_hania-tinh-yeu-cua-toi-noi-buon-cua-toi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:38' 03-02-2026
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:38' 03-02-2026
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hania
-
Tình
Yêu
Của
Tôi,
Nỗi
Buồn
Của
Tôi
Tác
giả:
Henryk
Sienkiewicz
Dịch
giả:
Nguyễn
Văn
Thái.
NXB
Kim
Đồng
3/2016
—★—
ebook©vctvegroup
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
Thay
lời
giới
thiệu
Henryk
Sienkiewicz
là
người
Ba
Lan
đầu
tiên
được
trao
giải
Nobel
Văn
học
(năm
1905).
Ông
sinh
ngày
05-05-1846
trong
gia
đình
một
chủ
đất
đang
trên
đà
sa
sút
tại
làng
Wola
Okrzeska,
Lukowiec,
Podlasie.
Những
năm
thơ
ấu
nhà
văn
từng
sống
ở
làng
quê,
do
đó
ông
đã
có
dịp
quan
sát
đời
sống
nông
thôn
Ba
Lan
để
sau
này
đưa
vào
trang
viết
của
mình
một
cách
hết
sức
ấn
tượng.
Bắt
đầu
từ
năm
lên
chín
tuổi,
Henryk
Sienkiewicz
chuyển
tới
thủ
đô
Warszawa
học
tập
và
sinh
sống.
Ông
từng
là
sinh
viên
Luật,
sau
chuyển
sang
khoa
Ngôn
ngữ
-
Lịch
sử
(1866
-
1871),
từ
1882
đến
1887
là
phóng
viên
báo,
đã
từng
được
cử
sang
Mĩ
và
một
số
nước
Tây
Âu
làm
việc.
Nhà
văn
bắt
đầu
sự
nghiệp
văn
chương
từ
những
năm
còn
là
sinh
viên
đại
học
và
sớm
nổi
tiếng
với
các
bài
phê
bình
văn
học,
các
tiểu
phẩm
về
những
vấn
đề
đương
đại
và
cuối
cùng
là
các
bộ
tiểu
thuyết
vô
cùng
hấp
dẫn
với
nhiều
đề
tài
khác
nhau.
Henryk
Sienkiewicz
là
nhà
văn
đi
đầu
với
các
sáng
tác
văn
học
yêu
nước,
là
bậc
thầy
về
việc
sử
dụng
ngôn
ngữ,
có
đóng
góp
to
lớn
trong
việc
quảng
bá
văn
học,
đặc
biệt
là
tiểu
thuyết
Ba
Lan
ra
thế
giới.
Từ
1883
đến
1888,
ông
đã
cho
ra
đời
ba
tiểu
thuyết
lịch
sử
lớn
là
Bằng
lửa
và
bằng
gươm,
Trận
hồng
thủy
và
Ngài
Wolodyjowski,
kết
hợp
chủ
nghĩa
lãng
mạn,
sự
thật
lịch
sử
và
hư
cấu
nghệ
thuật,
đưa
tiểu
thuyết
Ba
Lan
lên
tầm
cỡ
thẩm
mĩ
chưa
từng
có
trong
giai
đoạn
đó.
Về
sau
ông
lần
lượt
cho
ra
đời
hai
tiểu
thuyết
lịch
sử
đồ
sộ
khác
là
Quo
vadis
và
Hiệp
sĩ
Thập
Tự.
Toàn
bộ
các
tiểu
thuyết
lịch
sử
của
Henryk
Sienkiewicz
không
những
hết
sức
nổi
tiếng
ở
Ba
Lan
mà
còn
là
của
báu
trong
kho
tàng
văn
học
thế
giới,
đã
được
dịch
ra
nhiều
thứ
tiếng
và
truyền
bá
rộng
rãi
khắp
các
châu
lục.
Một
số
tác
phẩm
của
ông
đã
được
dịch
ra
tiếng
Việt
như
tiểu
thuyết
lịch
sử
Quo
vadis,
Bằng
lửa
và
bằng
gươm.
Tác
phẩm
Ngài
Wolodyjowski
được
chuyển
thể
thành
phim
và
công
chiếu
rộng
rãi
ở
nhiều
nước.
Nhà
văn
mất
ngày
15-11-1916
tại
Vevey,
Thụy
Sĩ
và
ngày
27-10-1924
hộp
tro
thi
hài
được
làm
lễ
an
táng
tại
Nhà
thờ
Thánh
Jan
ở
Warszawa.
Tác
phẩm
mà
chúng
tôi
chọn
dịch
lần
này
dựa
theo
nguyên
bản
tiếng
Ba
Lan
mà
NXB
GLOB
Szczecin
tái
bản
năm
1986
dưới
nhan
đề:
STARY
SLUGA,
HANIA.
Đây
không
phải
tiểu
thuyết
lịch
sử
mà
là
tiểu
thuyết
về
đề
tài
tình
bạn,
tình
yêu
và
cuộc
sống
của
giới
quý
tộc
Ba
Lan
ở
thế
kỉ
XIX.
Tôi
bị
những
trang
sách
cuốn
hút
ngay
khi
mới
đọc,
và
đặc
biệt
xúc
động
khi
thấy
các
nhân
vật
trong
truyện
cũng
có
những
rung
động
giống
với
lớp
thanh
niên
Việt
Nam
chúng
tôi
ở
thế
kỉ
XX
làm
sao!
Mặc
dù
biết
tác
phẩm
này
đã
được
dịch
và
xuất
bản
ở
Việt
Nam,
nhưng
vì
mối
đồng
cảm
đó,
tôi
quyết
định
cứ
dịch
và
công
bố
nó,
bởi
nghĩ
như
vậy
độc
giả
càng
có
dịp
được
thưởng
thức,
thậm
chí
có
thể
so
sánh,
đánh
giá
và
góp
ý
cho
các
dịch
giả.
Warszawa,
mùa
đông
năm
2009
•
Người
dịch
Lão
bộc
Bên
cạnh
những
quản
gia
cổ
lỗ
và
người
chuyên
trông
nom
công
việc
đồng
áng
cũng
như
canh
rừng,
giờ
đây
loại
người
thứ
hai
ngày
càng
ít
xuất
hiện
trên
thế
gian
là
những
đầy
tớ
già.
Tôi
còn
nhớ
từ
thuở
mình
vẫn
còn
là
một
cậu
bé,
hầu
hạ
ở
chỗ
thân
phụ
tôi
là
một
trong
những
con
voi
ma-mut
ấy,
loại
mà
không
lâu
nữa
người
ta
chỉ
còn
thấy
bộ
xương
trên
các
nghĩa
trang
cổ,
dưới
lớp
đất
dày
bao
phủ
bởi
sự
lãng
quên,
họa
hoằn
mới
có
người
đào
bới
lên
để
nghiên
cứu.
Lão
tên
là
Mikolai
Suchowolski,
cũng
thuộc
dòng
quý
tộc
ở
một
làng
nổi
danh
có
tên
Sucha
Wola,
cái
làng
mà
trong
các
câu
chuyện
phiếm
lão
vẫn
thường
nhắc
đến.
Cha
tôi
được
thừa
hưởng
lão
sau
khi
ông
nội
qua
đời.
Lão
vốn
là
cần
vụ
cho
ông
nội
từ
thời
chiến
tranh
Napoléon.
Khi
nào
được
đưa
vào
phục
vụ
ông
nội,
bản
thân
lão
không
nhớ
chính
xác,
nếu
bị
hỏi
thì
lão
đưa
thuốc
lên
hít
và
trả
lời:
—
Từ
cái
thời
cằm
lão
còn
nhẵn
thín
mà
ngài
đại
tá,
cầu
Chúa
phù
hộ
cho
linh
hồn
ngài,
vẫn
còn
ngậm
áo
sơ
mi
trước
khi
mặc.
Trong
gia
đình
thân
phụ
tôi,
lão
đảm
nhiệm
những
trọng
trách
hết
sức
khác
nhau:
từ
bày
biện
mâm
bát
đến
hầu
hạ
phục
dịch;
mùa
hè
trong
vai
trò
quản
gia,
lão
ra
đồng
trông
nom
gặt
hái,
mùa
đông
đến
chỗ
máy
đập
lúa,
lão
giữ
chìa
khóa
hầm
rượu,
các
kho
tàng
và
nơi
chứa
đồ
dùng
cũ;
lão
cũng
đảm
nhận
việc
lên
dây
cót
đồng
hồ,
song
trên
hết,
hình
như
lão
chuyên
việc
cằn
nhằn.
Con
người
ấy
tôi
không
thể
mường
tượng
khác
hơn
là
một
người
chỉ
biết
càu
nhàu.
Lão
càu
nhàu
với
cha
tôi,
với
mẹ
tôi;
tôi
sợ
lão
như
sợ
lửa,
mặc
dù
cũng
thích
lão.
Trong
bếp
lão
nói
chuyện
ồn
ào
với
đầu
bếp,
lão
xách
tai
bọn
trẻ
phục
dịch
bưng
bê
thức
ăn
lôi
đi
khắp
nhà
và
chẳng
bao
giờ
hài
lòng
về
bất
cứ
việc
gì.
Khi
có
gì
lấn
cấn
trong
đầu,
chuyện
thường
xuyên
xảy
ra
hàng
tuần,
mọi
người
đều
tránh
xa
lão,
không
phải
vì
lúc
đó
lão
dám
cãi
lộn
cả
với
ông
chủ
hoặc
bà
chủ,
mà
bởi
vì
nếu
gây
sự
được
với
ai
thì
lão
đi
theo
người
ấy
suốt
cả
ngày,
chí
chóe
và
cằn
nhằn
không
ngừng
nghỉ.
Trong
giờ
ăn
trưa
lão
đứng
sau
ghế
của
cha
tôi
và
mặc
dù
không
trực
tiếp
phục
vụ,
lão
vẫn
nhìn
chằm
chằm
vào
cậu
bé
bưng
bê
thức
ăn
và
thường
nổi
cơn
thịnh
nộ
quát
mắng
cậu
không
ngừng.
—
Hãy
cẩn
thận,
nhìn
lại
xem
-
lão
cằn
nhằn
-
lão
sẽ
cho
mi
biết
tay.
Mọi
người
nhìn
này!
Nó
không
thể
phục
vụ
bằng
tấm
lòng,
chỉ
biết
kéo
lê
đôi
chân
giống
y
hệt
con
bò
cái
đang
bước.
Hãy
nhìn
lại
xem
nào.
Hắn
còn
không
nghe
thấy
là
ông
chủ
đang
gọi
đấy.
Hãy
thay
đĩa
cho
bà
chủ
đi.
Sao
mi
lại
há
hốc
mồm
ra
hả?
Cái
gì
thế?
Mọi
người
có
nhìn
thấy
hắn
không!
Hãy
nhìn
kĩ
hắn
mà
xem!
Lão
luôn
chõ
miệng
vào
các
cuộc
đối
thoại
quanh
bàn
ăn
và
thường
xuyên
có
ý
kiến
chống
lại
mọi
người.
Nhiều
lần
xảy
ra
chuyện
thế
này,
cha
tôi
vừa
quay
lại
phía
sau
vừa
lên
tiếng:
—
Sau
bữa
ăn
trưa,
già
Mikolai
bảo
Mateusz
thắng
ngựa
sẵn
sàng,
chúng
tôi
sẽ
đi
đến
chỗ
nọ
chỗ
kia.
Lúc
đó
Mikolai
nói:
—
Đi
ngựa
ư?
Tại
sao
lại
không
đi
chứ?
Chà
chà,
có
họa
là
lũ
ngựa
không
phải
để
dùng
vào
việc
đó.
Giá
như
con
ngựa
kia
ngã
gãy
chân
trên
đường
thì
hay
nhỉ.
Đã
là
cuộc
viếng
thăm
thì
là
cuộc
viếng
thăm
chứ
sao!
Bởi
vì
các
ông
bà
chủ
bao
giờ
chẳng
có
quyền
thoải
mái.
Lão
có
cấm
đoán
gì
đâu?
Lão
chẳng
dám
cấm
đoán.
Sao
lại
không
đi
nhỉ!
Thì
việc
quyết
toán
thu
chi
vẫn
có
thể
giải
quyết
sau
và
cả
cái
việc
đập
lúa
cũng
có
thể
chờ
đợi
được
mà.
Cuộc
viếng
thăm
cần
kíp
hơn
chứ.
—
Thật
khốn
khổ
với
lão
Mikolai
lẩn
thẩn
này.
-
Cha
tôi
thét
lên,
đôi
lúc
người
đã
tỏ
ra
sốt
ruột
như
vậy.
Còn
lão
Mikolai
lại
tiếp
tục:
—
Thì
lão
có
dám
bảo
mình
không
ngu
đần
đâu
cơ
chứ.
Lão
biết
là
mình
ngu.
Gã
kế
toán
đã
đi
khoe
mẽ
với
cô
nàng
mĩ
miều
ở
làng
Niewodow
bên
cạnh,
còn
ông
bà
chủ
chẳng
lẽ
lại
không
được
quyền
đi
thăm
viếng
hay
sao?
Chẳng
lẽ
cuộc
viếng
thăm
không
quan
trọng
bằng
cô
nương
mĩ
miều
kia
à?
Đầy
tớ
được
phép
thì
ông
chủ
cũng
phải
được
phép
chứ.
Và
thế
là
cứ
lặp
đi
lặp
lại
loanh
quanh
luẩn
quẩn,
chẳng
còn
biết
làm
cách
nào
chặn
được
miệng
ông
già
lắm
điều
lại
nữa.
Chúng
tôi,
tức
là
tôi
và
em
trai
tôi,
như
đã
kể
ở
phần
trên,
thường
sợ
lão
có
lẽ
hơn
cả
sợ
gia
sư
của
chúng
tôi,
cha
Ludwik,
và
chắc
chắn
sợ
hơn
bố
mẹ
mình
rồi.
Đối
với
các
em
gái
tôi,
lão
tỏ
vẻ
lễ
độ
hơn.
Lão
thường
một
điều
"cô
chủ
nhỏ",
hai
điều
"cô
chủ
nhỏ",
mặc
dù
chúng
ít
tuổi
hơn
tôi,
còn
với
chúng
tôi
thì
lão
đụng
chạm
sờ
soạng
chẳng
hề
nể
nang.
Riêng
đối
với
tôi
lão
có
sức
thu
hút
đặc
biệt;
bởi
lão
thường
xuyên
mang
nhiều
đạn
súng
ngắn
trong
túi.
Nhiều
lần
sau
những
giờ
học,
tôi
e
ngại
đi
đến
gần
tủ
đựng
thức
ăn,
cố
nở
nụ
cười
thật
lễ
độ
và
tỏ
ra
dễ
thương
nhất,
tôi
ngập
ngừng
lên
tiếng:
—
Già
Mikolai
ơi!
Cháu
chào
già
Mikolai.
Hôm
nay
già
Mikolai
có
định
lau
súng
hay
không
ạ?
—
Cậu
Henryk
muốn
gì
đây?
Giẻ
lau
lão
đã
chuẩn
bị
sẵn
và
đủ
rồi.
Và
sau
đó
bắt
chước
tôi,
lão
nói:
—
Già
Mikolai
ơi,
già
Mikolai
ơi!
Nếu
nói
về
súng
đạn
thì
Mikolai
giỏi,
nếu
không
thì
hãy
để
chó
sói
ăn
thịt
lão
đi.
Tốt
hơn
hết
là
cậu
hãy
đi
học
bài
vở
của
mình.
Việc
bắn
súng
chẳng
mang
lại
trí
khôn
cho
cậu
đâu.
—
Cháu
đã
học
xong
bài
rồi.
-
Tôi
trả
lời
như
muốn
khóc.
—
Đã
học
xong
bài.
Chà!
Đã
xong
bài
rồi
đấy.
Cứ
học
và
học,
còn
đầu
óc
thì
vẫn
rỗng
tuếch
như
cái
ba
lô
nhỏ
xíu
ấy.
Lão
không
cho
bắn,
dứt
khoát
không
là
không.
(Lão
vừa
nói
vừa
lần
mò
tìm
kiếm
thứ
gì
đó
trong
túi
áo).
Thế
giả
sử
lúc
nào
đó
chẳng
may
mảnh
đạn
bắn
vào
mắt
thì
rồi
lại
réo
tên
Mikolai
ra.
Ai
có
lỗi?
Mikolai!
Ai
cho
phép
bắn?
Mikolai.
Cứ
vừa
lầm
bầm
như
vậy,
lão
vừa
đi
vào
căn
phòng
của
cha
tôi,
lấy
súng
xuống,
thổi
phù
phù
thông
nòng,
kiểm
tra
đi
kiểm
tra
lại
cho
đến
lúc
chắc
chắn
là
không
có
gì
bất
ổn
có
thể
xảy
ra,
lão
thắp
một
ngọn
nến,
nhồi
thuốc
vào
nòng
súng
và
đưa
cho
tôi
ngắm
bắn,
vào
những
lúc
như
thế
thường
thì
tôi
còn
phải
còng
lưng
mang
thêm
một
cây
thập
ác
lớn
nữa.
—
Hắn
cầm
cây
súng
hay
chưa
kìa,
-
lão
nói
-
cứ
lóng
ngóng
như
gã
y
sĩ
tập
tiêm.
Cậu
định
bắn
tắt
nến
ở
chỗ
nào
đấy?
Lập
cà
lập
cập
như
ông
nội
ở
nhà
thờ.
Cậu
đi
tu
làm
cha
cố
thì
hơn,
ngữ
này
chẳng
có
sức
khỏe
để
trở
thành
quân
nhân
được
đâu.
Mặc
dù
vậy
lão
vẫn
dạy
chúng
tôi
nghệ
thuật
chiến
đấu
xưa
kia
của
mình.
Nhiều
lần
sau
bữa
ăn
trưa,
tôi
và
em
trai
tôi
vẫn
học
mốt
hai
mốt
đi
đều
bước
dưới
sự
chỉ
huy
của
lão,
và
cùng
tham
gia
đi
đều
với
chúng
tôi
còn
có
cả
cha
Ludwik,
một
người
thực
hiện
việc
đó
trông
rất
khôi
hài.
Lúc
bấy
giờ
Mikolai
thường
ngước
mắt
lên
ngắm
nhìn
cha,
và
sau
đó
mặc
dù
vốn
trong
đời
chỉ
sợ
một
người
duy
nhất
đó
là
cha
cố,
song
lão
cũng
không
thể
nhịn
được
mà
nói:
—
Ê,
khi
đức
cha
bước
chân
đi
đều
theo
kiểu
đó
thì
chẳng
khác
gì
một
con
bò
cái
già.
Tôi,
với
tư
cách
là
anh
lớn,
thường
phải
nghe
lệnh
chỉ
huy
của
lão
nhiều
nhất,
và
vì
thế
cũng
vất
vả
nhất.
Mặc
dù
vậy,
khi
tôi
đến
tuổi
phải
gửi
vào
trường,
già
Mikolai
lại
rên
lên
ư
ử,
cứ
như
là
một
tai
họa
gì
đó
cực
lớn
đã
xảy
ra.
Cha
mẹ
tôi
kể
lại
rằng,
sau
khi
tôi
đi,
lão
lại
càng
hay
bẳn
gắt
hơn
và
đã
làm
phiền
họ
có
lẽ
dễ
đến
hai
tuần
tiếp
sau:
"Người
ta
đã
bắt
thằng
bé
và
mang
nó
đi",
lão
nói:
"giả
sử
nó
chết
thì
biết
làm
sao!
Hu,
hu,
hu!
Nó
cần
gì
phải
đến
trường
học
cơ
chứ.
Chẳng
lẽ
nó
không
phải
là
người
thừa
kế
gia
tài
hay
sao.
Lại
còn
phải
học
tiếng
Latinh
nữa
làm
gì?
Họ
định
biến
nó
thành
Salomon,
ông
vua
thông
thái
hay
sao.
Đúng
là
đồi
bại!
Đứa
bé
đã
đi
rồi,
đi
mất
tiêu
rồi,
thế
mà
ông
chủ
vẫn
còn
cứ
quanh
quẩn
từ
góc
nọ
sang
góc
kia
và
tìm
kiếm
khắp
ngôi
nhà
như
thể
đã
để
rơi
mất
vật
gì
đó.
Quỷ
tha
ma
bắt
các
người
đi".
Tôi
còn
nhớ
những
giây
phút
đầu
tiên
khi
mình
trở
về
nhân
dịp
lễ,
lúc
đó
tất
cả
mọi
người
đang
còn
ngủ
trong
nhà.
Trời
có
lẽ
mới
vừa
hừng
sáng:
buổi
sáng
mùa
đông,
băng
tuyết.
Sự
yên
tĩnh
chỉ
bị
khuấy
động
bởi
tiếng
kêu
cót
két
đều
đều
của
cần
quay
giếng
nước
trong
trang
trại
và
tiếng
chó
sủa.
Tất
cả
cửa
sổ
trong
nhà
đều
được
đóng
kín,
chỉ
có
cửa
sổ
ở
dưới
bếp
là
hắt
ra
ánh
lửa,
làm
hồng
lên
đám
tuyết
nằm
sát
chân
tường.
Lúc
bấy
giờ
tôi
trở
về
với
vẻ
mặt
buồn
bã,
âu
lo
và
nỗi
sợ
hãi
trong
lòng,
bởi
tôi
nhận
được
lời
phê
đầu
tiên
hoàn
toàn
không
có
gì
đáng
tự
hào
cho
lắm.
Bởi
tôi
chưa
được
trang
bị
thích
hợp,
chưa
làm
quen
được
với
thói
quen
học
tập
và
kỉ
luật
nhà
trường,
do
đó
tôi
không
biết
mình
phải
làm
gì
và
làm
như
thế
nào.
Vì
thế
tôi
sợ
cha
tôi,
sợ
vẻ
mặt
nghiêm
khắc
và
lạnh
lùng
của
cha
Ludwik,
người
đã
đi
đón
tôi
từ
Warszawa
về.
Không
biết
tìm
đâu
cho
được
lòng
can
đảm
cho
mãi
đến
khi
tôi
chợt
nhìn
thấy
cửa
nhà
bếp
mở
toang
và
già
Mikolai
với
sống
mũi
đỏ
au
vì
giá
lạnh,
đang
lội
trong
tuyết
và
bưng
chiếc
khay
với
hai
nồi
nhỏ
đựng
váng
sữa
bốc
khói
nghi
ngút.
"Trời
ơi,
cậu
ấm
vàng
ngọc,
cục
cưng
quý
hóa
nhất
đời
tôi!",
lão
kêu
tướng
lên
khi
nhìn
thấy
tôi
và
đặt
vội
khay
xuống,
làm
đổ
cả
hai
nồi
váng
sữa
và
lập
tức
chạy
đến
vồ
lấy
cổ
tôi,
rồi
bắt
đầu
vừa
xoa
bóp
vừa
hôn
hít.
Từ
đó
trở
đi
lão
luôn
luôn
gọi
tôi
là
"cậu
ấm".
Mặc
dù
vậy,
suốt
hai
tuần
sau
đó
lão
không
thể
tha
cho
tôi
cái
tội
làm
lão
đánh
đổ
mất
khay
váng
sữa:
"Người
ta
đang
cầm
khay
váng
sữa
đàng
hoàng",
lão
nói,
"tự
nhiên
hắn
đi
đến.
Lại
cố
tình
chọn
đúng
vào
lúc
đó
để
mà
đi
về
nhà...",
v.v...
Cha
tôi
định
đánh
đòn
tôi,
ít
nhất
là
đã
tuyên
bố
như
thế,
vì
hai
điểm
kém
trong
môn
tập
viết
và
tiếng
Đức
mà
tôi
bị
ghi
vào
sổ
liên
lạc.
Song
một
phần
vì
những
giọt
nước
mắt
và
lời
hứa
sẽ
cố
gắng
sửa
chữa
của
tôi,
phần
vì
sự
can
thiệp
của
người
mẹ
luôn
ngọt
ngào
đối
với
tôi,
và
cuối
cùng
vì
sự
nổi
loạn
mà
lão
Mikolai
gây
ra
đã
làm
cho
cha
tôi
phải
dừng
lại.
Về
cái
môn
tập
viết,
lão
Mikolai
không
cần
biết
đó
là
môn
gì,
còn
hình
phạt
về
môn
tiếng
Đức,
lão
chẳng
muốn
nghe
nhắc
đến
dù
chỉ
một
lời.
—
Ồ,
thế
thằng
bé
là
người
theo
Tân
giáo
hay
là
người
Đức
đấy
nhỉ?
-
Lão
nói.
-
Hay
là
ngày
xưa
ngài
đại
tá
cũng
phải
biết
tiếng
Đức?
Hay
là
chính
bản
thân
ông
(lão
quay
lại,
hướng
cái
nhìn
về
phía
cha
tôi)
biết
thứ
tiếng
ấy?
Thế
nào?
Khi
mà
chúng
tôi
gặp
bọn
Đức,
trong
trận
đánh
ở
vùng
nào
nhỉ,
à,
mà
ở
Lipsk,
và
chỉ
có
quỷ
mới
biết
còn
ở
đâu
nữa,
thì
lúc
bấy
giờ,
chỉ
có
phang,
chẳng
ai
nói
với
chúng
bằng
tiếng
Đức
cả,
chỉ
có
phang
và
phang,
và
chúng
phơi
xương
sườn
ra
cho
chúng
tôi
phang,
chỉ
có
thế
thôi.
Già
Mikolai
còn
có
một
đặc
tính
nữa.
Ấy
là
hiếm
khi
lão
nói
về
những
chiến
tích
xưa
kia
của
mình,
còn
trong
những
giây
phút
hưng
phấn
đặc
biệt,
khi
đã
hăng
máu
ba
hoa
thì
lão
lại
hay
khoác
lác
như
thể
được
thuê
để
làm
việc
ấy.
Lão
không
làm
điều
đó
với
một
mục
tiêu
gì
xấu
xa;
có
lẽ
trong
cái
đầu
già
nua
của
lão,
những
sự
kiện
xảy
ra
đan
xen
lẫn
lộn
cái
nọ
với
cái
kia
và
cứ
thế
phát
triển
lớn
đến
mức
trở
thành
hão
huyền.
Bất
cứ
chuyện
gì
hay
lúc
nào
kể
về
những
kỉ
niệm
chiến
tranh
thời
xa
xưa,
lão
đều
gắn
vào
bản
thân
mình
và
ông
nội
đại
tá
của
tôi,
và
lão
thật
sự
thành
kính
tin
vào
điều
mà
mình
kể.
Nhiều
hôm
trong
nhà
kho,
trông
coi
bọn
nông
nô
xay
đập
thóc
lúa,
khi
bắt
đầu
ba
hoa
với
họ,
thì
những
người
nông
dân
bỏ
cả
công
việc
và
say
sưa
ngả
lưng
vào
đòn
đập
lúa,
họ
ngồi
chăm
chú
lắng
nghe,
như
nuốt
từng
lời
phát
ra
từ
miệng
lão.
Đôi
lúc,
khi
phát
hiện
ra
điều
đó,
lão
lập
tức
quát
to:
—
Sao
chúng
bay
lại
nhe
răng
ra
dọa
cứ
như
muốn
nã
đại
bác
vào
ta
là
thế
nào
hả?
Và
thế
là
lại
nghe
những
tiếng
cụp,
cụp,
pụp,
pụp.
Những
tiếng
kêu
của
đòn
đập
lúa
nện
vào
những
bó
lúa
vang
lên
một
thôi
một
hồi;
ông
già
im
lặng,
nhưng
sau
đó
lại
bắt
đầu
ba
hoa:
—
Con
trai
lão
viết
thư
báo
rằng
hắn
mới
được
phong
hàm
tướng,
phục
vụ
ở
chỗ
hoàng
hậu
Palmira.
Ở
đó
hắn
sướng
rồi,
tha
hồ
phang,
tiền
lương
hàng
tháng
lại
cao,
đánh
đấm
thoải
mái,
chỉ
có
điều
vùng
ấy
lạnh
thấu
xương.
Cũng
cần
mở
ngoặc
là
con
cái
lão
không
thành
đạt
cho
lắm.
Lão
có
một
người
con
trai,
song
đó
là
gã
vô
lại,
nuôi
đến
tuổi
trưởng
thành,
có
Chúa
mới
biết
tại
làm
sao
mà
gã
lại
bỏ
đi
đến
một
phương
trời
nào
đó,
không
để
lại
mảy
may
dấu
tích
nào.
Còn
cô
con
gái
lão,
có
thời
nghe
nói
hình
như
là
một
nàng
tiên
đẹp
tuyệt
trần,
quyến
rũ
tất
cả
các
chàng
trai
có
chút
địa
vị
từng
xuất
hiện
trong
làng,
và
cuối
cùng
sau
khi
cho
ra
đời
một
bé
gái
thì
nàng
đã
vội
vã
từ
giã
cõi
đời.
Bé
gái
đó
tên
là
Hania.
Đó
là
cô
gái
trạc
tuổi
tôi,
rất
tuyệt
vời,
nhưng
là
một
cô
gái
hay
đau
yếu.
Nhiều
lần,
tôi
còn
nhớ,
chúng
tôi
đã
cùng
chơi
với
nhau
trò
trận
giả:
Hania
đóng
làm
lính
trống,
còn
các
bụi
cây
là
quân
địch.
Đó
là
cô
gái
tốt
bụng
và
dịu
dàng
như
thiên
thần.
Một
số
phận
nghiệt
ngã
cũng
đang
chờ
nàng
trong
cuộc
đời,
song
đó
chỉ
là
những
mảng
hồi
ức
của
tôi,
không
gắn
gì
với
chuyện
đang
diễn
ra.
Bây
giờ
xin
phép
quay
trở
lại
chuyện
về
ông
già.
Chính
tai
tôi
đã
nghe
lão
kể
rằng,
có
lần
các
chiến
mã
của
đoàn
kị
binh
vừa
hí
vang
trời
ở
tận
Mariampol,
thế
mà
mười
tám
ngàn
con
ngựa
bất
thình
lình
nhảy
vượt
qua
rào
chắn
tiến
vào
Warszawa.
Đã
có
bao
nhiêu
người
bị
ngựa
giẫm
đè
lên
khi
bắt
lại
được
chúng,
thật
dễ
dàng
tưởng
tượng!
Sao
lại
có
ngày
định
mệnh
như
thế
chứ!
Lần
khác
lão
kể,
nhưng
đây
không
phải
ở
nhà
kho
nữa,
mà
tất
cả
chúng
tôi
đều
được
nghe
ở
ngay
ngoài
sân,
câu
chuyện
như
thế
này:
—
Tôi
đánh
đấm
có
giỏi
không?
Tại
sao
lại
không
giỏi
cơ
chứ!
Tôi
nhớ
có
lần,
đó
là
chuyện
xảy
ra
trong
cuộc
chiến
với
bọn
Áo.
Tôi
đang
đứng
trong
hàng
quân,
tôi
nhắc
lại
là
đang
đứng
trong
hàng
quân
mình
nhé,
bỗng
nhiên
có
vị
tướng
tổng
chỉ
huy
quân
đội,
tức
là
tướng
chỉ
huy
bọn
Áo
ấy,
phi
ngựa
từ
phía
bên
kia
đến
trước
mặt
tôi
và
thét
to:
"Ê,
nhà
ngươi,
gã
Suchowolski
kia,
ta
biết
rõ
ngươi!
Giá
mà
chúng
ta
bắt
sống
được
nhà
ngươi
nhỉ,
lúc
đó
toàn
bộ
cuộc
chiến
này
sẽ
kết
thúc".
—
Thế
hắn
không
đả
động
gì
đến
ngài
đại
tá
à?
-
Cha
tôi
hỏi.
—
Sao
lại
không,
tôi
chẳng
đã
nói
rõ
ràng
rằng
hắn
thét
to,
giá
mà
chúng
ta
bắt
sống
được
nhà
ngươi
cùng
viên
đại
tá...
Cha
Ludwik
tỏ
ra
sốt
ruột,
nói:
—
Ê,
lão
Mikolai,
khoác
lác
vừa
vừa
thôi,
cứ
như
là
lão
chuyên
nhận
lương
để
nói
khoác
ấy.
Lão
già
tím
mặt
lại
và
chắc
chắn
tức
sôi
người
lên,
nhưng
bởi
vốn
nể
sợ
cha
cố
và
cũng
tôn
trọng
ông
ta
nữa,
lão
chỉ
im
lặng,
và
sau
đó
như
thể
muốn
làm
dịu
tình
hình,
lão
kể
tiếp:
—
Cha
tuyên
úy
Sieklucki
cũng
nói
y
như
vậy
với
tôi.
Có
lần
tôi
bị
một
trái
lựu
đạn
của
quân
Áo
vào
xương
thứ
hai
mươi,
tức
là
tôi
muốn
nói
ở
gióng
sườn
thứ
năm
của
mình,
thật
là
nguy
kịch.
A
ha,
tôi
nghĩ,
cần
phải
chết
thôi,
do
đó
tôi
phải
xin
Chúa
Toàn
năng
cho
rửa
tội
trước
cha
tuyên
úy
Sieklucki.
Thế
là
cha
Sieklucki
nghe,
nghe
chăm
chú
lắm,
rồi
cha
nói:
"Mikolai,
con
phải
biết
sợ
Chúa
chứ,
sao
toàn
nói
khoác
thôi!"
Còn
tôi
trả
lời
cha
rằng
rất
có
thể
là
như
vậy,
song
con
không
thể
nhớ
gì
hơn
được
nữa.
—
Thế
họ
có
chữa
lành
vết
thương
cho
lão
không?
—
Lành
chứ,
lành
chứ!
Song
họ
chữa
lành
cái
gì
cho
lão!
Lão
tự
chữa
cho
mình
thì
có.
Lão
chỉ
cần
lấy
bột
thuốc
súng
từ
hai
viên
đạn
ra
rắc
vào
cút
rượu
vodka,
khuấy
đều
lên,
rồi
nốc
một
hơi
trước
khi
đi
ngủ,
thế
là
sáng
hôm
sau
thức
dậy
đã
lại
khỏe
mạnh
như
cá
về
với
nước.
Tôi
sẵn
sàng
lắng
nghe
những
câu
chuyện
như
thế
của
lão
và
ghi
lại
cho
mọi
người
cùng
nghe,
song
cha
Ludwik
không
hiểu
tại
sao
lại
cấm
lão
Mikolai,
như
cha
nói
"nếu
kể
tiếp
chỉ
làm
đầu
óc
người
ta
rối
lên
thôi".
Cha
Ludwik
thật
đáng
thương,
là
một
linh
mục,
đồng
thời
là
cư
dân
của
một
làng
quê
bé
nhỏ
yên
bình,
cha
không
hiểu
được
rằng,
thứ
nhất,
với
mỗi
chàng
trai
bị
bứt
từ
một
góc
thầm
lặng
của
gia
đình
quăng
ra
với
sóng
gió
của
biển
đời
rộng
lớn,
đầu
óc
không
chỉ
một
lần
bị
quay
cuồng
rối
rắm;
thứ
nữa,
đầu
óc
rối
lên
không
phải
bởi
những
người
đầy
tớ
già
và
các
câu
chuyện
kể
của
họ,
mà
thông
thường
do
một
ai
khác
gây
nên.
Hơn
nữa
ảnh
hưởng
của
già
Mikolai
đối
với
chúng
tôi
không
thể
gây
tác
hại
xấu
được,
bởi
vì
ngược
lại,
chính
lão
luôn
hết
sức
quan
tâm
và
nghiêm
khắc
với
mọi
hành
vi
sai
trái
của
chúng
tôi.
Đó
là
một
con
người
luôn
tận
tụy
với
ý
nghĩa
đầy
đủ
của
từ
đó.
Đặc
tính
quý
nhất
còn
tồn
tại
từ
thời
phục
vụ
trong
quân
đội
ở
lão
chính
là
sự
tận
tâm
và
tính
chính
xác
trong
việc
thi
hành
các
mệnh
lệnh
của
cấp
trên.
Tôi
nhớ
mùa
đông
một
năm
nào
đó,
lũ
chó
sói
bắt
đầu
tác
oai
tác
quái,
gây
thiệt
hại
to
lớn
và
táo
tợn
đến
mức
đêm
đêm
từng
đàn
dăm
con
hoặc
hàng
chục
con
dám
lần
mò
vào
tận
trong
làng.
Cha
tôi,
một
người
mê
săn
bắn,
nảy
ra
ý
định
tổ
chức
một
cuộc
săn
lớn,
song
muốn
để
người
láng
giềng
của
chúng
tôi,
ngài
Ustrzycki,
một
người
săn
bắn
chó
sói
có
hạng,
cùng
tham
gia
và
trực
tiếp
chỉ
huy
việc
bao
vây,
nên
ông
đã
viết
một
bức
thư
cho
ông
kia
và
gọi
Mikolai
đến
dặn:
—
Một
người
làm
sắp
đến
thành
phố
có
công
việc,
già
Mikolai
hãy
đi
cùng
ông
ta,
dọc
đường,
đến
nhà
ngài
Ustrzycki,
già
hãy
xuống
trao
bức
thư
này
cho
ông
ấy.
Song
nhất
thiết
phải
mang
thư
trả
lời
của
ông
ấy
trở
về,
nhớ
là
nếu
không
có
câu
trả
lời
thì
đừng
vội
về.
Già
Mikolai
cầm
thư
và
cùng
với
người
làm
lên
đường.
Buổi
tối
người
làm
trở
về,
không
có
Mikolai.
Cha
tôi
nghĩ
có
lẽ
già
ngủ
đêm
tại
trang
trại
Ustrzyca
và
hôm
sau
cùng
trở
về
với
người
láng
giềng
của
chúng
tôi.
Nhưng
một
ngày
trôi
qua
không
thấy
Mikolai;
ngày
thứ
hai
trôi
qua,
không
thấy;
ngày
thứ
ba,
không
thấy.
Ở
nhà
mọi
người
bắt
đầu
than
vãn.
Cha
tôi
sợ
chó
sói
đã
tấn
công
lão
trên
đường
trở
về,
liền
cử
người
đi
tìm.
Mọi
người
tìm
kiếm
và
không
thấy
bất
kì
dấu
tích
gì.
Cha
tôi
cử
người
đến
tận
Ustrzyca.
Ở
Ustrzyca
người
ta
nói
là
lão
có
đến
nhưng
không
thấy
ông
chủ,
lão
hỏi
xem
liệu
ông
chủ
có
thể
đến
đâu,
sau
đó
lão
đã
vay
của
người
đầy
tớ
trong
nhà
bốn
rúp
và
ra
đi,
không
biết
đi
đâu.
Chúng
tôi
bấn
loạn
cả
đầu
óc,
không
biết
chuyện
đó
có
nghĩa
gì.
Hôm
sau
những
người
được
cử
đi
thăm
dò
ở
những
làng
khác
trở
về
với
thông
tin
là
không
thể
tìm
thấy
lão
ở
bất
kì
chỗ
nào.
Bấy
giờ
chúng
tôi
đã
bắt
đầu
khóc
than
cho
lão.
Mãi
đến
ngày
thứ
sáu,
buổi
tối,
đang
sắp
xếp
công
việc
cho
người
nhà
thì
nghe
ở
ngoài
cửa
có
tiếng
lau
chân
vào
thảm,
tiếng
ho
húng
hắng
và
tiếng
lầm
bầm
gì
đó
trong
mồm,
cha
tôi
nhận
ra
ngay
đó
là
già
Mikolai.
Đúng
là
già
Mikolai,
lạnh
cóng,
đói
lả,
bơ
phờ,
râu
ria
dính
đầy
những
hạt
muối
đóng
băng
trắng
xóa,
không
còn
nhận
được
ra
người.
—
Mikolai,
ôi
Chúa
ơi,
già
đã
làm
cái
quái
quỷ
gì
suốt
trong
những
ngày
qua
hả?
—
Làm
cái
gì,
làm
cái
gì?
-
Mikolai
lầm
bầm.
—
Lão
phải
làm
gì
đây?
Không
gặp
được
ông
chủ
ở
Ustrzyca,
lão
đi
Bzino.
Ở
Bzino
người
ta
bảo
khốn
nạn
cho
lão
rồi,
ngài
Ustrzycki
đã
đi
Karolowka.
Lão
lại
đi
Karolowka.
Ở
Karolowka
cũng
không
có
ông
ấy.
Khốn
nạn
thân
đời,
hay
là
ông
ấy
phải
đi
sưởi
nhờ
ở
góc
bếp
nhà
ai?
Hay
ông
ấy
không
phải
là
ông
chủ?
Ông
ấy
chắc
không
đi
bộ
như
mình.
Lão
nói
không
sai.
Từ
Karolowka
lão
đã
cuốc
bộ
đến
tận
phố
huyện,
bởi
vì
người
ta
bảo
ông
chủ
đi
về
thị
trấn.
Còn
ông
ấy
ở
thị
trấn
giải
quyết
việc
quái
gì,
ông
ấy
là
thị
trưởng
chắc?
Ông
ấy
lại
đã
đi
phủ
thống
đốc.
Chẳng
lẽ
lão
quay
về
nhà
hay
sao?
Lão
phải
cuốc
bộ
đến
tận
phủ
thống
đốc
và
trao
thư
cho
ông
ấy.
—
Thế
nào,
ông
ấy
có
thư
trả
lời
chứ?
—
Trả
lời
hay
không
trả
lời.
Thế
cũng
là
trả
lời,
bởi
ông
ấy
đã
ngoác
miệng
ra
cười
lão,
những
chiếc
răng
cửa
của
ông
ấy
lộ
cả
ra
ngoài.
Chủ
lão,
ông
ấy
nói,
đề
nghị
ta
đi
săn
vào
ngày
thứ
năm,
còn
lão
mang
thư
trao
cho
ta
vào
chủ
nhật,
lão
hiểu
không?
Bây
giờ
thì
đã
hết
cuộc
săn
rồi.
Và
ông
ấy
lại
cười.
Đây
là
thư
tr
-
Tình
Yêu
Của
Tôi,
Nỗi
Buồn
Của
Tôi
Tác
giả:
Henryk
Sienkiewicz
Dịch
giả:
Nguyễn
Văn
Thái.
NXB
Kim
Đồng
3/2016
—★—
ebook©vctvegroup
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
Thay
lời
giới
thiệu
Henryk
Sienkiewicz
là
người
Ba
Lan
đầu
tiên
được
trao
giải
Nobel
Văn
học
(năm
1905).
Ông
sinh
ngày
05-05-1846
trong
gia
đình
một
chủ
đất
đang
trên
đà
sa
sút
tại
làng
Wola
Okrzeska,
Lukowiec,
Podlasie.
Những
năm
thơ
ấu
nhà
văn
từng
sống
ở
làng
quê,
do
đó
ông
đã
có
dịp
quan
sát
đời
sống
nông
thôn
Ba
Lan
để
sau
này
đưa
vào
trang
viết
của
mình
một
cách
hết
sức
ấn
tượng.
Bắt
đầu
từ
năm
lên
chín
tuổi,
Henryk
Sienkiewicz
chuyển
tới
thủ
đô
Warszawa
học
tập
và
sinh
sống.
Ông
từng
là
sinh
viên
Luật,
sau
chuyển
sang
khoa
Ngôn
ngữ
-
Lịch
sử
(1866
-
1871),
từ
1882
đến
1887
là
phóng
viên
báo,
đã
từng
được
cử
sang
Mĩ
và
một
số
nước
Tây
Âu
làm
việc.
Nhà
văn
bắt
đầu
sự
nghiệp
văn
chương
từ
những
năm
còn
là
sinh
viên
đại
học
và
sớm
nổi
tiếng
với
các
bài
phê
bình
văn
học,
các
tiểu
phẩm
về
những
vấn
đề
đương
đại
và
cuối
cùng
là
các
bộ
tiểu
thuyết
vô
cùng
hấp
dẫn
với
nhiều
đề
tài
khác
nhau.
Henryk
Sienkiewicz
là
nhà
văn
đi
đầu
với
các
sáng
tác
văn
học
yêu
nước,
là
bậc
thầy
về
việc
sử
dụng
ngôn
ngữ,
có
đóng
góp
to
lớn
trong
việc
quảng
bá
văn
học,
đặc
biệt
là
tiểu
thuyết
Ba
Lan
ra
thế
giới.
Từ
1883
đến
1888,
ông
đã
cho
ra
đời
ba
tiểu
thuyết
lịch
sử
lớn
là
Bằng
lửa
và
bằng
gươm,
Trận
hồng
thủy
và
Ngài
Wolodyjowski,
kết
hợp
chủ
nghĩa
lãng
mạn,
sự
thật
lịch
sử
và
hư
cấu
nghệ
thuật,
đưa
tiểu
thuyết
Ba
Lan
lên
tầm
cỡ
thẩm
mĩ
chưa
từng
có
trong
giai
đoạn
đó.
Về
sau
ông
lần
lượt
cho
ra
đời
hai
tiểu
thuyết
lịch
sử
đồ
sộ
khác
là
Quo
vadis
và
Hiệp
sĩ
Thập
Tự.
Toàn
bộ
các
tiểu
thuyết
lịch
sử
của
Henryk
Sienkiewicz
không
những
hết
sức
nổi
tiếng
ở
Ba
Lan
mà
còn
là
của
báu
trong
kho
tàng
văn
học
thế
giới,
đã
được
dịch
ra
nhiều
thứ
tiếng
và
truyền
bá
rộng
rãi
khắp
các
châu
lục.
Một
số
tác
phẩm
của
ông
đã
được
dịch
ra
tiếng
Việt
như
tiểu
thuyết
lịch
sử
Quo
vadis,
Bằng
lửa
và
bằng
gươm.
Tác
phẩm
Ngài
Wolodyjowski
được
chuyển
thể
thành
phim
và
công
chiếu
rộng
rãi
ở
nhiều
nước.
Nhà
văn
mất
ngày
15-11-1916
tại
Vevey,
Thụy
Sĩ
và
ngày
27-10-1924
hộp
tro
thi
hài
được
làm
lễ
an
táng
tại
Nhà
thờ
Thánh
Jan
ở
Warszawa.
Tác
phẩm
mà
chúng
tôi
chọn
dịch
lần
này
dựa
theo
nguyên
bản
tiếng
Ba
Lan
mà
NXB
GLOB
Szczecin
tái
bản
năm
1986
dưới
nhan
đề:
STARY
SLUGA,
HANIA.
Đây
không
phải
tiểu
thuyết
lịch
sử
mà
là
tiểu
thuyết
về
đề
tài
tình
bạn,
tình
yêu
và
cuộc
sống
của
giới
quý
tộc
Ba
Lan
ở
thế
kỉ
XIX.
Tôi
bị
những
trang
sách
cuốn
hút
ngay
khi
mới
đọc,
và
đặc
biệt
xúc
động
khi
thấy
các
nhân
vật
trong
truyện
cũng
có
những
rung
động
giống
với
lớp
thanh
niên
Việt
Nam
chúng
tôi
ở
thế
kỉ
XX
làm
sao!
Mặc
dù
biết
tác
phẩm
này
đã
được
dịch
và
xuất
bản
ở
Việt
Nam,
nhưng
vì
mối
đồng
cảm
đó,
tôi
quyết
định
cứ
dịch
và
công
bố
nó,
bởi
nghĩ
như
vậy
độc
giả
càng
có
dịp
được
thưởng
thức,
thậm
chí
có
thể
so
sánh,
đánh
giá
và
góp
ý
cho
các
dịch
giả.
Warszawa,
mùa
đông
năm
2009
•
Người
dịch
Lão
bộc
Bên
cạnh
những
quản
gia
cổ
lỗ
và
người
chuyên
trông
nom
công
việc
đồng
áng
cũng
như
canh
rừng,
giờ
đây
loại
người
thứ
hai
ngày
càng
ít
xuất
hiện
trên
thế
gian
là
những
đầy
tớ
già.
Tôi
còn
nhớ
từ
thuở
mình
vẫn
còn
là
một
cậu
bé,
hầu
hạ
ở
chỗ
thân
phụ
tôi
là
một
trong
những
con
voi
ma-mut
ấy,
loại
mà
không
lâu
nữa
người
ta
chỉ
còn
thấy
bộ
xương
trên
các
nghĩa
trang
cổ,
dưới
lớp
đất
dày
bao
phủ
bởi
sự
lãng
quên,
họa
hoằn
mới
có
người
đào
bới
lên
để
nghiên
cứu.
Lão
tên
là
Mikolai
Suchowolski,
cũng
thuộc
dòng
quý
tộc
ở
một
làng
nổi
danh
có
tên
Sucha
Wola,
cái
làng
mà
trong
các
câu
chuyện
phiếm
lão
vẫn
thường
nhắc
đến.
Cha
tôi
được
thừa
hưởng
lão
sau
khi
ông
nội
qua
đời.
Lão
vốn
là
cần
vụ
cho
ông
nội
từ
thời
chiến
tranh
Napoléon.
Khi
nào
được
đưa
vào
phục
vụ
ông
nội,
bản
thân
lão
không
nhớ
chính
xác,
nếu
bị
hỏi
thì
lão
đưa
thuốc
lên
hít
và
trả
lời:
—
Từ
cái
thời
cằm
lão
còn
nhẵn
thín
mà
ngài
đại
tá,
cầu
Chúa
phù
hộ
cho
linh
hồn
ngài,
vẫn
còn
ngậm
áo
sơ
mi
trước
khi
mặc.
Trong
gia
đình
thân
phụ
tôi,
lão
đảm
nhiệm
những
trọng
trách
hết
sức
khác
nhau:
từ
bày
biện
mâm
bát
đến
hầu
hạ
phục
dịch;
mùa
hè
trong
vai
trò
quản
gia,
lão
ra
đồng
trông
nom
gặt
hái,
mùa
đông
đến
chỗ
máy
đập
lúa,
lão
giữ
chìa
khóa
hầm
rượu,
các
kho
tàng
và
nơi
chứa
đồ
dùng
cũ;
lão
cũng
đảm
nhận
việc
lên
dây
cót
đồng
hồ,
song
trên
hết,
hình
như
lão
chuyên
việc
cằn
nhằn.
Con
người
ấy
tôi
không
thể
mường
tượng
khác
hơn
là
một
người
chỉ
biết
càu
nhàu.
Lão
càu
nhàu
với
cha
tôi,
với
mẹ
tôi;
tôi
sợ
lão
như
sợ
lửa,
mặc
dù
cũng
thích
lão.
Trong
bếp
lão
nói
chuyện
ồn
ào
với
đầu
bếp,
lão
xách
tai
bọn
trẻ
phục
dịch
bưng
bê
thức
ăn
lôi
đi
khắp
nhà
và
chẳng
bao
giờ
hài
lòng
về
bất
cứ
việc
gì.
Khi
có
gì
lấn
cấn
trong
đầu,
chuyện
thường
xuyên
xảy
ra
hàng
tuần,
mọi
người
đều
tránh
xa
lão,
không
phải
vì
lúc
đó
lão
dám
cãi
lộn
cả
với
ông
chủ
hoặc
bà
chủ,
mà
bởi
vì
nếu
gây
sự
được
với
ai
thì
lão
đi
theo
người
ấy
suốt
cả
ngày,
chí
chóe
và
cằn
nhằn
không
ngừng
nghỉ.
Trong
giờ
ăn
trưa
lão
đứng
sau
ghế
của
cha
tôi
và
mặc
dù
không
trực
tiếp
phục
vụ,
lão
vẫn
nhìn
chằm
chằm
vào
cậu
bé
bưng
bê
thức
ăn
và
thường
nổi
cơn
thịnh
nộ
quát
mắng
cậu
không
ngừng.
—
Hãy
cẩn
thận,
nhìn
lại
xem
-
lão
cằn
nhằn
-
lão
sẽ
cho
mi
biết
tay.
Mọi
người
nhìn
này!
Nó
không
thể
phục
vụ
bằng
tấm
lòng,
chỉ
biết
kéo
lê
đôi
chân
giống
y
hệt
con
bò
cái
đang
bước.
Hãy
nhìn
lại
xem
nào.
Hắn
còn
không
nghe
thấy
là
ông
chủ
đang
gọi
đấy.
Hãy
thay
đĩa
cho
bà
chủ
đi.
Sao
mi
lại
há
hốc
mồm
ra
hả?
Cái
gì
thế?
Mọi
người
có
nhìn
thấy
hắn
không!
Hãy
nhìn
kĩ
hắn
mà
xem!
Lão
luôn
chõ
miệng
vào
các
cuộc
đối
thoại
quanh
bàn
ăn
và
thường
xuyên
có
ý
kiến
chống
lại
mọi
người.
Nhiều
lần
xảy
ra
chuyện
thế
này,
cha
tôi
vừa
quay
lại
phía
sau
vừa
lên
tiếng:
—
Sau
bữa
ăn
trưa,
già
Mikolai
bảo
Mateusz
thắng
ngựa
sẵn
sàng,
chúng
tôi
sẽ
đi
đến
chỗ
nọ
chỗ
kia.
Lúc
đó
Mikolai
nói:
—
Đi
ngựa
ư?
Tại
sao
lại
không
đi
chứ?
Chà
chà,
có
họa
là
lũ
ngựa
không
phải
để
dùng
vào
việc
đó.
Giá
như
con
ngựa
kia
ngã
gãy
chân
trên
đường
thì
hay
nhỉ.
Đã
là
cuộc
viếng
thăm
thì
là
cuộc
viếng
thăm
chứ
sao!
Bởi
vì
các
ông
bà
chủ
bao
giờ
chẳng
có
quyền
thoải
mái.
Lão
có
cấm
đoán
gì
đâu?
Lão
chẳng
dám
cấm
đoán.
Sao
lại
không
đi
nhỉ!
Thì
việc
quyết
toán
thu
chi
vẫn
có
thể
giải
quyết
sau
và
cả
cái
việc
đập
lúa
cũng
có
thể
chờ
đợi
được
mà.
Cuộc
viếng
thăm
cần
kíp
hơn
chứ.
—
Thật
khốn
khổ
với
lão
Mikolai
lẩn
thẩn
này.
-
Cha
tôi
thét
lên,
đôi
lúc
người
đã
tỏ
ra
sốt
ruột
như
vậy.
Còn
lão
Mikolai
lại
tiếp
tục:
—
Thì
lão
có
dám
bảo
mình
không
ngu
đần
đâu
cơ
chứ.
Lão
biết
là
mình
ngu.
Gã
kế
toán
đã
đi
khoe
mẽ
với
cô
nàng
mĩ
miều
ở
làng
Niewodow
bên
cạnh,
còn
ông
bà
chủ
chẳng
lẽ
lại
không
được
quyền
đi
thăm
viếng
hay
sao?
Chẳng
lẽ
cuộc
viếng
thăm
không
quan
trọng
bằng
cô
nương
mĩ
miều
kia
à?
Đầy
tớ
được
phép
thì
ông
chủ
cũng
phải
được
phép
chứ.
Và
thế
là
cứ
lặp
đi
lặp
lại
loanh
quanh
luẩn
quẩn,
chẳng
còn
biết
làm
cách
nào
chặn
được
miệng
ông
già
lắm
điều
lại
nữa.
Chúng
tôi,
tức
là
tôi
và
em
trai
tôi,
như
đã
kể
ở
phần
trên,
thường
sợ
lão
có
lẽ
hơn
cả
sợ
gia
sư
của
chúng
tôi,
cha
Ludwik,
và
chắc
chắn
sợ
hơn
bố
mẹ
mình
rồi.
Đối
với
các
em
gái
tôi,
lão
tỏ
vẻ
lễ
độ
hơn.
Lão
thường
một
điều
"cô
chủ
nhỏ",
hai
điều
"cô
chủ
nhỏ",
mặc
dù
chúng
ít
tuổi
hơn
tôi,
còn
với
chúng
tôi
thì
lão
đụng
chạm
sờ
soạng
chẳng
hề
nể
nang.
Riêng
đối
với
tôi
lão
có
sức
thu
hút
đặc
biệt;
bởi
lão
thường
xuyên
mang
nhiều
đạn
súng
ngắn
trong
túi.
Nhiều
lần
sau
những
giờ
học,
tôi
e
ngại
đi
đến
gần
tủ
đựng
thức
ăn,
cố
nở
nụ
cười
thật
lễ
độ
và
tỏ
ra
dễ
thương
nhất,
tôi
ngập
ngừng
lên
tiếng:
—
Già
Mikolai
ơi!
Cháu
chào
già
Mikolai.
Hôm
nay
già
Mikolai
có
định
lau
súng
hay
không
ạ?
—
Cậu
Henryk
muốn
gì
đây?
Giẻ
lau
lão
đã
chuẩn
bị
sẵn
và
đủ
rồi.
Và
sau
đó
bắt
chước
tôi,
lão
nói:
—
Già
Mikolai
ơi,
già
Mikolai
ơi!
Nếu
nói
về
súng
đạn
thì
Mikolai
giỏi,
nếu
không
thì
hãy
để
chó
sói
ăn
thịt
lão
đi.
Tốt
hơn
hết
là
cậu
hãy
đi
học
bài
vở
của
mình.
Việc
bắn
súng
chẳng
mang
lại
trí
khôn
cho
cậu
đâu.
—
Cháu
đã
học
xong
bài
rồi.
-
Tôi
trả
lời
như
muốn
khóc.
—
Đã
học
xong
bài.
Chà!
Đã
xong
bài
rồi
đấy.
Cứ
học
và
học,
còn
đầu
óc
thì
vẫn
rỗng
tuếch
như
cái
ba
lô
nhỏ
xíu
ấy.
Lão
không
cho
bắn,
dứt
khoát
không
là
không.
(Lão
vừa
nói
vừa
lần
mò
tìm
kiếm
thứ
gì
đó
trong
túi
áo).
Thế
giả
sử
lúc
nào
đó
chẳng
may
mảnh
đạn
bắn
vào
mắt
thì
rồi
lại
réo
tên
Mikolai
ra.
Ai
có
lỗi?
Mikolai!
Ai
cho
phép
bắn?
Mikolai.
Cứ
vừa
lầm
bầm
như
vậy,
lão
vừa
đi
vào
căn
phòng
của
cha
tôi,
lấy
súng
xuống,
thổi
phù
phù
thông
nòng,
kiểm
tra
đi
kiểm
tra
lại
cho
đến
lúc
chắc
chắn
là
không
có
gì
bất
ổn
có
thể
xảy
ra,
lão
thắp
một
ngọn
nến,
nhồi
thuốc
vào
nòng
súng
và
đưa
cho
tôi
ngắm
bắn,
vào
những
lúc
như
thế
thường
thì
tôi
còn
phải
còng
lưng
mang
thêm
một
cây
thập
ác
lớn
nữa.
—
Hắn
cầm
cây
súng
hay
chưa
kìa,
-
lão
nói
-
cứ
lóng
ngóng
như
gã
y
sĩ
tập
tiêm.
Cậu
định
bắn
tắt
nến
ở
chỗ
nào
đấy?
Lập
cà
lập
cập
như
ông
nội
ở
nhà
thờ.
Cậu
đi
tu
làm
cha
cố
thì
hơn,
ngữ
này
chẳng
có
sức
khỏe
để
trở
thành
quân
nhân
được
đâu.
Mặc
dù
vậy
lão
vẫn
dạy
chúng
tôi
nghệ
thuật
chiến
đấu
xưa
kia
của
mình.
Nhiều
lần
sau
bữa
ăn
trưa,
tôi
và
em
trai
tôi
vẫn
học
mốt
hai
mốt
đi
đều
bước
dưới
sự
chỉ
huy
của
lão,
và
cùng
tham
gia
đi
đều
với
chúng
tôi
còn
có
cả
cha
Ludwik,
một
người
thực
hiện
việc
đó
trông
rất
khôi
hài.
Lúc
bấy
giờ
Mikolai
thường
ngước
mắt
lên
ngắm
nhìn
cha,
và
sau
đó
mặc
dù
vốn
trong
đời
chỉ
sợ
một
người
duy
nhất
đó
là
cha
cố,
song
lão
cũng
không
thể
nhịn
được
mà
nói:
—
Ê,
khi
đức
cha
bước
chân
đi
đều
theo
kiểu
đó
thì
chẳng
khác
gì
một
con
bò
cái
già.
Tôi,
với
tư
cách
là
anh
lớn,
thường
phải
nghe
lệnh
chỉ
huy
của
lão
nhiều
nhất,
và
vì
thế
cũng
vất
vả
nhất.
Mặc
dù
vậy,
khi
tôi
đến
tuổi
phải
gửi
vào
trường,
già
Mikolai
lại
rên
lên
ư
ử,
cứ
như
là
một
tai
họa
gì
đó
cực
lớn
đã
xảy
ra.
Cha
mẹ
tôi
kể
lại
rằng,
sau
khi
tôi
đi,
lão
lại
càng
hay
bẳn
gắt
hơn
và
đã
làm
phiền
họ
có
lẽ
dễ
đến
hai
tuần
tiếp
sau:
"Người
ta
đã
bắt
thằng
bé
và
mang
nó
đi",
lão
nói:
"giả
sử
nó
chết
thì
biết
làm
sao!
Hu,
hu,
hu!
Nó
cần
gì
phải
đến
trường
học
cơ
chứ.
Chẳng
lẽ
nó
không
phải
là
người
thừa
kế
gia
tài
hay
sao.
Lại
còn
phải
học
tiếng
Latinh
nữa
làm
gì?
Họ
định
biến
nó
thành
Salomon,
ông
vua
thông
thái
hay
sao.
Đúng
là
đồi
bại!
Đứa
bé
đã
đi
rồi,
đi
mất
tiêu
rồi,
thế
mà
ông
chủ
vẫn
còn
cứ
quanh
quẩn
từ
góc
nọ
sang
góc
kia
và
tìm
kiếm
khắp
ngôi
nhà
như
thể
đã
để
rơi
mất
vật
gì
đó.
Quỷ
tha
ma
bắt
các
người
đi".
Tôi
còn
nhớ
những
giây
phút
đầu
tiên
khi
mình
trở
về
nhân
dịp
lễ,
lúc
đó
tất
cả
mọi
người
đang
còn
ngủ
trong
nhà.
Trời
có
lẽ
mới
vừa
hừng
sáng:
buổi
sáng
mùa
đông,
băng
tuyết.
Sự
yên
tĩnh
chỉ
bị
khuấy
động
bởi
tiếng
kêu
cót
két
đều
đều
của
cần
quay
giếng
nước
trong
trang
trại
và
tiếng
chó
sủa.
Tất
cả
cửa
sổ
trong
nhà
đều
được
đóng
kín,
chỉ
có
cửa
sổ
ở
dưới
bếp
là
hắt
ra
ánh
lửa,
làm
hồng
lên
đám
tuyết
nằm
sát
chân
tường.
Lúc
bấy
giờ
tôi
trở
về
với
vẻ
mặt
buồn
bã,
âu
lo
và
nỗi
sợ
hãi
trong
lòng,
bởi
tôi
nhận
được
lời
phê
đầu
tiên
hoàn
toàn
không
có
gì
đáng
tự
hào
cho
lắm.
Bởi
tôi
chưa
được
trang
bị
thích
hợp,
chưa
làm
quen
được
với
thói
quen
học
tập
và
kỉ
luật
nhà
trường,
do
đó
tôi
không
biết
mình
phải
làm
gì
và
làm
như
thế
nào.
Vì
thế
tôi
sợ
cha
tôi,
sợ
vẻ
mặt
nghiêm
khắc
và
lạnh
lùng
của
cha
Ludwik,
người
đã
đi
đón
tôi
từ
Warszawa
về.
Không
biết
tìm
đâu
cho
được
lòng
can
đảm
cho
mãi
đến
khi
tôi
chợt
nhìn
thấy
cửa
nhà
bếp
mở
toang
và
già
Mikolai
với
sống
mũi
đỏ
au
vì
giá
lạnh,
đang
lội
trong
tuyết
và
bưng
chiếc
khay
với
hai
nồi
nhỏ
đựng
váng
sữa
bốc
khói
nghi
ngút.
"Trời
ơi,
cậu
ấm
vàng
ngọc,
cục
cưng
quý
hóa
nhất
đời
tôi!",
lão
kêu
tướng
lên
khi
nhìn
thấy
tôi
và
đặt
vội
khay
xuống,
làm
đổ
cả
hai
nồi
váng
sữa
và
lập
tức
chạy
đến
vồ
lấy
cổ
tôi,
rồi
bắt
đầu
vừa
xoa
bóp
vừa
hôn
hít.
Từ
đó
trở
đi
lão
luôn
luôn
gọi
tôi
là
"cậu
ấm".
Mặc
dù
vậy,
suốt
hai
tuần
sau
đó
lão
không
thể
tha
cho
tôi
cái
tội
làm
lão
đánh
đổ
mất
khay
váng
sữa:
"Người
ta
đang
cầm
khay
váng
sữa
đàng
hoàng",
lão
nói,
"tự
nhiên
hắn
đi
đến.
Lại
cố
tình
chọn
đúng
vào
lúc
đó
để
mà
đi
về
nhà...",
v.v...
Cha
tôi
định
đánh
đòn
tôi,
ít
nhất
là
đã
tuyên
bố
như
thế,
vì
hai
điểm
kém
trong
môn
tập
viết
và
tiếng
Đức
mà
tôi
bị
ghi
vào
sổ
liên
lạc.
Song
một
phần
vì
những
giọt
nước
mắt
và
lời
hứa
sẽ
cố
gắng
sửa
chữa
của
tôi,
phần
vì
sự
can
thiệp
của
người
mẹ
luôn
ngọt
ngào
đối
với
tôi,
và
cuối
cùng
vì
sự
nổi
loạn
mà
lão
Mikolai
gây
ra
đã
làm
cho
cha
tôi
phải
dừng
lại.
Về
cái
môn
tập
viết,
lão
Mikolai
không
cần
biết
đó
là
môn
gì,
còn
hình
phạt
về
môn
tiếng
Đức,
lão
chẳng
muốn
nghe
nhắc
đến
dù
chỉ
một
lời.
—
Ồ,
thế
thằng
bé
là
người
theo
Tân
giáo
hay
là
người
Đức
đấy
nhỉ?
-
Lão
nói.
-
Hay
là
ngày
xưa
ngài
đại
tá
cũng
phải
biết
tiếng
Đức?
Hay
là
chính
bản
thân
ông
(lão
quay
lại,
hướng
cái
nhìn
về
phía
cha
tôi)
biết
thứ
tiếng
ấy?
Thế
nào?
Khi
mà
chúng
tôi
gặp
bọn
Đức,
trong
trận
đánh
ở
vùng
nào
nhỉ,
à,
mà
ở
Lipsk,
và
chỉ
có
quỷ
mới
biết
còn
ở
đâu
nữa,
thì
lúc
bấy
giờ,
chỉ
có
phang,
chẳng
ai
nói
với
chúng
bằng
tiếng
Đức
cả,
chỉ
có
phang
và
phang,
và
chúng
phơi
xương
sườn
ra
cho
chúng
tôi
phang,
chỉ
có
thế
thôi.
Già
Mikolai
còn
có
một
đặc
tính
nữa.
Ấy
là
hiếm
khi
lão
nói
về
những
chiến
tích
xưa
kia
của
mình,
còn
trong
những
giây
phút
hưng
phấn
đặc
biệt,
khi
đã
hăng
máu
ba
hoa
thì
lão
lại
hay
khoác
lác
như
thể
được
thuê
để
làm
việc
ấy.
Lão
không
làm
điều
đó
với
một
mục
tiêu
gì
xấu
xa;
có
lẽ
trong
cái
đầu
già
nua
của
lão,
những
sự
kiện
xảy
ra
đan
xen
lẫn
lộn
cái
nọ
với
cái
kia
và
cứ
thế
phát
triển
lớn
đến
mức
trở
thành
hão
huyền.
Bất
cứ
chuyện
gì
hay
lúc
nào
kể
về
những
kỉ
niệm
chiến
tranh
thời
xa
xưa,
lão
đều
gắn
vào
bản
thân
mình
và
ông
nội
đại
tá
của
tôi,
và
lão
thật
sự
thành
kính
tin
vào
điều
mà
mình
kể.
Nhiều
hôm
trong
nhà
kho,
trông
coi
bọn
nông
nô
xay
đập
thóc
lúa,
khi
bắt
đầu
ba
hoa
với
họ,
thì
những
người
nông
dân
bỏ
cả
công
việc
và
say
sưa
ngả
lưng
vào
đòn
đập
lúa,
họ
ngồi
chăm
chú
lắng
nghe,
như
nuốt
từng
lời
phát
ra
từ
miệng
lão.
Đôi
lúc,
khi
phát
hiện
ra
điều
đó,
lão
lập
tức
quát
to:
—
Sao
chúng
bay
lại
nhe
răng
ra
dọa
cứ
như
muốn
nã
đại
bác
vào
ta
là
thế
nào
hả?
Và
thế
là
lại
nghe
những
tiếng
cụp,
cụp,
pụp,
pụp.
Những
tiếng
kêu
của
đòn
đập
lúa
nện
vào
những
bó
lúa
vang
lên
một
thôi
một
hồi;
ông
già
im
lặng,
nhưng
sau
đó
lại
bắt
đầu
ba
hoa:
—
Con
trai
lão
viết
thư
báo
rằng
hắn
mới
được
phong
hàm
tướng,
phục
vụ
ở
chỗ
hoàng
hậu
Palmira.
Ở
đó
hắn
sướng
rồi,
tha
hồ
phang,
tiền
lương
hàng
tháng
lại
cao,
đánh
đấm
thoải
mái,
chỉ
có
điều
vùng
ấy
lạnh
thấu
xương.
Cũng
cần
mở
ngoặc
là
con
cái
lão
không
thành
đạt
cho
lắm.
Lão
có
một
người
con
trai,
song
đó
là
gã
vô
lại,
nuôi
đến
tuổi
trưởng
thành,
có
Chúa
mới
biết
tại
làm
sao
mà
gã
lại
bỏ
đi
đến
một
phương
trời
nào
đó,
không
để
lại
mảy
may
dấu
tích
nào.
Còn
cô
con
gái
lão,
có
thời
nghe
nói
hình
như
là
một
nàng
tiên
đẹp
tuyệt
trần,
quyến
rũ
tất
cả
các
chàng
trai
có
chút
địa
vị
từng
xuất
hiện
trong
làng,
và
cuối
cùng
sau
khi
cho
ra
đời
một
bé
gái
thì
nàng
đã
vội
vã
từ
giã
cõi
đời.
Bé
gái
đó
tên
là
Hania.
Đó
là
cô
gái
trạc
tuổi
tôi,
rất
tuyệt
vời,
nhưng
là
một
cô
gái
hay
đau
yếu.
Nhiều
lần,
tôi
còn
nhớ,
chúng
tôi
đã
cùng
chơi
với
nhau
trò
trận
giả:
Hania
đóng
làm
lính
trống,
còn
các
bụi
cây
là
quân
địch.
Đó
là
cô
gái
tốt
bụng
và
dịu
dàng
như
thiên
thần.
Một
số
phận
nghiệt
ngã
cũng
đang
chờ
nàng
trong
cuộc
đời,
song
đó
chỉ
là
những
mảng
hồi
ức
của
tôi,
không
gắn
gì
với
chuyện
đang
diễn
ra.
Bây
giờ
xin
phép
quay
trở
lại
chuyện
về
ông
già.
Chính
tai
tôi
đã
nghe
lão
kể
rằng,
có
lần
các
chiến
mã
của
đoàn
kị
binh
vừa
hí
vang
trời
ở
tận
Mariampol,
thế
mà
mười
tám
ngàn
con
ngựa
bất
thình
lình
nhảy
vượt
qua
rào
chắn
tiến
vào
Warszawa.
Đã
có
bao
nhiêu
người
bị
ngựa
giẫm
đè
lên
khi
bắt
lại
được
chúng,
thật
dễ
dàng
tưởng
tượng!
Sao
lại
có
ngày
định
mệnh
như
thế
chứ!
Lần
khác
lão
kể,
nhưng
đây
không
phải
ở
nhà
kho
nữa,
mà
tất
cả
chúng
tôi
đều
được
nghe
ở
ngay
ngoài
sân,
câu
chuyện
như
thế
này:
—
Tôi
đánh
đấm
có
giỏi
không?
Tại
sao
lại
không
giỏi
cơ
chứ!
Tôi
nhớ
có
lần,
đó
là
chuyện
xảy
ra
trong
cuộc
chiến
với
bọn
Áo.
Tôi
đang
đứng
trong
hàng
quân,
tôi
nhắc
lại
là
đang
đứng
trong
hàng
quân
mình
nhé,
bỗng
nhiên
có
vị
tướng
tổng
chỉ
huy
quân
đội,
tức
là
tướng
chỉ
huy
bọn
Áo
ấy,
phi
ngựa
từ
phía
bên
kia
đến
trước
mặt
tôi
và
thét
to:
"Ê,
nhà
ngươi,
gã
Suchowolski
kia,
ta
biết
rõ
ngươi!
Giá
mà
chúng
ta
bắt
sống
được
nhà
ngươi
nhỉ,
lúc
đó
toàn
bộ
cuộc
chiến
này
sẽ
kết
thúc".
—
Thế
hắn
không
đả
động
gì
đến
ngài
đại
tá
à?
-
Cha
tôi
hỏi.
—
Sao
lại
không,
tôi
chẳng
đã
nói
rõ
ràng
rằng
hắn
thét
to,
giá
mà
chúng
ta
bắt
sống
được
nhà
ngươi
cùng
viên
đại
tá...
Cha
Ludwik
tỏ
ra
sốt
ruột,
nói:
—
Ê,
lão
Mikolai,
khoác
lác
vừa
vừa
thôi,
cứ
như
là
lão
chuyên
nhận
lương
để
nói
khoác
ấy.
Lão
già
tím
mặt
lại
và
chắc
chắn
tức
sôi
người
lên,
nhưng
bởi
vốn
nể
sợ
cha
cố
và
cũng
tôn
trọng
ông
ta
nữa,
lão
chỉ
im
lặng,
và
sau
đó
như
thể
muốn
làm
dịu
tình
hình,
lão
kể
tiếp:
—
Cha
tuyên
úy
Sieklucki
cũng
nói
y
như
vậy
với
tôi.
Có
lần
tôi
bị
một
trái
lựu
đạn
của
quân
Áo
vào
xương
thứ
hai
mươi,
tức
là
tôi
muốn
nói
ở
gióng
sườn
thứ
năm
của
mình,
thật
là
nguy
kịch.
A
ha,
tôi
nghĩ,
cần
phải
chết
thôi,
do
đó
tôi
phải
xin
Chúa
Toàn
năng
cho
rửa
tội
trước
cha
tuyên
úy
Sieklucki.
Thế
là
cha
Sieklucki
nghe,
nghe
chăm
chú
lắm,
rồi
cha
nói:
"Mikolai,
con
phải
biết
sợ
Chúa
chứ,
sao
toàn
nói
khoác
thôi!"
Còn
tôi
trả
lời
cha
rằng
rất
có
thể
là
như
vậy,
song
con
không
thể
nhớ
gì
hơn
được
nữa.
—
Thế
họ
có
chữa
lành
vết
thương
cho
lão
không?
—
Lành
chứ,
lành
chứ!
Song
họ
chữa
lành
cái
gì
cho
lão!
Lão
tự
chữa
cho
mình
thì
có.
Lão
chỉ
cần
lấy
bột
thuốc
súng
từ
hai
viên
đạn
ra
rắc
vào
cút
rượu
vodka,
khuấy
đều
lên,
rồi
nốc
một
hơi
trước
khi
đi
ngủ,
thế
là
sáng
hôm
sau
thức
dậy
đã
lại
khỏe
mạnh
như
cá
về
với
nước.
Tôi
sẵn
sàng
lắng
nghe
những
câu
chuyện
như
thế
của
lão
và
ghi
lại
cho
mọi
người
cùng
nghe,
song
cha
Ludwik
không
hiểu
tại
sao
lại
cấm
lão
Mikolai,
như
cha
nói
"nếu
kể
tiếp
chỉ
làm
đầu
óc
người
ta
rối
lên
thôi".
Cha
Ludwik
thật
đáng
thương,
là
một
linh
mục,
đồng
thời
là
cư
dân
của
một
làng
quê
bé
nhỏ
yên
bình,
cha
không
hiểu
được
rằng,
thứ
nhất,
với
mỗi
chàng
trai
bị
bứt
từ
một
góc
thầm
lặng
của
gia
đình
quăng
ra
với
sóng
gió
của
biển
đời
rộng
lớn,
đầu
óc
không
chỉ
một
lần
bị
quay
cuồng
rối
rắm;
thứ
nữa,
đầu
óc
rối
lên
không
phải
bởi
những
người
đầy
tớ
già
và
các
câu
chuyện
kể
của
họ,
mà
thông
thường
do
một
ai
khác
gây
nên.
Hơn
nữa
ảnh
hưởng
của
già
Mikolai
đối
với
chúng
tôi
không
thể
gây
tác
hại
xấu
được,
bởi
vì
ngược
lại,
chính
lão
luôn
hết
sức
quan
tâm
và
nghiêm
khắc
với
mọi
hành
vi
sai
trái
của
chúng
tôi.
Đó
là
một
con
người
luôn
tận
tụy
với
ý
nghĩa
đầy
đủ
của
từ
đó.
Đặc
tính
quý
nhất
còn
tồn
tại
từ
thời
phục
vụ
trong
quân
đội
ở
lão
chính
là
sự
tận
tâm
và
tính
chính
xác
trong
việc
thi
hành
các
mệnh
lệnh
của
cấp
trên.
Tôi
nhớ
mùa
đông
một
năm
nào
đó,
lũ
chó
sói
bắt
đầu
tác
oai
tác
quái,
gây
thiệt
hại
to
lớn
và
táo
tợn
đến
mức
đêm
đêm
từng
đàn
dăm
con
hoặc
hàng
chục
con
dám
lần
mò
vào
tận
trong
làng.
Cha
tôi,
một
người
mê
săn
bắn,
nảy
ra
ý
định
tổ
chức
một
cuộc
săn
lớn,
song
muốn
để
người
láng
giềng
của
chúng
tôi,
ngài
Ustrzycki,
một
người
săn
bắn
chó
sói
có
hạng,
cùng
tham
gia
và
trực
tiếp
chỉ
huy
việc
bao
vây,
nên
ông
đã
viết
một
bức
thư
cho
ông
kia
và
gọi
Mikolai
đến
dặn:
—
Một
người
làm
sắp
đến
thành
phố
có
công
việc,
già
Mikolai
hãy
đi
cùng
ông
ta,
dọc
đường,
đến
nhà
ngài
Ustrzycki,
già
hãy
xuống
trao
bức
thư
này
cho
ông
ấy.
Song
nhất
thiết
phải
mang
thư
trả
lời
của
ông
ấy
trở
về,
nhớ
là
nếu
không
có
câu
trả
lời
thì
đừng
vội
về.
Già
Mikolai
cầm
thư
và
cùng
với
người
làm
lên
đường.
Buổi
tối
người
làm
trở
về,
không
có
Mikolai.
Cha
tôi
nghĩ
có
lẽ
già
ngủ
đêm
tại
trang
trại
Ustrzyca
và
hôm
sau
cùng
trở
về
với
người
láng
giềng
của
chúng
tôi.
Nhưng
một
ngày
trôi
qua
không
thấy
Mikolai;
ngày
thứ
hai
trôi
qua,
không
thấy;
ngày
thứ
ba,
không
thấy.
Ở
nhà
mọi
người
bắt
đầu
than
vãn.
Cha
tôi
sợ
chó
sói
đã
tấn
công
lão
trên
đường
trở
về,
liền
cử
người
đi
tìm.
Mọi
người
tìm
kiếm
và
không
thấy
bất
kì
dấu
tích
gì.
Cha
tôi
cử
người
đến
tận
Ustrzyca.
Ở
Ustrzyca
người
ta
nói
là
lão
có
đến
nhưng
không
thấy
ông
chủ,
lão
hỏi
xem
liệu
ông
chủ
có
thể
đến
đâu,
sau
đó
lão
đã
vay
của
người
đầy
tớ
trong
nhà
bốn
rúp
và
ra
đi,
không
biết
đi
đâu.
Chúng
tôi
bấn
loạn
cả
đầu
óc,
không
biết
chuyện
đó
có
nghĩa
gì.
Hôm
sau
những
người
được
cử
đi
thăm
dò
ở
những
làng
khác
trở
về
với
thông
tin
là
không
thể
tìm
thấy
lão
ở
bất
kì
chỗ
nào.
Bấy
giờ
chúng
tôi
đã
bắt
đầu
khóc
than
cho
lão.
Mãi
đến
ngày
thứ
sáu,
buổi
tối,
đang
sắp
xếp
công
việc
cho
người
nhà
thì
nghe
ở
ngoài
cửa
có
tiếng
lau
chân
vào
thảm,
tiếng
ho
húng
hắng
và
tiếng
lầm
bầm
gì
đó
trong
mồm,
cha
tôi
nhận
ra
ngay
đó
là
già
Mikolai.
Đúng
là
già
Mikolai,
lạnh
cóng,
đói
lả,
bơ
phờ,
râu
ria
dính
đầy
những
hạt
muối
đóng
băng
trắng
xóa,
không
còn
nhận
được
ra
người.
—
Mikolai,
ôi
Chúa
ơi,
già
đã
làm
cái
quái
quỷ
gì
suốt
trong
những
ngày
qua
hả?
—
Làm
cái
gì,
làm
cái
gì?
-
Mikolai
lầm
bầm.
—
Lão
phải
làm
gì
đây?
Không
gặp
được
ông
chủ
ở
Ustrzyca,
lão
đi
Bzino.
Ở
Bzino
người
ta
bảo
khốn
nạn
cho
lão
rồi,
ngài
Ustrzycki
đã
đi
Karolowka.
Lão
lại
đi
Karolowka.
Ở
Karolowka
cũng
không
có
ông
ấy.
Khốn
nạn
thân
đời,
hay
là
ông
ấy
phải
đi
sưởi
nhờ
ở
góc
bếp
nhà
ai?
Hay
ông
ấy
không
phải
là
ông
chủ?
Ông
ấy
chắc
không
đi
bộ
như
mình.
Lão
nói
không
sai.
Từ
Karolowka
lão
đã
cuốc
bộ
đến
tận
phố
huyện,
bởi
vì
người
ta
bảo
ông
chủ
đi
về
thị
trấn.
Còn
ông
ấy
ở
thị
trấn
giải
quyết
việc
quái
gì,
ông
ấy
là
thị
trưởng
chắc?
Ông
ấy
lại
đã
đi
phủ
thống
đốc.
Chẳng
lẽ
lão
quay
về
nhà
hay
sao?
Lão
phải
cuốc
bộ
đến
tận
phủ
thống
đốc
và
trao
thư
cho
ông
ấy.
—
Thế
nào,
ông
ấy
có
thư
trả
lời
chứ?
—
Trả
lời
hay
không
trả
lời.
Thế
cũng
là
trả
lời,
bởi
ông
ấy
đã
ngoác
miệng
ra
cười
lão,
những
chiếc
răng
cửa
của
ông
ấy
lộ
cả
ra
ngoài.
Chủ
lão,
ông
ấy
nói,
đề
nghị
ta
đi
săn
vào
ngày
thứ
năm,
còn
lão
mang
thư
trao
cho
ta
vào
chủ
nhật,
lão
hiểu
không?
Bây
giờ
thì
đã
hết
cuộc
săn
rồi.
Và
ông
ấy
lại
cười.
Đây
là
thư
tr
 








Các ý kiến mới nhất