_ky-uc-lac-loai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:44' 03-02-2026
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:44' 03-02-2026
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
KÝ ỨC LẠC LOÀI
The Emigrants
Tác giả: W. B. Sebald
Đăng Thư dịch
❃❃❃
ebook©vctvegroup
21.5.2020
https://thuviensach.vn
BÁC SĨ HENRY SELWYN
Và những tàn tích cuối cùng ký ức thủ tiêu
C
uối tháng Chín năm 1970, không lâu trước khi nhận nhiệm sở
ở Norwich, tôi cùng Clara lái xe đến Hingham tìm một chỗ
thuê để ở. Được chừng hai mươi lăm cây số thì con đường chạy
giữa những mảnh ruộng và bờ giậu, dưới những tán sồi xòe rộng,
băng qua mấy thôn xóm thưa thớt, mãi mới thấy Hingham hiện ra,
những mái đầu hồi không cân xứng của chốn ấy, tháp chuông nhà
thờ cùng những ngọn cây nhô lên trơ trụi trên vùng bình nguyên.
Khu chợ, rộng lớn với những dãy dài mặt tiền lặng câm, không một
bóng người, nhưng dù vậy, chúng tôi cũng nhanh chóng tìm ra ngôi
nhà mà những người môi giới đã mô tả. Là cơ ngơi thuộc loại lớn
nhất làng này, nó nằm khá gần ngôi nhà thờ có khu nghĩa địa đầy
cỏ, những cây xích tùng và thanh tùng, trên một đường rẽ yên tĩnh.
Nhà nằm khuất sau một bức tường cao hai mét với bụi rậm hồng dại
và cây nhựa ruồi. Chúng tôi bước xuống bờ dốc thoải bên đường xe
chạy vào nhà và đi băng qua khoảng sân trước rải sỏi bằng phẳng.
Phía bên phải, sau các chuồng ngựa và nhà phụ, là một rặng sồi
vươn cao lên bầu trời thu quang đãng, những loài chim làm tổ ở đó
đã bay đâu mất vào buổi trưa, chỉ thỉnh thoảng mới nghe tiếng xáo
động trong những chiếc tổ lốm đốm đen trên vòm lá xanh. Mặt trước
ngôi nhà lớn kiểu tân cổ điển này mọc đầy dây leo kim ngân. Cánh
cửa sơn đen có treo thanh gõ bằng đồng hình con cá. Chúng tôi gõ
https://thuviensach.vn
mấy tiếng nhưng không thấy động tĩnh gì trong nhà. Chúng tôi lùi lại
một chút. Những khung cửa sổ, mỗi cửa chia thành mười hai ô,
phản chiếu lù mù, dường như làm bằng loại kính sậm màu. Ngôi
nhà dường như chưa từng có ai ở. Và tôi nhớ đến cái lâu đài ở
Charente mà có lần tôi từ Angoulème ghé thăm. Trước mặt nhà, hai
anh em điên rồ - một người là nghị viên, người kia là kiến trúc sư đã dựng lên một bản sao mặt tiền của điện Versailles, một sự giả
mạo hoàn toàn vô nghĩa, cho dù từ xa nhìn thấy là đã có ấn tượng
mạnh. Những cửa sổ của lâu đài đó cũng lóe sáng lờ mờ như cửa
sổ ngôi nhà mà chúng tôi hiện đang đứng phía trước. Rõ ràng là
chúng tôi sẽ phải lái xe đi tiếp mà chẳng được việc gì rồi, nếu như
chúng tôi đã không liếc nhanh nhìn nhau dọ ý, rồi quyết lòng ít nhất
cũng phải xem qua khu vườn một cái. Thận trọng, chúng tôi đi
quanh ngôi nhà ấy. Ở phía bắc, chỗ các bức tường gạch đã xanh rì
vì đám dây leo thường xuân lốm đốm và ẩm ướt phủ kín một phần,
có một lối đi rêu bám băng qua ngõ ra vào của những người giúp
việc, qua lều chứa củi, xuyên qua những vùng bóng râm dày đặc, rồi
dẫn tới, cứ như bước ra sân khấu, một hàng hiên có bao lơn bằng
đá nhìn ra một bãi cỏ rộng, vuông vức, có bồn hoa, bụi con và cây
lớn bao quanh. Bên kia bãi cỏ ấy, về phía tây, khu vườn này thông
ra một công viên lớn rải rác những cây chanh, cây du và cây sồi cô
đơn, và xa hơn nữa là khu đất canh tác nhấp nhô thoai thoải và
những núi mây trắng ở chân trời. Trong im lặng chúng tôi ngắm nhìn
quang cảnh ấy, quang cảnh thu hút cái nhìn về phía xa theo nhịp
uốn lượn của mặt đất, và chúng tôi nhìn ngắm một hồi lâu, cứ tưởng
chỉ có riêng mình, cho đến khi nhận ra bóng người bất động đang
nằm trên bãi cỏ trong vùng bóng râm của một cây tuyết tùng cao vút
ở góc vườn phía tây nam. Đó là một ông già, đang tựa đầu trên
https://thuviensach.vn
cánh tay, và dường như ông hoàn toàn mê mải lặng nhìn vạt đất ở
ngay trước mắt. Chúng tôi băng qua bãi cỏ đi tới chỗ ông, từng
bước chân lâng lâng tuyệt vời trên cỏ. Mãi tới khi chúng tôi đến gần
bên ông mới hay biết. Ông đứng dậy, không khỏi đôi chút ngượng
ngùng. Tuy cao và vai rộng, nhưng trông ông lại có vẻ to bè, thậm
chí là thấp lùn. Có lẽ cái ấn tượng này phát xuất từ cách ông nhìn,
đầu hạ thấp, cặp mắt kính gọng vàng trễ xuống dưới mắt, một thói
quen khiến ông có dáng điệu lom khom, cứ như đang muốn khẩn
nài điều gì. Mái tóc bạc của ông chải ngược ra sau, nhưng có vài lọn
tóc lạc đường cứ phủ xuống vầng trán cao lạ thường. Tôi đang đếm
những cọng cỏ, ông nói, như để xin lỗi cho sự lơ đãng của mình. Đó
gần như là trò tiêu khiển của tôi. Cái trò khá là gây bực mình, tôi e là
vậy. Ông gạt một lọn tóc bạc ra phía sau đầu. Những động tác của
ông dường như vừa lúng túng nhưng lại vừa đàng hoàng hết sức;
lại thêm phong thái lịch sự quen thuộc, kiểu lịch sự đã lâu rồi không
còn ai áp dụng, trong cách ông tự giới thiệu mình là bác sĩ Henry
Selwyn. Chắc chắn là chúng tôi đến đây vì căn hộ, ông nói tiếp.
Theo như ông biết, căn hộ vẫn chưa cho thuê, nhưng chúng tôi có lẽ
phải chờ bà Selwyn quay về, vì bà ấy mới là chủ nhà còn ông chỉ là
người sống trong khu vườn này, một kiểu ẩn sĩ làm kiểng. Trong
cuộc trò chuyện tiếp theo những lời mào đầu ấy, chúng tôi tản bộ
dọc theo hàng rào sắt phân cách khu vườn này với khu công viên
mở rộng, chúng tôi dừng lại một chút. Ba con ngựa xám nặng nề
đang đi quanh một lùm cây dương, vừa khịt mũi vừa hất tung những
tảng đất cỏ theo nhịp bước. Chúng kéo nhau về phía chúng tôi và
đứng trong tư thế chờ đợi, bác sĩ Selwyn lấy đồ ăn trong túi quần ra
vừa cho ngựa ăn vừa vuốt ve mõm chúng. Tôi thả ra cho chúng ăn
cỏ, ông nói. Năm ngoái, tôi mua mấy con ngựa này ở một cuộc đấu
https://thuviensach.vn
giá chỉ với mấy bảng Anh. Nếu không thì chúng nhất định sẽ đi
thẳng tới lò mổ. Chúng tên là Herschel, Humphrey và Hippolytus. Tôi
không biết gì về cuộc đời cũ của chúng, lúc tôi mua về thì chúng
đang trong tình trạng thảm thương. Lông lá thì đầy rận, mắt đã mờ
đục, còn móng đã nứt rạn hết vì dầm chân trong ruộng nước. Nhưng
bây giờ chúng đã hồi phục được phần nào rồi, bác sĩ Selwyn nói, và
có lẽ chúng còn sống được một hay vài năm nữa. Nói xong ông giã
từ mấy con ngựa, chúng rõ ràng rất yêu mến ông, rồi cùng chúng tôi
tha thẩn đến những chỗ xa hơn trong vườn, chốc chốc ông lại dừng
chân và trò chuyện càng lúc càng cởi mở và chi tiết. Xuyên qua bụi
cây ở mặt phía nam của bãi cỏ là lối đi dẫn đến một con đường dạo
bộ hai bên trồng cây phỉ, nơi lũ sóc xám bận bịu nghịch ngợm trong
mớ cành nhánh kết vòm trên đầu. Những vỏ hạt rỗng không rải dày
mặt đất, và những cây thu thủy tiên đón lấy ánh sáng yếu ớt rọi thấu
qua tàn lá khô xào xạc. Đường đi dạo giữa hai hàng cây phỉ dẫn tới
một sân quần vợt có tường gạch quét vôi trắng bao quanh. Quần
vợt từng là niềm đam mê lớn của tôi, bác sĩ Selwyn nói. Nhưng bây
giờ cái sân này đã hư nát rồi, giống như rất nhiều thứ khác quanh
đây. Không chỉ là vườn rau này sắp tiêu tùng sau mấy năm bỏ bê
thôi đâu, ông vừa nói tiếp vừa chỉ những nhà kính kiểu thời Victoria
ọp ẹp và những giàn leo cây mọc tràn lan. Còn nhiều, còn nhiều thứ
nữa, ông nói, ông cảm nhận được ngay chính Thiên nhiên cũng
đang rên siết và sụp đổ dưới gánh nặng mà chúng ta đã áp đặt lên
nó. Thật vậy, khu vườn này, ban đầu vốn chỉ nhằm cung ứng cho
bếp ăn của một gia đình đông người, và nhờ khéo léo và cần cù,
đúng là nó cho rau quả suốt cả năm, và dẫu có bỏ bê, nó vẫn cho
hoa trái sinh sôi nhiều tới mức vượt xa nhu cầu của riêng ông,
những nhu cầu phải nói là càng lúc càng khiêm tốn. Bỏ mặc khu
https://thuviensach.vn
vườn một thời từng được chăm sóc tốt cho nó ra sao thì ra ngẫu
nhiên cũng có cái hay, bác sĩ Selwyn nói, là các thứ đang mọc lên ở
đó, hay những thứ ông gieo trồng có phần bừa bãi, lại có một hương
vị mà chính ông thấy ngon đến lạ lùng. Chúng tôi đi giữa các luống
măng tây có những nhánh lá xanh cao ngang vai, những hàng cây
atiso to lớn, và ra tới một cụm cây táo trĩu quả nào đỏ nào vàng,
những quả táo thật sự ngon hơn bất kỳ loại táo nào tôi đã từng ăn.
Bác sĩ Selwyn đặt hơn chục quả táo như trong cổ tích ấy lên một
chiếc lá đại hoàng rồi vừa trao hết cho Clara vừa nói rằng giống táo
này được đặt tên rất hợp là “Mỹ nhân xứ Bath”.
Hai ngày sau lần đầu gặp gỡ bác sĩ Selwyn, chúng tôi dọn đến
Prior's Gate ở. Buổi chiều trước đó, bà Selwyn đã đưa chúng tôi đi
xem các phòng, trên tầng một bên chái nhà phía đông, đã trang bị
sẵn đồ đạc theo một kiểu cách khác người nhưng vẫn dễ chịu và
rộng rãi. Chúng tôi lập tức yêu thích cái viễn cảnh sẽ sống ở đây vài
tháng, bởi vì tầm nhìn từ những cửa sổ trên cao bao quát cả khu
vườn, công viên và tầng mây ùn ùn trên bầu trời đã bù đắp quá thừa
cho không gian ảm đạm trong nhà. Ta chỉ cần nhìn ra ngoài thế là
chiếc tủ ngăn kéo khổng lồ, xấu xí phát khiếp không còn tồn tại nữa,
lớp sơn vàng như mù tạt trong bếp biến mất, và cái tủ lạnh màu
xanh ngọc chạy bằng ga - và có lẽ cũng nguy hiểm - dường như tan
thành hư không, chẳng khác gì có phép màu. Bà Elli Selwyn là con
của một chủ nhà máy, gốc gác ở Biel bên Thụy Sĩ, và chúng tôi sớm
nhận ra bà ấy có đầu óc kinh doanh xuất sắc. Bà cho phép chúng tôi
sửa đổi chút ít căn hộ này cho phù hợp sở thích. Khi chúng tôi đã
sơn màu trắng cho buồng tắm (vốn nằm trong một nhà phụ dựng
trên những chiếc cột bằng gang đúc và cách duy nhất để đi vào là
băng qua một cầu ván), bà ấy thậm chí còn đến để khen ngợi công
https://thuviensach.vn
việc tay chân này. Màu sơn mới xa lạ thôi thúc bà nêu ra lời nhận
xét bí hiểm rằng cái buồng tắm ấy, vốn luôn khiến bà nhớ đến một
nhà kính trồng cây kiểu xưa, bây giờ lại khiến bà nghĩ đến một chiếc
chuồng bồ câu mới sơn, một nhận xét đã in vào tâm trí tôi đến tận
ngày nay như một lời tuyên án hủy diệt về cách chúng tôi sống đời
mình, mặc dù cho tới nay, tôi vẫn sống như thế chẳng hề thay đổi
chút nào. Nhưng chuyện đó không thành vấn đề. Muốn vào căn hộ
thì chúng tôi hoặc là đi theo ngả cầu thang sắt, bây giờ cũng được
sơn trắng, từ dưới sân dẫn lên cầu ván buồng tắm, hoặc là (từ tầng
trệt) đi qua một khung cửa hai cánh vào một hành lang rộng, đầu
tường hai bên, ngay dưới trần nhà, gắn đầy một hệ thống chuông
kéo phức tạp để gọi người giúp việc. Từ hành lang, ta có thể nhìn
vào nhà bếp tối tăm, nơi bất cứ giờ nào trong ngày cũng có một
nhân vật nữ nào đó không rõ tuổi tác luôn bận bịu ở bồn rửa chén.
Elaine, họ gọi bà giúp việc bằng tên đó, có mái tóc cắt thật cao lộ cả
gáy ra, giống như bệnh nhân nhà thương điên. Nét mặt và động tác
của bà lộ rõ dấu hiệu của người mất trí, đôi môi lúc nào cũng ướt, và
bà bao giờ cũng khoác chiếc tạp dề màu xám dài tận mắt cá chân.
Elaine làm công việc gì trong bếp, ngày này sang ngày khác, vẫn
mãi là điều bí mật đối với Clara và tôi; theo như chúng tôi biết thì
không hề có bữa ăn nào được nấu nướng trong đó, chỉ trừ một lần
duy nhất. Đi hết hành lang, cách mặt sàn đá ba tấc có một cánh cửa
trổ trong tường. Qua cửa này, ta bước vào một lồng cầu thang âm u;
và tầng nào cũng có nhiều hành lang khuất kín rẽ sang lối khác,
chạy đằng sau các vách tường cứ như để cho đám người hầu, dẫu
có không ngừng vội vã qua lại bưng bê xô than, giỏ củi, đồ lau nhà,
khăn giường với khay trà, thì cũng không hề cắt ngang đường đi
của gia chủ bề trên. Tôi hay cố hình dung xem điều gì đang diễn ra
https://thuviensach.vn
trong đầu những con người sống cả đời mà luôn biết rằng đằng sau
vách tường của những căn phòng họ ở liên tục có bóng gia nhân
thoăn thoắt vụt qua. Tôi tưởng tượng chắc họ cũng phải sợ hãi
những kẻ lẩn khuất như ma ấy, những kẻ vì đồng lương thảm hại
mà hàng ngày phải chịu làm những công việc chán ngắt. Lối đi chính
dẫn đến căn hộ chúng tôi là qua ngả cầu thang phía sau này đây, và
tận cùng dưới đáy cầu thang tình cờ lại là cánh cửa lúc nào cũng
khóa kín của phòng bà Elaine. Điều ấy khiến chúng tôi có phần khó
chịu. Chỉ có một lần duy nhất tôi có cơ hội liếc nhìn vào trong, và
thấy căn phòng nhỏ của bà chứa toàn búp bê, không biết bao nhiêu
mà kể, con nào cũng mặc áo quần kỹ lưỡng, hầu hết búp bê đều đội
một cái gì đó trên đầu, đứng hay ngồi quanh hay nằm trên chiếc
giường là chỗ ngủ của chính Elaine - nếu quả thực là bà có ngủ chứ
không phải thức cả đêm hát ngâm nga khe khẽ trong lúc chơi với
đám búp bê. Vào những ngày Chúa nhật và ngày lễ, đôi khi chúng
tôi thấy Elaine ra khỏi nhà trong bộ đồng phục của tổ chức Đạo quân
Cứu thế. Bà thường được một bé gái đón rồi bé đi cạnh bên, bàn
tay tin cậy đặt trong bàn tay bà. Phải mất một thời gian chúng tôi
mới dần quen với Elaine. Điều khiến chúng tôi đặc biệt bất an chính
là thói quen thất thường của bà, lúc ở trong bếp, cứ hay bật cười hi
hí một cách kỳ lạ, rõ là chẳng có lý do nào, tiếng cười vọng lên tận
tầng một. Chưa hết, không kể chúng tôi, Elaine là người cư ngụ duy
nhất trong cơ ngơi đồ sộ này luôn hiện diện trong nhà. Bà Selwyn
thường hay vắng nhà mỗi chuyến vài tuần lễ, hoặc đi lo công việc,
trông coi vô số căn hộ bà cho thuê trong thị xã và những làng kế
bên. Còn bác sĩ Selwyn thì thích ở ngoài trời, nếu thời tiết cho phép,
và nhất là cứ thích ở trong chỗ ẩn cư xây bằng đá silic xa khuất
trong một góc vườn, căn nhà nhỏ mà bác sĩ gọi là trò phá tiền ngu
https://thuviensach.vn
ngốc của ông và đã trang bị các đồ đạc thiết yếu. Nhưng một sáng
nọ, sau khi chúng tôi dọn đến ở được chừng một tuần, tôi thấy bác
sĩ đứng ở khung cửa sổ rộng mở trong một phòng của ông ở chái
phía tây ngôi nhà này. Ông đeo mục kỉnh, khoác chiếc áo ngủ vải kẻ
ô vuông và quấn ở cổ chiếc khăn quàng trắng.
Ông đang cầm khẩu súng có hai nòng dài lạ thường chĩa lên trời
xanh. Sau một lúc mà với tôi dài như thiên thu, cuối cùng ông bóp
cò, tiếng nổ chát chúa vỡ tan tành rơi rụng trên các khu vườn. Sau
đó bác sĩ Selwyn giải thích rằng ông đã biết được khẩu súng này có
còn bắn được hay chăng sau hàng chục năm bỏ không trong phòng
thay đồ của ông, khẩu súng vốn dành để săn thú lớn mà ông đã
mua từ lúc còn trai tráng bao nhiêu năm trước. Suốt thời gian đó,
theo như ông còn nhớ, khẩu súng chỉ được lau dầu và kiểm tra có
đôi ba lần thôi. Ông cho tôi biết ông đã mua khẩu súng lúc sang Ấn
Độ nhận công việc đầu tiên là làm bác sĩ ngoại khoa. Lúc ấy, việc
sắm một khẩu súng như thế được coi là điều bắt buộc đối với một
người thuộc tầng lớp như ông. Tuy vậy, ông đã dùng nó đi săn chỉ
mỗi một lần, và lần đó thậm chí ông còn không bắn thử một phát
đầu tiên như lẽ ra phải làm. Cho nên bây giờ ông đâm ra thắc mắc
không rõ cái món này còn bắn được không, và rồi đã biết chắc là chỉ
riêng lực giật lùi của khẩu súng cũng đủ làm chết người.
Còn ngoài ra, như tôi đã nói, bác sĩ Selwyn hiếm khi có mặt trong
ngôi nhà lớn này. Ông sống trong căn nhà ẩn cư của mình, dồn hết
tâm trí, như có lúc ông đã nói với tôi, cho những suy tư càng ngày
càng khó nắm bắt nhưng lại dần dần thêm rõ ràng và chính xác.
Suốt thời gian chúng tôi ở trong nhà này, ông chỉ có khách đến thăm
duy nhất một lần. Hôm ấy là vào mùa xuân, tôi còn nhớ, khoảng cuối
tháng Tư, và tình cờ lúc đó bà Elli lại đi về Thụy Sĩ.
https://thuviensach.vn
Một sáng nọ, bác sĩ Selwyn đi lên cho chúng tôi hay ông đã mời
một người bạn thân thiết đã nhiều năm đến nhà ăn tối và ông sẽ rất
hoan hỉ nếu chúng tôi có thể cùng dự với hai ông già cho vui, nếu
thuận tiện. Chúng tôi đi xuống nhà trước tám giờ một chút. Chống lại
không khí giá lạnh đặc biệt của buổi tối, lửa đang cháy bừng trong lò
sưởi rộng lớn của phòng khách, nơi được trang bị nhiều chiếc sofa
bốn người ngồi và ghế bành cồng kềnh. Treo trên tường cao là
những chiếc gương soi có các đốm mờ, đang phản chiếu thêm
nhiều lần ánh lửa lập lòe và những hình bóng chuyển động. Bác sĩ
Selwyn đeo cà-vạt và mặc vét vải tuýt, chỗ hai khuỷu tay áo có đính
https://thuviensach.vn
hai miếng da. Bạn ông, Edwin Elliott - người mà ông giới thiệu với
chúng tôi là một nhà thực vật học và côn trùng học danh tiếng - có
vóc dáng gầy ốm hơn bác sĩ Selwyn nhiều, và trong khi bác sĩ quen
khom lưng xuống thì ông bạn này lại hay rướn thẳng lên. Ông ta
cũng mặc áo vét vải tuýt. Cổ áo sơ-mi của ông ta quá rộng so với
cần cổ khẳng khiu, nhăn nheo, nhô ra khỏi áo như chiếc đàn
accordeon kéo căng, giống cổ một loài chim hay một con rùa; cái
đầu lại nhỏ, phảng phất vẻ gì đó giống động vật tiền sử, một kiểu
phản tiến hóa; tuy vậy đôi mắt lại rực sáng một cuộc sống hoàn toàn
tuyệt vời. Ban đầu, mọi người trò chuyện về công việc của tôi và dự
định của hai chúng tôi cho năm tới hay đại khái thế, và về cảm
tưởng của chúng tôi, vốn từ xứ non cao đến, đối với nước Anh và
đặc biệt là vùng bình nguyên của hạt Norfolk này. Trời sụp tối. Bác sĩ
Selwyn đứng dậy, có phần khách sáo, đi trước dẫn đường vào
phòng ăn kế bên. Trên chiếc bàn gỗ sồi mà ba chục người có thể
ngồi thoải mái đã đặt hai chân nến bằng bạc. Chỗ ngồi đã bày sẵn
cho bác sĩ Selwyn và ông Edwin là ở đầu bàn và cuối bàn, còn chỗ
của Clara với tôi là ở cạnh dài đối diện các cửa sổ. Lúc này trong
nhà gần như đã tối mò, và bên ngoài vườn tược cũng dày đặc dần
lớp lớp bóng đêm xanh thẫm. Nhưng chân trời phía tây vẫn còn ánh
sáng, cùng những núi mây chất chồng như tuyết khiến tôi nhớ đến
những tầng núi cao nhất trên dãy Alps, trong lúc màn đêm dần
buông. Bà Elaine đẩy vào một xe thức ăn có gắn sẵn bếp hâm, một
kiểu thiết kế có đăng ký sáng chế từ những năm 1930. Bà vẫn khoác
chiếc tạp dề màu xám dài tới chân và cứ làm công việc của bà trong
lầm lũi và chỉ một đôi lần bà phá vỡ sự im lặng bằng mấy tiếng lẩm
bẩm một mình. Bà thắp nến rồi lê chân đi ra, không nói một lời,
giống như lúc đi vào. Chúng tôi tự phục vụ thức ăn, chuyển đĩa cho
https://thuviensach.vn
nhau trên chiếc bàn dài. Món đầu tiên gồm có vài miếng măng tây
xanh bên trên phủ những lá rau chân vịt non rưới nước sốt thịt. Món
chính là bông cải xanh nấu bơ và khoai tây tươi luộc với bạc hà. Bác
sĩ Selwyn cho chúng tôi biết ông đã trồng loại khoai này chỗ đất cát
trong một nhà kính cũ, ở đó đến giữa tháng Tư là khoai đã lớn bằng
cỡ cái tô. Bữa ăn kết thúc bằng món rau đại hoàng hầm với kem có
rắc đường cát vàng. Như vậy là hầu hết mọi thứ đều từ cái vườn rau
quả bỏ hoang kia. Trước khi chúng tôi xong bữa, Edwin lái câu
chuyện sang Thụy Sĩ, có lẽ ông ta nghĩ rằng cả bác sĩ Selwyn lẫn tôi
đều có thể nói gì đó về đề tài này. Và đúng là bác sĩ Selwyn có
chuyện để nói, sau một chút ngần ngừ, ông bắt đầu kể cho chúng tôi
nghe về thời gian ông đã sống ở Berne ngay trước Đệ nhất Thế
chiến. Vào mùa hè năm 1913 (ông bắt đầu), ông đã lấy xong bằng y
khoa ở Cambridge, và lập tức đi sang Berne với ý định theo học tiếp
ở đây. Nào ngờ mọi chuyện lại hóa ra khác hẳn, và ông dành phần
lớn thời gian trong vùng núi Oberland ở Berne, ngày càng thích leo
núi. Nhiều tuần liền ông ở lại Meiringen, và đặc biệt là Oberaar, nơi
ông gặp một hướng dẫn viên tên là Johannes Naegeli, lúc đó đã sáu
mươi lăm tuổi, người mà ông gặp lần đầu là yêu mến ngay. Ông đi
khắp nơi cùng Naegeli - leo lên các ngọn núi Zinggenstock,
Scheuchzerhorn và Rosenhorn, rồi Lauteraarhorn, Schreckhorn và
Ewigschneehorn - và chưa bao giờ trong đời ông, cả trước đó lẫn
sau này, ông cảm thấy tuyệt vời như thời gian ấy, khi cùng đi với
người ấy. Rồi chiến tranh bùng nổ, tôi quay lại Anh và phải nhập
ngũ, bác sĩ Selwyn nói, bây giờ nhớ lại tôi thấy chuyện nhập ngũ
không khó khăn bằng việc phải giã từ Johannes Naegeli. Ngay cả
chuyện phải xa cách Elli, tôi đã gặp bà ấy vào dịp Giáng sinh ở
Berne rồi cưới nhau khi hết chiến tranh, cũng không khiến tôi thấy
https://thuviensach.vn
đau đớn cho bằng chuyện phải xa cách ông Naegeli. Tôi vẫn còn
hình dung rõ cảnh ông già đứng ở ga Meiringen, vẫy chào tiễn biệt.
Nhưng có lẽ tôi chỉ tưởng tượng ra điều đó thôi, bác sĩ Selwyn hạ
giọng nói tiếp, nói một mình, bởi vì Elli dường như qua bao năm
tháng đã trở thành người xa lạ đối với tôi, trong khi Naegeli lại có vẻ
càng gần gũi thêm bất cứ lúc nào ông ấy hiện ra trong tâm trí tôi, bất
kể thực tế là sau lần từ biệt ở Meiringen tôi chưa từng gặp lại.
Không lâu sau khi tôi bị động viên, Naegeli đã mất tích trên đường
từ căn nhà gỗ ở Oberaar đi lên núi Oberaargletscher. Người ta cho
là ông ấy đã rơi xuống một khe nứt trong băng hà Aare. Tôi biết
được tin này qua một trong những bức thư đầu tiên nhận được khi
mặc áo lính, sống trong trại binh, và cái tin ấy đã khiến tôi sa sút tinh
thần tới mức suýt bị sa thải khỏi quân ngũ. Tôi lúc đó cứ như bị chôn
vùi dưới băng tuyết. Nhưng đó là chuyện xưa rồi, bác sĩ Selwyn nói
sau một hồi lâu im tiếng. Chúng ta hẳn phải cho các quý khách này
xem những bức ảnh mình chụp lần ghé đến Crete sau cùng mới
được, ông quay sang nói với Edwin. Chúng tôi trở lại phòng khách.
Những khúc củi đang cháy rực trong bóng tối. Bác sĩ Selwyn giật
một dây kéo chuông ở bên phải lò sưởi, và gần như ngay lập tức,
cứ như đã đứng sẵn trong hành lang chờ tín hiệu này, bà Elaine đẩy
vào một xe đẩy bên trên đặt chiếc máy chiếu slide. Chiếc đồng hồ
lớn bằng đồng vàng trên bệ lò sưởi và những bức tượng nhỏ bằng
gốm sứ Meissen - một anh, một chị chăn cừu và một người Ả Rập
áo quần sặc sỡ đang trợn mắt - được dời qua một bên, và chiếc
màn chiếu bọc khung gỗ mà Elaine đã mang vào được dựng lên
phía trước tấm gương soi. Tiếng trầm trầm của máy chiếu bắt đầu rù
rì, và những bụi bặm trong phòng này, bình thường không nhìn thấy,
giờ lấp lánh và nhảy múa trong luồng sáng đèn chiếu như một cách
https://thuviensach.vn
dạo đầu cho chính những bức ảnh chụp trên phim slide. Chuyến đi
của họ tới Crete lần đó được tổ chức vào mùa xuân. Cảnh vật của
hòn đảo này dường như bao trùm trong một màu xanh lục nhạt khi
được chiếu trước mắt chúng tôi. Có một hai lần trên màn chiếu hiện
ra hình ảnh ông Edwin cầm ống nhòm và một hộp đựng mẫu thực
vật, hoặc hình ảnh bác sĩ Selwyn mặc quần soóc dài ngang đầu gối,
vai đeo túi và tay cầm vợt bắt bướm. Một trong những hình chụp ấy
giống, đến từng chi tiết, một hình chụp nhà văn Nabokov trong dãy
núi phía trên làng Gstaad mà tôi đã cắt ra từ một tạp chí của Thụy Sĩ
vài hôm trước.
Kể cũng lạ, cả Edwin lẫn bác sĩ Selwyn đều có vẻ trẻ trung thấy
rõ trong những hình ảnh họ chiếu cho chúng tôi xem, dù lúc họ đi
chuyến này, đúng mười năm trước, cả hai ông đều đã gần tuổi bảy
mươi. Tôi cảm thấy rằng, với cả hai ông, cuộc trở về với chính mình
ngày xưa này là một dịp dành cho chút xúc động nào đó. Nhưng có
lẽ chỉ có mình tôi có cảm nghĩ đó bởi vì cả Edwin lẫn bác sĩ Selwyn
đều không muốn hay không thể nói điều gì liên quan đến các bức
hình này, mặc dù họ có giải thích về những hình ảnh khác cho thấy
các loại cây cỏ mùa xuân trên hòn đảo ấy, và tập quán của nhiều
động vật bò sát và có cánh. Những lúc hình ảnh họ xuất hiện trên
màn chiếu, nhè nhẹ run run, thì cả gian phòng hầu như im phăng
phắc.
https://thuviensach.vn
Trong hình ảnh cuối cùng, chúng tôi thấy dải bình nguyên Lasithi
trải rộng trước mắt, được chụp từ đỉnh cao của một đường đèo phía
bắc. Hình này hẳn phải được chụp vào khoảng giữa trưa, vì ánh
https://thuviensach.vn
nắng chiếu thẳng xuống tầm nhìn của chúng tôi. Về phía nam, ngọn
Lasithi chót vót, cao hai nghìn mét, vươn lên bên trên bình nguyên,
như một ảo ảnh đằng sau luồng sáng chói lọi. Những ruộng khoai và
rau bên kia lòng thung lũng mênh mông, những vườn cây ăn trái và
những cụm cây khác, và vùng đất không cày cấy, đều ngập tràn
trong lớp lớp màu xanh lục, lốm đốm hàng trăm cánh quạt trắng của
những chiếc máy bơm chạy bằng sức gió. Chúng tôi cũng ngồi xem
hình ảnh này rất lâu trong im lặng, lâu tới mức mặt kính kẹp tấm
phim slide nứt rạn vì sức nóng bóng đèn và một đường đen hiện lên
như chẻ toạc tấm màn chiếu. Cảnh chụp bình nguyên Lasi
KÝ ỨC LẠC LOÀI
The Emigrants
Tác giả: W. B. Sebald
Đăng Thư dịch
❃❃❃
ebook©vctvegroup
21.5.2020
https://thuviensach.vn
BÁC SĨ HENRY SELWYN
Và những tàn tích cuối cùng ký ức thủ tiêu
C
uối tháng Chín năm 1970, không lâu trước khi nhận nhiệm sở
ở Norwich, tôi cùng Clara lái xe đến Hingham tìm một chỗ
thuê để ở. Được chừng hai mươi lăm cây số thì con đường chạy
giữa những mảnh ruộng và bờ giậu, dưới những tán sồi xòe rộng,
băng qua mấy thôn xóm thưa thớt, mãi mới thấy Hingham hiện ra,
những mái đầu hồi không cân xứng của chốn ấy, tháp chuông nhà
thờ cùng những ngọn cây nhô lên trơ trụi trên vùng bình nguyên.
Khu chợ, rộng lớn với những dãy dài mặt tiền lặng câm, không một
bóng người, nhưng dù vậy, chúng tôi cũng nhanh chóng tìm ra ngôi
nhà mà những người môi giới đã mô tả. Là cơ ngơi thuộc loại lớn
nhất làng này, nó nằm khá gần ngôi nhà thờ có khu nghĩa địa đầy
cỏ, những cây xích tùng và thanh tùng, trên một đường rẽ yên tĩnh.
Nhà nằm khuất sau một bức tường cao hai mét với bụi rậm hồng dại
và cây nhựa ruồi. Chúng tôi bước xuống bờ dốc thoải bên đường xe
chạy vào nhà và đi băng qua khoảng sân trước rải sỏi bằng phẳng.
Phía bên phải, sau các chuồng ngựa và nhà phụ, là một rặng sồi
vươn cao lên bầu trời thu quang đãng, những loài chim làm tổ ở đó
đã bay đâu mất vào buổi trưa, chỉ thỉnh thoảng mới nghe tiếng xáo
động trong những chiếc tổ lốm đốm đen trên vòm lá xanh. Mặt trước
ngôi nhà lớn kiểu tân cổ điển này mọc đầy dây leo kim ngân. Cánh
cửa sơn đen có treo thanh gõ bằng đồng hình con cá. Chúng tôi gõ
https://thuviensach.vn
mấy tiếng nhưng không thấy động tĩnh gì trong nhà. Chúng tôi lùi lại
một chút. Những khung cửa sổ, mỗi cửa chia thành mười hai ô,
phản chiếu lù mù, dường như làm bằng loại kính sậm màu. Ngôi
nhà dường như chưa từng có ai ở. Và tôi nhớ đến cái lâu đài ở
Charente mà có lần tôi từ Angoulème ghé thăm. Trước mặt nhà, hai
anh em điên rồ - một người là nghị viên, người kia là kiến trúc sư đã dựng lên một bản sao mặt tiền của điện Versailles, một sự giả
mạo hoàn toàn vô nghĩa, cho dù từ xa nhìn thấy là đã có ấn tượng
mạnh. Những cửa sổ của lâu đài đó cũng lóe sáng lờ mờ như cửa
sổ ngôi nhà mà chúng tôi hiện đang đứng phía trước. Rõ ràng là
chúng tôi sẽ phải lái xe đi tiếp mà chẳng được việc gì rồi, nếu như
chúng tôi đã không liếc nhanh nhìn nhau dọ ý, rồi quyết lòng ít nhất
cũng phải xem qua khu vườn một cái. Thận trọng, chúng tôi đi
quanh ngôi nhà ấy. Ở phía bắc, chỗ các bức tường gạch đã xanh rì
vì đám dây leo thường xuân lốm đốm và ẩm ướt phủ kín một phần,
có một lối đi rêu bám băng qua ngõ ra vào của những người giúp
việc, qua lều chứa củi, xuyên qua những vùng bóng râm dày đặc, rồi
dẫn tới, cứ như bước ra sân khấu, một hàng hiên có bao lơn bằng
đá nhìn ra một bãi cỏ rộng, vuông vức, có bồn hoa, bụi con và cây
lớn bao quanh. Bên kia bãi cỏ ấy, về phía tây, khu vườn này thông
ra một công viên lớn rải rác những cây chanh, cây du và cây sồi cô
đơn, và xa hơn nữa là khu đất canh tác nhấp nhô thoai thoải và
những núi mây trắng ở chân trời. Trong im lặng chúng tôi ngắm nhìn
quang cảnh ấy, quang cảnh thu hút cái nhìn về phía xa theo nhịp
uốn lượn của mặt đất, và chúng tôi nhìn ngắm một hồi lâu, cứ tưởng
chỉ có riêng mình, cho đến khi nhận ra bóng người bất động đang
nằm trên bãi cỏ trong vùng bóng râm của một cây tuyết tùng cao vút
ở góc vườn phía tây nam. Đó là một ông già, đang tựa đầu trên
https://thuviensach.vn
cánh tay, và dường như ông hoàn toàn mê mải lặng nhìn vạt đất ở
ngay trước mắt. Chúng tôi băng qua bãi cỏ đi tới chỗ ông, từng
bước chân lâng lâng tuyệt vời trên cỏ. Mãi tới khi chúng tôi đến gần
bên ông mới hay biết. Ông đứng dậy, không khỏi đôi chút ngượng
ngùng. Tuy cao và vai rộng, nhưng trông ông lại có vẻ to bè, thậm
chí là thấp lùn. Có lẽ cái ấn tượng này phát xuất từ cách ông nhìn,
đầu hạ thấp, cặp mắt kính gọng vàng trễ xuống dưới mắt, một thói
quen khiến ông có dáng điệu lom khom, cứ như đang muốn khẩn
nài điều gì. Mái tóc bạc của ông chải ngược ra sau, nhưng có vài lọn
tóc lạc đường cứ phủ xuống vầng trán cao lạ thường. Tôi đang đếm
những cọng cỏ, ông nói, như để xin lỗi cho sự lơ đãng của mình. Đó
gần như là trò tiêu khiển của tôi. Cái trò khá là gây bực mình, tôi e là
vậy. Ông gạt một lọn tóc bạc ra phía sau đầu. Những động tác của
ông dường như vừa lúng túng nhưng lại vừa đàng hoàng hết sức;
lại thêm phong thái lịch sự quen thuộc, kiểu lịch sự đã lâu rồi không
còn ai áp dụng, trong cách ông tự giới thiệu mình là bác sĩ Henry
Selwyn. Chắc chắn là chúng tôi đến đây vì căn hộ, ông nói tiếp.
Theo như ông biết, căn hộ vẫn chưa cho thuê, nhưng chúng tôi có lẽ
phải chờ bà Selwyn quay về, vì bà ấy mới là chủ nhà còn ông chỉ là
người sống trong khu vườn này, một kiểu ẩn sĩ làm kiểng. Trong
cuộc trò chuyện tiếp theo những lời mào đầu ấy, chúng tôi tản bộ
dọc theo hàng rào sắt phân cách khu vườn này với khu công viên
mở rộng, chúng tôi dừng lại một chút. Ba con ngựa xám nặng nề
đang đi quanh một lùm cây dương, vừa khịt mũi vừa hất tung những
tảng đất cỏ theo nhịp bước. Chúng kéo nhau về phía chúng tôi và
đứng trong tư thế chờ đợi, bác sĩ Selwyn lấy đồ ăn trong túi quần ra
vừa cho ngựa ăn vừa vuốt ve mõm chúng. Tôi thả ra cho chúng ăn
cỏ, ông nói. Năm ngoái, tôi mua mấy con ngựa này ở một cuộc đấu
https://thuviensach.vn
giá chỉ với mấy bảng Anh. Nếu không thì chúng nhất định sẽ đi
thẳng tới lò mổ. Chúng tên là Herschel, Humphrey và Hippolytus. Tôi
không biết gì về cuộc đời cũ của chúng, lúc tôi mua về thì chúng
đang trong tình trạng thảm thương. Lông lá thì đầy rận, mắt đã mờ
đục, còn móng đã nứt rạn hết vì dầm chân trong ruộng nước. Nhưng
bây giờ chúng đã hồi phục được phần nào rồi, bác sĩ Selwyn nói, và
có lẽ chúng còn sống được một hay vài năm nữa. Nói xong ông giã
từ mấy con ngựa, chúng rõ ràng rất yêu mến ông, rồi cùng chúng tôi
tha thẩn đến những chỗ xa hơn trong vườn, chốc chốc ông lại dừng
chân và trò chuyện càng lúc càng cởi mở và chi tiết. Xuyên qua bụi
cây ở mặt phía nam của bãi cỏ là lối đi dẫn đến một con đường dạo
bộ hai bên trồng cây phỉ, nơi lũ sóc xám bận bịu nghịch ngợm trong
mớ cành nhánh kết vòm trên đầu. Những vỏ hạt rỗng không rải dày
mặt đất, và những cây thu thủy tiên đón lấy ánh sáng yếu ớt rọi thấu
qua tàn lá khô xào xạc. Đường đi dạo giữa hai hàng cây phỉ dẫn tới
một sân quần vợt có tường gạch quét vôi trắng bao quanh. Quần
vợt từng là niềm đam mê lớn của tôi, bác sĩ Selwyn nói. Nhưng bây
giờ cái sân này đã hư nát rồi, giống như rất nhiều thứ khác quanh
đây. Không chỉ là vườn rau này sắp tiêu tùng sau mấy năm bỏ bê
thôi đâu, ông vừa nói tiếp vừa chỉ những nhà kính kiểu thời Victoria
ọp ẹp và những giàn leo cây mọc tràn lan. Còn nhiều, còn nhiều thứ
nữa, ông nói, ông cảm nhận được ngay chính Thiên nhiên cũng
đang rên siết và sụp đổ dưới gánh nặng mà chúng ta đã áp đặt lên
nó. Thật vậy, khu vườn này, ban đầu vốn chỉ nhằm cung ứng cho
bếp ăn của một gia đình đông người, và nhờ khéo léo và cần cù,
đúng là nó cho rau quả suốt cả năm, và dẫu có bỏ bê, nó vẫn cho
hoa trái sinh sôi nhiều tới mức vượt xa nhu cầu của riêng ông,
những nhu cầu phải nói là càng lúc càng khiêm tốn. Bỏ mặc khu
https://thuviensach.vn
vườn một thời từng được chăm sóc tốt cho nó ra sao thì ra ngẫu
nhiên cũng có cái hay, bác sĩ Selwyn nói, là các thứ đang mọc lên ở
đó, hay những thứ ông gieo trồng có phần bừa bãi, lại có một hương
vị mà chính ông thấy ngon đến lạ lùng. Chúng tôi đi giữa các luống
măng tây có những nhánh lá xanh cao ngang vai, những hàng cây
atiso to lớn, và ra tới một cụm cây táo trĩu quả nào đỏ nào vàng,
những quả táo thật sự ngon hơn bất kỳ loại táo nào tôi đã từng ăn.
Bác sĩ Selwyn đặt hơn chục quả táo như trong cổ tích ấy lên một
chiếc lá đại hoàng rồi vừa trao hết cho Clara vừa nói rằng giống táo
này được đặt tên rất hợp là “Mỹ nhân xứ Bath”.
Hai ngày sau lần đầu gặp gỡ bác sĩ Selwyn, chúng tôi dọn đến
Prior's Gate ở. Buổi chiều trước đó, bà Selwyn đã đưa chúng tôi đi
xem các phòng, trên tầng một bên chái nhà phía đông, đã trang bị
sẵn đồ đạc theo một kiểu cách khác người nhưng vẫn dễ chịu và
rộng rãi. Chúng tôi lập tức yêu thích cái viễn cảnh sẽ sống ở đây vài
tháng, bởi vì tầm nhìn từ những cửa sổ trên cao bao quát cả khu
vườn, công viên và tầng mây ùn ùn trên bầu trời đã bù đắp quá thừa
cho không gian ảm đạm trong nhà. Ta chỉ cần nhìn ra ngoài thế là
chiếc tủ ngăn kéo khổng lồ, xấu xí phát khiếp không còn tồn tại nữa,
lớp sơn vàng như mù tạt trong bếp biến mất, và cái tủ lạnh màu
xanh ngọc chạy bằng ga - và có lẽ cũng nguy hiểm - dường như tan
thành hư không, chẳng khác gì có phép màu. Bà Elli Selwyn là con
của một chủ nhà máy, gốc gác ở Biel bên Thụy Sĩ, và chúng tôi sớm
nhận ra bà ấy có đầu óc kinh doanh xuất sắc. Bà cho phép chúng tôi
sửa đổi chút ít căn hộ này cho phù hợp sở thích. Khi chúng tôi đã
sơn màu trắng cho buồng tắm (vốn nằm trong một nhà phụ dựng
trên những chiếc cột bằng gang đúc và cách duy nhất để đi vào là
băng qua một cầu ván), bà ấy thậm chí còn đến để khen ngợi công
https://thuviensach.vn
việc tay chân này. Màu sơn mới xa lạ thôi thúc bà nêu ra lời nhận
xét bí hiểm rằng cái buồng tắm ấy, vốn luôn khiến bà nhớ đến một
nhà kính trồng cây kiểu xưa, bây giờ lại khiến bà nghĩ đến một chiếc
chuồng bồ câu mới sơn, một nhận xét đã in vào tâm trí tôi đến tận
ngày nay như một lời tuyên án hủy diệt về cách chúng tôi sống đời
mình, mặc dù cho tới nay, tôi vẫn sống như thế chẳng hề thay đổi
chút nào. Nhưng chuyện đó không thành vấn đề. Muốn vào căn hộ
thì chúng tôi hoặc là đi theo ngả cầu thang sắt, bây giờ cũng được
sơn trắng, từ dưới sân dẫn lên cầu ván buồng tắm, hoặc là (từ tầng
trệt) đi qua một khung cửa hai cánh vào một hành lang rộng, đầu
tường hai bên, ngay dưới trần nhà, gắn đầy một hệ thống chuông
kéo phức tạp để gọi người giúp việc. Từ hành lang, ta có thể nhìn
vào nhà bếp tối tăm, nơi bất cứ giờ nào trong ngày cũng có một
nhân vật nữ nào đó không rõ tuổi tác luôn bận bịu ở bồn rửa chén.
Elaine, họ gọi bà giúp việc bằng tên đó, có mái tóc cắt thật cao lộ cả
gáy ra, giống như bệnh nhân nhà thương điên. Nét mặt và động tác
của bà lộ rõ dấu hiệu của người mất trí, đôi môi lúc nào cũng ướt, và
bà bao giờ cũng khoác chiếc tạp dề màu xám dài tận mắt cá chân.
Elaine làm công việc gì trong bếp, ngày này sang ngày khác, vẫn
mãi là điều bí mật đối với Clara và tôi; theo như chúng tôi biết thì
không hề có bữa ăn nào được nấu nướng trong đó, chỉ trừ một lần
duy nhất. Đi hết hành lang, cách mặt sàn đá ba tấc có một cánh cửa
trổ trong tường. Qua cửa này, ta bước vào một lồng cầu thang âm u;
và tầng nào cũng có nhiều hành lang khuất kín rẽ sang lối khác,
chạy đằng sau các vách tường cứ như để cho đám người hầu, dẫu
có không ngừng vội vã qua lại bưng bê xô than, giỏ củi, đồ lau nhà,
khăn giường với khay trà, thì cũng không hề cắt ngang đường đi
của gia chủ bề trên. Tôi hay cố hình dung xem điều gì đang diễn ra
https://thuviensach.vn
trong đầu những con người sống cả đời mà luôn biết rằng đằng sau
vách tường của những căn phòng họ ở liên tục có bóng gia nhân
thoăn thoắt vụt qua. Tôi tưởng tượng chắc họ cũng phải sợ hãi
những kẻ lẩn khuất như ma ấy, những kẻ vì đồng lương thảm hại
mà hàng ngày phải chịu làm những công việc chán ngắt. Lối đi chính
dẫn đến căn hộ chúng tôi là qua ngả cầu thang phía sau này đây, và
tận cùng dưới đáy cầu thang tình cờ lại là cánh cửa lúc nào cũng
khóa kín của phòng bà Elaine. Điều ấy khiến chúng tôi có phần khó
chịu. Chỉ có một lần duy nhất tôi có cơ hội liếc nhìn vào trong, và
thấy căn phòng nhỏ của bà chứa toàn búp bê, không biết bao nhiêu
mà kể, con nào cũng mặc áo quần kỹ lưỡng, hầu hết búp bê đều đội
một cái gì đó trên đầu, đứng hay ngồi quanh hay nằm trên chiếc
giường là chỗ ngủ của chính Elaine - nếu quả thực là bà có ngủ chứ
không phải thức cả đêm hát ngâm nga khe khẽ trong lúc chơi với
đám búp bê. Vào những ngày Chúa nhật và ngày lễ, đôi khi chúng
tôi thấy Elaine ra khỏi nhà trong bộ đồng phục của tổ chức Đạo quân
Cứu thế. Bà thường được một bé gái đón rồi bé đi cạnh bên, bàn
tay tin cậy đặt trong bàn tay bà. Phải mất một thời gian chúng tôi
mới dần quen với Elaine. Điều khiến chúng tôi đặc biệt bất an chính
là thói quen thất thường của bà, lúc ở trong bếp, cứ hay bật cười hi
hí một cách kỳ lạ, rõ là chẳng có lý do nào, tiếng cười vọng lên tận
tầng một. Chưa hết, không kể chúng tôi, Elaine là người cư ngụ duy
nhất trong cơ ngơi đồ sộ này luôn hiện diện trong nhà. Bà Selwyn
thường hay vắng nhà mỗi chuyến vài tuần lễ, hoặc đi lo công việc,
trông coi vô số căn hộ bà cho thuê trong thị xã và những làng kế
bên. Còn bác sĩ Selwyn thì thích ở ngoài trời, nếu thời tiết cho phép,
và nhất là cứ thích ở trong chỗ ẩn cư xây bằng đá silic xa khuất
trong một góc vườn, căn nhà nhỏ mà bác sĩ gọi là trò phá tiền ngu
https://thuviensach.vn
ngốc của ông và đã trang bị các đồ đạc thiết yếu. Nhưng một sáng
nọ, sau khi chúng tôi dọn đến ở được chừng một tuần, tôi thấy bác
sĩ đứng ở khung cửa sổ rộng mở trong một phòng của ông ở chái
phía tây ngôi nhà này. Ông đeo mục kỉnh, khoác chiếc áo ngủ vải kẻ
ô vuông và quấn ở cổ chiếc khăn quàng trắng.
Ông đang cầm khẩu súng có hai nòng dài lạ thường chĩa lên trời
xanh. Sau một lúc mà với tôi dài như thiên thu, cuối cùng ông bóp
cò, tiếng nổ chát chúa vỡ tan tành rơi rụng trên các khu vườn. Sau
đó bác sĩ Selwyn giải thích rằng ông đã biết được khẩu súng này có
còn bắn được hay chăng sau hàng chục năm bỏ không trong phòng
thay đồ của ông, khẩu súng vốn dành để săn thú lớn mà ông đã
mua từ lúc còn trai tráng bao nhiêu năm trước. Suốt thời gian đó,
theo như ông còn nhớ, khẩu súng chỉ được lau dầu và kiểm tra có
đôi ba lần thôi. Ông cho tôi biết ông đã mua khẩu súng lúc sang Ấn
Độ nhận công việc đầu tiên là làm bác sĩ ngoại khoa. Lúc ấy, việc
sắm một khẩu súng như thế được coi là điều bắt buộc đối với một
người thuộc tầng lớp như ông. Tuy vậy, ông đã dùng nó đi săn chỉ
mỗi một lần, và lần đó thậm chí ông còn không bắn thử một phát
đầu tiên như lẽ ra phải làm. Cho nên bây giờ ông đâm ra thắc mắc
không rõ cái món này còn bắn được không, và rồi đã biết chắc là chỉ
riêng lực giật lùi của khẩu súng cũng đủ làm chết người.
Còn ngoài ra, như tôi đã nói, bác sĩ Selwyn hiếm khi có mặt trong
ngôi nhà lớn này. Ông sống trong căn nhà ẩn cư của mình, dồn hết
tâm trí, như có lúc ông đã nói với tôi, cho những suy tư càng ngày
càng khó nắm bắt nhưng lại dần dần thêm rõ ràng và chính xác.
Suốt thời gian chúng tôi ở trong nhà này, ông chỉ có khách đến thăm
duy nhất một lần. Hôm ấy là vào mùa xuân, tôi còn nhớ, khoảng cuối
tháng Tư, và tình cờ lúc đó bà Elli lại đi về Thụy Sĩ.
https://thuviensach.vn
Một sáng nọ, bác sĩ Selwyn đi lên cho chúng tôi hay ông đã mời
một người bạn thân thiết đã nhiều năm đến nhà ăn tối và ông sẽ rất
hoan hỉ nếu chúng tôi có thể cùng dự với hai ông già cho vui, nếu
thuận tiện. Chúng tôi đi xuống nhà trước tám giờ một chút. Chống lại
không khí giá lạnh đặc biệt của buổi tối, lửa đang cháy bừng trong lò
sưởi rộng lớn của phòng khách, nơi được trang bị nhiều chiếc sofa
bốn người ngồi và ghế bành cồng kềnh. Treo trên tường cao là
những chiếc gương soi có các đốm mờ, đang phản chiếu thêm
nhiều lần ánh lửa lập lòe và những hình bóng chuyển động. Bác sĩ
Selwyn đeo cà-vạt và mặc vét vải tuýt, chỗ hai khuỷu tay áo có đính
https://thuviensach.vn
hai miếng da. Bạn ông, Edwin Elliott - người mà ông giới thiệu với
chúng tôi là một nhà thực vật học và côn trùng học danh tiếng - có
vóc dáng gầy ốm hơn bác sĩ Selwyn nhiều, và trong khi bác sĩ quen
khom lưng xuống thì ông bạn này lại hay rướn thẳng lên. Ông ta
cũng mặc áo vét vải tuýt. Cổ áo sơ-mi của ông ta quá rộng so với
cần cổ khẳng khiu, nhăn nheo, nhô ra khỏi áo như chiếc đàn
accordeon kéo căng, giống cổ một loài chim hay một con rùa; cái
đầu lại nhỏ, phảng phất vẻ gì đó giống động vật tiền sử, một kiểu
phản tiến hóa; tuy vậy đôi mắt lại rực sáng một cuộc sống hoàn toàn
tuyệt vời. Ban đầu, mọi người trò chuyện về công việc của tôi và dự
định của hai chúng tôi cho năm tới hay đại khái thế, và về cảm
tưởng của chúng tôi, vốn từ xứ non cao đến, đối với nước Anh và
đặc biệt là vùng bình nguyên của hạt Norfolk này. Trời sụp tối. Bác sĩ
Selwyn đứng dậy, có phần khách sáo, đi trước dẫn đường vào
phòng ăn kế bên. Trên chiếc bàn gỗ sồi mà ba chục người có thể
ngồi thoải mái đã đặt hai chân nến bằng bạc. Chỗ ngồi đã bày sẵn
cho bác sĩ Selwyn và ông Edwin là ở đầu bàn và cuối bàn, còn chỗ
của Clara với tôi là ở cạnh dài đối diện các cửa sổ. Lúc này trong
nhà gần như đã tối mò, và bên ngoài vườn tược cũng dày đặc dần
lớp lớp bóng đêm xanh thẫm. Nhưng chân trời phía tây vẫn còn ánh
sáng, cùng những núi mây chất chồng như tuyết khiến tôi nhớ đến
những tầng núi cao nhất trên dãy Alps, trong lúc màn đêm dần
buông. Bà Elaine đẩy vào một xe thức ăn có gắn sẵn bếp hâm, một
kiểu thiết kế có đăng ký sáng chế từ những năm 1930. Bà vẫn khoác
chiếc tạp dề màu xám dài tới chân và cứ làm công việc của bà trong
lầm lũi và chỉ một đôi lần bà phá vỡ sự im lặng bằng mấy tiếng lẩm
bẩm một mình. Bà thắp nến rồi lê chân đi ra, không nói một lời,
giống như lúc đi vào. Chúng tôi tự phục vụ thức ăn, chuyển đĩa cho
https://thuviensach.vn
nhau trên chiếc bàn dài. Món đầu tiên gồm có vài miếng măng tây
xanh bên trên phủ những lá rau chân vịt non rưới nước sốt thịt. Món
chính là bông cải xanh nấu bơ và khoai tây tươi luộc với bạc hà. Bác
sĩ Selwyn cho chúng tôi biết ông đã trồng loại khoai này chỗ đất cát
trong một nhà kính cũ, ở đó đến giữa tháng Tư là khoai đã lớn bằng
cỡ cái tô. Bữa ăn kết thúc bằng món rau đại hoàng hầm với kem có
rắc đường cát vàng. Như vậy là hầu hết mọi thứ đều từ cái vườn rau
quả bỏ hoang kia. Trước khi chúng tôi xong bữa, Edwin lái câu
chuyện sang Thụy Sĩ, có lẽ ông ta nghĩ rằng cả bác sĩ Selwyn lẫn tôi
đều có thể nói gì đó về đề tài này. Và đúng là bác sĩ Selwyn có
chuyện để nói, sau một chút ngần ngừ, ông bắt đầu kể cho chúng tôi
nghe về thời gian ông đã sống ở Berne ngay trước Đệ nhất Thế
chiến. Vào mùa hè năm 1913 (ông bắt đầu), ông đã lấy xong bằng y
khoa ở Cambridge, và lập tức đi sang Berne với ý định theo học tiếp
ở đây. Nào ngờ mọi chuyện lại hóa ra khác hẳn, và ông dành phần
lớn thời gian trong vùng núi Oberland ở Berne, ngày càng thích leo
núi. Nhiều tuần liền ông ở lại Meiringen, và đặc biệt là Oberaar, nơi
ông gặp một hướng dẫn viên tên là Johannes Naegeli, lúc đó đã sáu
mươi lăm tuổi, người mà ông gặp lần đầu là yêu mến ngay. Ông đi
khắp nơi cùng Naegeli - leo lên các ngọn núi Zinggenstock,
Scheuchzerhorn và Rosenhorn, rồi Lauteraarhorn, Schreckhorn và
Ewigschneehorn - và chưa bao giờ trong đời ông, cả trước đó lẫn
sau này, ông cảm thấy tuyệt vời như thời gian ấy, khi cùng đi với
người ấy. Rồi chiến tranh bùng nổ, tôi quay lại Anh và phải nhập
ngũ, bác sĩ Selwyn nói, bây giờ nhớ lại tôi thấy chuyện nhập ngũ
không khó khăn bằng việc phải giã từ Johannes Naegeli. Ngay cả
chuyện phải xa cách Elli, tôi đã gặp bà ấy vào dịp Giáng sinh ở
Berne rồi cưới nhau khi hết chiến tranh, cũng không khiến tôi thấy
https://thuviensach.vn
đau đớn cho bằng chuyện phải xa cách ông Naegeli. Tôi vẫn còn
hình dung rõ cảnh ông già đứng ở ga Meiringen, vẫy chào tiễn biệt.
Nhưng có lẽ tôi chỉ tưởng tượng ra điều đó thôi, bác sĩ Selwyn hạ
giọng nói tiếp, nói một mình, bởi vì Elli dường như qua bao năm
tháng đã trở thành người xa lạ đối với tôi, trong khi Naegeli lại có vẻ
càng gần gũi thêm bất cứ lúc nào ông ấy hiện ra trong tâm trí tôi, bất
kể thực tế là sau lần từ biệt ở Meiringen tôi chưa từng gặp lại.
Không lâu sau khi tôi bị động viên, Naegeli đã mất tích trên đường
từ căn nhà gỗ ở Oberaar đi lên núi Oberaargletscher. Người ta cho
là ông ấy đã rơi xuống một khe nứt trong băng hà Aare. Tôi biết
được tin này qua một trong những bức thư đầu tiên nhận được khi
mặc áo lính, sống trong trại binh, và cái tin ấy đã khiến tôi sa sút tinh
thần tới mức suýt bị sa thải khỏi quân ngũ. Tôi lúc đó cứ như bị chôn
vùi dưới băng tuyết. Nhưng đó là chuyện xưa rồi, bác sĩ Selwyn nói
sau một hồi lâu im tiếng. Chúng ta hẳn phải cho các quý khách này
xem những bức ảnh mình chụp lần ghé đến Crete sau cùng mới
được, ông quay sang nói với Edwin. Chúng tôi trở lại phòng khách.
Những khúc củi đang cháy rực trong bóng tối. Bác sĩ Selwyn giật
một dây kéo chuông ở bên phải lò sưởi, và gần như ngay lập tức,
cứ như đã đứng sẵn trong hành lang chờ tín hiệu này, bà Elaine đẩy
vào một xe đẩy bên trên đặt chiếc máy chiếu slide. Chiếc đồng hồ
lớn bằng đồng vàng trên bệ lò sưởi và những bức tượng nhỏ bằng
gốm sứ Meissen - một anh, một chị chăn cừu và một người Ả Rập
áo quần sặc sỡ đang trợn mắt - được dời qua một bên, và chiếc
màn chiếu bọc khung gỗ mà Elaine đã mang vào được dựng lên
phía trước tấm gương soi. Tiếng trầm trầm của máy chiếu bắt đầu rù
rì, và những bụi bặm trong phòng này, bình thường không nhìn thấy,
giờ lấp lánh và nhảy múa trong luồng sáng đèn chiếu như một cách
https://thuviensach.vn
dạo đầu cho chính những bức ảnh chụp trên phim slide. Chuyến đi
của họ tới Crete lần đó được tổ chức vào mùa xuân. Cảnh vật của
hòn đảo này dường như bao trùm trong một màu xanh lục nhạt khi
được chiếu trước mắt chúng tôi. Có một hai lần trên màn chiếu hiện
ra hình ảnh ông Edwin cầm ống nhòm và một hộp đựng mẫu thực
vật, hoặc hình ảnh bác sĩ Selwyn mặc quần soóc dài ngang đầu gối,
vai đeo túi và tay cầm vợt bắt bướm. Một trong những hình chụp ấy
giống, đến từng chi tiết, một hình chụp nhà văn Nabokov trong dãy
núi phía trên làng Gstaad mà tôi đã cắt ra từ một tạp chí của Thụy Sĩ
vài hôm trước.
Kể cũng lạ, cả Edwin lẫn bác sĩ Selwyn đều có vẻ trẻ trung thấy
rõ trong những hình ảnh họ chiếu cho chúng tôi xem, dù lúc họ đi
chuyến này, đúng mười năm trước, cả hai ông đều đã gần tuổi bảy
mươi. Tôi cảm thấy rằng, với cả hai ông, cuộc trở về với chính mình
ngày xưa này là một dịp dành cho chút xúc động nào đó. Nhưng có
lẽ chỉ có mình tôi có cảm nghĩ đó bởi vì cả Edwin lẫn bác sĩ Selwyn
đều không muốn hay không thể nói điều gì liên quan đến các bức
hình này, mặc dù họ có giải thích về những hình ảnh khác cho thấy
các loại cây cỏ mùa xuân trên hòn đảo ấy, và tập quán của nhiều
động vật bò sát và có cánh. Những lúc hình ảnh họ xuất hiện trên
màn chiếu, nhè nhẹ run run, thì cả gian phòng hầu như im phăng
phắc.
https://thuviensach.vn
Trong hình ảnh cuối cùng, chúng tôi thấy dải bình nguyên Lasithi
trải rộng trước mắt, được chụp từ đỉnh cao của một đường đèo phía
bắc. Hình này hẳn phải được chụp vào khoảng giữa trưa, vì ánh
https://thuviensach.vn
nắng chiếu thẳng xuống tầm nhìn của chúng tôi. Về phía nam, ngọn
Lasithi chót vót, cao hai nghìn mét, vươn lên bên trên bình nguyên,
như một ảo ảnh đằng sau luồng sáng chói lọi. Những ruộng khoai và
rau bên kia lòng thung lũng mênh mông, những vườn cây ăn trái và
những cụm cây khác, và vùng đất không cày cấy, đều ngập tràn
trong lớp lớp màu xanh lục, lốm đốm hàng trăm cánh quạt trắng của
những chiếc máy bơm chạy bằng sức gió. Chúng tôi cũng ngồi xem
hình ảnh này rất lâu trong im lặng, lâu tới mức mặt kính kẹp tấm
phim slide nứt rạn vì sức nóng bóng đèn và một đường đen hiện lên
như chẻ toạc tấm màn chiếu. Cảnh chụp bình nguyên Lasi
 









Các ý kiến mới nhất