Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

mot-giot-tu-su-doa-day

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:10' 04-02-2026
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
ebook©vctvegroup
24-08-2018

Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Xin bạn đọc lưu ý, Nhà xuất bản Tri thức trân trọng giới thiệu
cuốn sách Một giọt từ sự đọa đày (Hai mươi hai tiểu luận triết học)
[Egy csepp a kárhozatból (22 esszéje)] của Hamvas Béla, do
Nguyễn Hồng Nhung tuyển chọn và dịch một cách đầy đủ và mạch
lạc.
Chúng tôi tôn trọng, nhưng không nhất thiết đồng tình với quan
điểm, cách tiếp cận và lý giải riêng của tác giả về các vấn đề được
đề cập đến trong cuốn sách.
Chúng tôi mong độc giả đọc cuốn sách này như một tài liệu
tham khảo với tinh thần phê phán và khai phóng.
Xin chân thành cảm ơn!

TIỂU SỬ HAMVAS BÉLA
(1897-1968)

Nhà triết học, nhà văn hiện đại lớn nhất của Hungary

Hamvas Béla sinh ngày 23.03.1897 tại Eperjes (nay thuộc
Slovakia) trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Năm 1898 vì nghề
nghiệp của cha, gia đình ông chuyển đến Bratislava.
Năm 1915, sau khi tốt nghiệp trung học, Hamvas Béla tình
nguyện gia nhập quân đội, sau một năm, bị thương, ông trở về nhà
và bắt đầu đọc Kant, Rimbaud, Dostoiepxki, Schopenhauert,
nhưng trước hết ông đọc Nietzsche.
Thời kì này ông viết trong tập tiểu luận Patmosz như sau:
...Tác phẩm Phê phán thời gian của Kierkegaard rơi vào
tay tôi. Không xã hội, không nhà nước, không thi ca, không
tư tưởng, không tôn giáo, những gì hư hỏng và đầy rẫy dối
trá. Đúng vậy, tôi nghĩ. Nhưng điều này cần phải bắt đầu
từ một khi nào đấy. Tôi bắt đầu đi tìm chấm đen này. Hạt
nguyên tử, hay sự dối trá đầu tiên...
Tôi quay trở lại từ giữa thế kỉ trước đến cách mạng
Pháp, đến thời kì ánh sáng, đến chủ nghĩa duy lí, từ thời
trung cổ đến những người Hi Lạp, đến những người Heber,
Ai Cập, đến người mông muội. Sự khủng hoảng đâu đâu tôi
cũng bắt gặp, nhưng sự khủng hoảng còn nói lên một cái gì
đó sâu sắc hơn. Chấm đen này còn ở phía trước, phía trước
nữa. Tôi đã vấp phải lỗi lầm đặc thù của người châu Âu, đi
tìm chấm đen bên ngoài con người mình, thực ra nó nằm
trong bản thân tôi...

Năm 1919, cha ông vì từ chối không tuyên thệ trung thành với
nước Slovakia, nên cả gia đình ông bị đuổi ra khỏi Bratislava,
chuyển đến Budapest.
Từ 1919-1923 ông học khoa Hungary-Đức tại Đại học Pazmány
Péter, ông làm nhà báo 3 năm tại báo Tin tức Budapest và Szozat.
Từ 1927-1948 ông làm thủ thư tại thư viện thành phố. Thời
gian này ông viết các bài nghiên cứu, tiểu luận, các bài phê bình
cho 25 thể loại tạp chí, trong đó có những tạp chí nổi tiếng như
Athenaeum, Nyugat.
Hamvas Béla cùng Kerényi Károly thành lập nhóm Đảo, một
liên minh tinh thần lấy từ truyền thống Hi Lạp cổ, nhóm này tập
trung đông đảo các nhà văn, nhà triết học có tên tuổi của Hungary
như: Szerb Antal, Németh László, Kövendi Dénes, Dobrovits
Aladár, Molnár Antal và nhiều người khác.
Nhưng sau ấn phẩm gồm ba tập (1935-1936) nhóm Đảo tan rã,
một hoạt động cộng đồng tinh thần như thế không thể thực hiện
được. Hamvas Béla đã ghi lại những kinh nghiệm cay đắng trong
cuốn Hyperion Hungary:
"Tôi ở đây giữa mọi người, trên trái đất này, mọi ý định
của tôi đều không có kết quả, mọi từ ngữ của tôi vô ích, mọi
kế hoạch của tôi tan vỡ, tôi đã thất bại, không ai nhận ra
tôi, tôi trở nên thừa thãi, và không được chấp nhận."
Trong những năm 1930-1940 ông viết gần ba trăm tiểu luận.
Đối với ông viết là thực hành yoga.
Ông lấy người vợ thứ hai, một bạn đời tinh thần rất quan trọng,
bà Kemény Katalin (1909- 2004), người sau khi Hamvas Béla mất,
đã cùng Dúl Antal, một đại diện của hậu thế rất ngưỡng mộ ông,
cùng chăm lo việc xuất bản các tác phẩm của ông.
Trong thời kì Thế chiến thứ II, Hamvas Béla ba lần bị gọi vào

quân ngũ, nhưng không ngăn cản được công việc dịch thuật của
ông, như tác phẩm của các tác giả: Lão Tử, Böhme, Hêraclit,
Khổng Tử, Henoch.
Năm 1943-1944 ông viết tập I tác phẩm Scientia Sacra, cuốn
sách đánh dấu giai đoạn sáng tác thứ hai của nhà văn. Với cuốn
sách này, ông gia nhập trường phái truyền thống với những nhân
vật ưu tú nhất của thời đại: Julius Evola, René Gúenon và Leopold
Ziegler.
Hamvas Béla cắt nghĩa: Truyền thống là sự trường tồn phi thời
gian của tinh thần. Các tác phẩm của Hamvas - đầu tiên và duy
nhất - lập ra một vũ trụ truyền thống, bằng sự tạo dựng nền tảng
linh hồn nhận thức ra tinh thần.
Trong thời kì chiến tranh, tập tiểu luận triết học đầu tiên ra đời:
Câu chuyện vô hình (1943).
Ngay thời đó ông đã bắt đầu một công trình lớn có nhan đề: Đại
sảnh các vị tiền bối cổ, kéo dài đến tận những năm 1960. Tác phẩm
của ông là một công trình dịch thuật những cuốn sách cổ thiêng
liêng quan trọng nhất, cùng với những chú thích kèm theo.
Năm 1944, từ mặt trận nước Đức ông trốn về Budapest. Căn
nhà trên sườn núi Buda của ông bị trúng bom tan thành tro bụi.
Hamvas Béla trong một tiểu luận của tập Slentium đã viết như
sau:
"Trong những năm đen tối tôi đã bị mất tất cả của cải
vật chất trên thế gian của mình... Một kẻ nào đấy đã tước
toàn bộ quyền sở hữu của tôi. Da tôi cũng tuột theo nhưng
thế là tốt... một sự tồn tại kiểu này chỉ có thể thực hiện sau
khi thanh toán toàn bộ quyền sở hữu. Hiện thực bắt đầu từ
đây."
Từ đó trở đi Hamvas Béla không bao giờ có nhà riêng và ông

không bao giờ tích góp sách vở nữa.
Sau chiến tranh, những hoạt động tinh thần hết sức đa dạng
của ông bắt đầu. Hamvas Béla soạn thảo một tuyển tập trích dẫn
các tác phẩm lớn, mang tên Một số nghiên cứu của Nhà in của
Trường Đại học gồm khoảng 30 tập sách nhỏ, mà cuốn đầu tiên là
tác phẩm của riêng ông, chừng 100 trang, có nội dung vô cùng độc
đáo và sâu sắc. Đó là tập Một trăm cuốn sách - liệt kê những tác
phẩm ưu tú đáng đọc nhất của nhân loại. Ông thu thập tài liệu và
soạn dịch tác phẩm có tên Anthologia Humana "Minh triết của
năm nghìn năm".
Ông tham gia hoạt động trong Hội Triết học và Mĩ học.
Từ 1945-1948 Hamvas Béla cùng Szabó Lajos và Tábor Béla
thành lập một nhóm trí thức cấp tiến, được gọi là "Những buổi trao
đổi thứ năm hằng tuần", với mục đích phanh phui, phân tích và
đánh giá toàn bộ các tình huống về tinh thần của thời đại, với sự
tham gia của nhiều nhà văn có tên tuổi khác như Várkonyi
Nándor, Weöres Sándor.
Nhưng đến năm 1948, trong những văn bản tranh luận, một
nhà triết học Hungary khác, lúc bấy giờ nghiêng về triết học
maxit- Lukács György đã góp phần đình chỉ việc ấn hành cuốn
sách Cách mạng trong nghệ thuật của Hamvas Béla viết chung với
vợ Kemény Katalin.
Bắt đầu từ đây Hamvas Béla bị tước tất cả các quyền biên tập,
viết và xuất bản tác phẩm. Cũng năm 1948 ông bị buộc phải thôi
việc và tên ông bị liệt vào danh sách B - những người bị chính
quyền theo dõi gắt gao.
Hamvas Béla buộc phải xin một giấy chứng nhận làm nghề
nông, với nơi làm việc là vườn cây của anh rể, từ 1948-1951 ông
làm vườn, trồng hoa quả, và cuốn tiểu thuyết được coi là kiệt tác vĩ

đại có một không hai của văn học Hungary cũng như văn học thế
giới Karnevál ra đời trong thời kì này.
Ngoài ra ông còn viết những tác phẩm nổi tiếng khác như
Unicornis, Silencium, Biên bản bí mật, Magia sutra.
Từ năm 1951-1964 ông làm việc tại khu công nghiệp xây dựng nhà máy nhiệt điện ở Inot, Tiszapalkony, Bokon, tại đây ông làm
thủ kho.
Bên cạnh công việc thủ kho này, ông học tiếng Heber, Sanscrit,
dịch Kinh Veda, Sankhya Karik, Sepher Jezirsh, Kathaka
Upanisad, Buddha... Trong thời gian này Hamvas Béla hoàn
thành các tác phẩm: Patmosz, Đại sảnh các vị tiền bối cổ, Szarepta
và Đêm giao thừa.
Năm 1964 ông về hưu. Trong ba năm cuối đời Hamvas Béla
hoàn thành nốt các tác phẩm khác trong đó có Scientia Sacra tập
II nổi tiếng.
Ông viết chủ yếu là tiểu luận, một thể loại tự do, như một thí
nghiệm thể loại. Mọi sáng tác của ông, kể cả tiểu thuyết đều ở
dạng tiểu luận.
Ngày 07.10.1968 ông mất sau một cơn chảy máu não.
Cho đến tận những năm 70 của thế kỉ XX, tác phẩm của
Hamvas Béla chủ yếu chỉ lưu truyền dưới dạng bản thảo đánh
máy.
Bắt đầu từ những năm 80, dần dần tác phẩm của Hamvas Béla
được ra mắt công chúng, nhưng vẫn bị kiểm duyệt, ví dụ tiểu
thuyết Karnevál (1985) bị cắt xén trước khi được in.
Năm 1990, Hamvas Béla được truy tặng giải thưởng Kossuth.
Năm 1996: Giải thưởng Di Sản Hungary.
Năm 2001: Giải thưởng Vì Nghệ Thuật Hungary.

Ngày nay Hamvas Béla được đánh giá là một trong những nhà
văn, nhà triết học vĩ đại nhất của châu Âu thế kỉ XX, và trong nền
văn hóa Hungary.

Vòng quay sống tất nhiên của cái TÔI thần thánh trong
cộng đồng lớn của các sinh linh là sự trực tiếp. Còn vòng
quay sống của cái TÔI cá nhân là phản xạ đơn độc. Trong
sự sống mở các thực thể sống trong cộng đồng đời sống;
không có tư hữu, pháp luật, công danh, sự ích kỉ, sự kiêu
ngạo; Trong đời sống bị khóa kín các thực thể sống trong
cô đơn; đời sống càng khóa kín, nỗi cô đơn càng lớn; và
bản năng chiếm hữu, quyền lực pháp luật, sự kích thích
công danh và kiêu ngạo cũng như tính ích kỉ càng lớn.
Nhưng nỗi lo sợ còn lớn hơn, sự định hướng bấp bênh, sự
mê muội còn trầm trọng và đen tối hơn.
Trong thời cổ thế giới là thước đo của con người, giờ đây,
đồ vật, sự quan trọng vật chất là thước đo của con người.
Trong việc cai quản nhà nước sự thống trị tinh thần bị
thay thế bằng những hoạt động quyền lực vô thần. Con
người phủ nhận sự sống, và bắt đầu tin rằng tất cả chỉ là
một không gian rỗng tuếch. Họ muốn giật lấy số phận từ
tay Thượng Đế và dựa vào quyết định của cá nhân họ.
Trái đất ngập lụt tung hoành cái gọi là szamszára: thứ
không là gì khác ngoài sự nhiễu loạn vô nghĩa và hỗn
loạn của cái TÔI cá nhân
(Trích Sự sống và đời sống)

HAI MƯƠI HAI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ARLEQUIN - ANH HỀ
(Trích tác phẩm: Biên bản bí mật)

1.
Khi Romeo đang ưa thích một nàng Roza xinh đẹp (nào đấy),
chàng nhạy cảm hơn một chút nhưng vẫn xử sự và nói năng như
tất cả mọi người. Nhưng chàng bắt đầu mê sảng từ giây phút quen
Julia. Chàng nói những câu kì lạ, sử dụng những ẩn ý kì lạ. Đôi
khi quái gở, nhiều lúc vớ vẩn, phần lớn vô nghĩa. Chàng yêu càng
say đắm bao nhiêu, hành vi và lời nói của chàng càng điên rồ bấy
nhiêu. Ngôn ngữ của chàng, đột nhiên so với những kẻ khác cao
hơn hẳn một cung bậc.
Hamlet lúc chưa gặp hồn ma của cha mình, chàng hơi âu sầu
nhưng xử sự và nói năng hệt như những kẻ khác. Từ giây phút
nhìn thấy cha, chàng bắt đầu mê sảng. Ô! Thật đáng ngạc nhiên!
Cũng từ giây phút ấy, hóa ra không phải chàng, mà là mọi kẻ khác
mê sảng, chàng mới là người ăn nói tỉnh táo.
Những người khác tiếp tục sử dụng không mảy may ngờ vực
ngôn ngữ của họ, còn Romeo và Hamlet nghe những lời vô nghĩa
này một cách khó chịu. Nhưng chúng ta, những kẻ nhìn màn kịch
từ vị trí có một không hai này, không gì làm chúng ta nhầm lẫn
được nữa.
Chúng ta biết rất rõ, Romeo và Hamlet nói năng tỉnh táo, còn
những kẻ khác mê sảng hoặc ngộ nhận. Chúng ta biết, Romeo và
Hamlet chơi chữ, sử dụng những từ ngữ kì lạ với những ý nghĩa kì
lạ, vì, như Shakespeare viết, thế gian như thể bị lật nhào, còn
ngôn ngữ của họ như thể nhảy cao hơn hẳn một cung bậc.
Trong khi những kẻ khác tiếp tục nói năng lệch lạc, ngộ nhận
một cách không mảy may ngờ vực, thì Romeo và Hamlet bắt đầu

sử dụng những ngôn từ thể hiện chính xác tình huống.
Tình huống nào vậy? Câu hỏi ngu xuẩn. Tình huống đang có
chứ tình huống nào? Toàn bộ những kẻ khác tuyệt đối không hiểu
gì cả. Có việc gì vậy? Câu hỏi ngu xuẩn. Việc đang xảy ra chứ còn
việc gì.
Những kẻ khác tưởng đang nói về một mức độ nguy hiểm, thậm
chí gây tác hại, thậm chí bị cấm của một sự tồn tại nào đó. Nhưng
chúng ta, những kẻ nhìn màn kịch từ vị trí có một không hai này,
không gì làm chúng ta nhầm lẫn được nữa.
Ta thừa biết, chẳng có mức độ nào ở đây. Những kẻ khác so với
Romeo và Hamlet đang sống trong trạng thái phi-tồn tại. Trong
giây phút Romeo quen Julia, trong giây phút Hamlet gặp hồn của
cha mình, trong giây phút thế gian bỗng lật nhào, những kẻ không
có thật bỗng biến thành có thật. Và khi đã là cái có thật, họ bắt
đầu nói năng và sử dụng những ngôn từ thể hiện chính xác tình
huống, đúng như những kẻ hiểu chính xác tình huống.
Không có bất kì một mức độ đáng sợ, thậm chí gây tai hại, thậm
chí nguy hiểm nào xảy ra. Không có sự nói năng mê sảng nào ở
đây. Không có tình huống càng điên bao nhiêu càng mê sảng bấy
nhiêu. Đấy chỉ là người ta tưởng thế. Chúng ta, những kẻ nhìn
màn kịch từ vị trí có một không hai này, chúng ta biết, những kẻ
khác không đáng bàn, trong vở kịch chỉ mỗi Romeo và Hamlet là
những kẻ có thật.
2.
Chưa bao giờ có đủ cơ hội thuận lợi hơn để tiến hành sự phân
biệt cần thiết từ lâu này. Nghệ thuật, thứ mang tính chất hình học
và trí tuệ, gần như mang phong thái của Pythagoras và cổ điển,
nhưng thật sự nó tồn tại từ một cảm hứng trật tự nào đó, nên bên
trong nó, tỉ lệ, sự chắc chắn và một tri thức được phản ánh.

Bởi vậy nghệ thuật này có thể gọi là Orfika, không chỉ vì
Orpheus tìm ra, mà vì trong Hi Lạp cổ điển châu Âu Orpheus là
đỉnh cao nhất. Nghệ thuật Ai Cập cũng là Orfika, từ nhiều góc độ:
nghệ thuật Tây Tạng, Trung Quốc, Toitek, Gotik, nghệ thuật Phục
hưng cũng vậy.
Nghệ thuật Orfika là nghệ thuật kiềm chế, mà ví dụ lớn nhất là
Yantra Đông phương. Nó sắp xếp các sức mạnh mà nó tiếp cận. Bởi
vậy mục đích lớn của mọi Orfika là sự hài hòa. Và bởi vậy cổ điển
Hi Lạp mang tính chất thông thái, hình học, có tỉ lệ, và bởi vậy nó
bắt nguồn từ cảm hứng của trật tự, và ở cấp độ cao nhất.
Trong tất cả các loại hình nghệ thuật, bên cạnh những khoảnh
khắc có sự sắp xếp, quy củ và kiềm chế còn có khoảnh khắc gợi
tưởng. Đây là thứ nghệ thuật phép thuật (magia) kì bí, thứ đôi khi
bùng phát, và ở châu Âu nó gần như đã hạ gục Orfika.
Nghệ thuật phép thuật không kiềm chế mà gợi tưởng. Không tri
thức mà tưởng tượng. Không tồn tại trong sự hài hòa mà trong
cảm hứng ngây ngất. Không tìm kiếm sự chắc chắn mà tìm đến
chủ nghĩa kích động (enthuziazmus). Nó giải phóng những sức
mạnh mà nó tiếp cận.
Tác phẩm điển hình là Divina Commedia - Thần khúc (Alighieri
Dante, 1265-1321), một trong những đỉnh cao của nghệ thuật
Orfikus. Nó sắp xếp và kiềm chế toàn bộ sức mạnh từ đáy địa ngục
đến thiên đường cao nhất.
Tác phẩm phép thuật điển hình là Những con quỷ của
Dostoiepxki. Đây là tác phẩm, trong đó nhân vật Stavrogi đang nói
chuyện bình thản với vị tướng, bỗng nhiên không lí do và hoàn
cảnh đặc biệt nào, đứng lên, bước lại gần và cắn vào tai ông ta.
“Âm nhạc nói chung là một sự khủng khiếp - Tolstoi viết - nó là
cái gì mới được cơ chứ? Tôi không biết. Âm nhạc là cái gì? Nó làm

gì? Người ta nói âm nhạc tác động khủng khiếp, nhưng tuyệt đối
không bằng cách nâng cao linh hồn. Không tác động bằng cách
nâng cao hoặc hạ thấp linh hồn, mà bằng cách kích động linh hồn.
Dưới tác động của âm nhạc, có vẻ như tôi hiểu cái tôi không hiểu,
tôi có khả năng làm một cái gì đó tôi không có khả năng.”
Những lời nói trên đây của Tolstoi đặc trưng cho âm nhạc phép
thuật của Bethoven. Âm nhạc tác động linh hồn bằng cách kích
động. Không nâng linh hồn lên, hoặc hạ thấp xuống mà kích động.
Âm nhạc Bethoven là âm nhạc gợi tưởng, là âm nhạc phép thuật
giống như tác phẩm của Dostoiepxki là tác phẩm phép thuật.
Đây là thứ nghệ thuật kích động đối ngược với nghệ thuật kiềm
chế linh hồn, là thứ nghệ thuật phép thuật đối nghịch với nghệ
thuật Orfika, khi tôi có khả năng làm một cái gì đó mà tôi không
có khả năng, khi tôi hiểu một cái gì đó mà tôi không hiểu. Đấy là
phép thuật. Đấy là sự ngây ngất, là trí tưởng tượng và là chủ
nghĩa kích động.
Nghệ thuật Orfika đặt mọi vật vào vị trí của nó và tạo cân bằng,
duy trì kỉ luật và tác động bằng cách nâng linh hồn lên, giống như
bản anh hùng ca của Pindar (Nhà thơ Hi Lạp cổ 522 trước Công
nguyên, hoặc Divina Commedia -Thần khúc, hoặc nhạc của Bach,
hoặc đền thờ Panthenon (Hi Lạp cổ) hoặc tranh của Raffael.
Nghệ thuật phép thuật là thứ nghệ thuật gợi tưởng đến bề sâu
và phá vỡ sự cân bằng, tác động đến linh hồn một cách kích động,
như vở Faust, hoặc những bản sonett của Bethoven, tranh của Van
Gogh, tượng của Michelangelo.
Biểu tượng của nghệ thuật Orfika là pha lê, còn của nghệ thuật
phép thuật là dòng nước xoáy.
Orfika là câu nói sau đây của Thánh Kinh: "Ban đầu Thượng Đế
tạo dựng lên trời và đất".

Phép thuật là câu nói sau đây của Tolstoi: "Đời sống chỉ bắt đầu
khi con người không biết cái gì sẽ tới."
Khi Romeo làm quen với Julia, và khi Hamlet gặp hồn của vua
cha, cùng lúc và đột nhiên, trong một khoảnh khắc họ từ trạng
thái kiềm chế bước sang trạng thái kích động. Những mối quan hệ
trong sự tồn tại của họ biến đổi trong giây lát. Không sống trong
tinh thể pha lê nữa mà trong dòng nước xoáy. Thế giới bị lật nhào,
Shakespeare nói.
Đấy là chủ nghĩa kích động (enthuziazmus), đấy là trí tưởng
tượng và niềm cảm hứng. Không bao giờ còn trật tự nữa. Tôi đã
hiểu một điều gì tôi không hiểu. Đời sống chỉ bắt đầu nếu tôi
không biết cái gì sẽ xảy ra.
Romeo và Hamlet nhận ra một điều gì đó có tính chất quyết
định. Những người khác cân nhắc và tính toán một cách sai lầm,
họ thu hẹp, tàn úa và phủ nhận. Cái gì? Câu hỏi ngu ngốc. Cái
đang có. Hình như Romeo và Hamlet bị điên thật sự. Không đúng.
Đời sống chỉ bắt đầu khi con người không biết cái gì sẽ tới.
Sự tồn tại không có tác dụng vỗ về. Tuyệt đối không nâng lên
mà kích động. Con người đột nhiên tin rằng nó có một khả năng
mà nó không có. Không bao giờ còn trật tự bình an, và kỉ luật, sự
hài hòa, quyền lực kiềm chế nữa. Trái lại có một sự mê sảng, say
đắm, một sự gợi tưởng, và chủ nghĩa kích động, và phép thuật, và
cảm hứng ngây ngất.
3.
Bây giờ ta nói đến những nhân vật lớn của sự sống người. Một
nửa nguồn gốc của những nhân vật này, cứ cho là người mẹ, là
niềm cảm hứng của dòng nước xoáy. Hay ở nhân vật của
Shakespeare, cứ cho đấy là người cha.

Một từ ngữ cơ bản: vaulting ambition. Có thể dịch là sự hãnh
tiến, là bản năng quyền lực, là kẻ nuôi mộng lớn. Các nhân vật
điên rồ nhất của lịch sử là như vậy: Richard III, Macbeth,
Antonius, Caesar và Coriolanus.
Bản năng quyền lực có một logic đặc thù. "Befehlen ist
Seligkeit" (Ra lệnh là một hạnh phúc) như Goethe nói. Một sự
ngây ngất không diễn tả nổi, khi con người ra lệnh. Trở thành
quyền lực. Có thể biến thành kẻ say cuồng khi được ra lệnh.
Richard III chắc chắn biết nhiều về điều này. Macbeth còn biết
nhiều hơn. Nếu kẻ nào đứng chắn đường họ, họ giết. Nhưng nếu ai
biết về vụ giết người này, cần phải giết nốt kẻ ấy. Máu, máu. Vẫn
luôn luôn có kẻ đứng chắn đường và vẫn luôn luôn có kẻ biết một
điều gì đó, vẫn luôn luôn cần sợ một kẻ nào đó: cần phải giết tất cả.
Đấy là vaulting ambition.
Giờ đây có quá nhiều kẻ đứng chắn đường và cần phải sợ quá
nhiều kẻ, bởi vậy không thể làm gì khác ngoài việc giết, giết liên
tục. Đấy là bản năng của quyền lực. Giết Duncan, nhưng vì thế,
cần phải giết cả Banquot, cần phải giết con người này bởi vậy cần
phải giết toàn bộ gia đình Macduff. Quyền lực rốt cuộc khi nào trở
nên vững chắc? Đấy là vaulting ambition.
Trong màn đầu tiên của vở kịch Timon ở Athen của
Shakespeare, Timon sống trong sự điên cuồng của quyền lực, y
giàu có, đầy thế lực, cai trị và ra lệnh. Nhưng khi đánh mất gia tài,
ngay phút ấy y bị tất cả mọi người bỏ rơi. Đấy là nhân vật Timon ở
Athen của Shakespeare, kẻ nhìn thấy không một tế bào nào của
thế giới lại không thẩm thấu cơn khát quyền lực.
Đến đoạn giữa của vở kịch, khi Timon còn lại một mình, bị bỏ
rơi, nghèo khổ, bị khinh bỉ, kẻ ăn mày trong một khu rừng, y
không là gì khác ngoài hình ảnh một sự phê phán thế giới điên

cuồng của quyền lực. "Tất cả xiên lệch, không có đường thẳng
trong thế gian xấu bẩn của chúng ta, chỉ có sự bất lương là thẳng".
Y sống trong hang đá, ăn rễ cây và nhảy múa làm trò chống lại
vaulting ambition.
Đây là sự phê phán của Macbeth và Richard III và Caesar.
Timon là: Madman so long, now a fool (Điên quá lâu, bây giờ là
kẻ ngốc).
Timon là cái quá độ duy nhất có thể giữa tham vọng và một cái
gì vượt qua tham vọng. Cái gì là cái vượt qua tham vọng? Điên quá
lâu, bây giờ là kẻ ngốc. Anh hề-Arlequin.
Là con người duy nhất chiến thắng sự điên cuồng của quyền lực.
Là kẻ duy nhất cầu nguyện cho người sống trên thế gian bằng
những lời lẽ khác thường: "the plague of company light upon you"
(bệnh lây lan dân chúng hãy rơi vào mày).
"Tao chỉ có một niềm kiêu hãnh duy nhất: tao không phải là
mày. Nếu tao trong sạch, tao nhổ vào mày."
Đây đang nói về các nhân vật lớn của nhân loại. Một nửa nguồn
gốc của loại nhân vật này là sự ngây ngất của dòng nước xoáy. Một
nửa nguồn gốc của loại nhân vật này là sự chiến thắng, sự hãm
phanh nỗi điên cuồng của quyền lực "Điên quá lâu, bây giờ là kẻ
ngốc."
4.
Bản năng quyền lực tưởng rằng, trên đỉnh thế gian là ngai vàng
của Đấng Toàn Năng và nó muốn ngồi vào đó. Đồ ngu xuẩn. Tại
sao anh hề lại cười nhăn nhở? Bởi anh hề biết rằng Thượng Đế
không ngồi trên ngai vàng. Ngai vàng để đó.
Truyền thống cho rằng Thượng Đế tạo ra ngai vàng trong ngày
đầu tiên tạo dựng thế gian tại Araboth, trên thiên đường cao nhất.

Nhưng Ngài không bao giờ ngồi trong đó. Ngài cho phép Sabbath Ngày Lễ vào ngày thứ Bảy - được ngồi trên ngai vàng.
Cả trái đất chỉ anh hề biết điều này.
Kẻ đầy tham vọng ngu xuẩn tưởng Thượng Đế mình khoác áo
choàng tay cầm thiên trượng ngồi trên ngai vàng, và ra lệnh, với
niềm tin: "Ra lệnh là hạnh phúc". Chỉ những kẻ đầy tham vọng
mới tin rằng ra lệnh là cảm hứng ngất ngây lớn nhất trên trái đất.
Anh hề cười lăn lộn và không giấu nổi sự giễu cợt. Nếu được
dâng ngai vàng anh hề sẽ đặt lên đầu mình cái mũ gắn chuông, sẽ
cười hô hô hô, sẽ đứng lên cái tay vịn của ngai vàng và chếch cái
mũi dài ra khoe.
Thật khoái trá khi nhìn những kẻ chạy xuôi ngược lưỡi thè lè
tranh giành và giẫm đạp lên nhau, những kẻ phản bội và sát thủ,
những kẻ vàng vọt đến tận xương vì ghen tị và sôi lên vì trả thù,
thật là cảnh hài hước địa ngục cái gọi là lịch sử, với sự cuồng dại
mất trí vì ngai vàng, hay đúng hơn vì quyền lực.
Quyền lực thế gian không phải là Thượng Đế mà là thần tượng.
Ngai vàng! Quyền lực! Có thể nếu một lần cần phải tự giải trí,
Thượng Đế sẽ cho phép một kẻ nào đó ngồi lên ngai vàng. Có thể
ngài trao vai trò này cho một kẻ Chống Thiên Chúa. Sẽ cực kì hài
hước, ta sẽ tha hồ cười đến chừng nào hết chịu nổi.
Anh hề cười nhăn nhở. Như thể cũng muốn ngồi lên ngai vàng,
như hết thảy, và tin rằng có thể biến thành kẻ độc tài và ra
 
Gửi ý kiến