-nguoc-duong-truong-thi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:10' 05-02-2026
Dung lượng: 498.8 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:10' 05-02-2026
Dung lượng: 498.8 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NGƯỢC ĐƯỜNG TRƯỜNG THI
Tác giả: Nguyễn Triệu Luật
Tiểu Thuyết Lịch Sử
Chuyển text, soát lỗi: cailubietdi
Ebook: Cuibap
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Một Cành Vua Lý
Nguyễn văn Canh
Viện Nghiên Cứu Hoover, Đại Học Stanford
Sau khi cướp ngôi nhà Lý, nhà Trần lo củng cố quyền lực. Một trong
công việc này là tìm mọi cách tiêu diệt hết những người lãnh đạo của triều
đại cũ, và đồng thời tê liệt hóa hoạt động của tông thuộc hay các bầy tôi của
triều đại này. Công tác ấy có hy vọng giúp tránh được hậu họa mất ngôi báu
về tay triều đại cũ.
Nhà Trần làm những gì để ngăn ngừa hậu họa đó?
Lật lại các trang sử cũ, ta thấy có 3 phương cách nhà Trần áp dụng:
a)Tiêu diệt những người lãnh đạo.
b) Đày ải một số ở những nơi xa xôi.
c) Xóa tông tích lý lịch để những kẻ chống đối tiềm thế không còn nhớ tới
nguồn gốc của mình.
Cuốn Ngược đường trường thi của Nguyễn Triệu Luật đã mô tả khá đủ về
vấn đề này.
a) Tiêu diệt những người được xếp vào hàng lãnh đạo của Triều đình họ
Lý. Nhà Trần chiếm ngôi của nhà Lý không bằng võ lực. Thái sư Trần Thủ
Độ ép vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Công chúa thứ hai là Lý Chiêu
Hoàng, và cho Trần Cảnh kết hôn với Lý Chiêu Hoàng. Kế đó Lý Chiêu
Hoàng phải nhường ngôi cho Trần Cảnh. Còn Lý Huệ Tông bị buộc phải đi
tu, và sau tự tử chết. Vì vậy, việc tàn sát không xảy ra như thường thấy.
Triều đại mới vẫn cho phép tông thuộc họ Lý sinh hoạt bình thường. Vào
năm 1232, nhân ngày lễ tiên hậu hàng năm, Thái sư Trần Thủ Độ cho mời
tất cả những người vào hàng lãnh dạo họ nhà Lý đến cử hành tế lễ tại lăng
miếu như thường lệ. Lăng miêu ấy thuộc làng Du Lâm, tổng Hội Giang, phủ
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thường thì, mỗi khi tế lễ xong, mọi người được mời
xuống một căn phòng xây dưới đất gọi là cung, để dự tiệc. Lần này, sau khi
tông thất nhà Lý xuống cung hết, Trần Thủ Đô cho giật sập sàn xây phía
trên, rồi đổ đất chôn sống hơn 70 tông thất nhà Lý.
b) Đày ải một số người di nơi xa xôi hẻo lánh. Trần Thủ Độ cho lập hai
làng ở giáp biên giới Hoa Việt. Đó là làng Băng Hà ỏ cửa ải Kỳ Cấp, và làng
Ba Điểm tại đèo Lai, thuộc châu Hữu Lũng. Những người này là cận thần
nhà Lý, và những kẻ chống nhà Trần được đưa lên lập nghiệp tại đây. Họ chỉ
được làm lính, không được thi cử, không được làm quan. Mục đích việc đầy
ải những người này là để họ sẽ gặp nguy cơ khi Bắc quân sang xâm lăng, và
chắc rằng họ sẽ bị tiêu diệt. Tuy nhiên, khi quân Mông Cổ sang xâm chiếm
nước ta, cả dân cư hai làng ấy đẽ theo giặc. Sau khi đánh đuổi được quân
xâm lăng, nhà Trần di cư những người này vào Nam.
c) Bắt những tông thuộc nhà Lý đổi ra họ Nguyễn và không được đi thi,
không được làm quan. Vì bị đe dọa nhiều người phải thiên cư đi nơi khác và
sống cuộc đời nông dân trong nhiều thế hệ.
Nhờ mưu chước này, Trần Cảnh đã lập ra nhà Trần vào năm 1225. Vì
thấy được tâm tàn sát của Trần Thủ Độ, hoàng tử thứ hai của vua Lý Anh
Tông là Lý Long Tường vào năm đó đã bỏ trốn. Ông đem đề tế khí vượt biển
trốn sang Triều Tiên để tị nạn. Vì vậy ông không bị chôn sống vào dịp lễ tiên
hậu kể trên. Sau khi sinh sống ở Triều Tiên được 27 năm tức là vào năm
1253, nhân khi quân “bách chiến bách thắng” Mông Cổ sang xâm lăng, ông
được vua Triều Tiên triệu dụng. Ông tuyển mộ nghĩa dũng quân và giúp
đánh bại quân xâm lăng. Vì có công đánh giặc, vua Triều Tiên ban cho ông
họ Lý (lúc sang tị nạn, ông phải dùng họ Nguyễn) và tước vị Hoa Sơn tướng
quân. Nay còn di tích là Việt Thanh Nham và có bia ghi công của ông là Thụ
Hàng Môn Bi Các. Con cháu ông cùng với những gia nhân theo ông đi tị nạn
lúc đó hiện lập nghiệp thành làng tại quận Khang Linh, đạo (tỉnh) Hoàng
Hải.
Hồi 1988 khi ghé qua Hán Thành, tôi có nhờ một Khoa Trưởng Phân
Khoa Cao Học thuộc trường Đại học Hàn Quốc đưa đi thăm các làng người
Việt ấy mà tôi được biết họ hành nghề đánh cá và được trả lời rằng các làng
ấy thuộc địa phận Bắc Hàn. Ở phía bên kia khu phi quân sự. Một số hậu duệ
Hoa Sơn tướng quân hiện ở Hán Thành và đã có liên lạc tìm về nơi đất tổ tại
Du Lâm, Bắc Ninh.
Tại Hoa Kỳ, sau biến cố 1975, một số hậu duệ nhà Lý vượt thoát được
nạn cộng sản và đang sinh sống ở đây. Ông Nguyễn Tư Cự hiện ở California
là một người trong số đó. Là trưởng chi thuộc dòng dõi đời thứ năm của
Thượng thư Nguyễn Tư Giản (Bộ Lại, đời Tự Đức) và cháu ba đời của nhà
giáo dục, nhà văn hóa và cũng là nhà cách mạng Nguyễn Triệu Luật, tác giả
cuốn truyện này, ông Cự đã được dòng họ Nguyễn giao phó công việc liên
lạc với Hán Thành để tìm tin tức và tài liệu cũng như tiếp xúc với hậu duệ
của Hoa Sơn tướng quân.
Tôi biết rằng đã có nhiều tài liệu rất đặc sắc về hậu duệ họ nhà Lý, ở hải
ngoại và cả ở trong nước. Và trong một ngày không xa, sẽ có một cuốn sách
đầy đủ về trường hợp hi hữu, có một không hai trong lịch sử Việt Nam này.
Ngày 10 tháng 12 năm 1994
Lời Tựa
Sacha Guitry, kịch sĩ trứ danh của Pháp bây giờ, có một lối riêng về
nghệ thuật thứ bảy, tôi định nói nghệ thuật chớp bóng. Lối của ông là lối
phim độc thoại (film monologué), nghĩa là tất cả cuốn phim chỉ có một
người nói, hoặc đôi khi có hai ba người thì từ người thứ hai trở đi, đã không
quan trọng lắm rồi. Mà người thứ nhất và độc nhất bao giờ cũng là ông.
Phim Pháp kém phim Đức phim Mỹ ở những phim hoạt động thì nghệ thuật
đặc sắc của ông đã cứu cho nên nghệ thuật thứ bảy Pháp nhiều, đã gỡ danh
giá cho Pháp nhiều.
Người ta lại nghiệm rằng phim lịch sử của Pháp hay bao nhiêu thì phim
lịch sử của Mỹ lố lăng khó chịu bấy nhiêu. Đó chỉ là tại Mỹ không có lịch sử
mà lịch sử Pháp thì đậm đà phiền phức, tế nhị quá. Trong phim lịch sử thì
gần đây phim của Sacha Guitry là đặc sắc nhất. Cũng độc thoại hoặc hô như
độc thoại, chuyện lịch sử quay phim của Sacha lại còn có cái đặc sắc sau này
trội hơn các chuyện lịch sử quay phim khác.
Chuyện lịch sử của ông là việc trộn lẫn chân sử với bông lông. Ai đã từng
xem những phim “Hạt Trai Trên Chiếc Mã Miện” (Les perles de lac
Couronne), “Ngược Đường Elysée” (En remontant le champs des Elysée)
đều nhận rõ sự trộn lẫn ấy. Song sự trộn lẫn của ông là một hóa hợp chứ
không phải một hỗn hợp. Nó như cái tài kim (alliage) trong tiền tệ. Vàng với
đồng, bạc với đồng, nhưng vẫn có giá. Có giá vì không lừa ai: trên mặt khắc
hẳn thành số (titre) đó. Có giá vì không ai trông nổi chỗ hàn gắn: hai chất đã
ăn sâu vào nhau rồi. Có giá vì tự vẫn chán giá: chín phần vàng vẫn không hạ
giá bởi một phần đồng. Có giá vì biết lấy chất rẻ làm cho chất đắt cứng thêm;
vàng thuần thì dễ mòn mà đồng thuần thì tuy cứng nhưng rẻ quá không đủ
thủ tín trong thị trường. Lối viết sử ấy thật cũng tự có một giá trị riêng, trừ ra
khi nào người ta theo chính sách các nhà tài chính thuộc phái bội tăng ngân
phiếu (inflation) mà phát trần giấy bạc ra, không ngó tới kim quỹ nữa.
Triệu Luật phỏng theo lối đó mà viết cuốn lịch sử tiểu thuyết này. Phần
chân sử ở trong tự cũng có giá mà phần bông lông thêm thắt may ra cũng có
giá. Tưởng đó là một lối viết lịch sử tiểu thuyết nên cho nhập cảng vào địa
hạt văn chương ta nên đem ra thử lần đầu. Các bạn thưởng thức xem.
Viết ở Vinh ngày kỷ niệm bách bán niên Pháp-Lan Đại Cách Mệnh
Nguyễn Triệu Luật
I
TỪ CÁI TRIẾT LÝ CON SỐ ĐẾN CÁI TRIẾT LÝ LỊCH SỬ
Tiết đã qua đông chí, năm đã hồ tàn. Con đường Pierre Pasquier (tục
gọi là Đường Đôi) lạnh lẽo phơi hai mặt đường ba hàng cây dưới ngọn gió
bấc buổi ban mai. Ba hàng cây sắp hàng ở một phố tây, ít người qua lại, mùa
hè cho bóng cho mát bao nhiêu thì mùa này như thổi ra lạnh, tuôn ra rét bấy
nhiêu. Những biệt thự sắp hàng rộng rãi đôi bên còn như ngủ lịm dưới đám
sương mù buổi sáng. Con đường ấy cắt ngang sân trường Sinh Từ mà thông
ra phố Sinh Từ, dường như muốn mở lối ra cái phố An Nam đầy sinh khí để
đỡ nỗi lạnh lẽo những phố đầy hơi tiền lạnh ngắt là những phố tây. Quãng
ấy, một ngày được sáu buổi ồn ào. Trước giờ học sáng chiều, hai buổi chơi,
lũ học trò làm sôi nổi không khí vùng ấy được mươi lăm phút. Trừ sáu buổi
ấy tòa nhà hai từng đứng sừng sững với tất cả cái nghiêm trọng lạnh lẽo của
nơi học hành.
Trống gọi học trò nổi đã hơi lâu, trống vào học cũng đã gần nổi. Hàng
quà hàng kẹo đã soát lại tiền vừa thu và hàng vừa bán được, để sắp sửa quầy
hàng đi chỗ khác cho đến giờ chơi. Trên hiên nhà trường, ông hiệu trường
rút đồng hồ ra nhìn rồi bảo tên loong-toong:
- Mày chạy ra hàng Đẫy ngó xem đã thấy ông giáo Viên đến chưa, rồi vào
đánh trống vào đi.
Tên loong-toong chạy ra ngã tư nhìn xuôi về mạn Cửa Nam. Không thấy
gì cả, nó lại nhìn chơi về phía Giám thì thấy nhà giáo đương lững thững từ
đằng ấy tiến đến. Nó lầm bầm: “Đã đi chậm lại còn mua đường”! Rồi nó
vào, bẩm ông hiệu trưởng:
- Đã, ông giáo con đã đến kia.
Ông hiệu trưởng bảo tên loong-toong đánh trống và nói với mấy ông giáo
khác:
- Cái đồng hồ hôm nay sai mất vài phút rồi. Mọi ngày, cứ tiếng giày ông
ta nện bực hè là đến giờ.
Ba tiếng trống xua cả đoàn học trò đến xếp thành từng hàng trước cửa
mỗi lớp. Học trò vào các lớp. Lớp nhất đi vào lộn xộn hơn, phần nhiều vì lớp
học gần tất niên, một chút vì thầy đến chậm.
Ông giáo Nguyễn Lý Viên vào lớp giữa lúc học trò mới bắt đầu sắp ồn
ào. Chân ông vào lớp như giẫm lên một cái khuy bấm của bộ máy lò xo: đều
răm rắm cả lớp đứng dậy.
Cũng như cái máy, ông lấy tay vẫy học trò ngồi xuống và khe khẽ nói qua
khe môi:
- Assayez-vouz! (Các anh ngồi xuống).
Lên bục, cởi pardessus, chật mũ treo lên mắc xong, ông quay lại hỏi học
trò:
- Tính kỳ trước chữa trên bảng chưa?
Học trò đều nói:
- Bẩm đã!
Và chúng lại liếc nhau cười, có ý như muốn chế cái tính hay quên của
thầy: và lác đác đã có tiếng nói chuyện, cái giọng nói chuyện thì thầm nửa
như tỏ ý bất mãn vì thầy bắt học như quên cả rằng buổi chiều nay đã là buổi
học trò đọc văn chúc tết, thầy “tán rộng” với trò, mà buổi học sáng nay, theo
lệ thường, cũng chỉ là buổi học chơi, nửa như kinh ngạc rằng thầy có lẽ đã
chăm chỉ quá đến nỗi mặc kệ cả cái “tết cả” chạy thúc đến sát gót chân.
Gõ cái thước lên mặt bàn để gọi học trò về chỗ trật tự kỷ luật, ông thung
dung tươi cười, cái tươi cười ít khi có của ông, cái tươi cười nó làm cho học
trò cũng tươi ngay, cái tươi muốn nói rằng: “Có thế chứ! Thầy ta cũng vui
kìa”, cái tươi hỉ hả như muốn là cái phần thưởng xứng đáng của lũ trẻ thơ
đối với ông thầy cần cù chăm chỉ, tận tâm, nghiêm nhưng rộng lượng, đáng
sợ mà cũng đáng yêu vô cùng. Để cho học trò một phút tươi tỉnh, ông nói:
- Hôm nay tôi muốn ra cho các anh một bài tính, một bài tính vui, một bài
hài đàm bằng con số nếu tôi có thể nói thế được. Nào, các anh cầm bút viết
đầu bài... Mười hai người đi ăn cổ. Trước khi cổ bưng ra, một người muốn
giết thì giờ, định cùng nhau đổi chỗ, đổi thế nào cho đủ hết mọi cách ngồi
đối với mình, đối với mười một người khác, tóm lại là mười hai người đều
ngồi đủ các cách ngồi, đủ các vị trí ngồi có thể tưởng tượng được - nói là
không thể tưởng tượng được lại muốn như đúng hơn - Cho rằng mỗi lần đổi
như thế mất một phút và cho rằng năm nào cũng có đúng ba trăm sáu nhăm
ngày, thì mười hai người ấy phải dùng mấy năm...
Học trò cười, có ý nghi ngờ. Ông nói tiếp:
- ... Các anh ngờ chữ năm của tôi à? Ừ thí mất bao nhiêu phút vậy? Đó
làm đi.
Một phút sau, một anh đứng lên nói:
- Bẩm mất hai giờ hai mươi phút ạ.
- Sao anh biết?
- Bẩm con élever 12 au carré [1]được 144 kiểu ngồi, chia cho 60 được hai
giờ 20 phút ạ.
- Gần đúng đó... Có anh nào nghĩ khác không?
- Không ạ.
- Thế thì không đúng. Đây tôi vạch cho các anh nghe. Hai người thì có
hai cách ngồi, nghĩa là một nhân với hai. Ba người có sáu cách ngồi, nghĩa là
một nhân với hai, rồi nhân với ba. Các anh không tin ư? Ví như ông A, B, C,
thì có sáu kiểu ngồi: một là ABC hai là ACB, ba là BAC, bốn là BCA, năm
là CAB, sáu là CBA,... có phải thế không?
- Bẩm phải ạ.
- Thế tôi nói lại: một người một kiểu ngồi; hai người hai kiểu ngồi nghĩa
là một nhân hai; ba người sáu kiểu ngồi nghĩa là nhân một hai nhân ba, rồi
cứ thế mãi cho đến khi tôi viết trên bảng đây.
Đứng dậy ông cầm phấn viết lên bảng đen:
1 người: 1x1 = 1 kiểu
2 người: 1x2 = 2 kiểu
3 người: 1x2x3 = 6 kiểu
4 người: 1x2x3x4 = 24 kiểu
Quay lại học trò ông nói tiếp:
- Cứ suy như thế thì 12 người có: 1x2x3x4x5x6x7x8x9x10x11x12 kiểu
ngồi.
Các anh nhân đi rồi tìm thấy số kiểu ngồi. Thế rồi muốn tìm số giờ các
anh đem chia thành số cho 60, lại muốn tìm số ngày, anh lại đem chia thành
số cho 365. Tóm lại anh phải đặt tính như thế này:
1x2x3x4x5x6x7x8x9x10x11x12:60x24x365
Lại có thể xóa số cho gọn được phép tính nữa. Đó các anh làm đi, xem họ
phải chờ mấy năm.
Học trò cúi đầu nhân, nhân, nhân. Bản cửu chương bằng tiếng ta, tiếng
Pháp, chữ Nho, theo kiểu học đầu tiên của mỗi người, lại được đem ra tụng
lại. Bảy bảy bốn chín xen với ngũ lục tam chi và cinq sept trente-cinq, nghe
vui vui như tiếng ong bên tổ. Ông giáo đi đi lại lại ở giữa lớp cúi đầu ra dáng
nghĩ ngợi. Năm phút qua, mười phút qua. Chưa ai tìm thấy trả lời. Ông giáo
đi đến cuối lớp. Ông nhìn vơ vẩn lên quyển lịch treo trên tường. Ông bỗng
chú ý vào phần ngày ta và phần ghi việc trên lịch sử trước kia kháp vào ngày
ấy “Năm Mậu Dần, tháng mười hai, ngày 28 - Nhà Hậu Lê bắt đầu mở khoa
thi hội ở bãi Thảo Tân, lấy hai người đỗ Nhị Giáp Tiến Sĩ là Nguyễn Thật,
Nguyễn Nhật Tráng và bốn người đỗ Tam Giác Tiến Sĩ là: Nguyễn Đức
Mậu, Đặng Kính Chỉ, Nguyễn Danh Thế và Nguyễn Đức Trạch (Hậu Lê,
Quang Hưng XVIII 1595)”.
Ông lẩm bẩm: “Bãi Thảo Tân... Một nghìn chín trăm ba mươi tám, trừ
một nghìn năm trăm chín mươi nhăm, vị chi là ba trăm bốn mươi ba năm...”
Học trò ông đã quen rồi: mỗi khi ông lầm bầm là có điều gì nghĩ rắc rối
lắm và khi ấy mà hơi lười, hơi ồn ào là bị ông mắng phạt dữ. Vì thế chúng
im thin thít. Ông lên trên bàn thầy giáo, lấy thước gõ mạnh xuống bàn. Hơn
năm chục cái đầu ngẩng cả lên. Trái với điều chúng dự đoán, thầy chúng lại
tươi cười:
- Bài tính lúc nãy không cần làm nữa. Vô ích. Đây tôi cho các anh những
câu trả lời: Có bốn trăm bảy mươi chín triệu một nghìn sáu trăm kiểu ngồi
khác nhau và bọn mười hai thực khách phải dùng tới 479.001.600 phút, hay
là bảy mươi chín triệu chín mươi tám vạn ba nghìn ba trăm sáu mươi giờ,
hay là ba triệu ba mươi ba vạn hai nghìn sáu trăm bốn mươi ngày, hay là
chín nghìn một trăm ba mươi năm.
Học trò tủm tỉm về cái số kỳ dị không ngờ kia. Giá ông giáo nói mấy
tiếng sau mà cũng cười thì chắc là chúng sẽ phải cười rầm rộ, nhưng vì ông
nói bằng một giọng nghiêm nghị, lạnh lùng nên chúng dẫu buồn cười, cũng
chỉ dám tủm tỉm nhếch môi vừa đủ để tiết ra một phần gọi là tâm hồn trí tuệ
đương bị kích thích, nói cho đúng là bị cù - hết sức.
- ... Các anh lấy làm lạ lắm sao? Các anh lấy làm lạ, nhưng có ngờ rằng
tính như thế là sai hay không?
- Bẩm tính đúng ạ.
- Phải đúng lắm. Chỉ có điều rằng không ngờ rằng to đến thế. Tục ngữ
rằng: “Nào ai có học đến chữ ngờ”. Mười hai người thực khách kia, chắc
cũng không ngờ. Mà giá cho họ đổi chỗ thật thì óc họ cũng không nhớ nổi
nữa. Làm được việc đổi ấy, duy có ông trời. Ông trời mới xoay xỏa xếp đặt
nổi cái chuyện hỗn độn lộn tùng phèo mà vẫn có phép tắc tiền định ấy. Phép
tính ấy ở số học gọi là “chu toàn hoán cải” tiếng tây là permutation circulaire
nghĩa là đổi quanh đổi quẩn, quanh quẩn nhưng vẫn có phép sẵn không ai
ngờ rằng có. Ở phép tính này, chúng ta có thể rút ra được hai cái triết lý ở
đời. Một là: những việc lộn xộn, trông gần, trông ít, thì là lộn xộn, nhưng
trông xa, nhìn cao, thì là trật tự, là phép tắc. Hai là: muốn lộn xộn, lẩn quẩn,
nhiều nhặt bao nhiêu cũng chỉ có chừng, quá chừng quá mực thì quay về chỗ
cũ. Như ở cái tính mười hai người thực khách trên kia, nếu họ có thể đổi đến
kiểu ngồi thứ bốn trăm bảy mươi chín triệu một nghìn sáu trăm thì là họ đi
đến cái lộn xộn cuối cùng, mà kiểu ngồi thứ bốn trăm bảy mươi chín triệu,
một nghìn sáu trăm linh một là một kiểu trong bốn trăm bảy mươi chín triệu
một nghìn sáu trăm kiểu cũ. Chuyện đời là cả một việc lộn xộn đảo điên ấy,
kéo dài đến đâu cũng có ngày quay lại thế cũ. Người ta nói rằng lịch sử chỉ
là một cuộc quay lại trò cũ không ngừng, câu ấy thật là chí lý. Những thế
trên lịch sử không hiểu phải lấy số gì mà gẩy con toán cho ra cái luật vòng
quanh lộn xộn, nhưng nếu các anh có muốn nghe một chuyện vòng quanh
lộn xộn trên mặt đất thành Hà Nội này thì hôm nay nhân buổi học tất niên,
tôi vui lòng kể cho các anh nghe, chắc rằng các anh sẽ vui tai được từ (ông
rút đồng hồ xem giờ) tám giờ bốn mươi nhăm đến mười một giờ, nghĩa là
trong hai giờ mười lăm phút, trừ mười lăm phút chơi, còn chẳn hai giờ. Các
anh gác bút xuống, gấp vở lại mà nghe.
Ở hơn năm chục miệng cùng thốt ra: vâng ạ, vâng ạ.
- Nội đường thành phố, các anh có biết con đường nào dài nhất, thẳng
nhất không? Đó là con đường Duvillier, Borgnis Desbordes, Paul Bert.
Đường bắt đầu từ cửa Nhà Hát Tây, thẳng một mạch như sợi chỉ căng, đi qua
ngã tư Gô Đa, Trung Ương Thư Viện, Vườn hoa Cửa Nam, Hàng Đẫy cho
tới chỗ gặp con đường đi Cầu Giây mới là hết địa phận thành Đại La cổ. Vậy
kể từ Cầu Giây đến cửa Nhà Hát Tây, đường ấy dài đến sáu nghìn thước, tức
là sáu cây số. Kể riêng cái quãng thẳng như sợi chỉ căng, cũng được linh ba
nghìn thước tây. Con đường ấy có một cái số kiếp quẩn quanh cùng bút mực
văn chương từ hơn tám trăm năm đến giờ. Năm 1070, nhà Lý bắt đầu để tâm
đến văn học trong nước, dựng đền Văn Miếu ở Thăng Long. Cái đền Giám
bây giờ tức là nền cũ của Văn Miếu nhà Lý. Đến năm 1075, vua Lý Nhân
Tông mở khoa thi đầu tiên, trường thi ở ngay bên hữu Giám, tức là cái bãi
cỏ, con đường Saint-Antoine và khu nhà nuôi trẻ con mồ côi bên cạnh Giám.
Đến năm sau, năm 1076, nhà vua lại mở Quốc Tử Giám, tức là một Cao
đẳng Học hiệu trong nước. Sĩ tử đến tập bài ở Văn Miếu, vì thế nên người ta
gọi Văn Miếu là Giám. Thế là vì có Văn Miếu, có Giám, có trường thi, một
con đường được đấp đằng sau. Khúc đường ấy, nối cửa Nam thành Thăng
Long với Giám và Trường Thi, và là khúc đường đầu tiên của con đường dài
sáu nghìn thước bây giờ. Khi đó, cái La Thành cũ của Cao Biền hãy còn
hình. Con đường đi từ chỗ Cầu Giấy về đến Nhà Tu Kín ở Hàng Đẫy bây giờ
là nền cũ của bức tường phía nam La Thành. Đến đời Trần, La Thành cũ bạt
xuống làm đường thì con đường đằng sau Giám chạy liền đến Cầu Giấy. Đến
đời nhà Lê, nhà vua mới đắp nối con đường ấy, đi sát bờ nam Hồ Hoàn
Kiếm ra tận bờ sông. Nhân có con đường ấy, chỗ ấy mới thành bến, gọi là
Bến Cỏ, chữ nho là Thảo Tân. Khi đó sông còn chạy rẽ về phía Nam hơn bây
giờ. Cái bãi cỏ trước bến vào từ chỗ Nhà Hát Tây hết con đường bờ sông
cạnh viện bảo tàng Louis Finot. Tới đây các anh chỉ mới thấy cái duyên nợ
của con đường ấy đối với nguồn học dân tộc ta thôi, còn cái lẽ lộn xộn quẩn
quanh các anh chưa thấy. Muốn thấy lẽ ấy, tôi lại phải kể chuyện một họ to ở
Bắc Ninh từ đời Trịnh Tùng đến giờ. Cái vẻ “đi lại trở trở về, về lại đi” của
họ ấy cũng theo những cuộc biến thiên của con đường ấy.
Giữa lúc ấy thì ba tiếng trống ra chơi nổi lên.
- ... Các anh hãy ra chơi đã, lát nữa tôi nói nốt.
Học trò cùng đứng dậy ra chơi. Như bầy ong vỡ tổ, hàng mấy trăm trẻ lại
phá cái không khí yên lặng lạnh lẽo của một khúc đường...
---------------
II
CÁI TIẾT THÁO BÌNH THƯỜNG KHÔNG CAO KHÔNG THẤP CỦA MỘT
KẺ SĨ HỒI CUỐI MẠC
Hồi đầu nhà Trần, nước ta bị rợ Mông Cổ sang lấn đất, định biến giang
san mình thành một hành tinh của đế quốc Mông Cổ. Khi ấy, nhờ lòng người
cố kết, trên dưới một lòng, nên ta đuổi nổi kẻ thù ra ngoài cõi, giữ vững nền
độc lập, mặc dầu quân Mông Cổ là quân đã chinh phục được từ Đông Á đến
Tây Âu, từ đồng tuyết Tây Bá Lợi Á đến bờ sông Hằng Hà, mặc dầu quân ấy
ba lần thiên binh vạn mã kéo sang ta, mặc dầu ở nước ta có nhiều kẻ phản.
Mặc dầu bên ta có nhiều kẻ cam tâm thờ giặc. Chỗ mặc dầu này quan hệ
lắm, ta nên xét kỹ hơn. Lúc quân Mông cổ lấn cõi, chiếm hồ hết đất nước ta,
từ Ninh Bình đến cửa Nam Quan, từ đèo Hoàng Mai vào đến Nghệ Tĩnh, lúc
ấy ai còn tin rằng ta có thể đuổi được quân giặc. Thói thường vẫn thế, tin vào
cái thế có thể có được chứ không ai tin vào cái thế nghìn mất một còn. Đại
biểu cho cái tâm lý ấy là bọn Trần Ích Tắc, Trần Kiện Lê Tắc. Trần Ích Tắc
là chú ruột vua Trần Nhân Tông, anh ruột Trần Nhật Duật. Trần Kiện là cháu
vua Trần Thái Tông. Lê Tắc là gia thần Trần Kiện. Trần Kiện khi ấy trấn
Nghệ An. Đáng lẽ y phải hợp sức với Trần Quang Khải chống với quân Toa
Đô ở Chiêm Thành ra, y lại bàn với gia thần của y là Lê Tắc rằng:
- Nước nhỏ không địch được nước lớn, kẻ yếu không đương nổi kẻ mạnh.
Đời xưa, Vi Tử đầu nhà Chu là phải lắm. Ta đây là con cháu vua nước Nam,
ta không thể để cho nước ta tiêu diệt.
Bằng cái giọng nói rửa mặt vô lý và phản quốc ấy, y đem cả gia quyến
cùng ba vạn quân dưới quyền y ra hàng Toa Đô.
Câu ấy phát biểu một cách rõ rệt cái tâm lý của kẻ “chỉ trông mong ở sự
mạnh yếu một thì mà không có lòng tin là sức mạnh muôn thuở”.
Câu ấy, phản bội một cách rõ rệt và về đủ các phương diện đối với câu
của Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn: “Đầu tôi còn thì bệ hạ đừng lo” - “Bệ
hạ chặt đầu Tuấn trước rồi hãy nói chuyện hàng”.
Các anh có xem thi kéo dây bao giờ không? Hễ mà đôi bên còn ngang sức
nhau thì bên nào bên ấy còn cố sức cả, kẻ đứng xem cũng không thiên vị bên
nào. Hễ một bên nghe chừng đuối thì lòng chán nản đã bắt đầu có ở người
kéo dây bên đuối, lòng thiên vị đã bắt đầu nảy nở ở kẻ đứng xem. Đuối lắm,
thiên vị lắm, chán nản lắm, có khi người ta thấy kẻ kéo bên đuối bỏ phe
mình mà qua kéo bên khỏe, kẻ đứng xem ồ vào giúp bên khỏe. Kẻ đương
đầu thì cục là người kéo dây, dân chúng là lũ người xem kia. Hồi nhà Trần
chống rợ Nguyên, lũ Trần Ích Tắc Trần Kiện là đứa kéo dây bỏ đầu dây bên
này sang đầu dây bên kia. Còn ra biết bao nhiêu kẻ đã hoặc ngấm ngầm hoặc
công nhiên hàng giặc. Những tráp thư tín vãng lai với giặc, sau khi quân
Mông Cổ ra khỏi cõi, chính phủ đã bắt được cả. Giá truy nguyên ra thì triều
đình nhà Trần có thể làm tội được mấy ngàn kẻ nữa. Nhưng vua Nhân Tông,
một là vì bụng khoan hồng nhân hậu, hai có vì hiểu thấu tâm lý của kẻ bình
thường nên đã đem đốt hết, không thèm xem. Thật thế bọn tầm thường ấy
chỉ có cái tâm lý của kẻ vỗ tay vào chỗ an vui, lảng xa những nơi hiểm trở.
Giặc Nguyên lấn cõi thì phản bội, nhưng sau trận Bạch Đằng thì bụng họ lại
cố kết với Trần ngay. Trong chục triệu con người mấy ai có cái gan quyết
đánh, quyết thắng, quyết tìm cả ở những lúc mà công việc trước mắt khiến
gan nào cũng mềm, chí nào cũng núng, tin nào cũng lung lay? Hồi Đại cá
Tác giả: Nguyễn Triệu Luật
Tiểu Thuyết Lịch Sử
Chuyển text, soát lỗi: cailubietdi
Ebook: Cuibap
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Một Cành Vua Lý
Nguyễn văn Canh
Viện Nghiên Cứu Hoover, Đại Học Stanford
Sau khi cướp ngôi nhà Lý, nhà Trần lo củng cố quyền lực. Một trong
công việc này là tìm mọi cách tiêu diệt hết những người lãnh đạo của triều
đại cũ, và đồng thời tê liệt hóa hoạt động của tông thuộc hay các bầy tôi của
triều đại này. Công tác ấy có hy vọng giúp tránh được hậu họa mất ngôi báu
về tay triều đại cũ.
Nhà Trần làm những gì để ngăn ngừa hậu họa đó?
Lật lại các trang sử cũ, ta thấy có 3 phương cách nhà Trần áp dụng:
a)Tiêu diệt những người lãnh đạo.
b) Đày ải một số ở những nơi xa xôi.
c) Xóa tông tích lý lịch để những kẻ chống đối tiềm thế không còn nhớ tới
nguồn gốc của mình.
Cuốn Ngược đường trường thi của Nguyễn Triệu Luật đã mô tả khá đủ về
vấn đề này.
a) Tiêu diệt những người được xếp vào hàng lãnh đạo của Triều đình họ
Lý. Nhà Trần chiếm ngôi của nhà Lý không bằng võ lực. Thái sư Trần Thủ
Độ ép vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Công chúa thứ hai là Lý Chiêu
Hoàng, và cho Trần Cảnh kết hôn với Lý Chiêu Hoàng. Kế đó Lý Chiêu
Hoàng phải nhường ngôi cho Trần Cảnh. Còn Lý Huệ Tông bị buộc phải đi
tu, và sau tự tử chết. Vì vậy, việc tàn sát không xảy ra như thường thấy.
Triều đại mới vẫn cho phép tông thuộc họ Lý sinh hoạt bình thường. Vào
năm 1232, nhân ngày lễ tiên hậu hàng năm, Thái sư Trần Thủ Độ cho mời
tất cả những người vào hàng lãnh dạo họ nhà Lý đến cử hành tế lễ tại lăng
miếu như thường lệ. Lăng miêu ấy thuộc làng Du Lâm, tổng Hội Giang, phủ
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thường thì, mỗi khi tế lễ xong, mọi người được mời
xuống một căn phòng xây dưới đất gọi là cung, để dự tiệc. Lần này, sau khi
tông thất nhà Lý xuống cung hết, Trần Thủ Đô cho giật sập sàn xây phía
trên, rồi đổ đất chôn sống hơn 70 tông thất nhà Lý.
b) Đày ải một số người di nơi xa xôi hẻo lánh. Trần Thủ Độ cho lập hai
làng ở giáp biên giới Hoa Việt. Đó là làng Băng Hà ỏ cửa ải Kỳ Cấp, và làng
Ba Điểm tại đèo Lai, thuộc châu Hữu Lũng. Những người này là cận thần
nhà Lý, và những kẻ chống nhà Trần được đưa lên lập nghiệp tại đây. Họ chỉ
được làm lính, không được thi cử, không được làm quan. Mục đích việc đầy
ải những người này là để họ sẽ gặp nguy cơ khi Bắc quân sang xâm lăng, và
chắc rằng họ sẽ bị tiêu diệt. Tuy nhiên, khi quân Mông Cổ sang xâm chiếm
nước ta, cả dân cư hai làng ấy đẽ theo giặc. Sau khi đánh đuổi được quân
xâm lăng, nhà Trần di cư những người này vào Nam.
c) Bắt những tông thuộc nhà Lý đổi ra họ Nguyễn và không được đi thi,
không được làm quan. Vì bị đe dọa nhiều người phải thiên cư đi nơi khác và
sống cuộc đời nông dân trong nhiều thế hệ.
Nhờ mưu chước này, Trần Cảnh đã lập ra nhà Trần vào năm 1225. Vì
thấy được tâm tàn sát của Trần Thủ Độ, hoàng tử thứ hai của vua Lý Anh
Tông là Lý Long Tường vào năm đó đã bỏ trốn. Ông đem đề tế khí vượt biển
trốn sang Triều Tiên để tị nạn. Vì vậy ông không bị chôn sống vào dịp lễ tiên
hậu kể trên. Sau khi sinh sống ở Triều Tiên được 27 năm tức là vào năm
1253, nhân khi quân “bách chiến bách thắng” Mông Cổ sang xâm lăng, ông
được vua Triều Tiên triệu dụng. Ông tuyển mộ nghĩa dũng quân và giúp
đánh bại quân xâm lăng. Vì có công đánh giặc, vua Triều Tiên ban cho ông
họ Lý (lúc sang tị nạn, ông phải dùng họ Nguyễn) và tước vị Hoa Sơn tướng
quân. Nay còn di tích là Việt Thanh Nham và có bia ghi công của ông là Thụ
Hàng Môn Bi Các. Con cháu ông cùng với những gia nhân theo ông đi tị nạn
lúc đó hiện lập nghiệp thành làng tại quận Khang Linh, đạo (tỉnh) Hoàng
Hải.
Hồi 1988 khi ghé qua Hán Thành, tôi có nhờ một Khoa Trưởng Phân
Khoa Cao Học thuộc trường Đại học Hàn Quốc đưa đi thăm các làng người
Việt ấy mà tôi được biết họ hành nghề đánh cá và được trả lời rằng các làng
ấy thuộc địa phận Bắc Hàn. Ở phía bên kia khu phi quân sự. Một số hậu duệ
Hoa Sơn tướng quân hiện ở Hán Thành và đã có liên lạc tìm về nơi đất tổ tại
Du Lâm, Bắc Ninh.
Tại Hoa Kỳ, sau biến cố 1975, một số hậu duệ nhà Lý vượt thoát được
nạn cộng sản và đang sinh sống ở đây. Ông Nguyễn Tư Cự hiện ở California
là một người trong số đó. Là trưởng chi thuộc dòng dõi đời thứ năm của
Thượng thư Nguyễn Tư Giản (Bộ Lại, đời Tự Đức) và cháu ba đời của nhà
giáo dục, nhà văn hóa và cũng là nhà cách mạng Nguyễn Triệu Luật, tác giả
cuốn truyện này, ông Cự đã được dòng họ Nguyễn giao phó công việc liên
lạc với Hán Thành để tìm tin tức và tài liệu cũng như tiếp xúc với hậu duệ
của Hoa Sơn tướng quân.
Tôi biết rằng đã có nhiều tài liệu rất đặc sắc về hậu duệ họ nhà Lý, ở hải
ngoại và cả ở trong nước. Và trong một ngày không xa, sẽ có một cuốn sách
đầy đủ về trường hợp hi hữu, có một không hai trong lịch sử Việt Nam này.
Ngày 10 tháng 12 năm 1994
Lời Tựa
Sacha Guitry, kịch sĩ trứ danh của Pháp bây giờ, có một lối riêng về
nghệ thuật thứ bảy, tôi định nói nghệ thuật chớp bóng. Lối của ông là lối
phim độc thoại (film monologué), nghĩa là tất cả cuốn phim chỉ có một
người nói, hoặc đôi khi có hai ba người thì từ người thứ hai trở đi, đã không
quan trọng lắm rồi. Mà người thứ nhất và độc nhất bao giờ cũng là ông.
Phim Pháp kém phim Đức phim Mỹ ở những phim hoạt động thì nghệ thuật
đặc sắc của ông đã cứu cho nên nghệ thuật thứ bảy Pháp nhiều, đã gỡ danh
giá cho Pháp nhiều.
Người ta lại nghiệm rằng phim lịch sử của Pháp hay bao nhiêu thì phim
lịch sử của Mỹ lố lăng khó chịu bấy nhiêu. Đó chỉ là tại Mỹ không có lịch sử
mà lịch sử Pháp thì đậm đà phiền phức, tế nhị quá. Trong phim lịch sử thì
gần đây phim của Sacha Guitry là đặc sắc nhất. Cũng độc thoại hoặc hô như
độc thoại, chuyện lịch sử quay phim của Sacha lại còn có cái đặc sắc sau này
trội hơn các chuyện lịch sử quay phim khác.
Chuyện lịch sử của ông là việc trộn lẫn chân sử với bông lông. Ai đã từng
xem những phim “Hạt Trai Trên Chiếc Mã Miện” (Les perles de lac
Couronne), “Ngược Đường Elysée” (En remontant le champs des Elysée)
đều nhận rõ sự trộn lẫn ấy. Song sự trộn lẫn của ông là một hóa hợp chứ
không phải một hỗn hợp. Nó như cái tài kim (alliage) trong tiền tệ. Vàng với
đồng, bạc với đồng, nhưng vẫn có giá. Có giá vì không lừa ai: trên mặt khắc
hẳn thành số (titre) đó. Có giá vì không ai trông nổi chỗ hàn gắn: hai chất đã
ăn sâu vào nhau rồi. Có giá vì tự vẫn chán giá: chín phần vàng vẫn không hạ
giá bởi một phần đồng. Có giá vì biết lấy chất rẻ làm cho chất đắt cứng thêm;
vàng thuần thì dễ mòn mà đồng thuần thì tuy cứng nhưng rẻ quá không đủ
thủ tín trong thị trường. Lối viết sử ấy thật cũng tự có một giá trị riêng, trừ ra
khi nào người ta theo chính sách các nhà tài chính thuộc phái bội tăng ngân
phiếu (inflation) mà phát trần giấy bạc ra, không ngó tới kim quỹ nữa.
Triệu Luật phỏng theo lối đó mà viết cuốn lịch sử tiểu thuyết này. Phần
chân sử ở trong tự cũng có giá mà phần bông lông thêm thắt may ra cũng có
giá. Tưởng đó là một lối viết lịch sử tiểu thuyết nên cho nhập cảng vào địa
hạt văn chương ta nên đem ra thử lần đầu. Các bạn thưởng thức xem.
Viết ở Vinh ngày kỷ niệm bách bán niên Pháp-Lan Đại Cách Mệnh
Nguyễn Triệu Luật
I
TỪ CÁI TRIẾT LÝ CON SỐ ĐẾN CÁI TRIẾT LÝ LỊCH SỬ
Tiết đã qua đông chí, năm đã hồ tàn. Con đường Pierre Pasquier (tục
gọi là Đường Đôi) lạnh lẽo phơi hai mặt đường ba hàng cây dưới ngọn gió
bấc buổi ban mai. Ba hàng cây sắp hàng ở một phố tây, ít người qua lại, mùa
hè cho bóng cho mát bao nhiêu thì mùa này như thổi ra lạnh, tuôn ra rét bấy
nhiêu. Những biệt thự sắp hàng rộng rãi đôi bên còn như ngủ lịm dưới đám
sương mù buổi sáng. Con đường ấy cắt ngang sân trường Sinh Từ mà thông
ra phố Sinh Từ, dường như muốn mở lối ra cái phố An Nam đầy sinh khí để
đỡ nỗi lạnh lẽo những phố đầy hơi tiền lạnh ngắt là những phố tây. Quãng
ấy, một ngày được sáu buổi ồn ào. Trước giờ học sáng chiều, hai buổi chơi,
lũ học trò làm sôi nổi không khí vùng ấy được mươi lăm phút. Trừ sáu buổi
ấy tòa nhà hai từng đứng sừng sững với tất cả cái nghiêm trọng lạnh lẽo của
nơi học hành.
Trống gọi học trò nổi đã hơi lâu, trống vào học cũng đã gần nổi. Hàng
quà hàng kẹo đã soát lại tiền vừa thu và hàng vừa bán được, để sắp sửa quầy
hàng đi chỗ khác cho đến giờ chơi. Trên hiên nhà trường, ông hiệu trường
rút đồng hồ ra nhìn rồi bảo tên loong-toong:
- Mày chạy ra hàng Đẫy ngó xem đã thấy ông giáo Viên đến chưa, rồi vào
đánh trống vào đi.
Tên loong-toong chạy ra ngã tư nhìn xuôi về mạn Cửa Nam. Không thấy
gì cả, nó lại nhìn chơi về phía Giám thì thấy nhà giáo đương lững thững từ
đằng ấy tiến đến. Nó lầm bầm: “Đã đi chậm lại còn mua đường”! Rồi nó
vào, bẩm ông hiệu trưởng:
- Đã, ông giáo con đã đến kia.
Ông hiệu trưởng bảo tên loong-toong đánh trống và nói với mấy ông giáo
khác:
- Cái đồng hồ hôm nay sai mất vài phút rồi. Mọi ngày, cứ tiếng giày ông
ta nện bực hè là đến giờ.
Ba tiếng trống xua cả đoàn học trò đến xếp thành từng hàng trước cửa
mỗi lớp. Học trò vào các lớp. Lớp nhất đi vào lộn xộn hơn, phần nhiều vì lớp
học gần tất niên, một chút vì thầy đến chậm.
Ông giáo Nguyễn Lý Viên vào lớp giữa lúc học trò mới bắt đầu sắp ồn
ào. Chân ông vào lớp như giẫm lên một cái khuy bấm của bộ máy lò xo: đều
răm rắm cả lớp đứng dậy.
Cũng như cái máy, ông lấy tay vẫy học trò ngồi xuống và khe khẽ nói qua
khe môi:
- Assayez-vouz! (Các anh ngồi xuống).
Lên bục, cởi pardessus, chật mũ treo lên mắc xong, ông quay lại hỏi học
trò:
- Tính kỳ trước chữa trên bảng chưa?
Học trò đều nói:
- Bẩm đã!
Và chúng lại liếc nhau cười, có ý như muốn chế cái tính hay quên của
thầy: và lác đác đã có tiếng nói chuyện, cái giọng nói chuyện thì thầm nửa
như tỏ ý bất mãn vì thầy bắt học như quên cả rằng buổi chiều nay đã là buổi
học trò đọc văn chúc tết, thầy “tán rộng” với trò, mà buổi học sáng nay, theo
lệ thường, cũng chỉ là buổi học chơi, nửa như kinh ngạc rằng thầy có lẽ đã
chăm chỉ quá đến nỗi mặc kệ cả cái “tết cả” chạy thúc đến sát gót chân.
Gõ cái thước lên mặt bàn để gọi học trò về chỗ trật tự kỷ luật, ông thung
dung tươi cười, cái tươi cười ít khi có của ông, cái tươi cười nó làm cho học
trò cũng tươi ngay, cái tươi muốn nói rằng: “Có thế chứ! Thầy ta cũng vui
kìa”, cái tươi hỉ hả như muốn là cái phần thưởng xứng đáng của lũ trẻ thơ
đối với ông thầy cần cù chăm chỉ, tận tâm, nghiêm nhưng rộng lượng, đáng
sợ mà cũng đáng yêu vô cùng. Để cho học trò một phút tươi tỉnh, ông nói:
- Hôm nay tôi muốn ra cho các anh một bài tính, một bài tính vui, một bài
hài đàm bằng con số nếu tôi có thể nói thế được. Nào, các anh cầm bút viết
đầu bài... Mười hai người đi ăn cổ. Trước khi cổ bưng ra, một người muốn
giết thì giờ, định cùng nhau đổi chỗ, đổi thế nào cho đủ hết mọi cách ngồi
đối với mình, đối với mười một người khác, tóm lại là mười hai người đều
ngồi đủ các cách ngồi, đủ các vị trí ngồi có thể tưởng tượng được - nói là
không thể tưởng tượng được lại muốn như đúng hơn - Cho rằng mỗi lần đổi
như thế mất một phút và cho rằng năm nào cũng có đúng ba trăm sáu nhăm
ngày, thì mười hai người ấy phải dùng mấy năm...
Học trò cười, có ý nghi ngờ. Ông nói tiếp:
- ... Các anh ngờ chữ năm của tôi à? Ừ thí mất bao nhiêu phút vậy? Đó
làm đi.
Một phút sau, một anh đứng lên nói:
- Bẩm mất hai giờ hai mươi phút ạ.
- Sao anh biết?
- Bẩm con élever 12 au carré [1]được 144 kiểu ngồi, chia cho 60 được hai
giờ 20 phút ạ.
- Gần đúng đó... Có anh nào nghĩ khác không?
- Không ạ.
- Thế thì không đúng. Đây tôi vạch cho các anh nghe. Hai người thì có
hai cách ngồi, nghĩa là một nhân với hai. Ba người có sáu cách ngồi, nghĩa là
một nhân với hai, rồi nhân với ba. Các anh không tin ư? Ví như ông A, B, C,
thì có sáu kiểu ngồi: một là ABC hai là ACB, ba là BAC, bốn là BCA, năm
là CAB, sáu là CBA,... có phải thế không?
- Bẩm phải ạ.
- Thế tôi nói lại: một người một kiểu ngồi; hai người hai kiểu ngồi nghĩa
là một nhân hai; ba người sáu kiểu ngồi nghĩa là nhân một hai nhân ba, rồi
cứ thế mãi cho đến khi tôi viết trên bảng đây.
Đứng dậy ông cầm phấn viết lên bảng đen:
1 người: 1x1 = 1 kiểu
2 người: 1x2 = 2 kiểu
3 người: 1x2x3 = 6 kiểu
4 người: 1x2x3x4 = 24 kiểu
Quay lại học trò ông nói tiếp:
- Cứ suy như thế thì 12 người có: 1x2x3x4x5x6x7x8x9x10x11x12 kiểu
ngồi.
Các anh nhân đi rồi tìm thấy số kiểu ngồi. Thế rồi muốn tìm số giờ các
anh đem chia thành số cho 60, lại muốn tìm số ngày, anh lại đem chia thành
số cho 365. Tóm lại anh phải đặt tính như thế này:
1x2x3x4x5x6x7x8x9x10x11x12:60x24x365
Lại có thể xóa số cho gọn được phép tính nữa. Đó các anh làm đi, xem họ
phải chờ mấy năm.
Học trò cúi đầu nhân, nhân, nhân. Bản cửu chương bằng tiếng ta, tiếng
Pháp, chữ Nho, theo kiểu học đầu tiên của mỗi người, lại được đem ra tụng
lại. Bảy bảy bốn chín xen với ngũ lục tam chi và cinq sept trente-cinq, nghe
vui vui như tiếng ong bên tổ. Ông giáo đi đi lại lại ở giữa lớp cúi đầu ra dáng
nghĩ ngợi. Năm phút qua, mười phút qua. Chưa ai tìm thấy trả lời. Ông giáo
đi đến cuối lớp. Ông nhìn vơ vẩn lên quyển lịch treo trên tường. Ông bỗng
chú ý vào phần ngày ta và phần ghi việc trên lịch sử trước kia kháp vào ngày
ấy “Năm Mậu Dần, tháng mười hai, ngày 28 - Nhà Hậu Lê bắt đầu mở khoa
thi hội ở bãi Thảo Tân, lấy hai người đỗ Nhị Giáp Tiến Sĩ là Nguyễn Thật,
Nguyễn Nhật Tráng và bốn người đỗ Tam Giác Tiến Sĩ là: Nguyễn Đức
Mậu, Đặng Kính Chỉ, Nguyễn Danh Thế và Nguyễn Đức Trạch (Hậu Lê,
Quang Hưng XVIII 1595)”.
Ông lẩm bẩm: “Bãi Thảo Tân... Một nghìn chín trăm ba mươi tám, trừ
một nghìn năm trăm chín mươi nhăm, vị chi là ba trăm bốn mươi ba năm...”
Học trò ông đã quen rồi: mỗi khi ông lầm bầm là có điều gì nghĩ rắc rối
lắm và khi ấy mà hơi lười, hơi ồn ào là bị ông mắng phạt dữ. Vì thế chúng
im thin thít. Ông lên trên bàn thầy giáo, lấy thước gõ mạnh xuống bàn. Hơn
năm chục cái đầu ngẩng cả lên. Trái với điều chúng dự đoán, thầy chúng lại
tươi cười:
- Bài tính lúc nãy không cần làm nữa. Vô ích. Đây tôi cho các anh những
câu trả lời: Có bốn trăm bảy mươi chín triệu một nghìn sáu trăm kiểu ngồi
khác nhau và bọn mười hai thực khách phải dùng tới 479.001.600 phút, hay
là bảy mươi chín triệu chín mươi tám vạn ba nghìn ba trăm sáu mươi giờ,
hay là ba triệu ba mươi ba vạn hai nghìn sáu trăm bốn mươi ngày, hay là
chín nghìn một trăm ba mươi năm.
Học trò tủm tỉm về cái số kỳ dị không ngờ kia. Giá ông giáo nói mấy
tiếng sau mà cũng cười thì chắc là chúng sẽ phải cười rầm rộ, nhưng vì ông
nói bằng một giọng nghiêm nghị, lạnh lùng nên chúng dẫu buồn cười, cũng
chỉ dám tủm tỉm nhếch môi vừa đủ để tiết ra một phần gọi là tâm hồn trí tuệ
đương bị kích thích, nói cho đúng là bị cù - hết sức.
- ... Các anh lấy làm lạ lắm sao? Các anh lấy làm lạ, nhưng có ngờ rằng
tính như thế là sai hay không?
- Bẩm tính đúng ạ.
- Phải đúng lắm. Chỉ có điều rằng không ngờ rằng to đến thế. Tục ngữ
rằng: “Nào ai có học đến chữ ngờ”. Mười hai người thực khách kia, chắc
cũng không ngờ. Mà giá cho họ đổi chỗ thật thì óc họ cũng không nhớ nổi
nữa. Làm được việc đổi ấy, duy có ông trời. Ông trời mới xoay xỏa xếp đặt
nổi cái chuyện hỗn độn lộn tùng phèo mà vẫn có phép tắc tiền định ấy. Phép
tính ấy ở số học gọi là “chu toàn hoán cải” tiếng tây là permutation circulaire
nghĩa là đổi quanh đổi quẩn, quanh quẩn nhưng vẫn có phép sẵn không ai
ngờ rằng có. Ở phép tính này, chúng ta có thể rút ra được hai cái triết lý ở
đời. Một là: những việc lộn xộn, trông gần, trông ít, thì là lộn xộn, nhưng
trông xa, nhìn cao, thì là trật tự, là phép tắc. Hai là: muốn lộn xộn, lẩn quẩn,
nhiều nhặt bao nhiêu cũng chỉ có chừng, quá chừng quá mực thì quay về chỗ
cũ. Như ở cái tính mười hai người thực khách trên kia, nếu họ có thể đổi đến
kiểu ngồi thứ bốn trăm bảy mươi chín triệu một nghìn sáu trăm thì là họ đi
đến cái lộn xộn cuối cùng, mà kiểu ngồi thứ bốn trăm bảy mươi chín triệu,
một nghìn sáu trăm linh một là một kiểu trong bốn trăm bảy mươi chín triệu
một nghìn sáu trăm kiểu cũ. Chuyện đời là cả một việc lộn xộn đảo điên ấy,
kéo dài đến đâu cũng có ngày quay lại thế cũ. Người ta nói rằng lịch sử chỉ
là một cuộc quay lại trò cũ không ngừng, câu ấy thật là chí lý. Những thế
trên lịch sử không hiểu phải lấy số gì mà gẩy con toán cho ra cái luật vòng
quanh lộn xộn, nhưng nếu các anh có muốn nghe một chuyện vòng quanh
lộn xộn trên mặt đất thành Hà Nội này thì hôm nay nhân buổi học tất niên,
tôi vui lòng kể cho các anh nghe, chắc rằng các anh sẽ vui tai được từ (ông
rút đồng hồ xem giờ) tám giờ bốn mươi nhăm đến mười một giờ, nghĩa là
trong hai giờ mười lăm phút, trừ mười lăm phút chơi, còn chẳn hai giờ. Các
anh gác bút xuống, gấp vở lại mà nghe.
Ở hơn năm chục miệng cùng thốt ra: vâng ạ, vâng ạ.
- Nội đường thành phố, các anh có biết con đường nào dài nhất, thẳng
nhất không? Đó là con đường Duvillier, Borgnis Desbordes, Paul Bert.
Đường bắt đầu từ cửa Nhà Hát Tây, thẳng một mạch như sợi chỉ căng, đi qua
ngã tư Gô Đa, Trung Ương Thư Viện, Vườn hoa Cửa Nam, Hàng Đẫy cho
tới chỗ gặp con đường đi Cầu Giây mới là hết địa phận thành Đại La cổ. Vậy
kể từ Cầu Giây đến cửa Nhà Hát Tây, đường ấy dài đến sáu nghìn thước, tức
là sáu cây số. Kể riêng cái quãng thẳng như sợi chỉ căng, cũng được linh ba
nghìn thước tây. Con đường ấy có một cái số kiếp quẩn quanh cùng bút mực
văn chương từ hơn tám trăm năm đến giờ. Năm 1070, nhà Lý bắt đầu để tâm
đến văn học trong nước, dựng đền Văn Miếu ở Thăng Long. Cái đền Giám
bây giờ tức là nền cũ của Văn Miếu nhà Lý. Đến năm 1075, vua Lý Nhân
Tông mở khoa thi đầu tiên, trường thi ở ngay bên hữu Giám, tức là cái bãi
cỏ, con đường Saint-Antoine và khu nhà nuôi trẻ con mồ côi bên cạnh Giám.
Đến năm sau, năm 1076, nhà vua lại mở Quốc Tử Giám, tức là một Cao
đẳng Học hiệu trong nước. Sĩ tử đến tập bài ở Văn Miếu, vì thế nên người ta
gọi Văn Miếu là Giám. Thế là vì có Văn Miếu, có Giám, có trường thi, một
con đường được đấp đằng sau. Khúc đường ấy, nối cửa Nam thành Thăng
Long với Giám và Trường Thi, và là khúc đường đầu tiên của con đường dài
sáu nghìn thước bây giờ. Khi đó, cái La Thành cũ của Cao Biền hãy còn
hình. Con đường đi từ chỗ Cầu Giấy về đến Nhà Tu Kín ở Hàng Đẫy bây giờ
là nền cũ của bức tường phía nam La Thành. Đến đời Trần, La Thành cũ bạt
xuống làm đường thì con đường đằng sau Giám chạy liền đến Cầu Giấy. Đến
đời nhà Lê, nhà vua mới đắp nối con đường ấy, đi sát bờ nam Hồ Hoàn
Kiếm ra tận bờ sông. Nhân có con đường ấy, chỗ ấy mới thành bến, gọi là
Bến Cỏ, chữ nho là Thảo Tân. Khi đó sông còn chạy rẽ về phía Nam hơn bây
giờ. Cái bãi cỏ trước bến vào từ chỗ Nhà Hát Tây hết con đường bờ sông
cạnh viện bảo tàng Louis Finot. Tới đây các anh chỉ mới thấy cái duyên nợ
của con đường ấy đối với nguồn học dân tộc ta thôi, còn cái lẽ lộn xộn quẩn
quanh các anh chưa thấy. Muốn thấy lẽ ấy, tôi lại phải kể chuyện một họ to ở
Bắc Ninh từ đời Trịnh Tùng đến giờ. Cái vẻ “đi lại trở trở về, về lại đi” của
họ ấy cũng theo những cuộc biến thiên của con đường ấy.
Giữa lúc ấy thì ba tiếng trống ra chơi nổi lên.
- ... Các anh hãy ra chơi đã, lát nữa tôi nói nốt.
Học trò cùng đứng dậy ra chơi. Như bầy ong vỡ tổ, hàng mấy trăm trẻ lại
phá cái không khí yên lặng lạnh lẽo của một khúc đường...
---------------
II
CÁI TIẾT THÁO BÌNH THƯỜNG KHÔNG CAO KHÔNG THẤP CỦA MỘT
KẺ SĨ HỒI CUỐI MẠC
Hồi đầu nhà Trần, nước ta bị rợ Mông Cổ sang lấn đất, định biến giang
san mình thành một hành tinh của đế quốc Mông Cổ. Khi ấy, nhờ lòng người
cố kết, trên dưới một lòng, nên ta đuổi nổi kẻ thù ra ngoài cõi, giữ vững nền
độc lập, mặc dầu quân Mông Cổ là quân đã chinh phục được từ Đông Á đến
Tây Âu, từ đồng tuyết Tây Bá Lợi Á đến bờ sông Hằng Hà, mặc dầu quân ấy
ba lần thiên binh vạn mã kéo sang ta, mặc dầu ở nước ta có nhiều kẻ phản.
Mặc dầu bên ta có nhiều kẻ cam tâm thờ giặc. Chỗ mặc dầu này quan hệ
lắm, ta nên xét kỹ hơn. Lúc quân Mông cổ lấn cõi, chiếm hồ hết đất nước ta,
từ Ninh Bình đến cửa Nam Quan, từ đèo Hoàng Mai vào đến Nghệ Tĩnh, lúc
ấy ai còn tin rằng ta có thể đuổi được quân giặc. Thói thường vẫn thế, tin vào
cái thế có thể có được chứ không ai tin vào cái thế nghìn mất một còn. Đại
biểu cho cái tâm lý ấy là bọn Trần Ích Tắc, Trần Kiện Lê Tắc. Trần Ích Tắc
là chú ruột vua Trần Nhân Tông, anh ruột Trần Nhật Duật. Trần Kiện là cháu
vua Trần Thái Tông. Lê Tắc là gia thần Trần Kiện. Trần Kiện khi ấy trấn
Nghệ An. Đáng lẽ y phải hợp sức với Trần Quang Khải chống với quân Toa
Đô ở Chiêm Thành ra, y lại bàn với gia thần của y là Lê Tắc rằng:
- Nước nhỏ không địch được nước lớn, kẻ yếu không đương nổi kẻ mạnh.
Đời xưa, Vi Tử đầu nhà Chu là phải lắm. Ta đây là con cháu vua nước Nam,
ta không thể để cho nước ta tiêu diệt.
Bằng cái giọng nói rửa mặt vô lý và phản quốc ấy, y đem cả gia quyến
cùng ba vạn quân dưới quyền y ra hàng Toa Đô.
Câu ấy phát biểu một cách rõ rệt cái tâm lý của kẻ “chỉ trông mong ở sự
mạnh yếu một thì mà không có lòng tin là sức mạnh muôn thuở”.
Câu ấy, phản bội một cách rõ rệt và về đủ các phương diện đối với câu
của Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn: “Đầu tôi còn thì bệ hạ đừng lo” - “Bệ
hạ chặt đầu Tuấn trước rồi hãy nói chuyện hàng”.
Các anh có xem thi kéo dây bao giờ không? Hễ mà đôi bên còn ngang sức
nhau thì bên nào bên ấy còn cố sức cả, kẻ đứng xem cũng không thiên vị bên
nào. Hễ một bên nghe chừng đuối thì lòng chán nản đã bắt đầu có ở người
kéo dây bên đuối, lòng thiên vị đã bắt đầu nảy nở ở kẻ đứng xem. Đuối lắm,
thiên vị lắm, chán nản lắm, có khi người ta thấy kẻ kéo bên đuối bỏ phe
mình mà qua kéo bên khỏe, kẻ đứng xem ồ vào giúp bên khỏe. Kẻ đương
đầu thì cục là người kéo dây, dân chúng là lũ người xem kia. Hồi nhà Trần
chống rợ Nguyên, lũ Trần Ích Tắc Trần Kiện là đứa kéo dây bỏ đầu dây bên
này sang đầu dây bên kia. Còn ra biết bao nhiêu kẻ đã hoặc ngấm ngầm hoặc
công nhiên hàng giặc. Những tráp thư tín vãng lai với giặc, sau khi quân
Mông Cổ ra khỏi cõi, chính phủ đã bắt được cả. Giá truy nguyên ra thì triều
đình nhà Trần có thể làm tội được mấy ngàn kẻ nữa. Nhưng vua Nhân Tông,
một là vì bụng khoan hồng nhân hậu, hai có vì hiểu thấu tâm lý của kẻ bình
thường nên đã đem đốt hết, không thèm xem. Thật thế bọn tầm thường ấy
chỉ có cái tâm lý của kẻ vỗ tay vào chỗ an vui, lảng xa những nơi hiểm trở.
Giặc Nguyên lấn cõi thì phản bội, nhưng sau trận Bạch Đằng thì bụng họ lại
cố kết với Trần ngay. Trong chục triệu con người mấy ai có cái gan quyết
đánh, quyết thắng, quyết tìm cả ở những lúc mà công việc trước mắt khiến
gan nào cũng mềm, chí nào cũng núng, tin nào cũng lung lay? Hồi Đại cá
 









Các ý kiến mới nhất