Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thu Thảo
Ngày gửi: 12h:49' 01-04-2026
Dung lượng: 611.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
NHẬT KÝ TRONG TÙ
Hồ Chí Minh – Viết bằng chữ Hán năm 1942 – 1943
Bản dịch của Viện Văn học
In trong sách Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù

Bìa tập Thơ Nhật ký trong tù

2

Bài 1
Thân thể tại ngục trung,
Tinh thần tại ngục ngoại;
Dục thành đại sự nghiệp,
Tinh thần cánh yếu đại.
Thân thể ở trong ngục,
Tinh thần ở ngoài ngục;
Muốn lên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn lên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Nam Trân dịch
(Trong nguyên bản, bốn câu thơ này không có đầu đề, chép ở ngoài bìa tập
Ngục trung nhật ký cùng hình vẽ hai tay bị xiềng, có lẽ được tác giả coi như một lời
đề từ cho toàn tập)
Bài 2
Khai quyển
Lão phu nguyên bất ái ngâm thi
Nhân vị tù trung vô sở vi
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
Thả ngâm thả đãi tự do thì
Mở đầu tập Nhật ký
Già này vốn không thích ngâm thơ,
Nhân vì trong ngục không có gì làm
Hãy mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài
Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết là chi đây;
Ngày dài ngâm đợi cho khuây,

3
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Nam Trân dịch
Bài 3
Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu
Túc Vinh khước sử dư mông nhục
Cố ý trì diên ngã khứ trình
Gián điệp hiềm nghi không niết tạo
Bả nhân danh dự bạch hy sinh
Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh
Phố tên Túc Vinh mà khiến ta mang nhục,
Cố ý làm chậm trễ hành trình của ta;
Bày đặt ra trò tình nghi gián điệp,
Không dưng làm mất danh dự của Người.
Túc Vinh mà để ta mang nhục,
Cố ý dằng dai, chậm bước mình;
Bịa chuyện tình nghi là gián điệp,
Cho người vô cớ mất thanh danh.
Huệ Chi dịch
Túc Vinh là tên một phố ở thị trấn huyện Thiên Bảo, tỉnh Quảng Tây, Trung
Quốc; Tác giả bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt ngày 29/08/1942. Câu đầu bài
thơ còn ngụ ý chơi chữ, lấy “mông nhục” (mang nhục) đối lại với “túc vinh” (đủ
vinh), làm tăng ý nghĩa mỉa mai hài hước việc bắt người vô lý của nhà cầm quyền
Tưởng Giới Thạch.
Bài 4
Nhập Tĩnh Tây huyện ngục
Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thượng tình vân trục vũ vân
Tình vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lưu trú tự do nhân
Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây
Trong ngục tù cũ đón tù mới

4
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Mây tạnh, mây mưa, mấy đám mây nổi bay đi hết,
Chỉ còn lại người tự do trong ngục.
Trong lao tù cũ đón tù mới,
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết,
Còn lại trong tù khách tự do.
Nam Trân dịch
Tĩnh Tây là một huyện thuộc Quảng Tây, gần biên giới Trung - Việt. Tác giả
bị bắt ở huyện Thiên Bảo cách Tĩnh Tây khá xa nhưng lại bị đưa ngược về Tĩnh Tây
giam giữ.
Bài 5 -6- 7
Thế lộ nan
I
Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham
Na tri bình lộ cánh nan kham
Cao sơn lộ hổ chung vô dạng
Bình lộ phùng nhân khước bị giam.
II
Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân
Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân
Vô nại phong ba bình địa khởi
Tống dư nhập ngụ tác gia tân
III
Trung thành ngã bản vô tâm cứu
Khước bị hiềm nghi tố Hán gian
Xử thế nguyên lai phi dị dị
Nhi kim xử thế cánh nan nan.
Đường đời hiểm trở
I
Đi khắp non cao và núi hiểm,

5
Nào ngờ đường phẳng lại khó qua;
Núi cao gặp hổ rút cục vẫn không việc gì,
Đường phẳng gặp người lại bị bắt!
II
Ta vốn là đại biểu dân Việt Nam,
Định đến Trung Hoa gặp nhân vật trọng yếu;
Không dưng đất bằng nổi sóng gió,
Đưa ta vào làm “khách quý” trong tù!
III
Vốn trung thực thành thật, ta không có điều gì thẹn với lòng
Thế mà bị tình nghi là Hán gian;
Việc xử thế vốn không phải là dễ,
Lúc này, xử thế càng khó khăn hơn.
I
Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,
Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!
Núi cao gặp hổ mà vô sự,
Đường phẳng gặp người bị tống lao?!
II
Ta là đại biểu dân Việt Nam,
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;
Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,
Phải làm “khách quý” ở nhà giam!
III
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng,
Lại bị tình nghi là Hán gian;
Xử thế từ xưa không phải dễ,
Mà nay, xử thế khó khăn hơn.
Nam Trân dịch

6
Bài 8 -9
Tảo
I
Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng
Chiếu trước lung môn môn vị khai
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.
II
Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt
Bát chung hưởng liễu tảo xan khai
Khuyến quân thả ngật nhất cá bão
Bĩ cực chi thì tất thái lai.
Buổi sớm
I
Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường,
Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở;
Giờ đây trong lao còn đen tối,
Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước mặt.
II
Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận,
Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt đầu;
Khuyên anh hãy cứ ăn no,
Khổ đến tột cùng, vui ắt tới.
I
Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
II

7
Sớm dậy, người người đua bắt rận,
Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai;
Khuyên anh hãy gắn ăn no bụng,
Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.
Nam Trân dịch
Bài 11: Vấn thoại
Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: Nhĩ hữu tội,
Phạm viết: Ngã lương dân;
Quan viết: Nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: Ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần.
Lời hỏi
Hai cực trong xã hội,
Quan toà và phạm nhân;
Quan rằng: Anh có tội,
Phạm thưa: Tôi lương dân;
Quan rằng: Anh nói dối,
Phạm thưa: Thực trăm phần;
Quan toà tính vốn thiện,
Vờ làm bộ dữ dằn;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
Ở giữa hai cực đó,

8
Công lý đứng làm thần.
Hai cực trong xã hội,
Quan tòa và phạm nhân;
Quan rằng: Anh có tội,
Phạm nhân: Tôi lương dân;
Quan rằng: Anh nói dối,
Phạm nhân: Thực trăm phần;
Quan tòa tính vốn thiện,
Vờ làm bộ dữ dằn;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
Ở giữa hai cực đó,
Công lý đứng làm thần.
Bản dịch của Huệ Chi - Nguyễn Sĩ Lâm
Bài 12: Ngọ Hậu
Nhị điểm khai lung hoán không khí,
Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên;
Tự do thiên thượng thần tiên khách,
Tri phủ lung trung dã hữu tiên?
Quá trưa
Hai giờ chiều, nhà lao mở cửa đổi không khí,
Mọi người ngẩng lên ngắm trời tự do;
Khách thần tiên trên trời tự do,
Biết chăng trong tù cũng có tiên?
Hai giờ ngục mở thông hơi,
Tù nhân ngẩng mặt ngắm trời tự do;
Tự do tiên khách trên trời,
Biết chăng trong ngục có người khách tiên?
Nam Trân dịch

9
Bản dịch khác
Hai giờ ngục mở thay không khí,
Ai nấy nhìn lên: Trời tự do!
Tiên khách tự do trên thượng giới,
Biết chăng, tiên cũng ở trong tù?
Vũ Huy Động dịch
Bài 13: Vãn
Vãn xan ngật liễu, nhật tây trầm,
Xứ xứ sơn ca, dữ nhạc âm;
U ám Tĩnh Tây cấm bế thất,
Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm.
Chiều hôm
Cơm chiều xong, mặt trời lặn về tây,
Khắp nơi, rộn tiến ca dân dã và tiếng nhạc;
Nhà ngục u ám huyện Tĩnh Tây,
Bỗng thành một viện hàn lâm nghệ thuật nhỏ.
Cơm xong, bóng đã xuống trầm trầm,
Vang tiếng đàn ca, rộn tiếng ngâm;
Nhà ngục Tĩnh Tây mờ mịt tối,
Bỗng thành nhạc quán viện hàn lâm.
Nam Trân dịch

Bài 14: Tù lương
Mỗi xan nhất uyển hồng mễ phạn,
Vô diêm, vô thái, hựu vô thang;
Hữu nhân tống phạn, ngật đắc bão,
Một nhân tống phạn, hán gia lương.
Cơm tù
Mỗi bữa một bát cơm gạo đỏ,
Không muối, không rau cũng chẳng canh;

10
Có người đem cơm được ăn no,
Không người đem cơm, đói kêu cha kêu mẹ.
Không rau, không muối, canh không có,
Mỗi bữa lưng cơm đỏ gọi là;
Có kẻ đem cơm còn chắc dạ,
Không người lo bữa đói kêu cha.
Nam Trân – Bằng Thanh dịch
Bài 15: Nạn hữu xuy địch
Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu;
Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu.
Người bạn tù thổi sáo
Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở lên sầu muộn;
Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương vô hạn,
Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng lầu.
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
Nam Trân dịch
Bản dịch khác
Trong lao vẳng khúc nhạc tình quê,
Âm chuyển sầu thương, điệu tái tê;
Nghìn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó chốn phòng khuê.
Huệ Chi dịch

11
Bài 16-17: Cướp áp
I
Tranh ninh ngã khẩu tự hung thần,
Vãn vãn trương khai bả cước thôn;
Các nhân bị thôn liễu hữu cước,
Chỉ thặng tả cước năng khuất thân.
II
Thế gian gian cánh hữu ly kỳ sự,
Nhân mẫn tranh tiên thượng cước kiềm;
Nhân vị hữu kiềm tài đắc thụy,
Vô kiềm một xứ khả an miên.
Cái cùm
I
Miệng đói dữ tượn như một hung thần,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Người nào cũng bị nuốt chân phải,
Chỉ còn chân trái co duỗi được thôi.
II
Trên đời lại có chuyện thật là kỳ,
Mọi người tranh nhau đến trước để cùm chân;
Vì có cùm chân mới được ngủ,
Không cùm chân thì không chỗ ngủ yên.
I
Dữ tựa hung thần miệng trực nhai,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Mọi người bị nuốt chân bên phải,
Co duỗi còn chân bên trái thôi
II
Nghĩ việc trên đời thật lạ kỳ,
Cùm chân sau trước cũng tranh nhau;
Được cùm chân mới yên bề ngủ,
Không được cùm chân biết ngủ đâu

12
Nam Trân dịch
Bài 17 – 19 – 20: Học dịch kỳ
Bế tọa vô liêu học dịch kỳ
Thiên binh vạn mã cộng khu trì;
Tấn công thoái thủ ưng thần tốc,
Cao tài tật túc tiên đắc chi.
Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế
Kiên quyết thì thì yếu tấn công
Thác lộ, song xa dã một dụng
Phùng thời nhất tốt khả thành công?
Song phương thế lực thản bình quân
Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;
Công thủ vận trù vô lậu toán,
Tài xưng anh dũng đại tướng quân.
Học đánh cờ
I
Ngồi trong giam cấm buồn tênh, học đánh cờ,
Nghìn quân muôn ngựa cùng rong ruổi;
Tấn công, lui giữ đều phải thần tốc,
Tài cao, chân nhanh mới được nước trước.
II
Tầm nhìn phải rộng, suy nghĩ phải sâu
Phải kiên quyết, luôn luôn tấn công;
Lạc nước, hai xe cũng thành vô dụng,
Gặp thời một tốt có thể thành công.
III
Thế lực hai bên vốn ngang nhau,
Kết cục thắng lợi thuộc về một người;
Tính kế đánh hay, giữ không sơ hở,
Mới xứng là bậc đại tướng anh dũng.
I
Tù túng đem cờ học đánh chơi,

13
Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.
II
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.
III
Vốn trước hai bên ngang thế lực,
Mà sau thắng lợi một bên giành;
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hùng mới xứng danh.
Văn Trực – Văn Phụng dịch
Bài 21: Vọng nguyệt
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
Ngắm trăng
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?
Người hướng ra trước song ngắm ánh trăng sáng,
Từ ngoài khe cửa trăng ngắm nhà thơ.
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Nam Trân dịch
Bài 22: Phân Thủy
Mỗi nhân phân đắc thủy bán bồn,
Tẩy diện, phanh trà các tùy tiện;

14
Thùy yếu, tẩy diện, vật phanh trà,
Thùy yếu phanh trà, vật tẩy diện.
Chia nước
Mỗi người được chia nửa chậu nước,
Rửa mặt đun trà tùy ý mình;
Ai muốn rửa ,mặt đừng đun trà,
Ai muốn đun trà thôi rửa mặt.
Mỗi người phần nước vừa lưng chậu,
Rửa mặt đun trà tự ý ta;
Ai muốn đun trà đừng rửa mặt,
Ai cần rửa mặt chớ đun trà.
Nam Trân – Trần Đắc Thọ dịch
Bài 23-24: Trung Thu
I
Trung thu thu nguyệt viên như kính,
Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân;
Gia lý đoàn viên ngật thu tiết,
Bất vong ngục lý ngật sầu nhân.
II
Ngục trung nhân dẫn thưởng trùng thu,
Thu nguyệt, thu phong đới điểm sầu;
Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,
Tâm tùy thu nguyệt cộng du du!
Trung Thu
I
Trăng Trung Thu tròn như gương,
Chiếu rọi cõi đời, ánh trăng trắng như bạc;
Nhà ai sum họp ăn tết Trung Thu,
Chẳng quyên người trong ngực nuốt sầu.
II
Người trong ngục cũng thưởng thức Trung Thu,

15
Trăng thu, gió thu đều vương sầu;
Không được tự do ngắm trăng thu,
Lòng theo cùng trăng thu vời vợi.
I
Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,
Sáng khắp nhân gian bạc một màu;
Sum họp nhà ai ăn tết đó,
Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
II
Trung thu ta cũng tết trong tù,
Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu;
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
Nam Trân dịch
Bài 34
Điền Đông
Mỗi
xan
nhất
uyển
Đỗ
tử
thì
thì
Bạch
phạn
tam
nguyên
Tân như quế dã mễ như châu.

công
tại
bất

gia
thán
câu

chúc,
hu;
bão,

Điền Đông 1
Mỗi
bữa
được
một
bát
cháo
của
nhà
Cái
bụng
luôn
luôn
than
Cơm
không
ba
đồng
chẳng
đủ
Củi đắt như quế, gạo như châu.
Cháo

mỗi
bữa
Cái
bụng
luôn
luôn
Cơm
nhạt
ba
đồng
Củi thì như quế, gạo như châu.

chia
rên
ăn

lưng
rỉ
chẳng

Nam Trân – Hoàng Trung Thông dịch
1. Điền Đông: Một địa điểm trên đường bộ từ Tĩnh Tây đi Nam Ninh (ND).
Bài 35
Sơ đáo Thiên Bảo Ngục

nước,
phiền;
no,
bát,
sầu;
đủ,

16
Nhật
hành
ngũ
thập
Thấp
tận
y
quan,
Triệt
dạ
hựu

Xí khanh thượng toạ đãi triêu lai.

tam
phá
an

công
tận
thụy

lý,
hài;
xứ,

Ngày
đi
năm
mươi
ba
Ướt
hết

áo,
rách
Suốt
đêm
lại
không

chỗ
Ngồi trên hố xí đợi trời sáng.

cây
hết
ngủ

số,
giày;
yên,

Năm
mươi
ba
dặm,
Áo

ướt
đầm,
Lại
khổ
thâu
đêm
Ngồi trên hố xí đợi ban mai.

ngày
tả
chốn

trời,
tơi;
ngủ,

Mới đến nhà lao Thiên Bảo1

một
dép
không

Bản dịch khác:
Ngày
cuốc
năm
mươi
ba
cột
Ướt
đầm

áo,
rách
bươm
Thâu
đêm
lại
chẳng
nơi
yên
Ngồi trấn cầu tiêu, đợi sáng ngày.

số,
giày;
giấc,

Khương Hữu Dụng – Nguyễn Sĩ Lâm dịch
1) Không hiểu sao bài thơ này lại xếp sau bài Điền Đông, có lẽ là hồi ức về quãng
đường đi từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.
Nạn hữu chi thê thám giam
Quân
tại
Thiếp
tại
Tương
cận
Tương
cách
Khẩu
bất
Chỉ
lại
nhãn
Vị
ngôn
Tình cảnh chân khả liên!

thiết
thiết
tại
tự
năng
truyền
lệ

song
song
chỉ
thiên
thuyết
nghiên


lý,
tiền;
xích,
uyên;
đích,
(ngôn);
mãn,

song
song
tấc
trời
lên
khoé
mắt

sắt,
sắt;
gang,
vực;
lời,
mắt;
tràn,

Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng
Chàng

trong
Thiếp

ngoài
Gần
nhau
chỉ

cách
nhau
Miệng
không
thốt
Chuyển
lời
nhờ
Chưa
nói
nước
Tình cảnh thật đáng thương!

17
Anh

trong
Em

ngoài
Gần
nhau
chỉ

cách
nhau
Miệng
nói
chẳng
Chỉ
còn
nhờ
Chưa
nói,
lệ
Cảnh tình đáng thương thật!

song
song
tấc
trời
nên
khoé
tuôn

sắt,
sắt;
gang,
vực;
lời,
mắt;
tràn,

Nam Trân – Hoàng Trung Thông dịch
Bài 36:
Các báo: Hoan nghênh UY-KY đại hội
Đồng
thị
Đồng
thị
Quân
vi
Ngã
vi
Đồng
thị
Đãi
ngộ
Nhân
tình
Tự cổ thuỷ đông lưu!

Trung
yếu
tọa
giai
đại
hồ
phân

Quốc
phó
thượng
hạ
biểu
huyền
lãnh

hữu,
Du;
khách,
tù;
dã,
thù?
nhiệt,

Các báo đăng tin: Hội họp lớn hoan nghênh UY-KY1
Cùng

bạn
Trung
Cùng
phải
đi
Trùng
Anh

khách
ngồi
Tôi


dưới
Cùng

đại
biểu
Đối
đãi
sao
quá
khác
Thói
đời
thường
phân
ấm
Từ xưa nước vẫn chảy về đông!
Cũng

Cũng

Anh,
làm
Tôi,
thân
Cùng

Khinh
trọng
Thói
thường
Về đông nước chảy mà!

đi
bạn
khách

đại
sao
chia

Trùng
Trung
trên
dưới
biểu
khác
ấm

Hoa,
Khánh2);
trên,
thềm;
cả,
biệt?
lạnh,
Khánh,
Hoa;
sảnh,
nhà;
cả,
xa?
lạnh,

Nam Trân dịch
1) Uy Ki: Tức Wendell Willkie, đại biểu Mỹ trong phe Đồng minh chống phát
xít, đi thăm Trùng Khánh. Lúc ông đi qua Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, nhà đương
cục tổ chức hội họp chiêu đãi. Bấy giờ tác giả là đại biểu của Việt Nam Độc lập đồng

18
minh, cũng là đồng minh của Trung Quốc chống Nhật. Nhưng giới cầm quyền ở
Trùng Khánh lại bắt giam Người
2) Trùng Khánh: Còn có tên là Du, một phủ thuộc tỉnh Tứ Xuyên, nơi Chính
phủ Trung Hoa Dân quốc đóng thời chống Nhật.
Bài 37:
Tự miễn
Một
hữu
đông
tàn
Tương

xuân
noãn
Tai
ương
bả
ngã
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.

tiều
đích
lai

tụy
huy
đoàn

cảnh,
hoàng;
luyện,

Tự khuyên mình
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ
không

mùa
xuân
ấm
áp
huy
hoàng;
Tai
ương
rèn
luyện
ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.

không

cảnh
đông
Thì
đâu

cảnh
huy
hoàng
ngày
Nghĩ
mình
trong
bước
gian
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

tàn,
xuân;
truân,

Nam Trân dịch
Bài 38:
Dã cảnh
Ngã
lai
chi
thì
hoà
thượng
Hiện
tại
thu
thu
bán
di
Xứ
xứ
nông
dân
nhan
đới
Điền gian sung mãn xướng ca thanh.

thanh,
thành;
tiếu,

Cảnh đồng nội
Lúc
ta
đến
lúa
còn
Nay
vụ
gặt
đã
xong
một
Nơi
nơi
nông
dân
mặt
mày
hớn
Ruộng đồng tràn đầy tiếng ca hát.

xanh,
nửa;
hở,

Nam Trân dịch
Bản dịch khác:
Khi
ta
mới
đến
Vụ
gặt
bây
giờ
Khắp
chốn
nông
dân
Câu ca tiếng hát rộn trên đồng.

còn
nửa
cười

Nguyễn Sĩ Lâm dịch

xanh
đã
hớn

lúa,
xong;
hở,

19
Bài 39:
Chúc than
Lộ
bàng
thụ
ảnh
Nhất
duyện
mao

Lãnh
chúc,
bạch
diêm
Hành nhân quá thử tạm đình lưu.

lương
thị
cung

âm
"tửu
thực

hạ,
lâu";
phổ,

Hàng Cháo
Dưới
bóng
cây
râm
mát
bên
đường,
Một
túp
lều
tranh:
Ấy

"tiệm
rượu";
Cháo nguội và muối trắng làm thành thực đơn,
Khách đi đường qua đây tạm dừng nghỉ.
Ven
đường
nấp
dưới
bóng
lùm
Một
túp
lều
tranh:
"tiệm
rượu"
Nào
món
cháo
hoa

muối
Đường xa, khách tạm nghỉ nơi này.

cây,
đây;
trắng,

Huệ Chi dịch
Bài 40:
Quả Đức ngục
Giam
phòng

thị
Sài,
mễ,
du,
diêm
Mỗi

lung
tiền
Thành thiên chử phạn dữ điều canh.

tiểu
tự
nhất

gia
kỷ


đình,
doanh;
táo 1),

Nhà lao Quả Đức 2
Phòng
giam
cũng

một
gia
đình
Gạo,
củi,
dầu,
muối,
đều
tự
mình
lo
Trước
mỗi
phòng
giam

một
Suốt ngày thổi cơm và nấu canh.
Nhà
lao

giống
Gạo,
củi,
muối,
dầu
Trước
mỗi
phòng
giam
Suốt ngày lụi hụi với cơm, canh.

tiểu
tự
bày

nhỏ,
sắm;
bếp,

gia
sắm
một

đình,
sanh;
bếp,

sở
công
công

trưởng,
bình;
bố,

Huệ Chi dịch
Bài 41:
Long An lưu sở trưởng
Biện
sự
nhận
chân
Nhân
nhân
tán
tụng
Văn
tiền
lạp
mễ
Can tịnh tù lung hảo vệ sinh.

Lưu
nhĩ
đô

20
Sở trưởng Long An 1 họ Lưu
Sở trưởng họ Lưu giải quyết công việcthận trọng, đúng đắn,
Mọi
người
đều
khen
ông
công
bằng;
Đồng
tiền,
hạt
gạo
đều
công
bố,
Nhà lao sạch sẽ hợp vệ sinh.
Làm
việc
đúng
thay
Ai
ai
cũng
bảo
Đồng
tiền,
bát
gạo
Sạch sẽ, lao tù rất vệ sinh.

Lưu
bác
đều

sở
trưởng
công
bình;
công
bố,

Nam Trân dịch
1) Long An: Một phủ thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm trên sông Hữu
Giang. Từ Quả Đức, tác giả bị giải chếch xuống phía Nam và dọc theo sông Hữu
Giang đến Nam Ninh.
Bài 42
TẢO GIẢI
I
Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
II
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư nhất tảo không1);
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng!
GIẢI ĐI SỚM
I
Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu;
Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.
II
Phương đông màu trắng chuyển thành hồng,

21
Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
I
Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
II
Phương đông màu trắng chuyển sang hồng
Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
Nam Trân dịch
Bài 43
ĐỒNG CHÍNH
(Thập nhất nguyệt nhị nhật)
Đồng Chính chính đồng Bình Mã ngục,
Mỗi xan nhất chúc đỗ không không;
Thuỷ hoà quang tuyến hẩn sung túc,
Nhật nhật hoàn khai lưỡng thứ lung.
ĐỒNG CHÍNH(1)
(Ngày 2 tháng 11)
Nhà lao Đồng Chính giống hệt nhà lao Bình Mã2),
Mỗi bữa một bát cháo, bụng thường rỗng không;
Nước và ánh sáng thì đầy đủ,
Mỗi ngày còn hai lần mở cửa buồng giam.
Bình Mã thế nào Đồng Chính vậy,
Bữa lưng bát cháo bụng cồn cào;
Nước và ánh sáng thì dư dật,
Ngày lại hai lần mở cửa lao.
Nam Trân dịch

22
1) Đồng Chính : Một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm trên đường
từ Long An đi Nam Ninh dọc theo sông Hữu Giang.
2) Bình Mã: Một trấn ở Tây bộ khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, bên
bờ sông Hữu Giang, là nơi đóng của Cách mệnh uỷ viên hội Điền Đông. Nay là
huyện lỵ Điền.
Bài 44
NẠN HỮU ĐÍCH CHỈ BỊ
Cựu quyển, tân thư tương bổ xuyết,
Chỉ chiên do noãn quá vô chiên;
Ngọc sàng cẩm trướng nhân tri phủ,
Ngục lý hứa đa nhân bất miên?
CHIẾC CHĂN GIẤY CỦA NGƯỜI BẠN TÙ
Quyển cũ, sách mới cùng bồi chắp lại,
Chăn giấy còn ấm hơn không có chăn;
Người trên giường ngọc trướng gấm có biết chăng,
Trong ngục bao nhiêu người không ngủ?
Quyển xưa, sách mới bồi thêm ấm,
Chăn giấy còn hơn chẳng có chăn;
Trướng gấm, giường ngà, ai có biết?
Trong tù bao kẻ ngủ không an?
Nam Trân – Băng Thanh dịch
Bản dịch khác:
Sách xưa vở mới khéo đem bồi,
Chăn giấy hơn không đã hẳn rồi;
Giường ngọc màn thêu ai có thấu,
Trong lao không ngủ biết bao người.
Hoàng Ngân dịch
Bài 45
DẠ LÃNH
Thu thâm vô nhục diệc vô chiên,
Súc hình cung yêu bất khả miên;
Nguyệt chiếu đình tiêu tăng lãnh khí,
Khuy song Bắc Đẩu dĩ hoành thiên.

23
ĐÊM LẠNH
Đêm cuối thu không đệm cũng không chăn,
Nằm co cẳng cong lưng vẫn không ngủ được;
Trăng soi khóm chuối trước sân càng tăng thêm khí lạnh,
Nhòm qua cửa sổ, sao Bắc Đẩu đã ngang trời.
Đêm thu không đệm cũng không chăn,
Gối quắp, lưng còng, ngủ chẳng an;
Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh,
Nhòm song, Bắc Đẩu đã nằm ngang.
Nam Trân dịch
Bản dịch khác:
Cuối thu chăn đệm cũng đều không,
Co quắp nằm mà ngủ chẳng xong;
Sân chuối trăng soi thêm lạnh lẽo,
Ngang trời, Bắc Đẩu hiện ngoài song.
Trần Đắc Thọ dịch
Bài 46:
BANG
Hỉnh tý trường long hoàn nhiễu trước,
Uyển như ngoại quốc vũ huân quan;
Huân quan đích thị kim ti tuyến,
Ngã đích ma thằng nhất đại đoan.
DÂY TRÓI
Rồng dài(1) quấn quanh cẳng chân và cánh tay,
Giống hệt dây tua quan võ nước ngoài;
Dây tua quan võ là tơ kim tuyến,
Còn của ta là một sợi thừng gai lớn.
Rồng quấn vòng quanh chân với tay,
Trông như quan võ đủ tua, đai;
Tua đai quan võ bằng kim tuyến,
Tua của ta là một cuộn gai.
Nam Trân – Băng Thanh dịch

24
Bản dịch khác:
Rồng dài vòng quấn khắp chân tay,
Quan võ nước ngoài thắng bộ đây;
Quan võ đeo tua kim tuyến thật,
Còn ta, quấn một cuộn thừng đay!
Huệ Chi dịch
1) Rồng dài: Nguyên văn là trường long, tức sợi dây trói tác giả gọi một cách
hài hước.
Bài 47:
LẠC LIỄU NHẤT CHÍCH NHA
Nhĩ đích tâm tình ngạnh thả cương,
Bất như lão thiệt nhuyễn nhi trường;
Tòng lai dữ nhĩ đồng cam khổ,
Hiện tại đông tây các nhất phương.
RỤNG MẤT MỘT CHIẾC RĂNG
Tính tình anh rắn rỏi và kiên cường,
Chẳng mềm và dài như lão lưỡi;
Trước nay vẫn cùng anh chung ngọt bùi, cay đắng,
Bây giờ phải xa nhau, người một phương.
Cứng rắn như anh chẳng kém ai,
Chẳng như lão lưỡi dẻo và dài;
Ngọt bùi cay đắng từng chia sẻ,
Nay kẻ chân mây, kẻ cuối trời.
Trần Đắc Thọ dịch
Bài 48
LONG AN – ĐỒNG CHÍNH(1)
Thử gian thổ địa quảng nhi bần,
Sở dĩ nhân dân kiệm thả cần;
Thính thuyết kim xuân phùng đại hạn,
Thập phân thu hoạch lưỡng tam phân.
LONG AN ĐỒNG CHÍNH
Vùng này ruộng đất rộng nhưng cằn cỗi,

25
Vì thế nhân dân tiết kiệm và siêng năng;
Nghe nói mùa xuân năm nay gặp đại hạn,
Mười phần chỉ thu hoạch được vài ba phần.
Vùng đây tuy rộng, đất khô cằn,
Vì thế nhân dân kiệm lại cần;
Nghe nói xuân nay trời đại hạn,
Mười phần thu hoạch chỉ đôi phần.
Nam Trân – Băng Thanh dịch
1) Bài này trong các lần in trước xếp trên bài Đồng Chính, lần này chuyển
xuống cho đúng với nguyên bản và Long An - Đồng Chính là lời nhận xét của tác
giả về cả hai vùng Long An và Đồng Chính, chứ không phải trên con đường từ Long
An đến Đồng Chính.
Bài 48:
NHAI THƯỢNG
Nhai
thượng
nhân
tranh
khán
Hán
gian
dữ
ngã
bản

can
nhưng
thị
hiềm
Sử ngã tâm trung giác điểm hàn.

Hán

nghi

gian,
can;
phạm,

TRÊN ĐƯỜNG PHỐ
Trên đường phố mọi người tranh nhau xem Hán gian,
Hán
gian
vốn
chẳng
liên
can

với
ta;
Nhưng không liên can mà vẫn là người tù bị tình nghi,
Khiến lòng ta cảm thấy có chút ghê lạnh.
Ngoài
phố
tranh
nhau
Hán
gian,
ta
vốn

can
vẫn
bị
Thực khiến lòng ta lạnh tới gan.

xem
thực
nghi

Hán



gian,
can;
có,

NAM TRÂN dịch
Bài 49:
LỘ THƯỢNG
Hĩnh

tuy
nhiên
Mãn
sơn
điểu
ngữ
Tự
do
lãm
thưởng
Lại thử chinh đồ giảm tịch lương.
TRÊN ĐƯỜNG

bị
dữ


khẩn
hoa
nhân

bang,
hương;
cấm,

26
Mặc

chân
tay
 
Gửi ý kiến