12suquan8374

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:12' 30-01-2026
Dung lượng: 10.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:12' 30-01-2026
Dung lượng: 10.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tựa
C
uối thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba, Ngô Quyền ở Đường
Lâm hưng binh rửa hận cho nhạc phụ là Dương Diên
Nghệ, giết phản tướng Kiều Công Tiễn, thừa thắng
nương vào sóng nước Bạch Đằng giang mà phá tan quân
Nam Hán, mở ra cho “nước ta” thời đại tử chủ đầu tiên. Vận
nước vừa mới sáng đã lại mờ, Ngô Vương ở ngôi chỉ được 6
năm, qua đời năm Giáp Thìn (944), để lại đằng sau Vương cả
một thời đại hỗn loạn.
Năm sau, Ất Tỵ (945), Giao Châu thực sự đại loạn. Khắp
nơi giặc cướp nổi lên, cường hào chiêu mộ binh lính mạnh ai
người ấy chiếm giữ một vùng. Lớn và mạnh hơn cả có mười
hai nhân vật xưng hùng, sử gọi là “Mười Hai Sứ Quân”, trong
số đó có cả Tướng cũ của Triều Ngô, và một “vị Vua” bỏ triều
đình cùng với thiên hạ tranh hùng. Loạn Mười Hai Sứ kéo dài
đến 23 năm mới cáo chung (Mậu Thìn, 968) với những trận
đại thắng của “Động chúa Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh”.
Thời đại này, cách đây trên một nghìn ba mươi năm về
trước, mờ mịt với những biến động hết sức khốc liệt, nhưng
sử tích lại hết sức hiếm hoi coi như chẳng còn gì. Hai mươi
ba năm đại loạn, Giao Châu mù mịt lầm than, các sứ quân
tranh hùng xâu xé nhau, một thời gian khá dài mà ta chẳng
thấy mối nguy phương Bắc nhòm ngó tới Giao Châu, ấy là
một điều thật may mắn, vì đâu có cái may ấy, và cái may
này sẽ bền được bao lâu? Ta cần nhìn qua tình hình phương
Bắc.
Sau khi họ Khúc (Thừa Mỹ) nhận chức Tiết Độ Sứ của nhà
Lương, không thần phục nhà Nam Hán, thì năm Quý Mùi
(923) Hán chúa sai Đại Tướng Lý Khắc Chính đem quân Nam
phạt, bắt Khúc Thừa Mỹ, sai Lý Tiến giữ chức Thứ Sử Giao
Châu, cuộc nội thuộc Bắc phương xem ra chưa có gì là vượt
thoát được. Phải đợi đến chín năm sau, Tân Mão 931, tướng
cũ của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ hưng binh đuổi Lý Tiến
và Lý Khắc Chính; rồi đến Ngô Quyền phá Nam Hán năm
Mậu Tuất 938, mới kết thúc được lần Bắc thuộc thứ ba.
Sau khi Ngô Quyền lên ngôi, các biến động ở Giao Châu
chưa phải là hết hẳn; ngược lại, mọi biến động càng xảy ra
thật dồn dập, nhưng phương Bắc vẫn không điều binh đánh
chiếm phương Nam nữa, ấy cũng bởi nước Tàu hồi ấy còn
đang rối bời với loạn Thập quốc đời Ngũ Đại: Dương Hành
Mật dựng nước Ngô; Vương Tiến dựng Tiền Thục; Tiền Cù
dựng Ngô Việt; Mã Ân dựng Sở; Vương Trần Tri dựng mân;
Lưu Ẩn dựng Nam Hán; Cao Bảo Dung dựng Nam Bình;
Mạnh Tri Tường dựng Hậu Thục; Lưu Sùng dựng Bắc Hán.
Mười nước đánh nhau liên miên, sau có Triệu Khuông Dẫn lật
đổ được Đại Lương lập ra nhà Tống, lên ngôi báu xưng là
Thái Tổ, ra tay quét sạch Thập Quốc thì nước Tàu mới dần
dần tạm yên. Nhờ các biến động nội bộ khốc liệt, mà
phương Bắc không nhòm ngó Giao Châu. Thời Giao Châu có
loạn Mười Hai Sứ là thế!
Giả sử, loạn Mười Hai Sứ ở Giao Châu tiếp tục kéo dài
thêm nữa, không có “chàng mục đồng ở Động Hoa Lư” vốn
mang trong người sẵn máu “anh hùng thủa nhỏ” đứng lên
quét sạch, thì làm gì còn có việc Lý Nhân Tông sai hai tướng
Lý Thường Kiệt và Tôn Đản mang binh đánh Tống (Ất Mão
1075) được nữa? Mười Hai Sứ tranh hùng, quả thật đã đưa
Giao Châu vào cái thế nguy hiểm vô cùng, mà việc Bộ Lĩnh
đứng lên tiêu diệt được cả cũng lại là một kỳ tích của Sử
nước ta.
Đinh Bộ Lĩnh mất cha từ nhỏ, lang thang trong đám mục
đồng, lấy rong chơi làm lẽ sống, tại sao lại có được cái chí
“khuất phục chúng anh hùng trong thiên hạ”, tại sao lại có
được hành vi tráng liệt “phất cờ dựng nước”, một tay mục
đồng tại sao lại có thể có được cái kho hùng tài thao lược ở
trong lòng để mà ra binh dàn trận, tung hoành như ở chỗ
không người giữa Mười Hai Sứ có đủ binh tướng cầm cự với
nhau lâu đến như vậy được? Một trí óc mục tử, tại sao lại có
thể thực hiện được lần đầu tiên trong lịch sử nước ta một
“quốc gia” thực sự với những triều nghi triều chính?
Đằng sau kỳ mục tử ấy, tất phải có người đại tài phù trợ.
Nhìn lại lịch sử nước ta, ta thấy: bên cạnh một cánh tay kiệt
hiệt giỏi nghề cầm gươm cưỡi ngựa, bao giờ cũng có ít ra là
một “văn quan” giúp đỡ cho việc về “trí óc”. Có những cuộc
phối hợp văn – võ vẹn toàn mới thành công, mới làm nên sự
nghiệp.
Với trường hợp Đinh Bộ Lĩnh cũng thế, không thể không
có một “văn sĩ” bày mưu tính kế giúp cho Bộ Lĩnh thấy được
cái thế của đất Giao Châu, nhìn rõ được vị trí của mỗi Sứ
Quân, dàn xếp mọi việc tiến thoái, biến cải thiên nhiên sông
núi cỏ cây trở thành nhân tố để tạo thành Thế, dựng thành
Thời, đổi mọi hoàn cảnh không ghi dấu vết gì của con người
ấy, kể cả dấu vết của Công Dự, ngưới chú tài trí hơn người
của Đinh Bộ Lĩnh.
Về Mười Hai Sứ Quân, giòng dõi vương giả thì có Ngô
Xương Xí, Ngô Nhật Khánh, tướng cũ của triều Ngô có Đỗ
Cảnh Thạc, phú hào thì như Trần Lãm, Phạm Phòng Át,...
những người ấy cầm cự với nhau lâu như vậy ắt hẳn cũng có
tướng tài giúp sức, mưu sĩ túc trí phụ trợ. Lịch sử cũng lại
chẳng còn dấu vết gì của Mười Hai Sứ sinh hoạt ra sao, đánh
nhau thế nào, rồi mỗi Sứ quân kết thúc ra sao, chính sử
cũng không ghi chép chút nào.
Lịch sử chỉ ghi thật vắn tắt:
“… Lúc bấy giờ, trong nước có cả thảy mười hai Sứ Quân,
gây ra cảnh nội loạn kéo dài đến hơn hai mươi năm. Mười
Hai Sứ Quân là:
- Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều;
- Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang;
- Trần Lãm, xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải
Khẩu;
- Kiều Công Hãn, xưng là Kiều Tam Chế, giữ Phong
Châu;
- Nguyễn Khoan, xưng là Nguyễn Thái Bình, giữ
Tam Đái;
- Ngô Nhật Khánh, xưng là Ngô Lãm Công, giữ
Đường Lâm;
- Lý Khuê, xưng là Lý Lãng Công, giữ Siêu Loại;
- Nguyễn Thủ Tiệp, xưng là Nguyễn Lịch Công, giữ
Tiên Du;
- Lữ Đường, xưng là Lữ Tá Công, giữ Tế Giang;
- Nguyễn Siêu, xưng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây
Phù Liệt;
- Kiều Thuận, xưng là Kiều Lịch Công, giữ Hồi Hồ;
- Phạm Bạch Hổ, xưng là Phạm Phòng Át giữ Đằng
Châu”.
Ngoài ra, không còn gì ghi trong chính Sử nói về Mười Hai
Sứ này nữa.
Vậy thì, bây giờ muốn lấy lịch sử để viết tiểu thuyết, vận
dụng văn nghệ để làm cho văn hóa phải hiện lên rõ ràng,
biết dựa vào đâu?
Chúng tôi đã bỏ ra nhiều năm, trước hết là đi tìm một
tấm bản đồ cũ, đem đối chiếu với các bản đồ hành chính,
giao thông, chính trị, xã hội quân sự của thời Pháp thuộc, rồi
lục tìm trong các cổ thư để lấy lại các tên cổ địa danh và giới
hạn các vùng đất ấy, đinh lại trên bản đồ vị trí giang sơn của
Mười Hai Sứ.
Chúng tôi lại nhờ các cổ thư, như Đại Việt Sử Kí Toàn Thư
(Ngoại Kì) của Ngô Sĩ Liên và các Sử thần đời Lê, Đại Nam
Thực Lục, Đại Nam Nhất Thống Chi phần các tỉnh liên hệ đến
thời Mười Hai Sứ, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương
Mục, Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ, Quốc Hiệu Nước Ta
của Bửu Cầm, Connaissance du VietNam của Pierre Huard et
Maurice Durand, Tableau Chronologique des Dynasties của
L.Cardiere, đặc biệt trong tài liệu của trường Viễn Đông Bác
Cổ, các tài liệu nghiên cứ của Societe Des Etudes
Indochinoises. Với các tài liệu ấy chúng tôi tìm lại được các
tên cũ của địa lý, biết được khá nhiều về các chi tiết hoạt
động cửa Mười Hai Sứ, như cái chết của Sứ quân Kiều Công
Hãn, Nguyễn Khoan, Nguyễn Siêu, việc Phạm Phòng Át đầu
hàng, Ngô Nhật Khánh bại binh bị nhục khiến sau mới có
việc Ngô Nhật Khánh đưa quân Chiêm về phục hận. Ngô
Xương Xí tan rã... như thế nào.
Các thành quách, hồ lạch, cầu đò, cùng một lúc được
nghiên cứu đến mức cuối cùng của “khả năng có thể” của
chúng tôi, cốt trình bày cho được sự sống động của những gì
có thật. Khía cạnh địa lý nhân văn, khí hậu và các đặc tính
hoạt động của từng địa phương (về khía cạnh nhân chủng
học) cũng được theo dõi luôn luôn để cho sự thật không bị
sai lạc, thể hiện được nét đặc biệt của địa phương.
Các nguyên tắc về quan sát thiên văn hiện đại, được vận
dụng phối hợp với quan niệm thiên thượng nhìn theo kinh
nghiệm của tổ tiên ta, để giúp cho các nhân vật trong
truyện có điều kiện dàn xếp lợi dụng các yếu tố thiên nhiên
để vào cuộc tranh hùng nơi chiến địa.
Trên lãnh vực Y học, các nguyên tắc căn bản của Bệnh Lý
Y học hiện đại được trộn lẫn với các phương pháp định bệnh
và chữa thuốc cổ truyền theo kinh nghiệm của tổ tiên ta.
Một vài hình thức huyền bí Đông Phương chúng tôi cũng giữ
lại cho phù hợp với tâm hồn và phép hành xử của người
xưa...
Dĩ nhiên là các sách về lịch sử chúng tôi cũng chú trọng
rất nhiều, chú trọng để đối chiếu giữa các thời đại của nước
ta với nước Tàu, mong tìm ra căn bản cho mọi biến động, với
việc đối chiếu sử và tìm căn bản biến động này, chúng tôi
không đồng ý với một vài Sử gia, đem cái quan điểm của
mình mà biện giải biến động lịch sử xa xưa; chúng tôi cũng
lại không đồng ý về điểm “Lịch sử lên xuống, hết trị tới loạn”
của một vài người để giải quyết hiện tượng lịch sử. Chúng
tôi nhận thấy: từ thời Hồng Bàng khởi đi (2879 - 258 trước
Tây lịch), nước ta chưa bao giờ có được một khoảng thời
gian thái bình lâu dài để mà nỗ lực tạo dựng cho mình “một
cái gì riêng biệt”. Sự lập quốc của tổ tiên ta triền miên trong
thế chống trả họa diệt vong từ phương Bắc đổ xuống, vài ba
lần bị các lực lượng không phải Bắc phương tiến đánh, rồi
cận đại lại phải liên tục chống trả Tây phương. Trong suốt
chiều dài ấy, cuộc đấu tranh của dân tộc ta nhất định là
phải hùng liệt vô cùng, những vẻ vang chiến thắng ngoại
xâm đối với một dân tộc nhỏ bé và lận đận như dân tộc ta,
thật chưa một nước nào trên thế giới có được!
Như vậy thời lịch sử còn non trẻ ấy, việc Mười Hai sứ
quân nổi lên, nên được xem là nguyên nhân và cơ hội để
cho dân tộc ta bừng tỉnh, đứng dật lập quốc đúng với những
đòi hỏi của một dân tộc còn đang ở chặng đầu dựng nước.
Mười Hai Sứ tiêu biểu cho sự khắc khoải, ôm ấp giấc mộng
độc lập của dân tộc ta, nhưng giấc mộng ấy mới chỉ tượng
hình chứ chưa có hướng đi nhất định, và sự loanh quanh đã
làm cho dân tộc ta lầm than một phần tư thế kỷ, sau mới
tiến tới được cái thế hợp quy.
Sự hợp quy này, chính là trọng điểm của lịch sử dân tộc,
chỉ bao giờ nó thể hiện được thì lúc ấy dân tộc ta mới toàn
thắng. Chiều dài lịch sử nước ta, vô cùng súc tích với những
thăm trầm làm rung động lòng người.
Ngày nay, chúng tôi viết Mười Hai Sứ không ngoài mục
đích khơi động các nỗ lực hùng liệt của dân tộc. Chỉ khi nào
mỗi người dân nước ta đều thuộc làu lịch sử, hiểu rõ được
cuộc đấu tranh vĩ đại và liên tục của tổ tiên ta, dù chỉ được
hiểu bằng tiểu thuyết, thì lúc ấy mới hi vọng đem được tinh
thần yêu nước đánh lui được hết thảy mọi hiện tượng vong
thân, nô lệ.
Chúng tôi lấy văn nghệ để thể hiện văn hóa, đem lịch sử
để dựng thành tiểu thuyết, cố gắng đưa sử tích vào các sự
việc tưởng tượng, bám vào căn bẩn lịch sử để cho tiểu
thuyết không thành hoang đường mị hóa. Như thế, thì cái
“không có” vẫn chứa đựng “những cái có thật”, sự kê cứu
lịch sử giúp chúng tôi có yếu tố để làm việc, đồng thời giúp
chúng tôi vượt thoát những khó khăn đòi hỏi chỉ dành riêng
cho các Sử gia.
Ở đây, chúng tôi làm công việc viết tiểu thuyết trên căn
bản của việc xưa, vì vậy cũng lại không thể đem văn mới mà
thuật việc ngàn năm trước được. Ở khía cạnh ngôn ngữ học,
chúng tôi không thể vận dụng đến danh từ, dụng từ địa
phương để diễn đạt lời lẽ của mỗi nhân vật trong truyện, vì
như thế e làm hỗn loạn tính chất đồng nhất của ngôn ngữ
nước ta, làm khó cho người đọc tìm hiểu nghĩa. Chính nhà
viết tiểu thuyết lịch sử Pháp Alexandre Dumas, cũng đã phải
cố tránh điểm này, và ông nói: “Lấy kim văn để thuật cổ sự,
là một điều chướng tai, nhưng chồng chất các tiếng cổ địa
phương cũng lại làm người đọc vất vả chán nản...”.
Tất cả những gì chúng tôi làm để viết Mười Hai Sứ Quân,
là như vậy. Những khiếm khuyết chúng tôi hy vọng được
lượng thứ.
Vũ Ngọc Đĩnh
—ooOoo—
Mục Lục
Tựa
Mục Lục
Hồi Thứ Nhất
Kim Tinh Bắc Đẩu ở nơi phong cảnh kì
tú Giữ chợ bắt gái, Huyện Quan bị mổ
bụng cắt đầu
Hồi Thứ Hai
Bàn chuyện tìm minh chúa, anh em bất
đồng Nổi lửa đốt nhà, hào kiệt đôi ngả
chia tay
Hồi Thứ Ba
Hai hồ một giang san, Kiều Sứ quân mở
trận Thế yếu phải dụng mưu, Điền Bạc
hiến kế lạ
Hồi Thứ Tư
Mưu định vừa xong, tin sực đến Uốn ba
tấc lưỡi tạo thời cơ
Hồi Thứ Năm
Mở hội giữa Thu, Chúa tôi bẻ chuối bóp
hồng làm mật kế Bàn mưu tính kế, hẹn
đập chén làm hiệu giết người
Hồi Thứ Sáu
Vào hang hùm, Điền Bạc múa lưỡi
tranh tài Phóng hai gươm, Thẩm Chu
Bình lừng danh Tam Đái
Hồi Thứ Bẩy
Ngắm cảnh đêm thu, Rồng Nước trúng
mưu Điền Bạc Vào Phủ Sứ quân, tướng
Trấn Giang dò xét lòng người
Hồi Thứ Tám
Lửa cháy trên sông, rồng thiêng xuôi
Nam tìm lánh nạn Đường về quê cũ,
Điền Bạc rong ruổi giữa rừng gươm
Hồi Thứ Chín
Đường ra biên ải, Thẩm Chu Bình gặp
tướng Cổ Loa Xua quân phạt Bắc,
Nguyễn Khoan bỏ lỡ thế môi răng
Hồi Thứ Mười
Nguyễn Khoan nhận tin dữ, xuất quân
phạt Bắc cuối mùa Đông Điền Bạc ra
kế lạ, sai người tay cứng xuống phương
Nam
Hồi Thứ Mười Một
Trống đánh, tin truyền, Nguyễn Khoan
cuốn cờ về Nam gấp Nhật Khánh xem
quân, Thủy chiến Duy Hưng mù một
mắt
Hồi Thứ Mười Hai
Ngàn dặm xuống Nam, Lê Thảo vào
Hoa Lư động Vừa báo tin xong, binh Cổ
Loa đã vào bờ cõi
Hồi Thứ Mười Ba
Cổ Loa ba mặt giáp công Đánh trận
đầu Hoa Lư đại bại
Hồi Thứ Mười Bốn
Cự Lượng lui binh về Hoa Lư Phúc Hải
tỉnh rượu xem trận thế
Hồi Thứ Mười Lăm
Nam Tấn Vương dàn trận vây Hoa Lư
Đoàn Phúc Hải dâng nhựa đốt lương
địch
Hồi Thứ Mười Sáu
Hoa Lư náo động, ba mặt dàn quân
ứng chiến Ra tài thao lược, Lê Thảo
hiến kế giải nguy
Hồi Thứ Mười Bảy
Cự Lượng cưỡng lệnh bị chế ngự Phạm
Hạp kịp về giải thế nguy
Hồi Thứ Mười Tám
Phúc Hải lĩnh mệnh trình Động chúa Lê
Thảo lui binh khích Tấn Vương
Hồi Thứ Mười Chín
Nam Tấn Vương bị đàn ma trêu ghẹo
Binh Triều dàn thế đánh Hoa Lư
Hồi Thứ Hai Mươi
Động chúa nhận kế, ngăn Sinh Khuyết
Trịnh Tú lĩnh mệnh chặn Sào Long
Hồi Thứ Hai Mươi Mốt
Cự Lượng chạy dài về Đa Giá Nguyễn
Bặc bóp chết tướng Loa Thành
Hồi Thứ Hai Mươi Hai
Binh Triều bị Hoa Lư đánh úp Đình Bảo
trúng tên chết trên sông
Hồi Thứ Hai Mươi Ba
Tấn Vương quyết ra binh phục hận
Đinh động chúa phong ấn Quân sư
Hồi Thứ Hai Mươi Bốn
Vì Động chúa, quân sư định kế Cứu Cự
Luợng hổ tướng lập công
Hồi Thứ Hai Mươi Lăm
Núi Bích Sơn Hoa Lư đại bại Cứu Lê
Hoàn, Trịnh Tú xông pha
Hồi Thứ Hai Mươi Sáu
Phạm Cự Lượng trúng tên hấp hối
Quách Xử Sĩ đi cầu Thần y
Hồi Thứ Hai Mươi Bảy
Vì tham, họ Quách làm hỏng việc Thần
y đòi lễ vật gấp đôi
Hồi Thứ Hai Mươi Tám
Thân y vội vã đi chữa bệnh Cường đồ
chờ mổ bụng vợ yêu
Hồi Thứ Hai Mươi Chín
Thần y ra tài chữa bệnh Hoa Lư mừng
được thần tiên
Hồi Thứ Ba Mươi
Quân sư định kế lên phương Bắc Thầy
chùa khua mõ trước doanh vua
Hồi Thứ Ba Mươi Mốt
Thiền sư phá kế Quân sư Phúc Hải tin
về Ngọc Lũ
Hồi Thứ Ba Mươi Hai
Hồi Chúc Tiên Nương thử tài sứ Vượt
sông dài Lê Thảo tới Đằng Châu
Hồi Thứ Ba Mươi Ba
Lê Thảo khoe cưỡi mây gọi gió Bịa
chuyện xưa nghi hoặc Đằng Châu
Hồi Thứ Ba Mươi Bốn
Người hiền phải có hung tinh phò tá
Đất hiền phải có sát tinh yểm trợ
Hồi Thứ Ba Mươi Năm
Tướng Đằng Châu ra tài khoe sức Sứ
Hoa Lư thách thức anh hào
Hồi Thứ Ba Mươi Sáu
Quân ba nghìn mang về dàn trận Hẹn
gió mưa đánh phá binh Triều
Hồi Thứ Ba Mươi Bảy
Nước lặng ra binh là điểm mất nước
Khóc Đồng Châu, Phạm Thị liều mình
Hồi Thứ Ba Mươi Tám
Phúc Hải lĩnh mệnh đi liên lạc Quân sư
dàn trận đánh Tấn Vương
Hồi Thứ Ba Mươi Chín
Sợ trễ quân, Phúc Hải chém tướng
Truyền xong lệnh trở lại Trung quân
Hồi Thứ Bốn Mươi
Binh Triều hai mặt giáp công Quân Hoa
Lư lui về Ngọc Lũ
Hồi Thứ Bốn Mươi Mốt
Ngọc Lũ bén lửa tên Cổ Loa Động chúa
giao tranh cùng Tịch Mịch
Hồi Thứ Bốn Mươi Hai
Đinh Điền đập chết tướng Cổ Loa Đánh
Ngọc Lũ thiền sư bày trận
Hồi Thứ Bốn Mươi Ba
Động chúa trên giường mở cẩm nang
Cổ Loa dàn quân vây Ngọc Lũ
Hồi Thứ Bốn Mươi Bốn
Cổ Loa Sợ kế “không thành” Thiền sư
suýt nguy tính mạng
Hồi Thứ Bốn Mươi Lăm
Cổ Loa đánh mặt phía Bắc Quân sư
cưỡi ngựa vào thành
Hồi Thứ Bốn Mươi Sáu
Phúc Hải tử trận nát người Hoa Lư để
tang chiến hữu
Hồi Thứ Bốn Mươi Bảy
Động chúa khóc trên vọng lâu Thiền sư
dưới thành mắng chửi
Hồi Thứ Bốn Mươi Tám
Quân sư đợi sẵn ngoài thành Động
chúa chạy lên mạn Bắc
Hồi Thứ Bốn Mươi Chín
Chín Rồng hỏa thiêu Ngọc Lũ Tịch Mịch
hóa độ trên thành
Hồi Thứ Năm Mươi
Tha Tấn Vương bảo toàn thế lớn Nghe
quân sư cử sứ điều đình
Hồi Thứ Năm Mươi Mốt
Quân sư chỉ kế bắt ngựa Mậu Đại đâm
tướng rửa thù
Hồi Thứ Năm Mươi Hai
Đinh Liễn đi sứ gặp Vua Quân sư dựng
đài tấu nhạc
Hồi Thứ Năm Mươi Ba
Vào doanh Đinh Liễn nghị hòa Thế
cùng Tấn Vương treo sứ
Hồi Thứ Năm Mươi Bốn
Động chúa truyền bắn Đinh Liễn Quân
sư ra lệnh tiến quân
Hồi Thứ Năm Mươi Lăm
Tiễn sứ cờ mở trống rong Sang sông
kết bè lau sậy
Hồi Thứ Năm Mươi Sáu
Tấn Vương đánh úp Đằng Châu Quân
sư cầm quân đuổi địch
Hồi Thứ Năm Mươi Bảy
Đằng Châu đốt lửa đuổi vua Quân sư ra
tài đảo Vũ
Hồi Thứ Năm Mươi Tám
Tấn Vương lui binh bại chiến Quân sư
nói việc lâu dài
Hồi Thứ Năm Mươi Chín
Binh Hoa Lư tế mồ Phúc Hải Luận việc
đời, Lê Thảo định mưu
Hồi Thứ Sáu Mươi
Quân sư định kế phân thiên hạ Đằng
Châu đánh tiếng viếng Hoa Lư
Hồi Thứ Sáu Mươi Mốt
Cảnh Thạc tiến đánh Đường Lâm
Nguyễn Siêu hội quân định kế
Hồi Thứ Sáu Mươi Hai
Tế Giang xâm phạm Phù Liệt Bình Kiều
bàn việc xuất quân
Hồi Thứ Sáu Mươi Ba
Đằng Châu nhòm ngó Phù Liệt Bình
Kiều xuất chiến vượt sông
Hồi Thứ Sáu Mươi Bốn
Tế Giang phá binh Phù Liệt Bình Kiều
thiệt tướng hại quân
Hồi Thứ Sáu Mươi Lăm
Lê Hiền ra tài thao lược Tướng Hoa Lư
đánh tráo mật thư
Hồi Thứ Sáu Mươi Sáu
Địch Hồng Hà vây hãm Đồng Lư Mạc
Cương Hồng xem quân, uống rượu
Hồi Thứ Sáu Mươi Bảy
Văn Bích Kiều cầm quân ra trận Bạch
Khai Thành theo lệnh giả thua
Hồi Thứ Sáu Mươi Tám
Chém ba gươm mở hận kì tình Rượu
một cuộc ra tài vượt chúng
Hồi Thứ Sáu Mươi Chín
Hồng Hà cho lệnh tiến quân Khai
Thành nguy trong trận đá
Hồi Thứ Bảy Mươi
Hiệu trận trên vách núi cao Quái quyền
lừng danh họ Bạch
Hồi Thứ Bảy Mươi Mốt
Phù Liệt bại binh thiệt tướng Địch Hồng
Hà tử trận Đồng Lư
Hồi Thứ Bảy Mươi Hai
Ân Phú tiến đánh Đan Phượng Đinh lão
khiển kế Quân sư
Hồi Thứ Bảy Mươi Ba
Mộc Đường dàn trận thủy quân Hoa Lư
trói thuyền Đỗ Động
Hồi Thứ Bảy Mươi Bốn
Thủy chiến sôi dòng Bạch Hạc Tam Sở
trúng tên tử trận
Hồi Thứ Bảy Mươi Lăm
Tiểu thần tiên xem lá đoán việc Kim Ân
Phú chém tướng trả thù
Hồi Thứ Bảy Mươi Sáu
Ba tướng xé xác Thúc Đạt Công đường
thầy tu giảng pháp
Hồi Thứ Bảy Mươi Bảy
Lữ Đường lui binh đoạn chiến Thủ Tiệp
tế tác điểm quân
Hồi Thứ Bảy Mươi Tám
Siêu Loại tiến đánh Bồ Sơn Ngọc Kỳ đốt
thành chạy trốn
Hồi Thứ Bảy Mươi Chín
Thành Đản chê người phản bội Ngọc Kỳ
chém tướng dâng thành
Hồi Thứ Tám Mươi
Tiên Du, Bồ Sơn bất hòa Khắc Tịnh ra
kế bắt tướng
Hồi Thứ Tám Mươi Mốt
Một côn san bằng Cổ Tiểu Hai quân giữ
thế tranh đua
Hồi Thứ Tám Mươi Hai
Tiên Du, Siêu Loại lui binh Lục Hồ nhức
đầu đợi sáo
Hồi Thứ Tám Mươi Ba
Dị nhân giảng về tiếng địch Hải Tang
trong ngục hòa tiêu
Hồi Thứ Tám Mươi Bốn
Siêu Loại bàn việc lớn lao Hoa Lư được
tin phương Bắc
Hồi Thứ Tám Mươi Lăm
Thần Tiêu giữ yên bờ cõi Định kế thu
phục Bình Kiều
Hồi Thứ Tám Mươi Sáu
Nam Tấn Vương trúng tên thiệt mạng
Bạch Hổ mượn binh trị Đằng Châu
Hồi Thứ Tám Mươi Bảy
Xuyên Ngư mưu sát Sứ quân Bạch Hổ
quy hàng Động chúa
Hồi Thứ Tám Mươi Tám
Phù Liệt quyết đánh Hoa Lư Động chúa
xuất chinh mở trận
Hồi Thứ Tám Mươi Chín
Hoa Lư chiếm ba thành Phù Liệt Đinh
Liễn thất thế phải lui quân
Hồi Thứ Chín Mươi
Đinh Liễn thất thế lui quân Tuổi già
Đinh lão về trời
Hồi Thứ Chín Mươi Mốt
Động chúa đưa quân lên phía Bắc Hoa
Lư định kế ra mặt Đông
Hồi Thứ Chín Mươi Hai
Quân sư lên đường tới Tế Giang Động
chúa dạo thuyền gặp mỹ nhân
Hồi Thứ Chín Mươi Ba
Kế Quân sư: Động chúa lên Bắc Gặp
nguy cơ: tìm thế liên minh
Hồi Thứ Chín Mươi Bốn
Mạnh Khanh uốn lưỡi thuyết Sứ Cảnh
Thạc nói việc mưu gian
Hồi Thứ Chín Mươi Lăm
Giữa tiệc Sứ quân chém Sứ Thế cùng
tiên nữ ra quân
Hồi Thứ Chín Mươi Sáu
Đinh Liễn bắt sống Linh Diên Nguyễn
Siêu chạy vào sông Bái
Hồi Thứ Chín Mươi Bảy
Định kế thu phục Tế Giang Ra tay diệt
trừ hoa lạ
Hồi Thứ Chín Mươi Tám
Đánh hỏa công giết tướng Tế Giang
Bàn diệu kế ngăn chặn binh ngoài
Hồi Thứ Chín Mươi Chín
Phấn độc biển bức hại người Trận
huyền nhiệm Áo Ly hiến kế
Hồi Thứ Một Trăm
Quân sư luận kế lấy Phục Tượng Bắt
tướng địch giết xong yêu quái
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Một
Ngưu ma trận đả bại Lê Hoàn Kế thần
đấu trí triệt ngoại nhân
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Hai
Xuân Lâm xua trâu vào trận Giết Áo Ly,
bắt hết trâu thần
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Ba
Mắng Thành Đức thu hàng hàng tướng
giỏi Đem hỏa Vân đốt cháy Cự Linh
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Bốn
Ôn Thao trúng kế đầu hàng Vượt Thiên
Ma, Lục Hồ bị bắt
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Năm
Siêu Loại tàn vong, Sứ quân chiến tử
Thủ Tiệp muốn làm Vương, Hoa Lư bàn
thế trận
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Sáu
Chiến thư lập trận Cờ tiên Giảng trăm
bước thu thành Bát Vạn
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Bảy
Đổng Thừa nghe nhạc chịu hàng Cùng
đường, Sứ quân tự ải
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Tám
Sơ Hạ bàn việc chinh Tây Giết Sứ, liên
minh không thành
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Chín
Kế Điền Bạc, Phong Châu hùng mạnh
Cướp thời cơ phá Đỗ Động giang
Hồi Thứ Một Trăm Mười
Hai trại tan, Sứ quân bị hại Hồi Hồ
nguy, bàn việc giải nguy
Hồi Thứ Một Trăm Mười Một
Trường Kì kể việc chiêm tinh Phu nhân
muốn hàng Động chúa
Hồi Thứ Một Trăm Mười Hai
Hồi Hồ loạn, phu nhân tự sát Phá tửu
trận, Quân sư vào ải
Hồi Thứ Một Trăm Mười Ba
Thạch trận tan, tửu luận dâng thành Kể
việc đời, Mộc Đường nộp ải
Hồi Thứ Một Trăm Mười Bốn
Hồi Hồ hỗn loạn, Vương mở hội Dàn
quân mở trận, lập hôn nhân
Hồi Thứ Một Trăm Mười Lăm
Điềm trời hiện, Hồi Hồ định việc Hoa Lư
chiến, hủy diệt hung tàn
Hồi Thứ Một Trăm Mười Sáu
Giết nhiều người, quân sư lâm bệnh
Phao tin đồn, Lê Thảo dựng mưu
Hồi Thứ Một Trăm Mười Bảy
Luận tướng diện, Minh quân xuất thế
Hội trăng rằm, chờ đón vua ra
Hồi Thứ Một Trăm Mười Tám
Cùng đường, Nguyễn Khoan thọ tử
Định kế thu phục Phong Châu
Hồi Thứ Một Trăm Mười Chín
Hỏa công Tam Đảo mở trời đất Dao ngà
kết thúc loạn Sứ quân
Mấy lời cuối truyện
Hồi Thứ Nhất
Kim Tinh Bắc Đẩu ở nơi phong cảnh
kì tú
Giữ chợ bắt gái, Huyện Quan bị mổ
bụng cắt đầu
L
úc ấy là vào thời Ngô. Thiên hạ đại loạn, triều chính
nát bét không có minh quân trị vì, ngoài dân gian
nhan nhản hạng quan lại tham nhũng thi nhau đục
khoét, hành hạ trăm dân, nhà nhà sống trong tình cảnh khổ
cực chưa từng thấy, giặc cướp không đâu là không có.
Cuối năm Mậu Thân (948), trời bỗng đổi thời tiết, khác
hẳn với mọi năm, năm ấy rét mướt lại nhiều mưa to, gió lớn
vật ngã cả cây đại thụ ở bến đò Bồ Điền, ai cũng cho là
điềm xấu, dân tình chắc còn khổ nhiều. Cuối năm tuy đói
khổ giặc cướp, dân gian cũng cố chạy tiền lo gạo, những
tưởng được yên ổn đón Xuân sang, hy vọng ở ngày mai
thanh bình. Nào ngờ, huyện quan Bồ Điền vốn là đứa vô
hạnh bất tài, nhưng đem bạc vàng ra mua quan tìm chức,
nay được trấn nhậm tại nơi đất lành, dân tuy không giàu
nhưng cũng dư ăn, thừa mặc. Liền thả cửa đục khoét, dân
t
C
uối thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba, Ngô Quyền ở Đường
Lâm hưng binh rửa hận cho nhạc phụ là Dương Diên
Nghệ, giết phản tướng Kiều Công Tiễn, thừa thắng
nương vào sóng nước Bạch Đằng giang mà phá tan quân
Nam Hán, mở ra cho “nước ta” thời đại tử chủ đầu tiên. Vận
nước vừa mới sáng đã lại mờ, Ngô Vương ở ngôi chỉ được 6
năm, qua đời năm Giáp Thìn (944), để lại đằng sau Vương cả
một thời đại hỗn loạn.
Năm sau, Ất Tỵ (945), Giao Châu thực sự đại loạn. Khắp
nơi giặc cướp nổi lên, cường hào chiêu mộ binh lính mạnh ai
người ấy chiếm giữ một vùng. Lớn và mạnh hơn cả có mười
hai nhân vật xưng hùng, sử gọi là “Mười Hai Sứ Quân”, trong
số đó có cả Tướng cũ của Triều Ngô, và một “vị Vua” bỏ triều
đình cùng với thiên hạ tranh hùng. Loạn Mười Hai Sứ kéo dài
đến 23 năm mới cáo chung (Mậu Thìn, 968) với những trận
đại thắng của “Động chúa Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh”.
Thời đại này, cách đây trên một nghìn ba mươi năm về
trước, mờ mịt với những biến động hết sức khốc liệt, nhưng
sử tích lại hết sức hiếm hoi coi như chẳng còn gì. Hai mươi
ba năm đại loạn, Giao Châu mù mịt lầm than, các sứ quân
tranh hùng xâu xé nhau, một thời gian khá dài mà ta chẳng
thấy mối nguy phương Bắc nhòm ngó tới Giao Châu, ấy là
một điều thật may mắn, vì đâu có cái may ấy, và cái may
này sẽ bền được bao lâu? Ta cần nhìn qua tình hình phương
Bắc.
Sau khi họ Khúc (Thừa Mỹ) nhận chức Tiết Độ Sứ của nhà
Lương, không thần phục nhà Nam Hán, thì năm Quý Mùi
(923) Hán chúa sai Đại Tướng Lý Khắc Chính đem quân Nam
phạt, bắt Khúc Thừa Mỹ, sai Lý Tiến giữ chức Thứ Sử Giao
Châu, cuộc nội thuộc Bắc phương xem ra chưa có gì là vượt
thoát được. Phải đợi đến chín năm sau, Tân Mão 931, tướng
cũ của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ hưng binh đuổi Lý Tiến
và Lý Khắc Chính; rồi đến Ngô Quyền phá Nam Hán năm
Mậu Tuất 938, mới kết thúc được lần Bắc thuộc thứ ba.
Sau khi Ngô Quyền lên ngôi, các biến động ở Giao Châu
chưa phải là hết hẳn; ngược lại, mọi biến động càng xảy ra
thật dồn dập, nhưng phương Bắc vẫn không điều binh đánh
chiếm phương Nam nữa, ấy cũng bởi nước Tàu hồi ấy còn
đang rối bời với loạn Thập quốc đời Ngũ Đại: Dương Hành
Mật dựng nước Ngô; Vương Tiến dựng Tiền Thục; Tiền Cù
dựng Ngô Việt; Mã Ân dựng Sở; Vương Trần Tri dựng mân;
Lưu Ẩn dựng Nam Hán; Cao Bảo Dung dựng Nam Bình;
Mạnh Tri Tường dựng Hậu Thục; Lưu Sùng dựng Bắc Hán.
Mười nước đánh nhau liên miên, sau có Triệu Khuông Dẫn lật
đổ được Đại Lương lập ra nhà Tống, lên ngôi báu xưng là
Thái Tổ, ra tay quét sạch Thập Quốc thì nước Tàu mới dần
dần tạm yên. Nhờ các biến động nội bộ khốc liệt, mà
phương Bắc không nhòm ngó Giao Châu. Thời Giao Châu có
loạn Mười Hai Sứ là thế!
Giả sử, loạn Mười Hai Sứ ở Giao Châu tiếp tục kéo dài
thêm nữa, không có “chàng mục đồng ở Động Hoa Lư” vốn
mang trong người sẵn máu “anh hùng thủa nhỏ” đứng lên
quét sạch, thì làm gì còn có việc Lý Nhân Tông sai hai tướng
Lý Thường Kiệt và Tôn Đản mang binh đánh Tống (Ất Mão
1075) được nữa? Mười Hai Sứ tranh hùng, quả thật đã đưa
Giao Châu vào cái thế nguy hiểm vô cùng, mà việc Bộ Lĩnh
đứng lên tiêu diệt được cả cũng lại là một kỳ tích của Sử
nước ta.
Đinh Bộ Lĩnh mất cha từ nhỏ, lang thang trong đám mục
đồng, lấy rong chơi làm lẽ sống, tại sao lại có được cái chí
“khuất phục chúng anh hùng trong thiên hạ”, tại sao lại có
được hành vi tráng liệt “phất cờ dựng nước”, một tay mục
đồng tại sao lại có thể có được cái kho hùng tài thao lược ở
trong lòng để mà ra binh dàn trận, tung hoành như ở chỗ
không người giữa Mười Hai Sứ có đủ binh tướng cầm cự với
nhau lâu đến như vậy được? Một trí óc mục tử, tại sao lại có
thể thực hiện được lần đầu tiên trong lịch sử nước ta một
“quốc gia” thực sự với những triều nghi triều chính?
Đằng sau kỳ mục tử ấy, tất phải có người đại tài phù trợ.
Nhìn lại lịch sử nước ta, ta thấy: bên cạnh một cánh tay kiệt
hiệt giỏi nghề cầm gươm cưỡi ngựa, bao giờ cũng có ít ra là
một “văn quan” giúp đỡ cho việc về “trí óc”. Có những cuộc
phối hợp văn – võ vẹn toàn mới thành công, mới làm nên sự
nghiệp.
Với trường hợp Đinh Bộ Lĩnh cũng thế, không thể không
có một “văn sĩ” bày mưu tính kế giúp cho Bộ Lĩnh thấy được
cái thế của đất Giao Châu, nhìn rõ được vị trí của mỗi Sứ
Quân, dàn xếp mọi việc tiến thoái, biến cải thiên nhiên sông
núi cỏ cây trở thành nhân tố để tạo thành Thế, dựng thành
Thời, đổi mọi hoàn cảnh không ghi dấu vết gì của con người
ấy, kể cả dấu vết của Công Dự, ngưới chú tài trí hơn người
của Đinh Bộ Lĩnh.
Về Mười Hai Sứ Quân, giòng dõi vương giả thì có Ngô
Xương Xí, Ngô Nhật Khánh, tướng cũ của triều Ngô có Đỗ
Cảnh Thạc, phú hào thì như Trần Lãm, Phạm Phòng Át,...
những người ấy cầm cự với nhau lâu như vậy ắt hẳn cũng có
tướng tài giúp sức, mưu sĩ túc trí phụ trợ. Lịch sử cũng lại
chẳng còn dấu vết gì của Mười Hai Sứ sinh hoạt ra sao, đánh
nhau thế nào, rồi mỗi Sứ quân kết thúc ra sao, chính sử
cũng không ghi chép chút nào.
Lịch sử chỉ ghi thật vắn tắt:
“… Lúc bấy giờ, trong nước có cả thảy mười hai Sứ Quân,
gây ra cảnh nội loạn kéo dài đến hơn hai mươi năm. Mười
Hai Sứ Quân là:
- Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều;
- Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang;
- Trần Lãm, xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải
Khẩu;
- Kiều Công Hãn, xưng là Kiều Tam Chế, giữ Phong
Châu;
- Nguyễn Khoan, xưng là Nguyễn Thái Bình, giữ
Tam Đái;
- Ngô Nhật Khánh, xưng là Ngô Lãm Công, giữ
Đường Lâm;
- Lý Khuê, xưng là Lý Lãng Công, giữ Siêu Loại;
- Nguyễn Thủ Tiệp, xưng là Nguyễn Lịch Công, giữ
Tiên Du;
- Lữ Đường, xưng là Lữ Tá Công, giữ Tế Giang;
- Nguyễn Siêu, xưng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây
Phù Liệt;
- Kiều Thuận, xưng là Kiều Lịch Công, giữ Hồi Hồ;
- Phạm Bạch Hổ, xưng là Phạm Phòng Át giữ Đằng
Châu”.
Ngoài ra, không còn gì ghi trong chính Sử nói về Mười Hai
Sứ này nữa.
Vậy thì, bây giờ muốn lấy lịch sử để viết tiểu thuyết, vận
dụng văn nghệ để làm cho văn hóa phải hiện lên rõ ràng,
biết dựa vào đâu?
Chúng tôi đã bỏ ra nhiều năm, trước hết là đi tìm một
tấm bản đồ cũ, đem đối chiếu với các bản đồ hành chính,
giao thông, chính trị, xã hội quân sự của thời Pháp thuộc, rồi
lục tìm trong các cổ thư để lấy lại các tên cổ địa danh và giới
hạn các vùng đất ấy, đinh lại trên bản đồ vị trí giang sơn của
Mười Hai Sứ.
Chúng tôi lại nhờ các cổ thư, như Đại Việt Sử Kí Toàn Thư
(Ngoại Kì) của Ngô Sĩ Liên và các Sử thần đời Lê, Đại Nam
Thực Lục, Đại Nam Nhất Thống Chi phần các tỉnh liên hệ đến
thời Mười Hai Sứ, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương
Mục, Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ, Quốc Hiệu Nước Ta
của Bửu Cầm, Connaissance du VietNam của Pierre Huard et
Maurice Durand, Tableau Chronologique des Dynasties của
L.Cardiere, đặc biệt trong tài liệu của trường Viễn Đông Bác
Cổ, các tài liệu nghiên cứ của Societe Des Etudes
Indochinoises. Với các tài liệu ấy chúng tôi tìm lại được các
tên cũ của địa lý, biết được khá nhiều về các chi tiết hoạt
động cửa Mười Hai Sứ, như cái chết của Sứ quân Kiều Công
Hãn, Nguyễn Khoan, Nguyễn Siêu, việc Phạm Phòng Át đầu
hàng, Ngô Nhật Khánh bại binh bị nhục khiến sau mới có
việc Ngô Nhật Khánh đưa quân Chiêm về phục hận. Ngô
Xương Xí tan rã... như thế nào.
Các thành quách, hồ lạch, cầu đò, cùng một lúc được
nghiên cứu đến mức cuối cùng của “khả năng có thể” của
chúng tôi, cốt trình bày cho được sự sống động của những gì
có thật. Khía cạnh địa lý nhân văn, khí hậu và các đặc tính
hoạt động của từng địa phương (về khía cạnh nhân chủng
học) cũng được theo dõi luôn luôn để cho sự thật không bị
sai lạc, thể hiện được nét đặc biệt của địa phương.
Các nguyên tắc về quan sát thiên văn hiện đại, được vận
dụng phối hợp với quan niệm thiên thượng nhìn theo kinh
nghiệm của tổ tiên ta, để giúp cho các nhân vật trong
truyện có điều kiện dàn xếp lợi dụng các yếu tố thiên nhiên
để vào cuộc tranh hùng nơi chiến địa.
Trên lãnh vực Y học, các nguyên tắc căn bản của Bệnh Lý
Y học hiện đại được trộn lẫn với các phương pháp định bệnh
và chữa thuốc cổ truyền theo kinh nghiệm của tổ tiên ta.
Một vài hình thức huyền bí Đông Phương chúng tôi cũng giữ
lại cho phù hợp với tâm hồn và phép hành xử của người
xưa...
Dĩ nhiên là các sách về lịch sử chúng tôi cũng chú trọng
rất nhiều, chú trọng để đối chiếu giữa các thời đại của nước
ta với nước Tàu, mong tìm ra căn bản cho mọi biến động, với
việc đối chiếu sử và tìm căn bản biến động này, chúng tôi
không đồng ý với một vài Sử gia, đem cái quan điểm của
mình mà biện giải biến động lịch sử xa xưa; chúng tôi cũng
lại không đồng ý về điểm “Lịch sử lên xuống, hết trị tới loạn”
của một vài người để giải quyết hiện tượng lịch sử. Chúng
tôi nhận thấy: từ thời Hồng Bàng khởi đi (2879 - 258 trước
Tây lịch), nước ta chưa bao giờ có được một khoảng thời
gian thái bình lâu dài để mà nỗ lực tạo dựng cho mình “một
cái gì riêng biệt”. Sự lập quốc của tổ tiên ta triền miên trong
thế chống trả họa diệt vong từ phương Bắc đổ xuống, vài ba
lần bị các lực lượng không phải Bắc phương tiến đánh, rồi
cận đại lại phải liên tục chống trả Tây phương. Trong suốt
chiều dài ấy, cuộc đấu tranh của dân tộc ta nhất định là
phải hùng liệt vô cùng, những vẻ vang chiến thắng ngoại
xâm đối với một dân tộc nhỏ bé và lận đận như dân tộc ta,
thật chưa một nước nào trên thế giới có được!
Như vậy thời lịch sử còn non trẻ ấy, việc Mười Hai sứ
quân nổi lên, nên được xem là nguyên nhân và cơ hội để
cho dân tộc ta bừng tỉnh, đứng dật lập quốc đúng với những
đòi hỏi của một dân tộc còn đang ở chặng đầu dựng nước.
Mười Hai Sứ tiêu biểu cho sự khắc khoải, ôm ấp giấc mộng
độc lập của dân tộc ta, nhưng giấc mộng ấy mới chỉ tượng
hình chứ chưa có hướng đi nhất định, và sự loanh quanh đã
làm cho dân tộc ta lầm than một phần tư thế kỷ, sau mới
tiến tới được cái thế hợp quy.
Sự hợp quy này, chính là trọng điểm của lịch sử dân tộc,
chỉ bao giờ nó thể hiện được thì lúc ấy dân tộc ta mới toàn
thắng. Chiều dài lịch sử nước ta, vô cùng súc tích với những
thăm trầm làm rung động lòng người.
Ngày nay, chúng tôi viết Mười Hai Sứ không ngoài mục
đích khơi động các nỗ lực hùng liệt của dân tộc. Chỉ khi nào
mỗi người dân nước ta đều thuộc làu lịch sử, hiểu rõ được
cuộc đấu tranh vĩ đại và liên tục của tổ tiên ta, dù chỉ được
hiểu bằng tiểu thuyết, thì lúc ấy mới hi vọng đem được tinh
thần yêu nước đánh lui được hết thảy mọi hiện tượng vong
thân, nô lệ.
Chúng tôi lấy văn nghệ để thể hiện văn hóa, đem lịch sử
để dựng thành tiểu thuyết, cố gắng đưa sử tích vào các sự
việc tưởng tượng, bám vào căn bẩn lịch sử để cho tiểu
thuyết không thành hoang đường mị hóa. Như thế, thì cái
“không có” vẫn chứa đựng “những cái có thật”, sự kê cứu
lịch sử giúp chúng tôi có yếu tố để làm việc, đồng thời giúp
chúng tôi vượt thoát những khó khăn đòi hỏi chỉ dành riêng
cho các Sử gia.
Ở đây, chúng tôi làm công việc viết tiểu thuyết trên căn
bản của việc xưa, vì vậy cũng lại không thể đem văn mới mà
thuật việc ngàn năm trước được. Ở khía cạnh ngôn ngữ học,
chúng tôi không thể vận dụng đến danh từ, dụng từ địa
phương để diễn đạt lời lẽ của mỗi nhân vật trong truyện, vì
như thế e làm hỗn loạn tính chất đồng nhất của ngôn ngữ
nước ta, làm khó cho người đọc tìm hiểu nghĩa. Chính nhà
viết tiểu thuyết lịch sử Pháp Alexandre Dumas, cũng đã phải
cố tránh điểm này, và ông nói: “Lấy kim văn để thuật cổ sự,
là một điều chướng tai, nhưng chồng chất các tiếng cổ địa
phương cũng lại làm người đọc vất vả chán nản...”.
Tất cả những gì chúng tôi làm để viết Mười Hai Sứ Quân,
là như vậy. Những khiếm khuyết chúng tôi hy vọng được
lượng thứ.
Vũ Ngọc Đĩnh
—ooOoo—
Mục Lục
Tựa
Mục Lục
Hồi Thứ Nhất
Kim Tinh Bắc Đẩu ở nơi phong cảnh kì
tú Giữ chợ bắt gái, Huyện Quan bị mổ
bụng cắt đầu
Hồi Thứ Hai
Bàn chuyện tìm minh chúa, anh em bất
đồng Nổi lửa đốt nhà, hào kiệt đôi ngả
chia tay
Hồi Thứ Ba
Hai hồ một giang san, Kiều Sứ quân mở
trận Thế yếu phải dụng mưu, Điền Bạc
hiến kế lạ
Hồi Thứ Tư
Mưu định vừa xong, tin sực đến Uốn ba
tấc lưỡi tạo thời cơ
Hồi Thứ Năm
Mở hội giữa Thu, Chúa tôi bẻ chuối bóp
hồng làm mật kế Bàn mưu tính kế, hẹn
đập chén làm hiệu giết người
Hồi Thứ Sáu
Vào hang hùm, Điền Bạc múa lưỡi
tranh tài Phóng hai gươm, Thẩm Chu
Bình lừng danh Tam Đái
Hồi Thứ Bẩy
Ngắm cảnh đêm thu, Rồng Nước trúng
mưu Điền Bạc Vào Phủ Sứ quân, tướng
Trấn Giang dò xét lòng người
Hồi Thứ Tám
Lửa cháy trên sông, rồng thiêng xuôi
Nam tìm lánh nạn Đường về quê cũ,
Điền Bạc rong ruổi giữa rừng gươm
Hồi Thứ Chín
Đường ra biên ải, Thẩm Chu Bình gặp
tướng Cổ Loa Xua quân phạt Bắc,
Nguyễn Khoan bỏ lỡ thế môi răng
Hồi Thứ Mười
Nguyễn Khoan nhận tin dữ, xuất quân
phạt Bắc cuối mùa Đông Điền Bạc ra
kế lạ, sai người tay cứng xuống phương
Nam
Hồi Thứ Mười Một
Trống đánh, tin truyền, Nguyễn Khoan
cuốn cờ về Nam gấp Nhật Khánh xem
quân, Thủy chiến Duy Hưng mù một
mắt
Hồi Thứ Mười Hai
Ngàn dặm xuống Nam, Lê Thảo vào
Hoa Lư động Vừa báo tin xong, binh Cổ
Loa đã vào bờ cõi
Hồi Thứ Mười Ba
Cổ Loa ba mặt giáp công Đánh trận
đầu Hoa Lư đại bại
Hồi Thứ Mười Bốn
Cự Lượng lui binh về Hoa Lư Phúc Hải
tỉnh rượu xem trận thế
Hồi Thứ Mười Lăm
Nam Tấn Vương dàn trận vây Hoa Lư
Đoàn Phúc Hải dâng nhựa đốt lương
địch
Hồi Thứ Mười Sáu
Hoa Lư náo động, ba mặt dàn quân
ứng chiến Ra tài thao lược, Lê Thảo
hiến kế giải nguy
Hồi Thứ Mười Bảy
Cự Lượng cưỡng lệnh bị chế ngự Phạm
Hạp kịp về giải thế nguy
Hồi Thứ Mười Tám
Phúc Hải lĩnh mệnh trình Động chúa Lê
Thảo lui binh khích Tấn Vương
Hồi Thứ Mười Chín
Nam Tấn Vương bị đàn ma trêu ghẹo
Binh Triều dàn thế đánh Hoa Lư
Hồi Thứ Hai Mươi
Động chúa nhận kế, ngăn Sinh Khuyết
Trịnh Tú lĩnh mệnh chặn Sào Long
Hồi Thứ Hai Mươi Mốt
Cự Lượng chạy dài về Đa Giá Nguyễn
Bặc bóp chết tướng Loa Thành
Hồi Thứ Hai Mươi Hai
Binh Triều bị Hoa Lư đánh úp Đình Bảo
trúng tên chết trên sông
Hồi Thứ Hai Mươi Ba
Tấn Vương quyết ra binh phục hận
Đinh động chúa phong ấn Quân sư
Hồi Thứ Hai Mươi Bốn
Vì Động chúa, quân sư định kế Cứu Cự
Luợng hổ tướng lập công
Hồi Thứ Hai Mươi Lăm
Núi Bích Sơn Hoa Lư đại bại Cứu Lê
Hoàn, Trịnh Tú xông pha
Hồi Thứ Hai Mươi Sáu
Phạm Cự Lượng trúng tên hấp hối
Quách Xử Sĩ đi cầu Thần y
Hồi Thứ Hai Mươi Bảy
Vì tham, họ Quách làm hỏng việc Thần
y đòi lễ vật gấp đôi
Hồi Thứ Hai Mươi Tám
Thân y vội vã đi chữa bệnh Cường đồ
chờ mổ bụng vợ yêu
Hồi Thứ Hai Mươi Chín
Thần y ra tài chữa bệnh Hoa Lư mừng
được thần tiên
Hồi Thứ Ba Mươi
Quân sư định kế lên phương Bắc Thầy
chùa khua mõ trước doanh vua
Hồi Thứ Ba Mươi Mốt
Thiền sư phá kế Quân sư Phúc Hải tin
về Ngọc Lũ
Hồi Thứ Ba Mươi Hai
Hồi Chúc Tiên Nương thử tài sứ Vượt
sông dài Lê Thảo tới Đằng Châu
Hồi Thứ Ba Mươi Ba
Lê Thảo khoe cưỡi mây gọi gió Bịa
chuyện xưa nghi hoặc Đằng Châu
Hồi Thứ Ba Mươi Bốn
Người hiền phải có hung tinh phò tá
Đất hiền phải có sát tinh yểm trợ
Hồi Thứ Ba Mươi Năm
Tướng Đằng Châu ra tài khoe sức Sứ
Hoa Lư thách thức anh hào
Hồi Thứ Ba Mươi Sáu
Quân ba nghìn mang về dàn trận Hẹn
gió mưa đánh phá binh Triều
Hồi Thứ Ba Mươi Bảy
Nước lặng ra binh là điểm mất nước
Khóc Đồng Châu, Phạm Thị liều mình
Hồi Thứ Ba Mươi Tám
Phúc Hải lĩnh mệnh đi liên lạc Quân sư
dàn trận đánh Tấn Vương
Hồi Thứ Ba Mươi Chín
Sợ trễ quân, Phúc Hải chém tướng
Truyền xong lệnh trở lại Trung quân
Hồi Thứ Bốn Mươi
Binh Triều hai mặt giáp công Quân Hoa
Lư lui về Ngọc Lũ
Hồi Thứ Bốn Mươi Mốt
Ngọc Lũ bén lửa tên Cổ Loa Động chúa
giao tranh cùng Tịch Mịch
Hồi Thứ Bốn Mươi Hai
Đinh Điền đập chết tướng Cổ Loa Đánh
Ngọc Lũ thiền sư bày trận
Hồi Thứ Bốn Mươi Ba
Động chúa trên giường mở cẩm nang
Cổ Loa dàn quân vây Ngọc Lũ
Hồi Thứ Bốn Mươi Bốn
Cổ Loa Sợ kế “không thành” Thiền sư
suýt nguy tính mạng
Hồi Thứ Bốn Mươi Lăm
Cổ Loa đánh mặt phía Bắc Quân sư
cưỡi ngựa vào thành
Hồi Thứ Bốn Mươi Sáu
Phúc Hải tử trận nát người Hoa Lư để
tang chiến hữu
Hồi Thứ Bốn Mươi Bảy
Động chúa khóc trên vọng lâu Thiền sư
dưới thành mắng chửi
Hồi Thứ Bốn Mươi Tám
Quân sư đợi sẵn ngoài thành Động
chúa chạy lên mạn Bắc
Hồi Thứ Bốn Mươi Chín
Chín Rồng hỏa thiêu Ngọc Lũ Tịch Mịch
hóa độ trên thành
Hồi Thứ Năm Mươi
Tha Tấn Vương bảo toàn thế lớn Nghe
quân sư cử sứ điều đình
Hồi Thứ Năm Mươi Mốt
Quân sư chỉ kế bắt ngựa Mậu Đại đâm
tướng rửa thù
Hồi Thứ Năm Mươi Hai
Đinh Liễn đi sứ gặp Vua Quân sư dựng
đài tấu nhạc
Hồi Thứ Năm Mươi Ba
Vào doanh Đinh Liễn nghị hòa Thế
cùng Tấn Vương treo sứ
Hồi Thứ Năm Mươi Bốn
Động chúa truyền bắn Đinh Liễn Quân
sư ra lệnh tiến quân
Hồi Thứ Năm Mươi Lăm
Tiễn sứ cờ mở trống rong Sang sông
kết bè lau sậy
Hồi Thứ Năm Mươi Sáu
Tấn Vương đánh úp Đằng Châu Quân
sư cầm quân đuổi địch
Hồi Thứ Năm Mươi Bảy
Đằng Châu đốt lửa đuổi vua Quân sư ra
tài đảo Vũ
Hồi Thứ Năm Mươi Tám
Tấn Vương lui binh bại chiến Quân sư
nói việc lâu dài
Hồi Thứ Năm Mươi Chín
Binh Hoa Lư tế mồ Phúc Hải Luận việc
đời, Lê Thảo định mưu
Hồi Thứ Sáu Mươi
Quân sư định kế phân thiên hạ Đằng
Châu đánh tiếng viếng Hoa Lư
Hồi Thứ Sáu Mươi Mốt
Cảnh Thạc tiến đánh Đường Lâm
Nguyễn Siêu hội quân định kế
Hồi Thứ Sáu Mươi Hai
Tế Giang xâm phạm Phù Liệt Bình Kiều
bàn việc xuất quân
Hồi Thứ Sáu Mươi Ba
Đằng Châu nhòm ngó Phù Liệt Bình
Kiều xuất chiến vượt sông
Hồi Thứ Sáu Mươi Bốn
Tế Giang phá binh Phù Liệt Bình Kiều
thiệt tướng hại quân
Hồi Thứ Sáu Mươi Lăm
Lê Hiền ra tài thao lược Tướng Hoa Lư
đánh tráo mật thư
Hồi Thứ Sáu Mươi Sáu
Địch Hồng Hà vây hãm Đồng Lư Mạc
Cương Hồng xem quân, uống rượu
Hồi Thứ Sáu Mươi Bảy
Văn Bích Kiều cầm quân ra trận Bạch
Khai Thành theo lệnh giả thua
Hồi Thứ Sáu Mươi Tám
Chém ba gươm mở hận kì tình Rượu
một cuộc ra tài vượt chúng
Hồi Thứ Sáu Mươi Chín
Hồng Hà cho lệnh tiến quân Khai
Thành nguy trong trận đá
Hồi Thứ Bảy Mươi
Hiệu trận trên vách núi cao Quái quyền
lừng danh họ Bạch
Hồi Thứ Bảy Mươi Mốt
Phù Liệt bại binh thiệt tướng Địch Hồng
Hà tử trận Đồng Lư
Hồi Thứ Bảy Mươi Hai
Ân Phú tiến đánh Đan Phượng Đinh lão
khiển kế Quân sư
Hồi Thứ Bảy Mươi Ba
Mộc Đường dàn trận thủy quân Hoa Lư
trói thuyền Đỗ Động
Hồi Thứ Bảy Mươi Bốn
Thủy chiến sôi dòng Bạch Hạc Tam Sở
trúng tên tử trận
Hồi Thứ Bảy Mươi Lăm
Tiểu thần tiên xem lá đoán việc Kim Ân
Phú chém tướng trả thù
Hồi Thứ Bảy Mươi Sáu
Ba tướng xé xác Thúc Đạt Công đường
thầy tu giảng pháp
Hồi Thứ Bảy Mươi Bảy
Lữ Đường lui binh đoạn chiến Thủ Tiệp
tế tác điểm quân
Hồi Thứ Bảy Mươi Tám
Siêu Loại tiến đánh Bồ Sơn Ngọc Kỳ đốt
thành chạy trốn
Hồi Thứ Bảy Mươi Chín
Thành Đản chê người phản bội Ngọc Kỳ
chém tướng dâng thành
Hồi Thứ Tám Mươi
Tiên Du, Bồ Sơn bất hòa Khắc Tịnh ra
kế bắt tướng
Hồi Thứ Tám Mươi Mốt
Một côn san bằng Cổ Tiểu Hai quân giữ
thế tranh đua
Hồi Thứ Tám Mươi Hai
Tiên Du, Siêu Loại lui binh Lục Hồ nhức
đầu đợi sáo
Hồi Thứ Tám Mươi Ba
Dị nhân giảng về tiếng địch Hải Tang
trong ngục hòa tiêu
Hồi Thứ Tám Mươi Bốn
Siêu Loại bàn việc lớn lao Hoa Lư được
tin phương Bắc
Hồi Thứ Tám Mươi Lăm
Thần Tiêu giữ yên bờ cõi Định kế thu
phục Bình Kiều
Hồi Thứ Tám Mươi Sáu
Nam Tấn Vương trúng tên thiệt mạng
Bạch Hổ mượn binh trị Đằng Châu
Hồi Thứ Tám Mươi Bảy
Xuyên Ngư mưu sát Sứ quân Bạch Hổ
quy hàng Động chúa
Hồi Thứ Tám Mươi Tám
Phù Liệt quyết đánh Hoa Lư Động chúa
xuất chinh mở trận
Hồi Thứ Tám Mươi Chín
Hoa Lư chiếm ba thành Phù Liệt Đinh
Liễn thất thế phải lui quân
Hồi Thứ Chín Mươi
Đinh Liễn thất thế lui quân Tuổi già
Đinh lão về trời
Hồi Thứ Chín Mươi Mốt
Động chúa đưa quân lên phía Bắc Hoa
Lư định kế ra mặt Đông
Hồi Thứ Chín Mươi Hai
Quân sư lên đường tới Tế Giang Động
chúa dạo thuyền gặp mỹ nhân
Hồi Thứ Chín Mươi Ba
Kế Quân sư: Động chúa lên Bắc Gặp
nguy cơ: tìm thế liên minh
Hồi Thứ Chín Mươi Bốn
Mạnh Khanh uốn lưỡi thuyết Sứ Cảnh
Thạc nói việc mưu gian
Hồi Thứ Chín Mươi Lăm
Giữa tiệc Sứ quân chém Sứ Thế cùng
tiên nữ ra quân
Hồi Thứ Chín Mươi Sáu
Đinh Liễn bắt sống Linh Diên Nguyễn
Siêu chạy vào sông Bái
Hồi Thứ Chín Mươi Bảy
Định kế thu phục Tế Giang Ra tay diệt
trừ hoa lạ
Hồi Thứ Chín Mươi Tám
Đánh hỏa công giết tướng Tế Giang
Bàn diệu kế ngăn chặn binh ngoài
Hồi Thứ Chín Mươi Chín
Phấn độc biển bức hại người Trận
huyền nhiệm Áo Ly hiến kế
Hồi Thứ Một Trăm
Quân sư luận kế lấy Phục Tượng Bắt
tướng địch giết xong yêu quái
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Một
Ngưu ma trận đả bại Lê Hoàn Kế thần
đấu trí triệt ngoại nhân
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Hai
Xuân Lâm xua trâu vào trận Giết Áo Ly,
bắt hết trâu thần
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Ba
Mắng Thành Đức thu hàng hàng tướng
giỏi Đem hỏa Vân đốt cháy Cự Linh
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Bốn
Ôn Thao trúng kế đầu hàng Vượt Thiên
Ma, Lục Hồ bị bắt
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Năm
Siêu Loại tàn vong, Sứ quân chiến tử
Thủ Tiệp muốn làm Vương, Hoa Lư bàn
thế trận
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Sáu
Chiến thư lập trận Cờ tiên Giảng trăm
bước thu thành Bát Vạn
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Bảy
Đổng Thừa nghe nhạc chịu hàng Cùng
đường, Sứ quân tự ải
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Tám
Sơ Hạ bàn việc chinh Tây Giết Sứ, liên
minh không thành
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Chín
Kế Điền Bạc, Phong Châu hùng mạnh
Cướp thời cơ phá Đỗ Động giang
Hồi Thứ Một Trăm Mười
Hai trại tan, Sứ quân bị hại Hồi Hồ
nguy, bàn việc giải nguy
Hồi Thứ Một Trăm Mười Một
Trường Kì kể việc chiêm tinh Phu nhân
muốn hàng Động chúa
Hồi Thứ Một Trăm Mười Hai
Hồi Hồ loạn, phu nhân tự sát Phá tửu
trận, Quân sư vào ải
Hồi Thứ Một Trăm Mười Ba
Thạch trận tan, tửu luận dâng thành Kể
việc đời, Mộc Đường nộp ải
Hồi Thứ Một Trăm Mười Bốn
Hồi Hồ hỗn loạn, Vương mở hội Dàn
quân mở trận, lập hôn nhân
Hồi Thứ Một Trăm Mười Lăm
Điềm trời hiện, Hồi Hồ định việc Hoa Lư
chiến, hủy diệt hung tàn
Hồi Thứ Một Trăm Mười Sáu
Giết nhiều người, quân sư lâm bệnh
Phao tin đồn, Lê Thảo dựng mưu
Hồi Thứ Một Trăm Mười Bảy
Luận tướng diện, Minh quân xuất thế
Hội trăng rằm, chờ đón vua ra
Hồi Thứ Một Trăm Mười Tám
Cùng đường, Nguyễn Khoan thọ tử
Định kế thu phục Phong Châu
Hồi Thứ Một Trăm Mười Chín
Hỏa công Tam Đảo mở trời đất Dao ngà
kết thúc loạn Sứ quân
Mấy lời cuối truyện
Hồi Thứ Nhất
Kim Tinh Bắc Đẩu ở nơi phong cảnh
kì tú
Giữ chợ bắt gái, Huyện Quan bị mổ
bụng cắt đầu
L
úc ấy là vào thời Ngô. Thiên hạ đại loạn, triều chính
nát bét không có minh quân trị vì, ngoài dân gian
nhan nhản hạng quan lại tham nhũng thi nhau đục
khoét, hành hạ trăm dân, nhà nhà sống trong tình cảnh khổ
cực chưa từng thấy, giặc cướp không đâu là không có.
Cuối năm Mậu Thân (948), trời bỗng đổi thời tiết, khác
hẳn với mọi năm, năm ấy rét mướt lại nhiều mưa to, gió lớn
vật ngã cả cây đại thụ ở bến đò Bồ Điền, ai cũng cho là
điềm xấu, dân tình chắc còn khổ nhiều. Cuối năm tuy đói
khổ giặc cướp, dân gian cũng cố chạy tiền lo gạo, những
tưởng được yên ổn đón Xuân sang, hy vọng ở ngày mai
thanh bình. Nào ngờ, huyện quan Bồ Điền vốn là đứa vô
hạnh bất tài, nhưng đem bạc vàng ra mua quan tìm chức,
nay được trấn nhậm tại nơi đất lành, dân tuy không giàu
nhưng cũng dư ăn, thừa mặc. Liền thả cửa đục khoét, dân
t
 









Các ý kiến mới nhất