Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

truyen-ki-mạn-lục

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:42' 06-02-2026
Dung lượng: 673.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Lời tựa
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Nhà văn Việt Nam, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh
Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành
đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về
ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải mấy mươi sương, chân không bước
đến thị thành". Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống
đồng thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc
Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng
viết trong thời gian ở ẩn, Tryền kỳ mạn lục (in 1768, A. 176/1-2) . Truyện
được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời
dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn, xen
lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc
của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra ở đời
Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là
Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những truyện lạ) , hình như tác giả
muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của một người chỉ ghi chép truyện cũ.
Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không
phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân
lục... mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó là một
tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự
hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện
một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là nhu cầu phản ánh của văn học.
Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ XV;
mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng
lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong
kiến ác liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc
sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế
phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống
đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước.
Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học. Và Nguyễn
Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân
vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ... tái tạo thành những thiên truyện mới.
Truyền kỳ mạn lục vì vậy, tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh
sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè
dặt khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc
lộ tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm
của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ

phong kiến đang suy thoái.
Trong Truyền kỳ mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ
bại, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục, có
truyện nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc
lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể hiện đời sống và lý tưởng của sĩ
phu ẩn dật... Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong
kiến một cách có ý thức. Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và mầu sắc
của cuộc sống, phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều
vấn đề của xã hội, con người được đề cập tới. Bất mãn với thời cuộc và bất
lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện quan niệm sống của
kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của người iều phu trong núi
Nưa. ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến thế sự, vẫn không quên đời, vẫn
nuôi hy vọng ở sự phục hồi của chế độ phong kiến. Tư tưởng chủ đạo của
Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia. Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội
là để cổ vũ thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong
kiến, phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương triều
lý tưởng trong tương lai, lên án bọn "bá giả" để đề cao đạo "thuần vương",
phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt
bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết
nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ
thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy
trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu
những tư tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư
tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân. Nguyễn Dữ đã
viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn khổ của tư tưởng chính
thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu
tố hoang đường, kỳ lạ. Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v. v. để lý giải
một cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm
nhân quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh hưởng
của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ, khi thể hiện đạo
đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự đối kháng giai cấp trong
xã hội. Cũng chính vì ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ khắt khe của
hệ ý thức phong kiến và muốn dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một
phạm vi rộng rãi, ông hay viết về tình yêu nam nữ. Có những truyện ca ngợi
tình yêu lành mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các
tầng lớp bình dân. Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra ngoài
khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của nho sĩ trụy lạc, lái
buôn hãnh tiến. Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo và phóng túng khi viết về
những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện sự nhượng bộ của tư
tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một số đô thị

đương thời. Tuy vậy, quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ
giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn
với lý lẽ bảo thủ trong lời bình. Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn trong tư
tưởng, tình cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong
tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội. Truyền kỳ mạn lục
có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ phong kiến và có
giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người, tỏ niềm thông cảm với nỗi
khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân. Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện
có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân
vật. Nó vượt xa những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và
cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít
đi sâu vào nội tâm nhân vật. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài
tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và
ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng,
súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của
thể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu
cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh
hưởng của sáng tác dân gian.
BÙI DUY TÂN
Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên
hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) , được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất
được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ
nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu
Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức
vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về
nuôi dưỡng mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội,
ông miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác
phẩm "thiên cổ kỳ bút" Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào
chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà
Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất (1547) và những ghi chép của Lê
Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người
cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít.
Giữa Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua
lại về tư tưởng, học thuật... nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò
của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà Mạc, thái
độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không làm quan với
nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã sống cuộc sống lâm tuyền suốt
quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục được hoàn thành ngay từ những năm
đầu của thời kỳ này, ước đoán vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ

XVI.
Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm
duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết
theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu
truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền uyết về các vị
thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị
Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội) . Truyện
được viết bằng văn xuôi Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối
mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ
chính kiến của tác giả. Hầu hết các truyện đều lấy bối cảnh ở các thời LýTrần, Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Thông
qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ..., tác phẩm muốn
gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự,
vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình;
những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành,
thậm chí đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội
rối ren như thế, nhiều tệ nạn thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch,
ma quỷ hoành hành, đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi,
học trò, thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người
dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ
dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của ông họ đều là
những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn
luôn phải chịu số phận bi thảm. Đến cả loại nhân vật "phản diện" như nàng
Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký) , nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện)
, các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều
vì số phận đưa đẩy, đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ
đáng bị trách phạt nhưng cũng đáng thương.
Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo,
ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng cõi tiên, song cơ bản
ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và ca ngợi những nhân cách
thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu nước, giúp dân không kể họ ở địa
vị cao hay thấp.
Truyền kỳ mạn lục ngay từ khi mới hoàn thành đã được đón nhận. Hà Thiện
Hán người cùng thời viết lời Tựa, Nguyễn Thế Nghi, theo Vũ Phương Đề
cũng là người cùng thời, dịch ra văn nôm. Về sau nhiều học giả tên tuổi Lê
Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều ghi chép về Nguyễn Dữ và định
giá tác phẩm của ông. Nhìn chung các học giả thời Trung đại khẳng định giá
trị nhân đạo và ý nghĩa giáo dục của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu hiện đại

phát hiện thêm giá trị hiện thực đồng thời khai thác tinh thần "táo bạo, phóng
túng" của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối đậm
màu sắc dục. Hành vi ấy tuy trái lễ, trái đạo trung dung nhưng lại đem đến
chút hạnh phúc trần thế có thực cho những số phận oan nghiệt. Về mặt thể
loại mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ
Việt Nam. Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của Cù Hựu nhưng Truyền kỳ mạn
lục vẫn là "áng văn hay của bậc đại gia", là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ
cũng như của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam.
TRẦN THỊ BĂNG THANH
Lời tựa (1)
Tập lục này là trước tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Ông
là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu (2) . Lúc nhỏ rất
chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương
truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội đỗ trúng
trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền (3) . Được một năm ông
từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu. Mấy năm dư không đặt chân đến chốn
thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này, để ngụ ý. Xem văn từ thì không
vượt ra ngoài phên giậu của Tông Cát (4) , nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu
quy củ khuôn phép, đối với việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ
đâu!
Vĩnh Định năm đầu (1547) ,
tháng Bảy, ngày tốt.
Đại An Hà Thiện Hán kính ghi
Kẻ hậu học là Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên.
(1) Lời Tựa này được chép trong Cựu biên Truyền kỳ mạn lục. Bản này hiện
chưa có trong các thư viện ở Hà Nội. Ở đây chúng tôi theo Việt Nam Hán
văn tiểu thuyết tùng san, Đài Loan thư cục in năm 1987. Tân biên truyền kỳ
mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm Cảnh Hưng 35 (1774) lấy lại lời tựa
này nhưng không ghi tên Hà Thiện Hán. Cuối bài ghi thêm "Nay xã trưởng
xã Liễu Chàng là Nguyễn Đình Lân soạn in vào năm Giáp Ngọ (1774) để
làm bản gốc cho nghìn vạn đời và để bán cho thiên hạ xem đọc".
Chú thích

(2) Nguyễn Tường Phiêu: người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc
tỉnh Hải Dương, đồ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Hồng Đức 27
(1496) đời Lê Thánh Tông; làm quan đến Thừa chánh sứ. Sau khi mất được
tặng chức Thượng thư, phong phúc thần.
(3) Thanh Tuyền: tức huyện Bình Xuyên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
(4) Tông Cát: Cù Tông Cát, tên là Cù Hựu, tác giả Tiễn đăng tân thoại.

Câu chuyện ở đền Hạng Vương (*)
Quan Thừa chỉ Hồ Tông Thốc (1) là người hay thơ, lại giỏi lối mỉa mai giễu
cợt, khoảng cuối đời Trần, phụng mệnh sang Trung Quốc, nhân đi qua đền
Hạng vương có đề thơ rằng:
Bách nhị sơn hà khởi chiến phong,
Huề tương tử đệ nhập Quan Trung.
Yên tiêu Hàm Cốc châu cung lãnh,
Tuyết tán Hồng Môn ngọc đẩu không.
Nhất bại hữu thiên vong Trạch Tả,
Trùng lai vô địa đáo Giang Đông.
Kinh doanh ngũ tải thành hà sự?
Tiêu đắc khu khu táng Lỗ công.
Dịch:
Nom nước trăm hai (2) nổi bụng hồng,
Đem đoàn tử đệ đến Quan Trung
Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh, (3)
Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không (4
Thua chạy giời xui đường Trạch Tả (5)
Quay về đất lấp nẻo Giang Đông (6)
Năm năm lăn lộn hoài công cốc
Còn được vùi trong mả Lỗ công (7) .
* Nguyên văn: Hạng vương từ ký.

Đề xong, ruổi ngựa trở về nhà trọ. Rượu say nằm ngủ, ông Hồ chiêm bao
thấy một người đến nói với mình rằng:
- Tôi vâng chỉ của đức vua tôi, mời ngài đến chơi nói chuyện.
Hồ vội vàng sửa sang quần áo. Người ấy đưa ông đi về mé tả, đến một nơi
cung điện nguy nga, quan hầu đứng sắp hàng răm rắp, Hạng vương đã ngồi
chờ sẵn, bên cạnh có cái giường lưu ly, mời ông lên ngồi. Rồi Hạng vương
hỏi rằng:
- Bài thơ ông đề lúc ban ngày, sao mà mỉa mai ta dữ thế! ừ thì hai câu: "Thua
chạy giời xui đường Trạch Tả, Quay về đất lấp nẻo Giang Đông" kể cũng là
đúng, nhưng đến hai câu "Năm năm lăn lộn hoài công cốc, Còn được vùi
trong mả Lỗ công", há chẳng phải là chê bai quá lời ư? Này như Hán làm
nên vạn thặng (8) ta cũng làm nên vạn thặng. Ta không diệt được Hán, Hán
lại có thể phong tước cho ta được ư? Đến ngay Điền Hoành (9) là một gã trẻ
con, còn không tham tước của Hán, và hổ thẹn tự sát mà chết; huống ta
đường đường một vị bá vương ở nước Sở, lại tự cam nhận lễ Lỗ công hay
sao? Kẻ kia làm việc ấy, chỉ là đem quàng cho ta một cái tước vị hão, để đền
bù lại sự hổ thẹn khi ở Hán Trung (10) thôi đó. Ta lại xin nói để ông rõ:
Ngày nhà Tần sổ mất con hươu (11) , người ta nổi dậy nhao nhao, tranh nhau
bắt lấy. Ta bấy giờ vì ghét người Tần mà nổi quân đánh Tần, tháo răng bừa
làm giáo, thổi cơm chiêm làm lương, tôi đòi đều là quân, hào kiệt đều là
tướng, phá xứ Ngô như hủy tổ kiến, lấy đất Hoài như đốt lông hồng, một trận
đánh mà quân Chương Hàm (12) phải tan, hai trận đánh mà miếu Tổ Long
(13) phải sụp. Đức nghĩa ban ra, nhiều nước được dựng lại, oai lệnh truyền
đi, bao kẻ thuận làm tôi. Đứng đầu Chư hầu là quân nước Sở, làm chúa Tam
Tần là tướng xứ Sở. Thiên hạ tước Sở có thể ngồi mà sai khiến được. Nhưng
rồi Sở phải chết vì Hán, há chẳng phải là bởi trời ư? Vậy thì khi trời định
giúp Hán, dù kẻ thổi kèn, dệt chiếu (14) cũng đủ để thành công; khi trời định
diệt Sở, dù người cất vạc, nhổ núi (15) cũng không thể nói giỏi. Phương chi
Chung Ly mạnh mẽ, chẳng kém Hoài Âm (16) á Phụ (17) khôn ngoan, thực
hơn Nhụ Tử (18) . Nếu ta nghe lời không cố chấp, nhân thua mà tính toán,
thì ruổi Ô truy bốn vó mỏi chồn, há không đủ cày lật cung đình Phong Bái,
thu Bành Thành (19) những quân tản mác, há không đủ đào tung miếu xã
Viêm Lưu. Nhưng chỉ vì thương lũ sinh linh, nên mới đem tấm thân tám
thước đường đường, ném vào tay lũ Vương ế (20) . Vậy sự hưng vong của
Hán, Sở, chỉ là do ở sự may rủi của trời mà thôi, há nên lấy thành bại mà so
bì ư? Nhưng đời những kẻ thích phẩm bình nhân vật, có kẻ bảo không phải
giời làm mất, có kẻ bảo giời có dính dáng gì. Thi nhân mặc khách thường
thường đem chuyện ta diễn vào trong thơ. Có câu thì:

Cái thế anh hùng sức nhổ núi,
Sở ca bốn mặt lệ tràn lan, (21)
Có câu thì:
Vua chẳng ra vua, tôi chẳng tôi,
Bên sông lập miếu cũng hoài thôi. (22)
Ngày chồng tháng chất, có đến hàng nghìn bài chứ không phải ít. Nhưng chỉ
có hai câu của Đỗ Mục: (23)
Giang đông tử đệ nhiều tay giỏi,
Cuốn đất quay về chửa biết đâu.
Lời thơ ủy khúc trung hậu, hợp cách luật của nhà thơ, đọc lên ta còn vừa
lòng đôi chút. Ngoài ra thì hầu toàn những lời phụ bạc, ta vẫn lấy làm bất
bình lắm, nay tiện dịp ta nói để cho ông rõ.
Ông Hồ cười mà rằng:
- Lẽ trời việc người, cũng là đầu cuối lẫn cho nhau. Bảo mệnh ở trời, (24)
Thương Trụ vì thế mà mất nước; bảo trời sinh đức, Tân Mãng vì thế mà bỏ
mình. (25) Nay nhà vua bỏ người mà đi bàn lẽ giời, vì thế đã đến táng bại
vẫn không tỉnh ngộ. Tôi bữa nay may mắn, được nhà vua vời đến tiếp kiến,
muốn xin được nói thẳng không giấu giếm gì, nhà vua nghĩ thế nào?
Hạng vương nói:
- Vâng vâng, ông cứ nói.
Ông Hồ nói:
- Phàm xoay cái thế thiên hạ, ở trí chứ không phải ở sức; thu tấm lòng thiên
hạ, ở nhân chứ không phải ở bạo. Nhà vua thì chỉ lấy quát thét làm oai, lấy
cương cường làm đức. Chém Tống Nghĩa là một tướng mạnh, (26) vô quân
đến đâu! Giết Tử Anh là người đã hàng, (27) bất võ quá lắm! Hàn Sinh vô
tội mà bị luộc, (28) hình pháp trái thường; A Phòng vô cố mà bị thiêu (29) ,
hung uy quá tệ. Cứ những việc của nhà vua làm thì được lòng người chăng?
hay mất lòng người chăng?

Hạng vương nói:
- Không phải như thế. Này như cái việc Hàm Đan, lấy một nước Triệu mới
dựng, chống với nước Tần sói hùm, thành bại chỉ ở trong một hơi thở, còn
mất chỉ ở trong chớp mắt. Vậy mà Nghĩa lần khân sợ sệt, chờ khi giặc mỏi
lười, dùng dằng trùng trình, cản đường quân tiến tới. Nếu mà kế trong trướng
không thi hành được, quân qua sông lại lữa lần thêm, thì dân chúng ở trong
thành Triệu, sẽ lại có cái thảm họa hơn là ở Trường Bình (30) thủa trước.
Vậy thì ta giết một Tống Nghĩa, mà cứu sống được tính mệnh cho trăm vạn
sinh linh, có gì là quá! Vua các nước đều là chư hầu, đều có chúng dân, có
xã tắc, tước thì của thiên vương phong cho, đất thì của thiên vương ban cho.
Vậy mà Tần lợi dụng đất cát, ngông cuồng giáp binh, mổ Hàn thịt Triệu,
hiếp Ngụy hại Yên, nam thì lừa Sở rồi bắt mà giữ lại, đông thì dối Tề để hãm
cho chết đói. Nếu không lật đổ ngôi Tần và tru diệt họ Tần thì cái hờn cắn
nuốt các nước, không biết ngày nào tiêu tan được. Cho nên ta giết một Tử
Anh để trả mối thù diệt vong cho sáu nước, có gì là tệ. Ôm bụng trung lương
là tiết lớn của kẻ làm tôi. Hàn Sinh thì không thế, khoe mẽ hợm mình, vong
ân bội nghĩa, múa lưỡi để chỉ nghị quân thần, khua môi để buông lời sàm
báng. Vì vậy ta đem làm thịt, để những kẻ bất trung biết mà răn sợ. Giữ thói
tiết kiệm là đức tốt của người làm vua, Thủy Hoàng thì không thế, xây cung
ở bên sông, mở đường ở ven núi, đắp nền cho cao bằng những hờn oán của
dân, chứa kho cho đầy bằng những máu mỡ của dân. Vì vậy ta đem đốt đi để
những vua đời sau biết nên dè sẻn. Nếu lại buộc tội về những điều ấy thì ta
trộm lấy làm không phục.
Ông Hồ nói:
- Thế thì sáu kinh trong lửa, đốt sách Thánh nhân, thước kiếm trên sông, giết
vua Nghĩa đế, những việc ấy chi mà nhẫn tâm như vậy! Sao bằng người Hán:
sợ lỗi phận vua tôi thì nghe lời Đổng công làm việc nhân nghĩa, khiến nền
nếp đế vương hầu rối mà lại sáng; sợ thất truyền đạo học thì về đất Khúc
Phụ, bày lễ thái lao, khiến dòng nguồn thi thư hầu đứt mà lại nối. Cho nên
người ta có câu nói rằng: "Hán được thiên hạ, không ở cất dùng Tiêu,
Trương, mà ở việc để trở (31) của ba quân, gợi lòng trung phẫn các hào kiệt;
Hán giữ thiên hạ không ở quy mô rộng lớn mà ở việc thân đến tế ở Khúc Phụ
(32) , mở nền nương tựa cho đời sau". Nhà vua thì so ví làm sao được với
Hán vương.
Hạng vương nghẹn lời không biết nói ra sao, sắc mặt tái như tro nguội. Bên
cạnh có một vị lão thần họ Phạm, tiến lên nói rằng:

- Tôi nghe, làm người ta không ngoài trời đất để mà sống, làm chính trị
không ngoài cương thường để dựng nước. Bầy tôi của Đại vương đây có
người tên là Cữu (33) tiết cứng như tùng, lòng bền tựa đá, sa cơ không chịu
sống nhục, liều mình để được thác mà vinh; nếu không phải nhà vua biết
cách chống ngự thì sao có sự tử trung ấy! Truyện (34) có nói rằng: "Vua
khiến bề tôi lấy lễ, bề tôi thờ vua lấy trung"; ở Đại vương đây, chính là đã
đúng hợp với câu ấy. Chứ như kẻ kia, sai Ung Sỉ giữ đất Phong thì Ung Sỉ
đầu hàng, (35) sai Trần Hy (36) coi nước Triệu thì Trần Hy làm phản; đạo
cương thường hỏi ai là hơn? Hậu cung của Đại vương có bà họ Ngu, mệnh
nhẹ lá thu, hồn theo bóng kiếm, gửi lòng thơm ở ngọn cỏ tịch mịch, chôn
hờn oán ở cánh đồng hoang vu (37) , nếu không phải nhà vua biết lẽ cư xử
thì sao có sự tận tiết ấy! Kinh Thi có câu rằng: "Dạy vợ mình trước, sẽ trị
nhà nước"; ở Đại vương đây chính là đã xứng đáng với câu ấy. Chứ như kẻ
kia, Lã Trĩ ngông ngạo mà làm việc dâm tà (38) , Thích Cơ được yêu, rồi
đầy thân con lợn (39) ; lẽ cương thường hỏi bên nào hơn? Huống chi như trái
lẽ trời mà bảo sẻ chén canh, yêu con bé mà coi thường gốc nước; (40) luân
thường cha con hỏi rằng để đâu? Những người nghị luận ở đời sau, chẳng so
nặng nhẹ, chẳng xét phải trái, lòng không suy nghĩ, miệng chỉ quàng xiên,
đối Hán thì khen ngợi chẳng tiếc lời, đối Sở thì chê bai không tiếc sức, khiến
đấĐại vương của chúng tôi trong cõi u minh cứ phải chịu những lời mỉa mai
cay độc. Vậy mong những điều nhơ tiếng xấu, phiền ông gột rửa giùm cho,
cũng là một việc thú trong cuộc gặp gỡ của chúng ta.
Ông Hồ thấy lời nói cũng hơi có lý, gật đầu hai ba lần, rồi ngoảnh bảo những
người theo:
- Các ngươi ghi nhớ lấy.
Rồi đó canh tàn trà cạn, ông đứng dậy từ giã xin về; Hạng vương đưa chân ra
đến cửa thì phương đông đã dần sáng rạng. Ông xốc áo vùng dậy, té ra là
một giấc chiêm bao, bèn mua rượu và nem bày một lễ cúng ở đầu thuyền
trước khi rời khỏi đấy.
Lời bình:
Than ôi, so Sở với Hán thì Hán
 
Gửi ý kiến