Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

-chat-voi-rene-descartes

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:31' 06-03-2026
Dung lượng: 3.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging–in–Publication Data
Bùi Văn Nam Sơn
“Chat” với René Descartes (1596-1650) / Bùi Văn Nam Sơn. - In lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh :
Trẻ, 2016.
278 tr. ; 20cm. - (Triết học cho bạn trẻ).
1. Descartes, René, 1596-1650. 2. Nhà triết học -- Pháp. I. Ts.
1. Descartes, René, 1596-1650. 2. Philosophers -- France.
194 -- ddc 23
B932-S70

N X B Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G I A T P. H C M
N H À X UẤT B Ả N T R Ẻ

Mục lục
Lời nhà xuất bản

7

Đôi lời cùng bạn trẻ!

9

Danh mục tác phẩm của Descartes được trích dẫn

11

1 Từ chiếc nôi... kinh viện

13

2 Ba cơn mơ... định mệnh

22

3 Ngôi nhà mới

29

4 Từ “Những suy niệm” đến... Bà hoàng Thụy Điển! 38
5 Một lần nữa, xin hỏi... Cụ là ai?

48

PHƯƠNG PHÁP LUẬN
6 Hai mặt trận

56

7 Gỡ tấm mặt nạ cho... khoa học!

63

8 “Cái đơn giản” là gì?

67

9 Có thật là “không thể nghi ngờ?”

77

10 “Đại nghi đại ngộ” hay thế nào là sự hoài nghi

có phương pháp?

84

11 Ba cấp độ hoài nghi

91

12 “Tà Thần”

97

13 Làm sao nối được nhịp cầu?

101

14 Dự phóng ban đầu: giải thích hay hoài nghi?

106

15 Chuyển sang mô hình hoài nghi

112

16 Luận cứ “Cogito”:

Tôi? Tư duy? Vậy? Tôi? Tồn tại?

117

17 Trên đôi cánh “ý niệm”

127

18 Có mấy loại “ý niệm”?

133

19 “Rõ ràng” và “phân minh”?

138

20 Ý thức

145

5

SIÊU HÌNH HỌC
21 “Nhị nguyên” hay “tam nguyên”?

156

22 Thế nào là “sự vật hoàn chỉnh” (Ens per se)?

164

23 Hồn & xác tương tác?

171

24 “Vòng tròn Descartes” (1)

179

25 “Vòng tròn Descartes” (2)

186

26 Hiện hữu là một thuộc tính?

192

27 Có chân lý vĩnh cửu không?

199

NHÂN HỌC VÀ ĐẠO ĐỨC HỌC
28 “Con ma trong cỗ máy”?

206

29 Từ ngôi thứ nhất, số ít...

212

30 “Thịt xương là sông núi?”


(Ta - người khác - thú vật và máy móc)

218

31 “Bộ quy tắc đạo đức lâm thời?”

226

32 Triết học Descartes: mấy bước thăng trầm

233

33 Descartes ngày nay

241

Phụ lục 1

249

Descartes và Bacon

249

Phụ lục 2

253

Tóm lược lập luận trong “Những suy niệm siêu hình
253
học” của Descartes
Phụ lục 3

267

“LES PASSIONS DE L'ÂME”: Một tác phẩm độc đáo



khó xếp loại

267

“PASSIONS” là gì?

270

Tình yêu là gì?

273

NIÊN BIỂU TÓM TẮT

275

6

Lời nhà xuất bản

Bạn đã bao giờ chứng kiến cuộc “đối thoại” kỳ lạ
giữa một nhà nghiên cứu triết học thời nay với các
triết gia quá cố chưa? Chuyện tưởng như đùa ấy sẽ
trở thành... “sự thật”, khi chúng tôi xin lần lượt giới
thiệu cùng bạn đọc các cuộc “chat” (tưởng tượng!)
giữa nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn và
các triết gia nổi tiếng trong quá khứ, trong đó tác
giả Bùi Văn Nam Sơn sẽ nhập thân trong cả hai
vai! Sau hai cuộc đối thoại đầu tiên với Hannah
Arendt, khuôn mặt nữ triết gia nổi bật của thế kỷ
20; và John Locke, đại triết gia Anh thế kỷ 17; khách
mời thứ ba sẽ là René Descartes, đại triết gia Pháp
thế kỷ 17, tiền bối của John Locke, người được tôn
vinh là "cha đẻ" của triết học Tây phương hiện đại.
“Chương trình giao lưu” sẽ tiếp tục với các tên tuổi
sáng giá khác.
Bùi Văn Nam Sơn là nhà nghiên cứu triết học đã
đóng góp nhiều tác phẩm và công trình dịch thuật
quan trọng thời gian qua. Trong loạt sách mới này,
bằng ngôn từ giản dị, vui tươi, nhẹ nhàng nhưng
không kém phần nghiêm túc, ông sẽ giới thiệu
về cuộc đời, các giai đoạn tư tưởng và những tác

7

phẩm nổi bật của từng tác giả. Hy vọng hình thức
giới thiệu sinh động này sẽ góp phần vào việc tìm
hiểu lịch sử triết học và giúp bạn đọc có thêm cảm
hứng để dấn thân trên hành trình tư tưởng gian khổ
nhưng đầy mê hoặc.
Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc
NXB Đại học Quốc gia TP. HCM
NXB Trẻ

8

Đôi lời cùng bạn trẻ!
“Dữ quân nhất dạ thoại, thắng độc thập niên
thư”. Đọc sách mười năm không bằng một
đêm được... “Chat” (tưởng tượng!) với các...
cụ. Thật thế chăng, thưa không dám chắc!
Và làm sao có chuyện ấy được? Nhưng, vui
và gây cảm hứng để các bạn tự tiếp tục lên
đường, đó là mục đích của... “chương trình
phát sóng” này. Mong Quý bạn vui vẻ đón
nhận và chia sẻ!
Bùi Văn Nam Sơn

9

Danh mục tác phẩm của Descartes
được trích dẫn
Trong sách này, tác phẩm của Descartes được
trích dẫn thống nhất từ ŒUVRES DE DESCARTES/
TÁC PHẨM CỦA DESCARTES (11 tập, bản mới,
được ấn hành ở Paris từ 1981) do Charles Adam và
Paul Tannery ấn hành (nên thường được viết tắt là
“AT”), kèm số tập và số trang, theo thói quen của
giới nghiên cứu về Descartes.
Tên các tác phẩm chính thường trích dẫn sẽ được
viết tắt sau lần giới thiệu đầu tiên:
Discours: Discours de la Méthode/ Luận văn về
Phương pháp (AT VI)
Meditations: Meditationes de prima philosophiae
(La-tinh)/ Những suy niệm về Đệ nhất triết học/
Méditations métaphysiques (bản dịch tiếng Pháp)/
Những suy niệm siêu hình học (AT VII)
Principia: Principia philosophiae (La-tinh)/ Les
Principes de la philosophie (bản dịch tiếng Pháp)/
Những Nguyên lý triết học (AT VIII - 1)
Passions: Les Passions de l'âme/Những xúc cảm
của linh hồn (AT XI)

11

Các bạn dễ dàng tìm các bản dịch tiếng Anh
tương ứng trên mạng. Được khuyến khích đọc là
bộ The Philosophical Writings of Descartes (do J.
Cottingham ấn hành), Cambridge 1984-1991.
Trong tiếng Việt, có các bản dịch:“Phương pháp
luận Descartes”(1973) và “Những suy niệm siêu
hình học của Descartes” (1962) của Giáo sư Trần
Thái Đỉnh.

12

1
Từ chiếc nôi... kinh viện
ÈÈThưa Cụ, Cụ là một nhân vật lừng danh và thật đa
diện! Ngay ở Việt Nam xa xôi của chúng tôi, ít ai đã học
toán và tốt nghiệp trung học mà không một lần nghe
đến đại danh của Cụ. Nào là "định lý Descartes", "tọa độ
Descartes"... Nhưng có người còn ví Cụ với... nàng Mona
Lisa1. Nụ cười bí hiểm, phơ phất như khói như mây của
nàng làm mọi người thẫn thờ, ái mộ, nhưng có mấy ai
chịu khó đến bảo tàng Louvre ở kinh đô nước Pháp để
tận mắt chiêm ngưỡng nàng? Số người nghiên cứu tận
tường về... nụ cười ấy, bức tranh ấy càng ít hơn nữa!
Thiên tải nhất thì, hay xin nói chính xác theo tinh thần
của Cụ, hơn 400 năm đã trôi qua, mong Cụ cho một lần
được chiêm ngưỡng... “Lư sơn chân diện mục”!2
R.D: Quoi?
1. Mona Lisa: bức tranh nổi tiếng của Leonardo da Vinci (14521519).
2. Thơ Tô Đông Pha: “Bất thức Lư sơn chân diện mục, chỉ duyên thân
tại thử sơn trung” (Không biết hình dáng thật của núi Lư như thế
nào, bởi người ngắm núi đang ở ngay trong núi).
“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 13

ÈÈThưa Cụ, thì Cụ chẳng đã được hậu thế tôn vinh là
Người Cha của triết học hiện đại, thậm chí của cả thời
hiện đại đó sao? Cụ cũng đi vào lịch sử khoa học như
người kết nối tư duy triết học với tư duy toán học và
nghiên cứu tự nhiên. Nói gọn, Cụ là tất cả cùng một lúc:
nhà nhận thức luận, nhà siêu hình học, nhà toán học,
nhà triết học về tự nhiên, nhà khoa học luận, nhà nhân
học triết học... Tất cả cùng một lúc như thế, không lạ
lùng và... hấp dẫn sao được?
R.D: Không chừng tôi trở thành nạn nhân của chính lối
tư duy... “nhị nguyên” mà người ta thường hay nghĩ về
tôi! Hiện nay, người ta còn hiểu tôi theo lối đó?
ÈÈThưa Cụ, quả có thế thật! Cụ đa diện quá, nên có khi
buộc người sau phải nhìn Cụ từ nhiều góc độ như trong
chiếc kính vạn hoa. Có hai hướng nghiên cứu khác nhau
về Cụ hiện nay, thưa Cụ: một hướng là viết lịch sử tư
tưởng theo truyền thống triết học phân tích Anh - Mỹ,
đặt cuộc thảo luận về cấu trúc của lập luận và luận cứ
- mà Cụ là bậc đại cao thủ! - lên hàng đầu. Tức là thảo
luận về các luận cứ nổi tiếng của Cụ như “Tôi tư duy”,
“Tà thần lừa dối”,... xem có ổn không. Hướng thứ hai
xuất phát từ lịch sử khoa học, nghiên cứu mối quan hệ
giữa sự phát triển về lý thuyết trong triết học và trong
khoa học tự nhiên, từ bối cảnh lịch sử của nó. Thưa, làm
sao có thể tìm hiểu Cụ như... chính bản thân Cụ?
R.D: Tôi cũng không biết! Nhưng có lẽ tôi khác phần
nào với ông bạn Hegel, trẻ hơn tôi gần... 200 tuổi! Ông
14



“Chat” với René Descartes

ấy bảo rằng triết học là những chân lý khách quan, độc
lập với cá nhân nhà triết học: “Trong triết học của tôi,
cái gì là “của tôi” thì là sai!”. Ổng bảo thế! Mọi tình tiết
về tiểu sử, do đó, chẳng có ý nghĩa gì hết! Tôi thì sống,
suy nghĩ, làm việc trong những kích thước bình thường
của con người, không “thần thánh” gì cả!
ÈÈThưa Cụ, Cụ sống trong thời kỳ đầy những biến động
ghê gớm về chính trị và tôn giáo. Hơn nửa đời người, Cụ
chứng kiến cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt ba
thập niên, gọi là cuộc chiến “Ba mươi năm”. Nhưng Cụ
khéo léo tuân theo lời khuyên của thi hào La Mã Ovid:
“Bene vixit, bene qui latuit”1 (Muốn an cư thì hãy ẩn
dật!), nên tránh được nạn binh hỏa. Tuy nhiên, Cụ lại
tham gia tích cực vào các cuộc đảo lộn trong khoa học và
triết học ở thời Cụ. Cụ thuộc thế hệ những nhà tư tưởng
tiền phong của thời Cận đại sơ kỳ, tiến hành “cuộc cách
mạng khoa học” vượt qua thế giới quan kinh viện kiểu
Aristoteles để hướng về nền vật lý học cơ giới luận và nền
siêu hình học “nhị nguyên”. Cuộc sống ẩn dật, không
thèm để mắt đến “những tấn trò đời” như Cụ nói, lại cho
phép Cụ... cách tân khoa học!
R.D: Tuổi thơ tôi nhiều bất hạnh. Sinh ngày 31.03.1596
ở La Haye (nay mang tên tôi!), một làng nhỏ gần Tours,
cùng lớn lên với hai chị gái. Mới mười bốn tháng tuổi,
đã mất mẹ, phải về sống với bà ngoại, Jeanere Sein. Tuổi
thơ ốm yếu, ảnh hưởng nhiều đến sức làm việc sau này.
Các thầy thuốc tiên đoán tôi khó sống được đến tuổi
1. Ovid, Tristia III, iv, tr. 25.
“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 15

Chàng thư sinh Descartes.

trưởng thành! Từ đó có thói hư không tránh khỏi: suốt
đời quen nằm “nướng” trên giường đến trưa trầy trưa
trật, đọc sách cũng trên giường, suy nghĩ và viết cũng
ngay trên giường!
ÈÈThế cha của Cụ? Chắc rất tự hào về Cụ?
R.D: Trái lại thì có! Cha tôi làm cố vấn trong nghị viện ở
Rennes, rất bận rộn, nên ít đoái hoài gì đến tôi! À, nhớ
rồi. Sau khi tôi công bố Discours de la Méthode1 (Luận
1. Từ đây viết tắt là: Discours.

16



“Chat” với René Descartes

văn về phương pháp) năm 1637 được cả... thế giới công
nhận, thì cha tôi chỉ bảo: “Trong đám con cái, tôi chán
thằng này nhất! Chẳng lẽ tôi đẻ ra thằng con để nó làm
trò cười là chịu bó chặt cuộc đời trong tấm áo da cừu?”1.
“Áo da cừu” là... bìa sách đấy!
ÈÈChắc ông cụ muốn... mắng yêu thôi! Tấm áo da cừu ấy
sẽ đáng giá nghìn vàng đấy, Cụ ạ! Thế Cụ được học hành
thế nào, hở Cụ?
R.D: Nhớ lại mà thấy sợ cho một thằng bé ốm yếu như
tôi! Lên mười tuổi (1606) tôi vào học ở học viện dòng
Tên ở La Flèche (Anjou) mới được vua Henri IV nổi
tiếng thành lập hai năm trước đó. Tôi học ở đó suốt 8
năm liền, được hưởng một nền giáo dục nhân văn và
kinh viện thật bài bản nhưng cũng thật vất vả!
ÈÈThời ấy, chương trình học ra sao hở Cụ?
R.D: Năm năm đầu chỉ chuyên học ngữ pháp và tu
từ tiếng La-tinh và cắm đầu cắm cổ đọc các nhà kinh
điển cổ đại. Ba năm sau mới bắt đầu học triết học đúng
nghĩa!
ÈÈHọc những gì hở Cụ?
R.D: Thì năm thứ sáu học biện chứng pháp, năm thứ bảy
học triết học tự nhiên, năm thứ tám học đạo đức học.
1. Adam, Charles, Vie et oeuvres de Descartes, Paris, 1910, tr. 433
và tiếp.
“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 17

ÈÈHơi khác với cách học triết học ngày nay ở các nước Âu
- Mỹ, thường bắt đầu với đạo đức học cho nó... cụ thể, rồi
“trừu tượng” dần lên!
R.D: Thế nên phải nặn óc ra mà học!
ÈÈCụ thể, học làm sao, thưa Cụ?
R.D: Chỉ tập trung đọc và diễn giải các văn bản kinh
điển theo phương pháp kinh viện quen thuộc! Chủ yếu
là dựa vào bộ Toàn thư của cụ tổ sư Aristoteles (384-322
trước Công nguyên), nhưng chỉ theo từng đoạn trích và
thường đọc chung với các bản chú giải có thẩm quyền.
Thông thường là chú giải của Thomas Aquino, nhưng
trong dòng Tên, chủ yếu là chú giải của Suárez, Toletus
và Fonseca...
ÈÈThưa Cụ, sau này, khi thuật lại thời kỳ này, Cụ lại có
cái nhìn đôi khi mâu thuẫn...
R.D (cười): Lúc đầu quả tôi có phần bóp méo những gì
được giảng dạy ở La Flèche, vì... bực quá!
ÈÈChẳng hạn, thưa Cụ?
R.D: Tôi bảo rằng, theo học thuyết kinh viện thì đối
tượng vật chất là gồm có mô thức và chất liệu. Tổ sư
Aristoteles quả có dạy thế thật! Nhưng tôi giải thích mô
thức như là một lực bí ẩn điều khiển và hướng đối tượng
18



“Chat” với René Descartes

Nơi sinh của Descartes.

đến một mục tiêu nhất định nào đó1. Thật ra không
phải như thế! Thứ nhất, mô thức hay hình thức (forme)
là nguyên tắc đồng nhất và thống nhất hơn là một lực bí
ẩn nào đó, và thứ hai, không có gì ở bên trong để điều
khiển đối tượng một cách huyền bí cả, mà cùng lắm là
quy định sự vật theo kiểu mục đích luận2 thôi. Chỉ vì tôi
muốn “bác bỏ” học thuyết kinh viện cho... nhanh ấy
mà! Đôi khi, cách giải thích của tôi còn “đoạn văn thủ
nghĩa”, tách vấn đề ra khỏi văn cảnh chung nữa!
1. AT VIII-1, tr. 322.
2. Téléologique/teleological.
“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 19

ÈÈHậu sinh chúng tôi đọc Cụ cũng có cảm tưởng như
thế! Nhưng về sau, chính Cụ rất tán dương Học viện ở La
Flèche là “một trong những trường học tốt nhất của châu
Âu”1 và còn khuyên người bạn nên gửi con đến đấy học
kia mà!2

Ngôi trường La Flèche cuối thế kỷ 17.

1. AT VI, tr. 5.
2. AT II, tr. 377 và tiếp.

20



“Chat” với René Descartes

R.D: Đúng thế đấy! Trong phần đầu của Discours 1,
tôi tán dương việc dạy ngữ pháp và tu từ học đến nơi
đến chốn ở ngôi trường cũ. Tôi có phê bình nặng lời
thì không phải tôi khinh thường lối học kinh viện mà
vì sự phiến diện và nhất là sự cổ hủ, không còn hợp
thời của nó. Do quá muốn tìm hiểu Aristoteles và các
bậc tiên hiền trong quá khứ, nên kinh viện học ít chú ý
đến những vấn đề thời sự. Biết bao nhiêu vấn đề nóng
bỏng và hấp dẫn - như của vật lý học và sinh lý học
- đều được lý giải một cách gượng ép bằng mô hình
Aristoteles cả, trở nên vô vị và thiếu thuyết phục. Khó
lòng chờ đợi sự tiến bộ về triết học và khoa học nếu cứ
tiếp tục như thế!

1. AT VI, tr. 6

“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 21

2
Ba cơn mơ... định mệnh
ÈÈNăm 1614, Cụ rời La Flèche. Tiếp theo thế nào, thưa Cụ?
R.D: Tôi ghi danh học đại học Poitiers, hai năm sau
có được mảnh bằng cử nhân (licence) về ngành luật.
Nhưng tôi chẳng tha thiết với sự nghiệp chính trị hay
luật pháp tí nào cả! Tôi quyết định “không đi tìm một
tri thức nào bên ngoài những gì ở bên trong tôi hoặc
trong quyển sách vĩ đại của thiên nhiên. Tôi dành phần
còn lại của tuổi xuân để ngao du sơn thủy, tham quan
các triều đình và các đội quân, giao du với đủ hạng
người đủ loại tính khí và thành phần để thu thập thêm
kinh nghiệm, gặp gỡ bất cứ ai do số phận đưa đẩy, và
nhất là suy nghĩ về những điều chắc rằng sẽ có ích cho
mình về sau”1, như tôi đã nêu trong phần tự thuật của
quyển Discours.
ÈÈTại sao lại tham quan “các đội quân” hở Cụ?

1. AT VI, tr. 9.

22



“Chat” với René Descartes

R.D: À, thời loạn lạc ấy mà! Lúc ấy cả châu Âu chia năm
xẻ bảy bởi các cuộc xung đột gọi là Cuộc Chiến Ba Mươi
Năm (1618-1646). Các đội quân đua nhau mời... tham
quan để chiêu mộ binh sĩ!
ÈÈCụ gia nhập chứ?
R.D: Có, ham vui thôi! Tôi đăng ký tòng chinh, lúc đầu
theo quân đội của Maurice de Nassau của Hà Lan, sau
đó là đội quân của công tước Maximilian xứ Bavaria
[nay là tiểu bang Bayern, miền Nam nước Đức].
ÈÈCậu bé ốm yếu ngày nào bây giờ là một chiến binh!
Nghe nói Cụ cũng tinh thông... kiếm thuật không thua
gì... “ba chàng ngự lâm pháo thủ”, đúng không ạ?
R.D (cười): Mang kiếm để... đón gió thu như Hồng sơn
liệp hộ nhà anh thôi1, chứ có muốn đâm chém ai đâu!
Nhưng một lần suýt chết ở Hà Lan do bị bọn thủy thủ
tấn công, nhờ mũi kiếm “thần sầu” ấy mà bọn chúng
hoảng vía, bỏ chạy tán loạn đấy!
ÈÈCụ tham gia quân đội lâu không ạ?
R.D: Việc binh không hợp với tôi! Chỉ vài tháng vào giữa
1618-1619 rồi tôi... cáo biệt!

1. Thơ Nguyễn Du: Ký hữu: “... Nhãn để phù vân khan thế sự. Yêu gian
trường kiếm quải thu phong...” (“... Chuyện đời ghé mắt mây lơ
lửng/Gươm báu cài lưng gió hắt hiu...”, Quách Tấn dịch).
“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 23

ÈÈỞ Hà Lan, Cụ có một duyên kỳ ngộ?
R.D: Lý do khiến tôi “giã từ vũ khí” đấy! Ngày 10.11.1618
tại thành phố Breda, Hà Lan, tôi thấy một áp phích
viết bằng tiếng Hà Lan, tôi nhờ một khách qua đường
dịch hộ. Té ra cáo thị ấy nêu một vấn đề hình học, tôi
giải quyết cái rẹt, và người khách lạ đang kinh ngạc ấy
là Isaac Beeckman, nhà y học và nghiên cứu tự nhiên.
Thế là chúng tôi bắt đầu bàn đủ chuyện về khoa học.
Ông bạn ấy kích thích tôi quan tâm đến nền tảng toán
học của khoa học tự nhiên và vấn đề phương pháp luận.
Ông ấy lại khuyên tôi nên theo đuổi cuộc đời lao động
trí óc hơn là đời lính - nguy hiểm nhưng vô tích sự! Hai
chúng tôi trở thành bạn thân kể từ dạo ấy, và năm sau,
1619, tôi tặng công trình đầu tay của tôi cho Beeckman
làm quà năm mới. Đó là quyển Compendium Musicae,
giải thích hòa âm trong âm nhạc dựa vào thuyết tỉ lệ
trong toán học!1
ÈÈSau khi “giã từ vũ khí”, Cụ ngao du đến đâu?
R.D: Tôi sang Frankfurt để xem lễ đăng quang của vua
Ferdinand II, rồi xuôi về miền Nam ở Bayern. Mùa đông
ập đến sớm, tuyết phủ đầy trời, tôi kẹt lại ở Ulm suốt
mấy tháng! Anh bạn biết thành phố Ulm chứ?
ÈÈVâng, có biết! Thành phố cổ kính, xám xịt, buồn
thấu xương, gần Stuttgart ngày nay!

1. AT X, tr. 101.

24



“Chat” với René Descartes

R.D: Mấy tháng bị trói chân này quan trọng với tôi lắm!
Tôi có mô tả kỹ trong phần hai của Discours đó!
ÈÈThế nào ạ?

R.D: Thì trong cảnh cô liêu, không bạn bè, lại chẳng
bận bịu việc gì, tôi đắm chìm vào suy tư triết học
trong căn phòng trọ ấm áp, tha hồ ngao du trong thế
giới tư tưởng!
ÈÈCụ khiến tôi nhớ đến cảnh Lý Bạch “nguyệt hạ độc
chước”, uống rượu một mình dưới trăng!

R.D: Làm gì có rượu, có hoa như Lý Bạch!1. Toàn bão
tuyết và bão tuyết thôi! Sau một ngày nỗ lực suy tư, tôi
mệt mỏi chìm vào giấc ngủ. Đó là đêm 10, rạng ngày
11.11.1619, không thể nào quên!
ÈÈGiấc ngủ thì có gì đáng nhớ, thưa Cụ?

R.D: Vì tôi trải qua ba cơn mơ sẽ định hướng cả đời
tôi! Tôi ghi lại trong sổ tay, nay đã mất, nhưng được
Adrien Baillet, người đầu tiên viết tiểu sử của tôi2, ghi
lại tận tường.

1. Lý Bạch, Nguyệt hạ độc chước: “... Hoa gian nhất hồ tửu/ Độc chước
vô tương thân...” (Giữa bụi hoa với bình rượu, uống một mình
không có ai cùng cạn).
2. Adrien Baillet, La Vie de M. Des-Cartes, 2 tập, Paris, 1691.
“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 25

ÈÈThú vị quá, xin Cụ kể lại cho nghe!
R.D: Cơn mơ thứ nhất, tôi thấy mình bị một cơn gió lốc
tạt mạnh vào bên trái, khiến không đứng vững được
nữa. Tôi cố chạy vào ngôi nhà thờ bên vệ đường để
tránh bão, nhưng không được. Bỗng nhiên tôi nghe như
có ai gọi, và một người lạ mặt trong sân nhà thờ trao
cho tôi gói quà nhờ trao lại cho ông N. nào đó. Quà tặng
là một quả dưa từ vùng đất lạ. Tôi chợt tỉnh lại, thấy đau
nhói bên trái và kinh hoàng suốt cả tiếng đồng hồ vì
nghĩ rằng có vị ác thần nào đó muốn ám hại tôi.
ÈÈCụ ngủ lại được chứ?
R.D: Vừa chợp mắt lại, cơn mơ thứ hai ập đến. Lần này
còn kinh khủng hơn! Tôi nghe một tiếng sét đinh tai và
thấy mình bị mắc kẹt trong một căn phòng đầy lửa chớp
sáng lòe. Tôi cố ngủ lại và may là cơn mơ thứ ba êm dịu
hơn nhiều. Tôi thấy trên bàn có hai quyển sách, đó là
một từ điển và một tập thơ. Mở tập thơ xem thử thì gặp
câu của Ausonius: “Quod vitae seetabor iter?” (Tôi sẽ
chọn nẻo đường đời nào đây?). Rồi bỗng một người xa
lạ xuất hiện, trao tôi một bài thơ, bắt đầu với ba từ “Est
et non” (Tồn tại và không tồn tại). Tôi đoán câu bí hiểm
này cũng của Ausonius, muốn tìm lại tập thơ thì không
còn thấy nữa. Người đàn ông cũng biến mất, và trong
cơn mơ màng, tôi đã thấy mình bắt đầu tìm hiểu ý nghĩa
của ba cơn mơ!

26



“Chat” với René Descartes

ÈÈThưa Cụ, “motif” của ba cơn mơ khá quen thuộc
trong lịch sử triết học như là báo hiệu một sự... hồi đầu
thị ngạn, quay đầu lại thấy bờ! Ta nhớ đến “thị kiến”
của Rodophilus Staurophorus trong quyển Raptus
philosophicus (công bố năm 1619), nhưng không thấy
có liên quan trực tiếp nào đến Cụ. Bao nhiêu nhà viết
tiểu sử về Cụ tìm cách giải thích nó, kể cả theo phương
pháp phân tâm học, nhưng quan trọng là chính Cụ
“đoán điềm giải mộng” như thế nào!
R.D: Tôi thì nghĩ rằng hai cơn mơ đầu thức tỉnh tôi khỏi
lối sống trước nay. Trong cơn mơ thứ nhất, tôi bị ngăn
không cho đến được nhà thờ, có nghĩa tôi bị ngăn cản
trước sứ mệnh thật sự của đời mình. Cơn bão là tà thần
ngăn bước chân tôi. Quả dưa không nhận được tận tay
đó là lời khuyến dụ nên sống cô đơn, ẩn dật. Tiếng sét
và ánh lửa chớp sáng lòe trong cơn mơ thứ nhì là “dấu
hiệu của chân lý”. Quyển từ điển trong cơn mơ thứ ba
hẳn nhiên là biểu trưng của toàn bộ khoa học; tập thơ
là biểu trưng cho triết học và sự hiền minh. Câu thơ
“Est et non” của Ausonius - vốn là một nguyên lý của
Pythagoras - biểu trưng cho việc đúng sai. Cả ba cơn mơ
là dấu hiệu kêu gọi tôi... “đáo bỉ ngạn”, hãy sang bờ bên
kia thôi!
ÈÈThế là Cụ dứt khoát giã từ binh nghiệp, bắt đầu chọn
con đường lao động trí óc? Ba cơn mơ không chỉ làm
thay đổi đời Cụ, mà còn thay đổi cả vận mệnh của triết
học Tây phương đấy, Cụ ạ!

“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 27

R.D: Đúng thế, tôi sang Đức, Hà Lan, Ý, rồi năm 1625
về cư trú ở Paris, nơi có thể giao du với nhiều bậc thức
giả. Ở đây, tôi gặp lại đồng môn ở La Flèche là Marin
Mersenne, anh ấy thông tin cho tôi về bao ngành
khoa học mới mẻ, và suốt đời tận tụy giúp tôi công bố
tác phẩm.
ÈÈThưa Cụ, từ 1626-1628, Cụ lao mình vào nghiên
cứu khoa học, từ quang học, đại số học đến lý thuyết
về tri giác. Định luật khúc xạ cũng được phát hiện thời
kỳ này. Nhưng đáng chú ý là Cụ bắt đầu khởi thảo
công trình phương pháp luận đầu tiên: Regulae ad
directionem ingenii (Các quy tắc để hướng dẫn lý trí)
từ 1619-1620. Nhưng sao Cụ không hoàn tất và cho in
vào lúc sinh tiền?
R.D: À, do tôi phát minh nhiều thứ quá! Nào là trong
hình học, đại số, vật lý học! Khó có thể tích hợp hết
vào một tác phẩm duy nhất. “Tôi buộc phải phác họa
một đề án mới, lớn hơn nhiều so với đề án ban đầu
này, giống như kẻ đang làm nhà thì đột ngột giàu to,
phải thay đổi thiết kế, vì ngôi nhà trước đã trở nên
quá bé. Người ta không thể trách anh ta tại sao lại bắt
đầu xây một ngôi biệt thự cho xứng với tài sản mới
của mình!”1.

1. AT I, tr. 138.

28



“Chat” với René Descartes

3
Ngôi nhà mới
ÈÈCụ dự định xây “Ngôi nhà mới” có hình thù ra sao ạ?
R.D: Là... cả một “Thế giới” (Le Monde)! Đó sẽ là một đại
công trình giải thích toàn bộ những hiện tượng tự nhiên
trên cơ sở vật lý cơ học!
ÈÈCụ hoàn tất công trình vĩ đại này ngay tại Paris?
R.D: Không, mới chỉ sơ thảo!
ÈÈThế tại sao vào cuối năm 1628, Cụ lại gần như vĩnh
viễn rời bỏ Paris để sang Hà Lan định cư suốt hai mươi
năm tiếp theo? Rời bỏ quê hương, nhất là Paris hoa lệ với
học giới luôn sôi động ắt có lý do gì sâu xa, thưa Cụ!
R.D: Tôi ít nói về chuyện này với ai, ngoài mấy lá thư
cho bạn thân là Mersenne và luôn căn dặn ông ấy không
nên công bố!

“ C h a t ” v ớ i R e n é D e s c a r t e s • 29

ÈÈHà Lan là quốc gia Tin Lành; Pháp, quê hương Cụ, là
Công giáo toàn tòng, Cụ không định cải đạo chứ?
R.D: Tuyệt nhiên không! Tôi chẳng suy nghĩ gì về đức
tin và cũng chẳng muốn dính dáng đến sự xung đột tín
ngưỡng và ý thức hệ! Dù sao, nước Hà Lan Tin Lành cởi
mở và thông thoáng hơn nước tôi, tiện cho việc công bố
các nghiên cứu khoa học rất nhiều! Cũng nên nhắc đến
một biến cố chính trị: năm 1610, vua Henri IV bị ám sát.
Chính sách ít nhiều khoan dung tôn giáo của vị vua
 
Gửi ý kiến