Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

than-nguoi-va-dat-viet-2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:03' 05-02-2026
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Tạ Chí Đại Trường


Thần, Người và Đất Việt


Copyrighted by Tạ Chí Đại Trường
Published by Kệ Sách eBook Publishing Center
2011
Smashwords edition
ISBN: 978-1-4524-5892-2
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com



Smashwords Edition, License Notes

This ebook is licensed for your personal enjoyment only. This ebook
may not be re-sold or given away to other people. If you would like to
share this book with another person, please purchase an additional
copy for each recipient. If you're reading this book and did not
purchase it, or it was not purchased for your use only, then please
return to Smashwords.com and purchase your own copy. Thank you for
respecting the hard work of this author.

Tác giả giữ bản quyền sách điện tử này. Mọi hình thức xuất bản,
sao chụp, phân phối dưới dạng in ấn hoặc văn bản điện tử, phát tán
trên mạng Internet, nếu không có sự cho phép của tác giả, là vi phạm
pháp luật và làm tổn hại đến quyền lợi của tác giả.


THẦN, NGƯỜI VÀ ĐẤT VIỆT

MỤC LỤC
Đôi lời phân trần
Lời Giới thiệu của ông Đào Hùng (lần tái bản, Việt Nam 2006)
Lời Giới thiệu của Giáo sư Nguyễn Thế Anh (lần xuất bản đầu tiên,
California 1989)

Chương I. Khía cạnh đời sống tinh thần Việt và các tài liệu
1 - Thần linh Việt trong sách vở và archéo-culture
2 - Từ sử sách, nhìn khía cạnh thích nghi văn hoá
3 - Khảo cổ học và mức độ phát hiện nét siêu nhiên ẩn giấu
Chương II. Các hệ thống thần linh bản địa Việt cổ
1 - Nhiên thần: các thần cây, đá
2 - Nhiên thần: các thần sông nước
3- Các nhân thần sơ khai
Chương III. Những biến chuyển về quan niệm thần linh trong
thời Bắc thuộc
1 - Việt cổ và Trung Quốc: vấn đề tác động lịch sử và văn hoá
2 - Sự hội nhập qua các dòng tôn giáo
3 - Thổ thần và phúc thần: sự nâng cấp của thần linh địa phương
Chương IV. Các thế kỉ độc lập buổi đầu (thế kỉ X – XIV) và sự
kiến tạo một hệ thống thần linh trung ương
1 - Các biến động lịch sử và ý thức hệ
2 - Sự nâng cấp của thần linh địa phương chuyển về trung ương
theo yêu cầu tổ chức quyền bính của Lí
3 - Hình ảnh thần linh Lí-Trần bên ngoài khuôn mẫu của nho thần
4 - Lễ tiết và phương cách tương thông thần – người
Chương V. Hệ thống Hùng Vương
1 - Sự bất toàn của hệ thống thần linh nhà nước Lí-Trần trước sự
định hình của quốc gia dân tộc tăng dần cường độ
2 - Sự phồn tạp của các dâm từ chịu ẩn nhẫn
3 - Hùng Vương, hồi quang của lịch sử vọng vào dân chúng kết tập
thành ý thức
4 - Hùng Vương vào chính sử và quy tụ thần linh
Chương VI. Hệ thống thần linh mới: thành hoàng làng
1 - Một chỗ trú của thần linh nấp bóng Phật Giáo
2 - Quyết định 1496 và tập họp thành hoàng nhiều nguồn gốc
3 - Đình làng và lệ làng
4 - Hèm và tâm thức nông dân Đại Việt
Chương VII. Những chân trời mới cho thần linh Đại Việt

1 - Người và thần Chiêm Thành trên đất Đại Việt
2 - Hệ thống thần linh biển
3 - Phật Bà Quan Âm và các nữ thần
4 - Tam giáo Việt và thần linh
5 - Các phái đạo Nội
Chương VIII. Sự phối hợp thần linh ở Đàng Trong
1 - Vị trí của Đàng Trong trong sự bành trướng về nam của Đại Việt
2 - Quan điểm mới về quyền lực: tính cách thần linh của người chủ
tể Đàng Trong
3 - Đền miếu và bumông
4 - Sự thể chế hoá việc thờ cúng thần linh của nhà Nguyễn
Chương IX. Thần linh địa phương Việt Nam đi vào thời giao lưu
lớn cận, hiện đại
1 - Sự sa sút của một tập họp thần linh theo một triều đại suy tàn
2 - Uy thế của thần linh liên khu vực
3 - Một quyền lực địa phương tranh chấp với thành hoàng của
Hoàng Đế
4 - Một phúc thần được dân chúng ưa chuộng hơn thành hoàng: ông
thổ địa
5 - Các thần bình dân Trung Quốc cận đại trên đà Việt hoá
Chương X. Chiều hướng và những kết quả tập họp thần linh mới
1 - Khủng hoảng: đối nghịch và hội tụ
2 - Bửu Sơn Kì Hương: khởi đầu của dòng tiên tri Nam Bộ
3 - Những dòng tiên tri tản mạn: các ông đạo
4 - Sự hội tụ của các dòng tiên tri: các giáo phái
Chương XI. Sức nặng của thần linh hết được phong cấp

Thư mục
Sách dẫn


ĐÔI LỜI PHÂN TRẦN


Tại sao lại là “Bản mới”?
Bản cũ in ra năm 1989 từ lúc chúng tôi còn ở trong nước, theo lời
Nhà xuất bản Văn Nghệ, vẫn còn chất đầy kho, trong garage của ông
chủ và bạn bè. Tình trạng đó thật ra cũng chẳng có gì đáng nói nếu
nhìn chung về tình hình xuất bản sách khoa học nhân văn ở các nước
và riêng trong tình trạng lèo tèo của nhóm người Việt di tản so với số
người đọc tiếng Việt đông đảo nằm ở chính quốc. Ông Văn Nghệ đã
làm một công việc đầy can đảm và thiện chí khi nhận chịu in sách
nghiên cứu tung ra giữa những người đồng hương đang cuống quýt lo
ổn định đời sống nơi đất lạ quê người, còn sách thì không có cơ hội nào
trở về dưới mắt đồng bào quê cũ, trừ vài bản lạc loài lén lút đến tay
những người tò mò bằng một cách nào đó. Hơn mười năm qua đầu óc
tác giả cũng chẳng mới thêm được chút nào. Vậy thì tại sao lại có “bản
mới”?
Chẳng ai viết một quyển sách mà có can đảm tự nhận mình đã làm
một công việc hoàn hảo. Và khi nói ra những thiếu sót thì cũng không
thể bị coi là để phân trần, bào chữa. Công việc của chúng tôi ở đây
cũng vậy. Ai cũng biết, và bây giờ vẫn có thể hình dung lại được tình
hình ở Miền Nam sau 1975 về cuộc sống vật vờ cơm áo, hoảng loạn
tinh thần của một lớp người giữa tiếng ồn ào la hét, mắng mỏ chửi bới
của một lớp người khác. Trong tình trạng đó thì thường tình là im lặng
né tránh nếu có thể được, đừng nói đến chuyện mầy mò nghiên cứu!
Tuy nhiên im lặng né tránh lại làm phát hiện một chốn riêng tư không
quyền lực nào có thể chen vào xoi mói được, nhất là đối với những
người may mắn không phải đắm chìm lâu năm trong sự khủng bố của
quyền lực để biến cái sợ trở thành tự giác, sợ hãi cả vào lúc không còn
cái gì để mà sợ – không phải, không dám phát sinh ra hung dữ phản
kháng mà êm êm lịm dần, lịm dần, hành xử theo phản ứng chính trị đã
được khuôn nắn tận trong tì vết tâm hồn.
May mắn cũng đến với chúng tôi khi vừa học xong thì phải đi lính,
trong gần mười một năm lêu bêu cận kề mà lại bên lề khói lửa, đã sử
dụng những thì giờ rảnh rỗi hiếm hoi để tò mò tìm kiếm những chất liệu
thêm vào sách vở cũ. Câu “Tái ông thất mã” chận một khúc đầu của
chuyện kể, sao lại không thể áp dụng để cho đời sống có chút ý vị lạc
quan? Vậy là những tích trữ đó có chỗ sử dụng trong cõi riêng tư mà

cuộc sống bên lề sau 1975 đã giúp chúng tôi khỏi bị ràng buộc vào nền
học thuật chính thống đang được rao giảng tận tình đến thành “chân lí
không bao giờ / không thể nào thay đổi”. Những năm vào trại cải tạo
giúp chúng tôi có thực tế để suy ngẫm về những gì vừa xảy ra, đang xảy
ra trước mắt mà không bị tràn ngập bởi sách vở trùng trùng lẫn tiếng la
hét đe doạ của những tay thư lại mới, bởi sức nặng kiến thức của các
học giả Tây Phương thừa phương tiện và đầy uy tín quốc tế. Sách vở cũ
thoát cơn mối xông sáu năm, còn lại hai quyển Việt điện u linh tập và
Lĩnh Nam chích quái, bản dịch của ông Lê Hữu Mục; bản dịch Toàn
thư lần đầu của Hà Nội, mua được hai tập I và II ở chợ trời Đặng Thị
Nhu (Hồ Văn Ngà cũ), tập III, IV là của chợ trời Hà Nội, tất cả mất bìa
long gáy – nhưng còn chữ là được rồi! Cũng chợ trời, hè phố cung cấp
vài tập Khảo cổ học, Nghiên cứu lịch sử. Người nghiêm túc theo trường
phái Đại học có thể chê là làm việc theo trường phái Bạ-đâu-vơ-đó,
nhưng đây cũng là một cơ hội thoát khỏi sức nặng của kinh điển để cho
trí óc được bay bổng. Sao lại không coi là một trường hợp “Tái ông
thất mã” nữa? Vậy là bắt tay vào việc, bắt đầu “làm việc” sau những
giờ làm việc mệt nhọc hay thời gian trống rỗng ngồi cà-phê-ghế dựa
lưng vào tường nhìn người, xe qua lại hỗn độn sát mặt.
Bây giờ ngồi nghĩ lại, chẳng hiểu tại sao đã có những ý nghĩ như đã
được viết ra. Đúng là có sự tích tụ của kiến thức cũ từ nhà trường,
trong sách vở, ngoài hiện trường. Nhưng trong sâu thẳm hẳn là có sự
phản kháng với thân phận mình trong cơn lốc lịch sử, với đám học giả
núp bóng quyền uy chính trị, ngang ngược trước mắt. Chuyện Thánh
Gióng bình thường thì cũng đã nghe từ nhỏ đủ để trí óc mơ mộng nâng
cao, nhưng nghe mãi... gì mà “anh hùng dân tộc hay anh hùng bộ lạc”,
đi theo với hình ảnh viên thiên tướng cỡi ngựa sắt như mụ phù thuỷ Tây
cỡi chổi xẹt qua xẹt lại, không phải chỉ lẫn lộn truyền thuyết và sự thật
khoa học mà còn muốn lấy khoa học biện minh cho truyền thuyết, sao
mà thấy... ngứa quá! Vậy là có bài viết đầu tiên theo cách nhìn trần tục
nói về chân dung Thánh Gióng được người Việt vẽ ra trong tiến trình
lịch sử (Những bài dã sử Việt, Thanh Văn xuất bản 1997.) Như thế
không phải lỗi của mình khi lôi các ông Cao Lỗ, Trương Hống, Trương
Hát, Lí Phục Man, Triệu Quang Phục, các tướng của vua Hùng, Hai
Bà... cho trở về vị trí của thần tinh gỗ đá, ma da ... ráo trọi. Từ lúc cầm
quyển vở học thuộc lòng những bài lịch sử vẫn thấy có những điều gì
không ổn, rồi khi đối chiếu với những nhân vật lịch sử lớn nhỏ trước
mắt, sự cách biệt giữa thực tế và lí thuyết đem lại hoài nghi đã làm vỡ
ra bức màn ngăn cách quá khứ và hiện tại mà những điều học được bảo
phải nhìn lịch sử theo thực tế trần trụi, đương thời đã bừng sáng lên
trong trí óc. Cầm trong tay quyển Thế kỉ Mười – Những vấn đề lịch sử

của Hội nghị lịch sử nhóm họp tại Hoa Lư (1982), trích những tham
luận xuất sắc chứa đựng hẳn là tinh tuý của tầng lớp người (chiến
thắng) tự phụ là tinh hoa của dân tộc, nhưng chỉ thấy những lời trau
chuốt văn từ, tán rộng lịch sử dưới lớp vỏ bọc tư tưởng “hiện đại và
dân tộc” mà bài viết “hiện đại” là của một anh nguỵ luồn lọt được vào
vì bàn “đúng hướng”, lại nổi bật chỉ vì anh nguỵ viết theo sách ít nhiều
gì cũng là của bọn Xét lại, còn các học giả sử quan mới thì không dám
nhúc nhích khỏi chữ của Thánh hiền (mà lại được dịch ra theo một thứ
chữ Việt ngô nghê, có in ấn hẳn hòi).
Sinh sống ở một vùng ngoại vi trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt
chắc cũng giúp chúng tôi thoát khỏi những thành kiến tuy làm nên sức
mạnh chung nhưng cũng trì níu nhiều vào quá khứ, để cảm tính che lấp
lí trí, nhất là vào một thời đại tràn trề sôi động những khẩu hiệu cao
vời không cần suy nghĩ, dưới những áp lực kìm giữ chưa từng thấy,
không chừa chỗ cho những đường lối lệch hướng. Đất nước của các
vương triều cố cựu trở nên to rộng hơn, do đó chừa chỗ cho các luồng
tư tưởng sinh hoạt rộng đường di chuyển giúp chúng tôi nhìn thấy Bà
Chúa Xứ thuần chất trong cung Lí Trần và pha tạp chuyển biến trong
các dòng đạo Nội, điện phủ của thời cận đại, đem lại sự công bình lịch
sử: Một dân tộc – dân tộc Chàm – tưởng gần bị diệt vong đã tái sinh
dưới hình dạng hoà nhập với người chiến thắng, không phải sống vật
vờ, hời hợt mà vững mạnh, sâu và xa. Có thể nói nữa đến ông họ Tái
không?
Cứ thế mà đi tới. Với ông Bạch Mã Thái Giám xuất thần hiển hiện
nối kết sách vở với chuyến đi thực địa, lại là bên lề của một buổi đi tìm
tiền cổ. Cứ thế mà đi tới gặp Cao Đài, Hoà Hảo, những giáo phái đầy
tính năng động nhưng thường vẫn được nhìn với tính cách dè bỉu, hoặc
ngại ngần sợ hãi, trong đó có ẩn giấu sự miệt thị “nội hoá”, địa
phương – chỉ có học giả ngoại quốc mới xem đó là một hiện tượng văn
hoá đáng để ý. Cứ thế mà...
Và rốt lại quyển sách đi tìm tâm thức dân tộc phải chứa đựng một
cách nhìn mới về lịch sử Việt Nam của thời văn minh, hiện đại, thực sự,
đáng hãnh diện, không cần phải trốn nấp sau những lời huênh hoang
ồn ào – lại chỉ để nói với nhau theo kiểu “mẹ hát...” Một quyển sử như
thế còn là một mong ước...
Chúng tôi đành phải bằng lòng với những gì đã có. Để trở lại với
lúc đầu: Tại sao lại là “bản mới” trong lúc chẳng có gì mới hơn? Đã
nói, không phải là một lời phân trần nhưng tập sách viết vào lúc ấy,
ngoài cái hoàn cảnh chung ai cũng biết, còn có những điều riêng mà
nay mới có dịp chấn chỉnh lại. Viết sau những giờ lăn gỗ, xúc bột giấy,
theo xe áp tải ngơ ngơ không biết hối lộ để anh chàng công an

đuổi:”Đi cho được việc!” Viết trong thời gian chưa có điện Trị An,
ngọn đèn 60w trở thành đèn ngủ đành đánh một giấc, đổi giờ làm việc
thành nửa khuya về sáng. Viết vào lúc không mong gì xuất bản, chỉ để
tuôn ra ý tưởng thấy là mới mẻ, đánh máy trên giấy rơm đen điu, rồi
chuyền cho bạn bè người quen đọc, chưa kịp thấy nỗi nguy hiểm của
cách phát biểu “chui” như thế. Một bản liều lĩnh đi ra nước ngoài –
cũng chỉ mong người quen đọc – được hỏi: “Đăng không? Muốn kí biệt
hiệu gì?” –“Chữ nghĩa chính quy, ai lại phải cần giấu giếm!” Trả lời
thí-mạng-cùi trong lúc chưa biết đến cái án mươi năm của Doãn Quốc
Sỹ – Hồ Khanh. Bản thảo vào tay ông chủ Văn Nghệ trong tình trạng
điếc không sợ súng như thế đó. (Và rồi được đằng chân lân đằng đầu,
bài Việt Nam nhìn từ bên trong được đòi hỏi phải in trước khi tác giả
ra đi).
Vì thế khi cầm quyển sách gởi chuyền vòng vèo qua Pháp, qua một
nhà ngoại giao [2011: Yoshiharu Tsuboi] có lẽ kiếm chuyện vào Sài
Gòn để đưa tận tay tác giả, thật vừa thấy vui mừng vừa thất vọng. Lỗi
của người thì ít mà lỗi của mình thì nhiều, không thể đổ thừa tại, bởi,
bị... Phải sửa thôi. Và cũng nhân dịp sửa mà thêm vào một ít kiến thức
minh chứng thấy được về sau, mớ bằng cớ nôn nóng không dừng được
đã cho chen vào những bài viết ở Mĩ. (Những bài văn sử, Văn Học xuất
bản 1998.) Lại ở một quyển sách nghiên cứu thì theo “tục lệ” không thể
thiếu được phần Sách dẫn, điều mà tác giả không đủ khả năng làm
được – có làm cũng phải mất nhiều thời gian mầy mò. May mắn thay,
một anh bạn trẻ ái mộ đã có lòng giúp cho theo với khả năng đã trở
thành thông thường của lớp người mới, của tương lai.
Các ý tưởng nòng cốt vẫn còn đó. Và tuy người làm việc riêng biệt,
khoa học không cần để ý nhiều đến những phản ứng của định kiến đã
thành hình – cứ “nói theo” thì chẳng có khoa học – nhưng thiết tưởng
cũng phải có lời dàn-hoà với số đông. Một người trong nước khi cầm
quyển sách đọc đã gay gắt: “Viết sử gì như thế này!” Thật dễ hiểu và
đã lường trước được: Chúng tôi đã động đến không phải chỉ kiến thức
mà là tâm cảm của số đông hiện tại, đã cho các nhân vật lịch sử “anh
hùng anh thư dân tộc” trở thành thần gần hết, đã cho vua Hùng chỉ trở
thành chính thống theo một tiến triển hợp lí dẫn đến thời Lê sơ nửa sau
thế kỉ XV chứ không phải sẵn sàng mũ áo rồng phượng từ bốn ngàn
năm trước đó...Cũng như lời giải thích về cái đình làng động đến niềm
kiêu hãnh địa phương nứp dưới dấu hiệu bản sắc quốc gia dân tộc.
Phản ứng đó cũng thấy ở vài người thân quen hay xa lạ ở hải ngoại –
thân thì nhăn nhó, sơ thì gầm gừ. Trong đời sống thông thường, một
thói quen vẫn không dễ gì gạt bỏ. Nhưng mà ở thời đại tự do văn minh,
người ta không dễ gì lấn lướt kẻ khác, nhất là chỉ bằng chữ nghĩa.

Quan niệm “chữ của thánh hiền” còn rơi rớt khiến người ta còn quá
coi trọng mấy dòng viết, in khiến cho các “tác giả” tự coi mình là đã
làm việc “để đời”, còn nhà cầm quyền thì lo canh giữ các anh, tưởng
chừng họ sắp cướp mất công cứu nước trị dân của mình vậy. Hãy coi
chữ-nghĩa như một trò chơi kiến thức trong một sân chơi còn rộng, còn
chỗ cho ăn nhậu, nói thánh nói tướng, xem tivi, nghe radio, đĩa CD, vào
casino... để có thái độ rộng rãi với nhau hơn. Mặt khác, cách nhìn chê
bai những thành kiến, theo hướng tiêu cực khi cho rằng mình đứng
trong quan điểm mới, cũng không phải là thái độ đúng của sử gia. Ông
Lạc Vương có vẻ chính danh hơn ông Hùng Vương nhưng không có tác
động trên dân Việt thời cận hiện đại bằng ông vua Hùng. Ông vua Lạc
đã mất chỗ đứng ở nước Việt từ thời đại có Hồ Tông Thốc, Ngô Sĩ Liên
lên tiếng, chỉ còn rơi rớt trong sách vở của người ngoài. (An Nam chí
của người Minh.) Đối tượng của sử học không phải là cái giả định mà
là cái đã xảy ra, dù nguyên nhân được gán cho là từ những người
không phải thật, từ một thời điểm lệch. Cho nên có đẩy ông vua Hùng
tụt xuống bốn ngàn năm, cho ông Triệu Quang Phục chẳng hạn lên
ngồi lại ngai thần, sử gia không phải đã xoá thân xác họ trong lịch sử
mà là chú ý tìm hiểu tác động đến lịch sử của các nhân vật đó như
những người thật. Một ý tưởng như thế đã có trong lời đề-từ năm 1988
đòi “lí trí dõi theo tìm dạng thần, hồn người trên đất Việt.”

Có vẻ như thế cũng đã là cạn lời rồi vậy.
Westminster, bắt đầu tháng Ba 1999


Dù đứng ở phe phái nào đi nữa, là người Việt, ai cũng phải công nhận rằng từ 1945, nước
Việt Nam đã hiện diện trên bản đồ thế giới, lần này không phải với danh nghĩa một phiên thần
của Trung Quốc hay một thuộc địa của người Pháp mà là một nước độc lập, tự chủ, muốn đứng
ngang hàng với các dân tộc khác trên toàn cầu. Ấy thế mà qua bao nhiêu xương máu đã đổ ra,
kết quả thật là tệ hại, không thể nào tự bào chữa được. Có vẻ qua bao nhiêu nguyên nhân được
dẫn ra, nguyên nhân chính là người Việt chưa tự biết mình rõ và đúng. Trong đó có lịch sử quốc
gia dân tộc.
Người Việt vẫn thường hiểu lịch sử đất nước, dân tộc qua một vài quyển sử được tán rộng,
theo một đầu óc hồng hoang với nước sơn khoa học, thật đúng với thực trạng hiện tại thừa
hưởng của quá khứ. Thần, người và đất Việt, như tựa đề, không chỉ nói về thần mà đi tìm hiểu
tâm linh người Việt qua dòng thời gian, dựa trên một cái khung lịch sử xác thực, có bằng cớ
như bất cứ một người nào của thời đại khoa học có thể nhận ra sau khi đè nén được lòng tự ái,
sự kiêu căng trong hoang tưởng. Và cái khung lịch sử ấy có thể mở rộng ra để có thể có được
một quyển sử Việt chân xác, dồi dào không để người ngoài giành lấy, viết giùm.


Những hàng chữ nhỏ trên là viết vào cuối năm 1999, nhưng đến khi
in thì thay thế bằng các dòng sau, ở trang bìa 4:
“Hãy tự biết rõ mình”, lời nhà hiền triết Hi Lạp của 2 500 năm trước

là một tự vấn đòi hỏi một cách nhìn khách quan về bản thân mình, về
tập đoàn mình. Biết để sống được, sống hợp lí với mình, với người
chung quanh. Hơn nửa thế kỉ qua, dân tộc Việt Nam xuất hiện trên thế
giới đã gây nhiều xôn xao, trong đó có những ca tụng ngút người rồi
tiếp theo là lời chê trách, sự thất vọng não nề có vẻ chưa thấy ngày
chấm dứt. Giống như ta đang chứng kiến một thứ lên đồng tập thể mãi
đến cơn hồi tỉnh vẫn còn choáng váng miên man. Như dấu vết của một
cuộc sống trong thời đại khoa học mà chưa thoát khỏi những vướng víu
nặng nề của quá khứ, trì níu tương lai. Thần, người và đất Việt phân
tích tâm thức ấy của quá khứ không dựa trên những lời tán rộng mà căn
cứ trên những tài liệu xác thực, các tài liệu sờ sờ trước mắt không phải
chỉ với người cùng nước đang huênh hoang mà cả sử gia bên ngoài
cũng chưa kịp nhận ra. Do đó, Thần, người và đất Việt còn là căn bản
cho một quyển sử Việt Nam mới, hợp với thời đại khoa học, cũng là
một cách giải quyết vấn đề “tự biết mình” để theo kịp trào lưu thế giới,
nếu muốn.

Bản in năm 2000 được gọi là “Bản mới” mà thật ra chỉ dựa vào bản
1989 của nhà Văn nghệ chỉ vì bản thảo không còn nữa, không có cả
những tài liệu cơ bản trong tay, và tác giả lúc ấy chỉ chủ ý sửa câu văn,
sửa những gì thấy thành hình mà sao vô lí quá. Không thể làm hơn, đó
cũng là một cái tội không tha thứ được.


THẦN, NGƯỜI VÀ ĐẤT VIỆT

Không hiểu từ đâu khoảng giữa năm 2004, có e-mail từ Hà Nội đề nghị
tái bản Thần, người và đất Việt. Thư qua lại, làm giấy uỷ quyền ngày 25-102004 cho tái bản ở Việt Nam. Có những hành động “đánh tiếng” cho sách vì
người ta cũng biết là phải dọn đường dư luận. Mà bản thân cũng có kinh
nghiệm là năm 2000 có người gởi sách về VN – ngớ ngẩn gởi theo đường
bưu điện, bị tịch thu, bị kêu đi “làm việc” nên gởi thư qua mắng: “già đầu
mà còn lộn xộn”, viết sách “phản động... không bổ ích gì cho trí óc”. Xưa &
Nay số 238 (6-2005) đăng bài “Thần, người và đất Việt, một quyển sách cần
được tái bản” của ông Dương Trung Quốc, đến số 241 (8-2005) lại đăng
trích đoạn: “Hùng Vương, từ vô thức đến hữu thức, con đường trở thành
quốc tổ”, và số 256 (3-2006): “Từ thần dân gian địa phương trở thành thần
chính thống”. Các tựa đề đều là của toà soạn, ít nhiều gì cũng là dụng ý uốn
nắn cho đúng chữ nghĩa thời đại nhưng cũng vì thế mà tuy tán thưởng nhưng
lại né tránh ý của tác giả. Ví dụ không thể nào thẳng thắn như Lại Nguyên
Ân, xác nhận cách trình bày “truyện tích Hùng Vương” mang “một lí tính
khoa học không cho (ông) tin thời đại Hùng Vương là sự thật lịch sử” (LNÂ,
“Có một tâm linh Việt”, Tuổi Trẻ 19-1-2006). Mặt khác, chữ nghĩa đối với
Việt Nam cũng chỉ là chuyện vui qua ngày cho nên không tác động đến quyết
định năm 2007 của Quốc hội CHXHCNVN công nhận ngày 10-3âl. là ngày
Giỗ Tổ, một sự kiện chứng tỏ một tình trạng ngu, ngang ở cấp bực cao trên
tầm mức quốc gia.
1-2006: Tái bản ở Việt Nam, Nxb. Văn hoá Thông tin, H. 2005. Đơn vị
liên kết xuất bản – Tổng phát hành: Nhà sách Kiến Thức, Hà Nội.Không có
lời Phân trần của tác giả, không có lời Tựa của GS. Nguyễn Thế Anh. Thay
vào đó là Lời Giới thiệu của ông Đào Hùng, Hội Khoa học Lịch sử Việt
Nam, cho hợp với yêu cầu tái bản trong nước.
Không có bản đồ (3 bản). Không có các hình ảnh kèm theo. Ngó sơ thì
thấy có bỏ một vài chú thích: Một phần của chú thích 35 Chương X (các chú
thích từ 19-34 bị bỏ có vẻ là do lây lan tội từ phần chú số 35); các chú thích
4, 5, 6 Chương XI, còn thì có vẻ được giữ nguyên. Bản sau đây có một vài
chữ sửa thêm, lỗi chính tả, in ấn.

LỜI GIỚI THIỆU


ĐÀO HÙNG
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Tôn giáo và tín ngưỡng của người Việt là một lĩnh vực nghiên cứu
được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm. Đối với các nhà
nghiên cứu Việt Nam, sự quan tâm đó có thể xuất phát từ nhiều hoàn
cảnh và do nhiều động cơ khác nhau, tuy nhiên, trải qua một thời gian
dài giới nghiên cứu của chúng ta thường bị những động cơ chính trị chi
phối, nên việc nghiên cứu đôi khi không thể không tránh khỏi những
thiên kiến.
Còn nhớ một thời chúng ta chủ trương học thuyết vô thần – thậm
chí trong nguyên tắc phân loại của thư viện học, các xuất bản phẩm đề
cập đến vấn đề tôn giáo đều được xếp vào mục “vô thần” – nên đã đồng
loạt coi mọi hiện tượng tôn giáo tín ngưỡng thuộc vào lĩnh vực của quá
khứ mang nhiều tính lạc hậu, thậm chí còn là phản động, là “những tàn
dư của xã hội cũ”. Tình hình đó ảnh hưởng không ít đến sư phát triển
của môn học này, đặc biệt là đối với nhân học tôn giáo.
Từ ngày đất nước bước vào con đường đổi mới và hội nhập, không
khí học thuật của chúng ta có phần cởi mở hơn, không còn bị gò bó đi
theo lối mòn cũ. Cũng vì vậy mà trên lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo và
tín ngưỡng, nhi
 
Gửi ý kiến