẽ ra phải đặt vấn đề này sớm, thì tránh được cuộc huynh đệ
tương tàn …
Hỏi nhưng không kịp để cho tôi đáp. Hai người già sôi nổi, vẻ như
lòng trắc ẩn với quê hương đất nước, dù muộn màng, cũng đã kịp chất
chứa trong lòng họ thành một nỗi niềm.
Tôi từng nghe cách lập luận này không ít lần. Cách thức là, rút đi các
dữ kiện lịch sử của thời điểm xẩy ra chiến tranh, chỉ giữ lại nguyên một
cục thương đau khốc liệt, đặt nó lên mặt bàn của hơn 20 năm sau, và
bình luận. Tôi đã nhiều lần xót xa vì sự chân thành ấy, bèn hỏi:
- Cuộc sống của các anh bây giờ thế nào… có tốt không?
- Hiện nay hả, rất tuyệt vời bạn ạ. Nước Mỹ là thiên đường. Việt Nam
mình không biết có ngày được bằng một góc của nó không. Có hy vọng
không?
Rồi lại không kịp để tôi trả lời, hai nhà truyền giáo sôi nổi, rất nhiệt
tâm muốn cho người đến từ nơi nghèo khó biết được thật nhiều những
điều sâu xa tuyệt vời của một xã hội văn minh.
Phải đợi khi cả hai bỗng dưng cùng nhấc ly cà phê lên uống tôi mới
có dịp nói được vài lời:
- Theo tôi thấy thì chiến tranh đã đem lại cho các anh nhiều đấy chứ.
Hai ly cà phê cùng đặt nhẹ xuống bàn. Không khí chùng lại…
Từ Mỹ bay trở về. Cánh máy bay ngang ngang trên nền đại dương
xanh ngăn ngắt. Bầu trời và quả đất vô cùng lơ đễnh, chúng như chẳng
có một mối quan tâm nào... Ở dưới ấy, trên mặt quả địa cầu vô tư có một
dải đất rất hẹp, rất nghèo, rất nhiều đau thương. Đấy là quê hương Việt
Nam yêu quý của tôi.
***
Năm 1971 miền Bắc lụt một trận rất lớn.
Tôi nhận giấy báo nhập ngũ khi đang cùng khoa điêu khắc của trường
Mỹ thuật dựng tượng đài ở Ninh Giang Hải Dương. Những ngày này trời
mưa tầm tã, làng quê ướt đầm đìa. Bọn học trò không có việc làm, suốt
ngày chơi bài, đọc sách hoặc là nghêu ngao hát.
Thầy Phước Sanh nói với tôi: “Em về thăm nhà đi, rồi sắp xếp lên Hà
Nội cho kịp ngày nhập ngũ”.
Tôi đạp xe về thị xã Hải Dương, cái bánh xe nhỏ xé làn nước lấp xấp
trên mặt đường đất. Mưa giăng kín trời. Về đến nhà buổi chiều thì xẩm
tối, con nước lớn ập đến. Nước sừng sừng dâng lên, nhanh chóng ngập
lút hết tầng trệt của tất cả các ngôi nhà. Đêm xuống, phố phường soi
bóng trên mặt nước mầu nâu bạc.
Sáng hôm sau con nước lắng lại, nó lờ lững oai vệ dạo quanh. Thuyền
bè bắt đầu xuất hiện, đông dần, rồi líu ríu ngang dọc trên lưng nước như
trẩy hội.
Xuồng của công an đi giữ trật tự trên sông phố. Người cảnh sát quần
áo ướt nhèm, một tay nắm chặt mạn xuồng để giữ thăng bằng, một tay
cầm loa pin oang oang truyền lệnh: “Chú ý, chú ý… thuyền bè đi về phía
tay phải. Đề nghị bà con chấp hành, chống xuồng đi về phía tay phải…
để tránh tai nạn giao thông!”
Vắng công an là có đua xuồng. Xuồng tự tạo bằng mọi thứ vật liệu có
thể nổi, nên chúng quay vòng là chính, tiến lên thì không mấy. Tiếng
cười sặc, tiếng hò la vang động.
Căn nhà của Má tôi không có tầng nào, nước dìm nó xuống gần như
mất hút, chỉ còn lại cái tam giác của mái nhà lộ ra. Phải bắc ván qua hai
đầu tường, lót thành một cái sàn rồi lom khom ở trong đó.
Hơn hai tuần trôi qua, không hề có giấu hiệu con nước sẽ rút.
Rồi một tuần nữa trôi qua, nước như là không có ý định trả lại mặt đất
cho người, nó lì lợm đến mức đứng im, không chuyển động
Tôi nói với Má tôi:
- Chắc con phải bơi về Hà Nội thôi Má.
Má thở dài:
- Đợi thêm vài ngày, chứ xa lắm, rắn rết nhiều lắm. Để hỏi xem có
thuyền bè chở khách thì đi.
Sốt ruột, tôi ra bưu điện báo cho nhà trường. Bưu điện của thị xã mở
cửa trên tầng hai, lối vào là cửa sổ. Tôi cặp bè rồi leo qua cửa, nhẩy lên
chiếc ghế băng dài, đi trên ghế thẳng tới bàn của chị điện báo viên. Có
vài người mặc quần đùi, đeo cặp táp, thõng chân xuống nước ngồi đợi
đến lượt mình được tiếp. Ngoài đường lịch kịch tiếng thuyền bè đụng
nhau, tiếng người rơi ùm xuống nước, tiếng cười nói ý ới.
Gửi được vài dòng chữ cho nhà trường, cũng đỡ nóng ruột hơn một
chút. Nhưng ba ngày nữa trôi qua, nước vẫn không chịu rút. Nhà cửa,
cây cối và con người cứ từ từ mỏng vơi đi, tái bạc đi.
Ở cầu Cất, người ta mới thiết lập tuyến ca nô Hải Dương – Hà Nội.
Thế là đã đến lúc phải lên đường.
Hôm ấy thằng Vinh em tôi chống hai chuyến bè mới chở hết cả nhà ra
cầu. Trời lất phất mưa, mây rất nặng.
Tôi bước xuống chiếc ca nô gỗ chao chiêng, nhìn lên cầu. Ba tôi, Má
tôi, hai đứa em tôi đứng trên đó. Phía sau là những đám mây màu chì và
một khoảng trời rợ lên màu sáng bạc. Cả nhà đưa tay vẫy… miếng vá
trên vai áo của Má, hơi ấm những củ khoai luộc bên hông tôi, những giọt
mưa gõ lộp bộp…
Đến bây giờ tôi còn giữ được mấy câu thơ viết trước lúc ra đi:
Con đi Ba Má nhé
Hai mươi năm tròn trịa
Con gói trong lòng
Và những ước mong
Con đem theo ra trận.
Kể gì một chút thời gian
Của cuộc đời khao khát
Nhưng muôn năm
Là hạt kim cương
Hỡi những giọt thời gian
Ngắn ngủi bình thường.
Con nhớ tất cả Ba Má ạ
Từ khi trí óc con và tâm hồn con
Biết nhận những gì con yêu
Thành kỷ niệm
Ôi những ngày lưu luyến
Cháy se lòng…
……
Lũ ở khu vực cầu Lai Vu (Hải Dương) (nguồn: archives.gov.vn)
***
Từ Hải Dương đến Hà Nội khoảng cách là hơn 50 cây số.
Chỉ có nước, sinh lực của đất không còn. Vài chiếc trực thăng vè vè
thả lương thực cứu đói. Những con trâu gầy đứng buồn bên những túp
lều rơm, trên lưng những quả đồi gồng cong lên.
Tôi về đến trường trước ngày nhập ngũ một ngày. Cả trường đã đi
thực tập, chỉ còn lại vài lớp đang học cơ bản. Buổi tối buồn buồn, tôi tha
thẩn quanh trường một mình. Cây bằng lăng hoa tím, hàng phi lao bên
sân bóng chuyền, những khóm tre đằng ngà xào xạc. Hành lang lớp học
và những bóng đèn tỏa ánh sáng vàng cho chúng tôi ngồi học thâu đêm
trước kỳ thi tốt nghiệp ngày nào.
Lớp điêu khắc rộng thênh, im lìm. Bức tượng nghiên cứu toàn thân
của tôi vẫn phủ ni lông đứng đó. Tôi mở tấm ni lông ra, chợt trào nước
mắt. Mùi của đất thân quen. Phải xa rồi, dường như xa chính mình. Mọi
thứ trong lồng ngực tôi chợt dựng ngợp lên, không thể nhận ra là cảm
xúc gì, cứ tràn ngập rồi lằng lặng... và rất buồn.
Những năm tháng học trò đã qua mất rồi. Một quãng đời vất vả, đói
và thiếu thốn vô cùng, nhưng kỷ niệm thì tròn đầy. Thầy trò, bè bạn đùm
bọc nhau, trau dồi nghề nghiệp say sưa trong niềm yêu nghề, yêu cuộc
sống. Tuổi thơ của chúng tôi thật nhiều gian lao nhưng chất đầy ưu ái.
Nó sinh động và thiết tha, mãi mãi là nguồn sinh lực của mỗi người.
***
Ở Chicagô, có lần tôi đến thăm một người bạn họa sĩ Mỹ. Ngôi nhà
xinh xắn của anh ngự trên một triền đồi cỏ xanh, rợp mát bóng cây.
Tôi rất muốn biết quang cảnh của nước Mỹ vào thời điểm mà họ
mang bom trút xuống Việt Nam, nên hỏi:
- Cách đây ba muơi năm nước Mỹ có khác bây giờ nhiều không?
- Không, nước Mỹ đã định hình, rất ít thay đổi.
Người họa sĩ râu xồm vừa tập trung điều khiển quả khí cầu nhỏ bay
lượn trong nhà, vừa trả lời rồi hỏi:
- Việt Nam thay đổi nhiều chưa? Tôi biết trong chiến tranh đất nước
ông rất nghèo. Có phải cái nghèo đã giúp cho chiến thắng?
- Sao nghèo lại giúp cho chiến thắng?
- Khát vọng đổi đời, phải thế không?
Sau này, khi đất nước bắt vào nhịp đổi mới, mọi sự thay đổi thật mau
lẹ, con người cũng vậy. Thỉnh thoảng tôi lại nhớ tới buổi trò chuyện với
anh bạn Họa sĩ này.
Với cách sống Mỹ thì ý nghĩ cho rằng cái nghèo đã giúp người Việt
chiến thắng có thể hiểu được, hoặc có thể cười được. Lạ là có nhiều
người Việt Nam cũng lằn nhằn như vậy về cuộc chiến đã qua.
Tôi hỏi:
- Thế còn sự hy sinh, tại sao người ta lại quên cả bản thân mình?
Quả khí cầu nhỏ khẽ đụng vào tường. Anh bạn ngửa cổ nốc một hơi
bia rồi bắt vào câu chuyện chăm chú hơn. Thằng em họ tôi ngồi dịch.
Thực ra nếu trong lòng vô tư thì nhìn vào lịch sử sẽ rất dễ sáng tỏ.
Người Việt vừa ra khỏi cuộc trường chinh thứ nhất, đuổi thực dân Pháp,
đã bị thúc ngay vào cuộc trường chinh thứ hai, đánh đế quốc Mỹ.
Không đánh thì bị đánh. Hiệp định Giơnevơ không được thực thi cho
thấy dã tâm của Mỹ. Họ coi thường một dân tộc nhỏ, tự cho có thể làm
được cái việc mà nước Pháp đã không thể làm được.
Người Việt Nam nghèo nhưng biết nghĩ về người khác, lo cho người
khác và hết lòng đùm bọc nhau… vì vậy nên thiên nhiên đùm bọc họ,
người với đất trời kết lại, tạo thành một khối sức mạnh không thể lường
nổi.
***
Mùa gặt.
Xóm làng thơm nồng mùi rơm. Sân kho phồng lên trong nắng.
Trung đội xếp thành hàng ngang. Lính quân nhu phân phát quân phục
cho lính mới.
Ba lô, quần áo, dép đúc, khăn mũ và những thứ thiết yếu khác được
những người lính già ném xuống chân những người đang mặc thường
phục. Cởi bỏ thường phục, mặc quân phục tại chỗ.
Tôi nhận được bộ số 1 với một cái áo trùm xuống tới gối, còn quần thì
kéo lên tới ngực. Người trung đội trưởng đứng trên bậc tam cấp nhà kho
rướn cổ nói rất to:
- Các đồng chí đổi cho nhau. Người nào không đổi được thì báo cho
quân nhu để đổi.
Sân kho hợp tác xã đầy nắng đang im phắc chợt nhốn nháo. Người
người nhấp nhổm săm soi quần áo. Bỏ áo vào quần, kéo ra rồi nhét vào.
Xắn ống quần lên rồi lại thả xuống.
Trung đội trưởng lại rướn cái cổ nổi đầy mạch máu, nói:
- Quân phục khác với xơvin, phải rộng rãi mới vận động chiến đấu
được. Các đồng chí cứ mặc rộng, rồi sẽ quen.
Mầu xanh thay đổi hoàn toàn cảm giác của ngày hôm qua. Không còn
viên chức, sinh viên hay thợ thuyền nữa, đột nhiên thấy gần gũi nhau
hơn.
Bọn học trò xúng xính trong quân phục, trông mới mẻ như những đọt
rau non. Túc thì mỏng tang. Tích Minh phồng lên như con nhái bén. Mai
Châu sẵn có bộ khung chuẩn nên rất ngay ngắn. Bọn Nghiêm, Huân,
Ứng, Thịnh, đứa nào trông cũng lạ hoắc.
Trước khi nhập ngũ tôi có hai bộ quần áo, một cũ, một mới. Bộ đồ
mới là bộ vía chuẩn bị cho ngày tốt nghiệp, Má tôi phải dành dụm tiền
mấy năm mới sắm được. Đấy là cái quần vải ximêli mầu xám tro và cái
áo pôpơlin trắng, tôi đã tặng cho Dũng, thằng bạn thân cùng lớp trước
lúc ra đi.
Còn bộ đồ cũ, nó phục vụ tôi suốt gần 6 năm, đến bây giờ đã ngắn cộc
và có hai miếng vá, một ở mông, một ở lưng. Nó đang nằm ở dưới chân
tôi, cái lai quần sờn rách thò ra, tôi lặng người như chợt nhìn thấy mình,
thấy ngày hôm qua… một thời thân thương đã qua rồi.
***
Cũng vẫn cái sân kho khô khốc của hợp tác xã, đến giờ ăn cơm thì
xanh rờn mầu xanh quân phục. Mấy trăm người ngồi xệp trên mặt sân
gạch, xôn xao, rào rào như tằm ăn rỗi. Sáu người quây quanh một mâm.
Thức ăn gồm có tép rang, đậu phụ rán và canh rau muống.
Sau bữa cơm, tôi ôm bộ quân phục mới toanh ra ao nhỏ sau nhà,
nhúng nó xuống nước, rồi đập, đạp, vò. Tôi muốn nó cũ đi một chút vì
không quen mặc đồ mới, đồ mới làm cho thấy tò te quá, mặc đồ cũ tự tin
hơn. Nhưng vải quân phục rất bền, dễ gì cũ đi trong phút chốc. Dù sao
thì nó cũng đỡ sột soạt hơn một chút.
Đây là làng Khuyến Lương thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Tôi nhập ngũ vào sư đoàn 325, lúc này là sư đoàn huấn luyện tân
binh. Một sư đoàn toàn lính mới, tất cả đều là sinh viên và cán bộ nhà
nước, có một số nghiên cứu sinh mới ở nước ngoài về.
Bộ khung huấn luyện gồm những người lính già dặn kinh nghiệm, đa
số đã trải qua chiến trường. Tiểu đội trưởng của tôi người Thái Bình, cấp
bậc hạ sĩ, mặt vuông, miệng nhọn rất hay cười, tên anh là Chữ.
Những ngày này thời gian được phủ kín mít. Sáng sớm tập thể dục,
rồi học chính tri, điều lệnh, nghiêm nghỉ, bước đều. Tối thì tập đi bộ,
từng trung đội xếp thành một hàng, nối nhau lòng vòng đi từ làng này
sang làng khác, chuyện trò rôm rả, không khí vui như trẩy hội.
Buổi trưa thường đượm vẻ trầm ngâm. Những chàng lính trí thức ưa
suy tư, nhớ nhà, lúc này mới có chút thời gian để lặng lẽ riêng mình.
Căn nhà tôi ở nằm ngoài rìa làng. Nhà không có chủ, tường vỡ, ngói
mục. Bên kia cái ao nhỏ đầy bèo là thửa ruộng mới gặt, những gốc rạ
khô nối nhau trải tới chân đê. Trên mặt đê, lâu lâu xuất hiện một vài
chiếc xe tải chạy rì rì. Có chiếc xe ca mầu xanh tróc lở chở khách chạy
qua chạy lại Hà Nội – Thanh Trì. Nhìn nó nhớ nhà, nhớ các bạn.
Tiểu đội trưởng Chữ bảo: “Đừng ngồi một mình, chỉ tổ nhớ vợ, sinh
ra tư tưởng”
Cuộc đời bộ đội thế là bắt đầu.
Từ đây câu chuyện sẽ dông dài, nếu kể theo trình tự thời gian thì lan
man. Nghĩ đi nghĩ lại tôi quyết định gói các việc vào trong các tiêu đề
nhỏ. Mong sao ghi được trung thực những năm tháng mà những người
tuổi trẻ thời ấy đã trải qua.
Chương 2: Những vỡ vạc đầu tiên – Sự thơ mộng của
gian lao
Buổi sinh hoạt trung đội đầu tiên. Trung đội trưởng cầm cây đèn dầu
trên tay, đứng trước hàng lính trẻ, tự giới thiệu:
- Tôi thì tên là Khiết. Như thế là 43 tuổi, có một vợ và 4 con - cả
trung đội cười ồ - Cháu lớn nhất năm nay 13 tuổi, cháu bé được 6 tuổi.
Quê tôi ở Hà Tây.
Rồi anh nói về tầm quan trọng của việc xác định tư tưởng riêng trong
tâm tư mỗi người, về những gian khổ của đời bộ đội, đặc biệt nhấn mạnh
sự đùm bọc nhau trong sinh tử chiến trận.
Ánh đèn dầu vàng ủng chập chờn trên gương mặt khắc khổ của người
sĩ quan. Giọng anh hơi khàn như được phát ra từ một cái nền đậm đặc
những khốc liệt. Hơn ba chục mái đầu xanh ngẩng lên, chăm chú.
Sau đó tôi được phân vào tổ ba người gồm anh Kế kỹ sư điện và anh
Kỳ ở bộ giao thông. Tổ ba người là nhóm sinh hoạt nhỏ nhất trong quân
đội, còn gọi là tổ tam tam.
Anh Kỳ làm tổ trưởng, tính tình anh đằm thắm, có niềm thích thú lớn
nhất là khuyên nhủ người khác. Còn đồng chí Kế thì sôi sùng sục, ăn to
nói lớn. Buổi tối, sau khi sinh hoạt trung đội xong, Kế thường chuồn đi
mất tăm, gần sáng mới mò về, lẻn vào khe khẽ thầm thì với Kỳ: “con bé
tình cảm quá ông ạ…”
Mấy thằng bạn cùng trường hay tụ họp trước bữa cơm. Gặp nhau thấy
đỡ trống trải. Trong đám, Huân già dặn hơn anh em. Nó từng đi lính một
năm rồi trở về, bây giờ tái ngũ. Kinh nghiệm và những tiên đoán về
đường đi nước bước mà chàng cựu binh truyền giảng luôn làm bọn lính
tò te phải dỏng tai lên chăm chú.
Sân kho hợp tác xã có cái mái hiên. Có hôm trời mưa, sấm giẫy đành
đạch trên trời. Bốn thằng nằm dài dưới hiên nhà. Huân lơ mơ ngủ. Tôi vỗ
nhẹ vào ngực Huân:
- Dậy, dậy về nhà, vợ gọi kìa.
Cả bọn cười ồ. Huân trở mình thở dài:
- Người cứ bã ra thế này…
Rồi ê a: “Nhớ thương không bến bờ… có anh đang đứng chờ…”.
Giọng nó gà gà y như khi còn là lớp trưởng của chúng tôi ở trường. Các
chàng thư sinh phút chốc rơi vào nhớ nhung. Có cái gì đó vô hình bất
chợp phồng lên trong ngực. Nắng vẫn nắng như thế, cây xanh vẫn xào
xạc, mái tranh của những ngôi nhà vẫn lìm lịm trong bóng mát. Những
thằng bạn quen thuộc từ thủa nhỏ vẫn đang ở gần bên nhau. Mà sao tất
cả như là khác lạ.
Vào bộ đội, bọn học trò đều hiểu đây là cuộc đời rồi. Cuộc đời sinh tử
rất cần phải cố gắng. Con đường đi đã quá rõ ràng, mà sao lòng vẫn cứ lơ
ngơ, như là hồi hộp, như là chưa định.
Những người bạn mới của tôi ở trung đội đa số là viên chức. Viên
chức thì tự hào về tuổi tác, về công việc đã làm và kinh nghiệm sống.
Còn sinh viên thì tự tin vào cái sự nhanh nhậy của tuổi trẻ. Chúng tôi
 









Các ý kiến mới nhất