Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

nhung-bi-mat-ve-chien-tranh-viet-nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:20' 06-02-2026
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
NHỮNG BÍ MẬT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Tác giả: Daniel Ellsberg

Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Lời Giới Thiệu

N
ăm 1971, Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc từng tham
chiến ở Việt Nam, đã cho công bố 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo
chí, tạo nên một làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam mạnh mẽ
chưa từng có tại Mỹ. Nhận bằng tiến sĩ Kinh tế Đại học Harvard năm
1962, nhưng số phận lại đưa ông đến làm việc ở Bộ Quốc phòng và
sau đó ông được phái sang chiến trường Việt Nam.
Sau hơn 3 năm ở Việt Nam, làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, năm 1967, Daniel
trở về Mỹ, ông được phân vào nhóm nghiên cứu tối mật về hoạch
định chính sách đối với Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng
McNamara. Tại đây, ông đã được trực tiếp tiếp xúc với các tài liệu
mật của Nhà Trắng và biết rõ kế hoạch muốn leo thang chiến tranh
Việt Nam của Tổng thống, mặc dù bề ngoài Nixon và bộ sậu của ông
ta ra sức nói dối để bao che cho hành động leo thang và kéo dài cuộc
chiến của mình.
Là một người yêu chuộng hoà bình và đã từng có thời gian tham
chiến tại Việt Nam, hiểu rõ bản chất phi nghĩa của cuộc chiến, Dan
đã đánh cược cả cuộc đời mình, sao chụp 7.000 trang tài liệu của Hồ
sơ Lầu Năm Góc. Ông bắt đầu công việc này từ năm 1969 và đến
năm 1971, ông đã đi đến quyết định làm chấn động nước Mỹ, công
bố toàn bộ tài liệu trên tờ Thời báo New York. Dan đã từng nói: Lẽ ra,
nếu tôi có thể đưa các tài liệu đó ra từ khi tôi mới vào làm việc tại Lầu
Năm Góc và Nhà Trắng, vào năm 1964-1965, thì có thể những tài
liệu đó đã góp phần ngăn chặn cuộc chiến".
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam - Hồi ức về Việt Nam và Hồ
sơ Lầu Năm Góc (Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon
papers) là cuốn hồi ký của Daniel, xuất bản năm 2002, đã trở thành
cuốn sách bán chạy nhất, gây xôn xao nước Mỹ. Cuốn sách kể lại
cuộc hành trình đi tìm sự thật của Dan và phanh phui những âm mưu
dối trá của Tổng thống Nixon và Lầu Năm Góc về cuộc chiến tranh
Việt Nam, bắt đầu từ Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, (tháng tám năm 1964).
Tháng Ba năm 2006, Daniel trở lại thăm Việt Nam, và được trao
Kỷ niệm chương "Vì hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc", tôn vinh
những cống hiến không mệt mỏi của ông đã góp phần thức tỉnh dư
luận về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ông đã
cho phép Nhà xuất bản Công an nhân dân dịch và xuất bản cuốn hồi
ký của mình.
Sau một thời gian làm việc, cuốn sách đã đến tay bạn đọc.
Hy vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc có một góc nhìn đa diện hơn
về cuộc chiến và qua đó thấy rõ tâm lòng của một người ở phía bên
kia chiến tuyến đối với đất nước nhỏ bé này.
Nhà xuất bản Công an nhân dân xin trân trọng giới thiệu.

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

Lời Nói Đầu

Tối ngày 1 tháng mười năm 1969, tôi rảo bước nhanh qua phòng

bảo vệ của Công ty Rand[I] ở Santa Monica, tay xách một vali chứa
đầy tài liệu tối mật mà tôi dự tính sẽ sao chụp trong đêm hôm đó. Số
tài liệu này là một phần trong công trình nghiên cứu tối mật gồm
7.000 trang liên quan tới các quyết định của Mỹ ở Việt Nam, sau này
được biết đến dưới tên gọi quen thuộc là Hồ sơ Lầu Năm Góc. Phần
còn lại nằm trong két đựng tài liệu ở văn phòng của tôi.
Tôi quyết định sao chụp toàn bộ và đưa ra công chúng bộ hồ sơ
này, hoặc là thông qua các cuộc điều trần tại Thượng viện hoặc là
qua báo chí nếu tôi thấy điều đó là cần thiết. Tôi tin rằng tôi có thể sẽ
phải ngồi tù suốt đời vì việc làm này. Cuốn hồi ký này sẽ tập trung mô
tả quá trình hành động công bố tài liệu của tôi.
Trong 11 năm, từ giữa năm 1969 đến khi kết thúc cuộc chiến tranh
vào tháng Năm năm 1975, tôi cũng như rất nhiều người Mỹ khác đặc
biệt quan tâm tới sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Vào thời gian
đó, thoạt tiên tôi nghĩ đó chỉ là một vấn đề, tiếp đến là một sự bế tắc,
nhưng rồi sau đó là một thảm hoạ về đạo đức và chính trị và cuối
cùng trở thành một tội ác. Ba phần đầu của cuốn sách tương ứng với
ba giai đoạn phát triển về nhận thức của tôi.
Những sai phạm và hành động sau đó của tôi đã phản ánh quá
trình thay đổi nhận thức đó. Khi nhận thức cuộc xung đột chỉ là một
vấn đề tôi đã cố gắng góp sức để giải quyết nó, khi nhận ra sự bế
tắc, chúng ta (Nước Mỹ - ND) đã cố gắng tư giải thoát mà không gây
phương hại tới lợi ích của quốc gia khác, và tôi đã nỗ vạch trần và
chống lại cuộc chiến khi ý thức mách bảo nó đã trở thành một tội ác
với hy vọng chấm dứt nó càng sớm càng tốt. Qua quá trình nhận
thức trên, tôi đã vận dụng nhiều cách khác nhau nhằm tránh khả
năng chiến tranh leo thang lên cao hơn. Nhưng gần đến giữa năm
1973, khi tôi phải ra trước Toà án liên bang vì nhũng hành động của
tôi vào cuối năm 1969, tôi đã nói không ai, kể cả tôi, thành công trong
mục đích và cố gắng của mình. Những nỗ lực nhằm chấm dứt cuộc
xung đột - cho dù nó được nhìn nhận như là một cuộc kiểm nghiệm
bị thất bại, một vũng lầy hay một sai phạm về mặt đạo lý - dường
như cũng chẳng thấm vào đâu so với những cố gắng để chiến thắng
trong cuộc xung đột đó. Vì sao?
Như sau này tôi nhận thấy, chỉ cần chống thôi chưa đủ, chúng ta
còn cần phải hiểu về chiến tranh. Ba mươi năm sau tôi vẫn tin điều
đó là sự thật. Cuốn sách này thể hiện nỗ lực cho đến tận ngày hôm
nay của tôi - những nỗ lực còn xa mới hoàn tất - trong việc giúp các
bạn hiểu về cuộc chiến tranh của đất nước chúng ta ở Việt Nam, và
bản thân tôi là một phần của cuộc chiến đó và tại sao cuộc chiến
tranh đó cũng như những nỗ lực của tôi lại kéo dài đến như vậy.

Trong thời gian ba năm bắt đầu từ giữa năm 1964 - với ngạch bậc
dân sự cao nhất, tôi đã giúp chính quyền theo đuổi một cuộc chiến
tranh mà tôi tin ngay từ khi bắt đầu là nó sẽ bị thất bại. Làm việc tại
Washington bên cạnh những nhà hoạch định chính sách tối cao trong
những năm 1964-1965, tôi đã chứng kiến họ bí mật đẩy đất nước
này vào một cuộc chiến tranh qui mô lớn mà không hề có lấy một khả
năng thành công. Sự bi quan của tôi trong những năm đó không thay
đổi, và trong vòng khoảng một năm - từ mùa Xuân năm 1965 tới mùa
Xuân năm 1966 - tôi đã kỳ vọng và làm hết sức để trông chờ một sự
thắng lợi nào đó. Sự kỳ vọng đó đặt vào vị tổng thống, người mà bất
chấp nhiều mối nghi ngại, vẫn đẩy chúng ta lún sâu vào vũng lầy của
cuộc chiến. Khi nước Mỹ đã dính líu toàn diện vào cuộc chiến tranh,
vào giữa năm 1965 tôi tình nguyện tới phục vụ ở Việt Nam như một
nhân viên của Bộ Ngoại giao. Công việc của tôi là đánh giá tình hình
"bình định" ở vùng nông thôn. Thời gian này, tôi đã sử dụng vốn kiến
thức của một sĩ quan chỉ huy pháo binh của lực lượng lính thuỷ đánh
bộ, để quan sát cuộc chiến tranh một cách toàn diện. Trước đây câu
hỏi liệu chúng ta có một quyền gì đó, bất kể quyền gì cao hơn người
Pháp tới chúng ta, để theo đuổi cuộc chiến bằng lửa đạn và sắt thép
ở Đông Dương, những mục tiêu mà các nhà lãnh đạo của chúng ta
đã lựa chọn, chưa bao giờ khiến tôi phải bận tâm. Trong hai năm ở
Việt Nam, ấn tượng về những người dân và hoàn cảnh của họ đã trở
nên chân thực với tôi hơn, chân thực như những binh lính Mỹ mà tôi
cùng hành quân, như chính đôi bàn tay của tôi, mà trong một khía
cạnh nào đó, đã khiến việc tiếp tục theo đuổi cuộc chiến vô vọng đó
trở nên không thể tha thứ được.
Bị loại khỏi chiến trường vì bệnh viêm gan và quay trở lại Mỹ từ
giữa năm 1967 tôi bắt đầu làm tất cả những gì có thể để giúp đất
nước tôi thoát khỏi cuộc chiến tranh. Trong hai năm tôi làm việc này
với danh nghĩa là người trong cuộc phỏng vấn trực tiếp các quan
chức cao cấp, cố vấn cho các ứng cử viên tổng thống và cuối cùng,
vào đầu năm 1969, làm trợ lý Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng
thống. Nhưng cùng trong năm đó, tôi nhận ra mình đã phá vỡ kế
hoạch đề ra ban đầu nên quyết định chấm dứt sự nghiệp công bộc
cho chính phủ.
Một trong những việc làm trên đe doạ xâm hại quyền tụ do của tôi.
Năm 1969 và 1970, với sự giúp đỡ của người bạn tên là Anthony
Russo - một cựu thành viên của Công ty Rand, tôi bí mật sao chụp
toàn bộ 47 tập Hồ sơ Lầu Năm Góc, một văn kiện nghiên cứu tối mật
về các quyết định của Mỹ ở Việt Nam từ 1945 đến 1968, làm sở hữu
riêng của mình và trao chúng cho Thượng nghị sỹ William Fulbright,
Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Thượng viện. Năm 1971, tôi cũng đã trao
những bản sao cho tờ Thời báo New York và tờ Bưu điện
Washington và cuối cùng, bất chấp tới bốn lệnh cấm của liên bang,
một điều chưa có tiền lệ, cho 17 tờ báo khác mà sau đó đã đem công
bô nội dung tài liệu của tôi.

Tôi đã không sai khi nhận định về những mối nguy hiểm đối với cá
nhân tôi. Ngay sau đó, tôi bị buộc phải ra trước toà án liên bang, tiếp
theo là Russo. Tổng cộng, tôi bị quy tới 12 tội và có thể phải chịu tới
115 năm tù với một vài lần hầu toà nữa. Nhưng tôi cũng không sai
khi hy vọng rằng vạch trần những bí mật và những điều dối trá của 5
vị tổng thống có thể làm lợi cho nền dân chủ của chúng ta và đó là
cái giá xứng đáng cho sự mạo hiểm của mình. Sự thật được tiết lộ
sẽ là động lực để thúc đẩy việc đưa ra công luận hàng loạt vấn đề,
bao gồm cả những việc làm xấu xa của Nhà Trắng hòng làm mất uy
tín của tôi cũng như bắt tôi phải im miệng. Đương nhiên là nếu tôi
khuất phục thì họ sẽ bãi bỏ những cáo buộc chống lại tôi và bạn bè
của tôi. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều là chính những tội ác của
Phòng Bầu Dục đã góp phần lật đổ Tổng thống, một bước hết sức
cần thiết trước khi đi đến kết thúc chiến tranh.
Đây là câu chuyện về sự thay đổi lớn nhất trong đời tôi, nó bắt đầu
kể từ khi tôi từ Việt Nam trở về. Sự tan vỡ của nhũng niềm hy vọng
mỏng manh mà tôi có. Ở Việt Nam, sự hoài nghi về cuộc chiến tranh
đã theo tôi về Mỹ từ giữa năm 1967 không còn xa lạ gì với tôi nữa.
Trái lại, nó khiến tôi bi quan trở lại như trong chuyện đi đầu tiên tới
Việt Nam năm 1961 và nó lại được nhân lên trong năm đầu tiên tôi
làm cho Lầu Năm Góc từ giữa năm 1964. Năm 1967, tâm lý hoài
nghi này lan rộng trong chính phủ. Dư luận bên ngoài thậm chí có lẽ
còn hoài nghi hơn nữa. Đây chính là thời điểm mà mong muốn
chứng kiến cuộc chiến tranh kết thúc của tôi cũng không khác với
hầu hết các đồng nghiệp trong chính phủ hoặc trong các cơ sở
nghiên cứu do chính phủ tài trơ, dù họ đã hoặc chưa tùng phục vụ ở
Việt Nam. Cả một thế hệ sinh ra trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam
cũng đều trở nên vỡ mộng như tôi về một cuộc chiến tranh mà họ
thấy ở đó sự vô vọng và vô tận.
Tôi cũng từng có chung quan niệm như họ về những giá trị và đặc
tính của nước Mỹ, tham gia tích cực vào Chiến tranh lạnh, vào việc
chống chủ nghĩa cộng sản, vào việc giữ bí mật, và vào việc ủng hộ
chiếc ghế tổng thống. Đến năm 1968, nếu không nói là sớm hơn, tất
cả họ, cũng như tôi đều muốn thấy nước Mỹ cần phải thoát ra khỏi
cuộc chiến tranh này. Mong muốn này thúc đẩy tôi tìm hiểu câu hỏi.
Tại sao chiến tranh lại có thể xảy ra trong những hoàn cảnh như vậy,
nhất là sau sự ám ảnh ghê gớm của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu
Thân hồi đầu năm 1968 mà cuộc chiến vẫn có thể kéo dài tới bảy
năm nữa?
Nội dung chính của cuốn hồi ký này kể một câu chuyện với phần
mở đầu là sự chỉ trích của những nhân vật trong chính phủ về chính
chính sách của chúng ta, đến chỗ cuối cùng tôi đã vượt lên trên cả
những nỗ lực chấm dứt chiến tranh từ vị trí trong ngành hành pháp,
sẵn sàng từ bỏ những đặc quyền và mối quan hệ chính trị, cơ hội
phục vụ các tổng thống tương lai, toàn bộ sự nghiệp của tôi để thay
bằng việc chấp nhận viễn cảnh của một cuộc sống ở chốn lao tù.

Cuốn sách tập trung vào những điều mà kinh nghiệm cuộc sống đã
tạo điều kiện cho tôi thực hiện công việc của mình suốt từ năm 1969
đến năm 1972, nhũng điều tôi đang mong muốn tôi (hoặc nhũng
người khác) đã làm trong năm 1964 hoặc 1965 đó là: đưa những tài
liệu này ra Quốc hội và báo chí để nói ra sự thật.
Thật dễ để nói rằng ý tưởng phanh phui sự thật đơn giản đã
không đến với tôi và cũng như bất kỳ ai vào thời điểm đó. Vấn đề còn
lại là tại sao điều đó lại không xảy ra? Cũng giống như nhiều người,
tôi hoàn toàn tin tưởng vào vị tổng thống của mình (và đối với nghề
nghiệp của tôi, những dữ liệu thông tin nội bộ và ảnh hưởng của nó,
dù sao chăng nữa, tôi cũng đã lý tưởng hoá mục đích của mình) trên
tất cả mọi thứ khác, trên lòng trung thành với Hiến pháp, trách nhiệm
với sự thật, với những người bạn Mỹ và với những cuộc sống của
những người khác. Đây là một câu chuyện đối diện với sự thật, mà vì
nó, tôi luôn biết ơn, của những thanh niên Mỹ đã lựa chọn thà vào tù
còn hơn là tham gia vào một cuộc chiến mà họ biết là sai lầm, đã
thức tỉnh tôi trước những sự trung thành cao cả này.
Tôi hy vọng, thông qua cuốn hồi ký, đưa ra những bài học cho các
quan chức tương lai trong những hoàn cảnh tương tự và cho tất cả
mọi người dân, những người sẽ theo dõi trách nhiệm của chính phủ
trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Tôi sẽ nêu một bài học thú vị hơn
(như mô tả trong Phần IV)l vào thời điểm chuẩn bị kết thúc phiên toà
và sau đó, là việc nói ra sự thật, vạch trần những bí mật sai trái được
che đậy, có thể đem lại một sức mạnh bất ngờ chưa từng thấy, nó
giúp chấm dứt một sai lầm và cứu được những mạng sống.
Chú thích:
[I] Rand là công ty nghiên cứu chiến lược thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ,
viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Research and Development", nghĩa là
"Nghiên cứu và Phát triển" - ND

Giai đoạn mở đầu
Việt Nam 1961:

M
ùa thu năm 1961, không phải mất nhiều thời gian để khám phá
ra rằng chúng ta hầu như không thể giành được thắng lợi ở Việt
Nam. Tôi chỉ mất gần một tuần trong chuyện thăm đầu tiên để hiểu ra
điều đó. Với việc tiếp cận đúng nguồn thông tin, nói chuyện với đúng
đối tượng dân chúng, bạn có thể nhanh chóng có được một cái nhìn
xác thực. Bạn không phải nói tiếng Việt Nam, cũng không cần phải
biết lịch sử, triết học hay văn hoá châu Á mới có thể biết được rằng
mọi việc chúng ta đang cố gắng làm đều chẳng đem lại kết quả tốt
đẹp gì hơn. Tôi đã đọc đâu đó rằng bạn không cần phải là một nhà
ngư học mới biết được khi nào thì một con cá bị chết thối.
Tôi là thành viên cấp cao của một lực lượng đặc nhiệm thuộc Lầu
Năm Góc, tới thăm Đoàn Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) ở Việt
Nam với một giấy phép có thể "đi bất cứ đâu, xem bất cứ cái gì".
Trưởng đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ, tướng Lionel McGan, đã
yêu cầu các thành viên tham mưu của ông ta giúp chúng tôi bằng mọi
cách để chúng tôi có thể nói một cách thẳng thắn. Đặc biệt, có một
viên đại tá, người mà tôi đã nói chuyện vào thời gian gần cuối nhiệm
kỳ của ông ta ở Việt Nam, đã có ý định chuyển giao lại những gì ông
ta thu thập được ở đất nước này cho một người nào đó mà người đó
có thể nói được với công chúng ở Washington. Ông đã cho tôi xem
các hồ sơ của Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ và kéo ra hàng đống
những cặp tài liệu, và tôi đã thức trắng mấy đêm để đọc, phân loại
các kế hoạch, báo cáo và các bản phân tích những chương trình của
chúng ta và triển vọng của nó ở Việt Nam.
Mùi mốc của tài liệu rách nát hiện hữu ở mọi chỗ, và ông bạn đại
tá của tôi cũng chẳng có một cố gắng nào để làm thay đổi tình trạng
này.
Ông ta nói với tôi rằng dưới sự trị vì của Tổng thống Ngô Đình
Diệm, một nhà lãnh đạo độc tài mà chúng ta đã lựa chọn cho miền
Nam Việt Nam trước bảy năm, thì cuối cùng trong vòng một hoặc hai
năm, Cộng sản gần như chắc chắn sẽ lên nắm quyền.
Nếu Diệm, người đã rất thành công trong năm trước đó bị phế
truất trong một cuộc đảo chính, thì Cộng sản thậm chí còn giành
thắng lợi nhanh hơn.
Hầu hết các sĩ quan của Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ đều
đồng ý với ông ta và với nhiều quan chức người Việt Nam rằng điều

duy nhất có thể làm thay đổi triển vọng này trong thời gian ngắn là
các lực lượng chiến đấu người Mỹ với qui mô lớn. (Hiệp định
Geneva năm 1954 chỉ cho phép 350 cố vấn quân sự của Mỹ có mặt
tại Việt Nam, cho dù bằng nhiều mưu mẹo khác nhau Mỹ đã cho tới
hơn 700 cố vấn). Vị đại tá này còn tin rằng kể cả các sự đoàn của Mỹ
vào cũng sẽ chỉ làm chậm lại hậu quả tương tự. Cộng sản sẽ nắm
quyền ngay sau khi lực lượng của chúng ta rút ra bất kể khi nào.
Đây không phải là tin tốt lành với tôi. Tôi là một chiến binh mùa
đông tận tâm và thực tế là một chiến binh nhà nghề. Tôi đã là thành
viên chống Xô viết từ cuộc đảo chính của người Séc và trận phong
toả Berlin năm 1948, khi tôi đang học năm cuối của trường trung học
và cuộc chiến tranh Triều Tiên khi tôi là sinh viên trường Harvard vài
năm sau đó. Trong thời gian phục vụ quân ngũ, tôi đã chọn Quân
đoàn Lính thuỷ đánh bộ và có 3 năm làm sĩ quan bộ binh. Từ vai trò
người lính thuỷ đánh bộ, tôi quay trở về Harvard để thi tốt nghiệp,
sau đó vào Công ty Rand, một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận với
vấn đề trọng tâm là các khía cạnh quân sự của cuộc Chiến tranh
lạnh. Công việc của tôi tới năm 1961 chủ yếu là ngăn cản một cuộc
tấn công hạt nhân bất ngờ từ Liên bang Xô viết. Tôi không thích gì
hơn khi được biết miền Nam Việt Nam, nơi mà Xô viết ủng hộ phe
Cộng sản, sẽ bị đánh bại với sự trợ giúp của chúng tôi. Nhưng
những cuộc tranh luận với viên đại tá đã làm tôi tin rằng miền Nam
Việt Nam không phải là nơi đó.
Khi tôi trở lại Công ty Rand một tháng sau, thông điệp của tôi tới
các cấp trên là, tốt nhất nên tránh xa Việt Nam, tránh xa các nghiên
cứu chống bạo loạn, ít ra là về Việt Nam. Tôi nói, chúng ta đang bị
lúng túng ở đó và tình hình sẽ không khá khấm hơn, người ta sẽ cản
trở và bôi nhọ mọi thứ liên quan tới Việt Nam vì đó sẽ là một thất bại.
Họ sẽ phải hứng chịu một số phận như những người dính líu vào vụ
Vịnh Con Lợn, trước đó chỉ vài tháng. Bản thân tôi cũng quyết định
không làm gì liên quan tới Việt Nam.
Một thời gian ngắn sau đó, Chính quyền Kennedy đã thể hiện một
thái độ hoàn toàn khác. Vài tuần sau khi tôi từ Việt Nam trở về, một
đoàn cố vấn của Nhà Trắng dưới sự chỉ huy của hai cố vấn cao cấp
của Tổng thống là tướng Maxwell Taylor và W. Rostow đã tới Sài
Gòn để nắm bắt tình hình. Họ phải đi đến quyết định cử các lực
lượng đổ bộ Mỹ sang Việt Nam. Ngay sau khi họ trở về một tháng,
Nhà Trắng tuyên bố tăng cường sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.
Giữa tháng mười một, Tổng thống Kennedy thực hiện một đợt tăng
cường nhân viên quân sự Mỹ tại Việt Nam, phá vỡ điều khoản đã
được đặt ra trong Hiệp định Geneva năm 1954. Ông ta tăng gấp đôi
số cố vấn quân sự trong hai tháng cuối của năm 1961 và cùng với
các đơn vị hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam:
các đại đội trực thăng các chuyên gia thông tin, vận tải, hậu cần và
tình báo.
Tôi thực sự không ngạc nhiên về việc này. Tôi rất vui vì trái ngược

với sự dự đoán của báo chí những tuần trước, tổng thống đã không
gửi thêm các đơn vị chiến đấu của Mỹ. Dù sao, tôi vẫn cho rằng sự
can thiệp gia tăng của Mỹ đã đi sai hướng. (Sự có mặt của cố vấn
Mỹ đã tăng tới 12.000 người vào lúc Tổng thống Kennedy chết năm
1963 và một số hàng viện trợ của Mỹ đang được bí mật chuyển tới
nhưng vẫn chưa có các đơn vị bộ binh).
Đó là những gì tôi lo sợ sẽ xảy ra; và cũng là lý do tại sao tôi có
quyết định quan trọng tách mình ra khỏi tiến trình này. Tôi đã giữ
chính kiến của mình trong ba năm tiếp theo.

Chương 1
Vịnh Bắc bộ - Tháng 8-1964

S
áng thứ Tư, ngày 4-8-1964, ngày đầu tiên của tôi với công việc
mới ở Lầu Năm Góc, một người đưa thư tới văn phòng đem theo
một bức điện khẩn cho cấp trên của tôi. Ông ấy đã đi vắng. Các thư
ký nói với anh ta là trợ lý Bộ trưởng John McNaughton đã ra ngoài
cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Họ chỉ anh ta tới
tôi, người trợ lý chuyện trách mới. Người đưa thư trao cho tôi bức
điện và đi.
Bức điện đến từ Hạm trưởng John J. Herrick, Phó chuẩn đô đốc
Đội tàu khu trục ở Vịnh Bắc Bộ, ngoài khơi miền Bắc Việt Nam tại
Biển Đông. Theo bản báo cáo, tàu của ông ta bị các tàu tuần tra của
Bắc Việt tấn công khi đang đi trong vùng hải phận quốc tế, trên 60
dặm ngoài khơi Bắc Việt và đã ra lệnh bắn trả.
Một ngư lôi đã va phải trạm thuỷ âm của tàu chỉ huy Maddox, một
ngư lôi khác sượt qua tàu khu trục Turner Joy.
Ngay khi đưa cho tôi bức điện, người đưa thư quay trở lại trung
tâm điện tín ở Viện An ninh quốc tế Lầu Năm Góc, Văn phòng Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng. Trong 10 phút anh ta quay lại chỗ tôi với một
bức điện khác trong cùng một seri: "Tôi bị ngư lôi tấn công liên tiếp"
[1]

Một vài phút sau, Herrick báo cáo một ngư lôi khác đã bị ông ta
bắn trả, hai ngư lôi khác đã lao xuống nước. Hai tàu khu trục của ông
ta bị tấn công và có thể một trong hai chiếc đã bị hư hại. Hai tàu đang
bắn trả bằng hệ thống vũ khí điều khiển bằng radar. Cuộc đụng độ
diễn ra vào một đêm tối, không trăng không sao, trong nhiều giờ tới
gần nửa đêm.
Đây là một sự kiện không bình thường. Chính xác đây là đợt tấn
công thứ hai vào tàu Hải quân của Mỹ kể từ Đại chiến thế giới II. Còn
đợt đầu chỉ cách trước đó không đầy 3 ngày, ngày chủ nhật, mồng 2
tháng tám, cũng là tàu Maddox của Herrick đang đi tuần trên Vịnh
Bắc Bộ. Vào giữa trưa, cách bờ biển 28 dặm, 3 thuyền ngư lôi của
Bắc Việt đã tấn công và phóng ngư lôi vào tàu Maddox. Tất cả các
quả ngư lôi đều trượt và không làm thiệt hại tới tàu khu trục, ngoại
trừ một viên đạn 14,5 ly trúng vào một ống khói. Các thuyền của Bắc
Việt đã bị hoả lực từ tàu Maddox, từ các máy bay hải quân trên tàu
sân bay gần đó bắn phá huỷ.
Từ đó không có một thương vong hay thiệt hại nào của phía Mỹ,

Tổng thống Johnson quyết định không thực hiện thêm hành động
nào, trừ việc đưa thêm tàu khu trục Turner Joy vào hoạt động. Hai
tàu khu trục được lệnh tiếp tục hoạt động như một đội tuần tra để
khẳng định quyền qua lại tự do của Mỹ trong hải phận quốc tế. Tổng
thống còn tuyên bố rằng trong trường hợp bị tấn công thêm, các tàu
tấn công sẽ bị không chỉ đánh lui mà là tiêu diệt. Ông ta đã gửi một
kháng nghị tới Hà Nội, cảnh báo "bất cứ một hành động quân sự nào
chống lại các lực lượng của Mỹ mà không phải do khiêu khích đều sẽ
mang lại những hậu quả nghiêm trọng khó tránh nổi"[2]. Tất cả những
điều này, trừ những công bố mới nhất, tôi đều đã đọc trên các tờ báo
sáng thứ Hai. Trưa hôm đó, đọc những thống kê được giải mật của
giai đoạn này, tôi đã học thêm được nhiều điều.
Giờ đây, mỗi khi có bức điện mới tới, tôi thường nhìn vào điểm
thời gian ở góc trái của các bức điện. Hai số đầu tiên chỉ ngày trong
tháng; 4 số tiếp theo, thời gian quân sự (24 giờ là nửa đêm), thời
gian chính xác khi bức điện được chuyển đi. Bức điện đầu tiên được
chuyển từ tàu chỉ huy của Herrick lúc 10h42 sáng, giờ Washington
(9h42 ở Vịnh Bắc Bộ). Tôi đối chiếu thời gian chuyển với đồng hồ
trên tường trong văn phòng của tôi ở Lầu Năm Góc, lúc đó khoảng
một tiếng rưỡi sau khi bức điện được chuyển, một khoảng thời gian
quá ngắn để một bức điện có thể tới được chỗ tôi. Sự thật tương tự
như thế với bức điện thứ hai, được gửi lúc 10h52 sáng giờ
Washington và tới tay tôi lúc 11h20 , và với các bức điện khác chỉ
mất ít phút. Herrick cho họ quyền cao nhất để chuyện các bức điện
bằng tay, vì thế họ có toàn quyền để chuyển và phân phát các bức
điện. Nhưng 20 phút hay 30 phút đều là một thời gian dài với một
hành động như vậy. Toà
 
Gửi ý kiến