ANH HÙNG ĐÔNG A

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:48' 30-01-2026
Dung lượng: 9.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:48' 30-01-2026
Dung lượng: 9.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Cáo lỗi:
Thuật giả trân trọng cáo lỗi với độc giả hai điều.
Suốt 50 hồi, bộ Anh Hùng Đông A Dựng Cờ Bình Mông có nhiều vấn đề, nhiều chi tiết đã nói tới, đã
giảng giải, đã chú thích. Thế nhưng quý vị lại thấy nó xuất hiện trong những bài phụ lục, hoặc phụ
đính là tại sao? Xin thưa, những bài phụ lục là những bài diễn văn, những bài tham luận, hoặc những
bài giảng. Vì tính cách độc lập của nó, nên thuật giả phải chú giải, hoặc trình bầy rõ ràng. Rồi khi
xuất bản bộ AHĐA-DCBM, cho in vào. Mong độc giả xí xái bỏ qua cho. Như quyển 3, hồi 27 đã trích
dẫn gia phả con cháu Trần Ích Tắc chép về các con vua Lý Anh-tông. Thế mà trong bài phụ lục, cuối
quyển 3, trong bài “Nguyên-tổ hai giòng họ Lý tại Hàn-quốc” cũng lại trích dẫn đoạn gia phả trên.
Hoặc quyển 1, hồi thứ nhất, đã thuật vụ ông Trần Định Nhân, hậu duệ đời thứ 27 Chiêu Quốc vương
Trần Ích Tắc bị mất chức. Thế nhưng khi viết bài “Đi tìm dấu vết về ba cuộc bình Mông, của tộc Việt
thế kỷ thứ XIII”, tôi lại nhắc đến lần nữa. Không phải là cố ý hay sơ xuất, mà vì bài phụ lục, là bài
diễn văn khai mạc niên khóa 1998-1999 tại viện Pháp-Á, có tính cách độc lập.
Một cái nhìn tổng quát về
Ba cuộc chiến thắng Mông-cổ
thế kỷ thứ XIII của dân tộc Việt-Nam.
Giáo-sư Pape Vareilla
Viện-trưởng viện Pháp-á
Chuyển ngữ : Tăng Hồng Minh, tiến sĩ văn chương.
1. Viện Pháp-á xin trân trọng trình bầy với quý độc giả bộ lịch sử tiểu thuyết mang
tên: Anh hùng Đông-A thuật ba giai đoạn chiến thắng quân Mông-cổ của dân tộc ViệtNam vào thế kỷ thứ 13.
Anh-hùng Đông-A có hai đoạn:
a- Đoạn mở đầu mang tên : Dựng-cờ bình Mông. mà độc giả đang có trên tay.
Trọn bộ gồm 5 quyển, mỗi quyển trên dưới 500 trang, tổng cộng 2566 trang.
b- Đoạn thứ nhì mang tên : Gươm thiêng Hàm-tử.
Bộ này dự trù sẽ được xuất bản vào cuối năm 2000.
Tác giả là Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, giáo sư trưởng khoa Sinologie của viện Pháp-á.
2. Sở dĩ viện Pháp-Á giúp đỡ, cung cấp tài liệu, trợ giúp giáo sư Trần trong việc biên
tập này, vì ba nghi vấn lớn của lịch sử, mà ông có khả năng làm sáng tỏ.
– Một là, như lịch sử chép, quân Mông-cổ chinh phục, chiến thắng toàn bộ các nước từ
Á sang Âu, rồi đặt nền cai trị đến mấy trăm năm. Thế nhưng vó ngựa thép Mông-cổ bị
chặn lại tại Việt-Nam và Nhật-bản. Mông-cổ bị hai dân tộc này đánh bại. Đối với Nhậtbản, thắng Mông-cổ thì dễ hiểu, bởi quân Mông-cổ sống trên vùng Thảo-nguyên, họ chỉ
có kỵ binh, dùng cung tên, và chưa từng biết thủy chiến. Khi đánh Nhật-bản, quân số
của họ ít, lại phải bỏ ngựa đi thuyền. Khi đổ bộ lên Nhật-bản, họ bị dân Nhật đông gấp
bội, quen thủy tính, thuộc địa thế, đón chờ trên bờ, đổ ra đánh. Họ bị bại là lẽ đương
nhiên. Thế nhưng khi đánh Việt-Nam, họ bị bại đến ba lần. Lần đầu 10 vạn quân, lần thứ
nhì, và thứ ba, mỗi lần 50 vạn quân. Địa thế Việt-Nam họ quen thuộc, lại thuận tiện.
Biên giới Hoa-Việt liền với nhau. Đường thủy, đường bộ đều dễ dàng. Cả hai bên cùng
dùng bộ chiến, thủy chiến. Cho đến nay, các nhà Mông-cổ học, các nhà sử học cũng
không hiểu trong cuộc chiến tranh này, người Việt đã dùng vũ khí gì ? Dùng chiến thuật
gì mà thắng Mông-cổ vẻ vang như thế ?
– Hai là, truyền thống của Mông-cổ, mỗi khi bị bại tại một mặt trận nào, không bao
giờ họ chịu nhịn. Họ sẽ dốc quân nghiêng nước sang trả thù, cho đến lúc đạt được chiến
thắng toàn bộ mới thôi. Khi Mông-cổ sang đánh Việt-Nam lần thứ nhất là năm 1258, là
lúc mà họ cực thịnh. Họ đã chiếm đến 9/10 lãnh thổ Trung-quốc, toàn bộ các nước Áchâu như Kim, Liêu, Tây-hạ, Thổ-phồn, Cao-ly, Tây-tạng, Afganistan, Hồi. Họ cũng đã
chinh phục toàn bộ các nước vùng Trung-Đông, các nước Âu-châu như Đức, Hung, Balan, Tiệp-khắc, Liên-sô. Rồi khi họ sang đánh lần thứ nhì (1284-1285) và ba (12871288), là lúc họ chiếm trọn Trung-quốc. Có thể nói, bấy giờ quân của họ đông gấp nghìn
quân Việt. Thế sao, sau ba lần bị bại, họ lại im lặng chịu nhục, không diệt hết dân Việt
như họ đã làm tại các nước Trung-Đông, Âu-châu ?
– Ba là, theo các bộ chính sử Trung-quốc như Sử-ký Hán-thư, Ngũ-đại sử, Đường-thư,
Tống-sử, Nguyên-sử thì người Việt giỏi thủy chiến. Khi đánh nhau với Trung-Quốc, dưới
sông, trên biển, bao giờ họ cũng thắng. Sự thực ra sao ? Người Việt có thể lặn dưới nước
hàng giờ (120 phút ngày nay) như sử Trung-quốc chép không ? Tất cả các trận đánh lớn
với Mông-cổ, mà người Việt toàn thắng đều là thủy chiến : Đông-bộ đầu, Tây-kết, Hàmtử, Chương-dương, Bạch-đằng. Yếu tố nào người Việt lại giỏi thủy chiến như vậy ?
3. Trong phần 1, tức Dựng-cờ bình Mông, giáo-sư Trần Đại-Sỹ đã khởi mốc thời gian
từ thời vua Anh-tông triều Lý (1157), để độc giả thấy rõ, vì lý do gì, mà một triều đại
đang huy hoàng như vậy, bị xụp đổ dễ dàng? Dân chúng mau chóng quên dư vang chiến
thắng đánh Tống, bình Chiêm của triều Lý? Tuy là tiểu thuyết, nhưng tác giả đã tìm ra
được những bí ẩn lịch sử, bị chôn vùi theo thời gian :
– Trải suốt 4 nghìn năm lịch sử, Trung-quốc luôn coi Việt-Nam là một phần lãnh thổ
của họ. Họ gọi Việt-Nam là quận Giao-chỉ. Họ phong cho các vua Việt là Giao-chỉ quận
vương. Trong khi các vua Việt cứ xưng là hoàng đế, có niên hiệu riêng. Nước Việt vẫn
xưng là Đại-Việt. Trò chơi này kéo dài đến 4000 năm. Vậy thì do đâu Trung-quốc lại
công nhận Việt-Nam là một nước, mang tên An-Nam, công nhận vua Việt là An-Nam
quốc vương ?
– Suốt 23 năm qua, các giáo sư nhân chủng học Tây-phương đưa ra nhận xét : Từ
năm 1975, có cuộc di cư vĩ đại của người Việt ra ngoại quốc. Họ ra nước ngoài với hai
bàn tay trắng. Thế nhưng chỉ sau mấy năm, họ đã có chỗ đứng thực vững chắc trong
mọi lãnh vực, hơn dân bản sứ rất nhiều. Trẻ Việt trong các trường học, gần như chúng
đều là những học sinh ưu tú. Rồi kết luận : Người Việt vốn thông minh hiếu học, nhưng
trình độ giáo dục khoa học, kỹ thuật Việt-Nam quá thấp. Họ lúng túng trong cái nhỏ hẹp
của lãnh thổ. Khi ra hải ngoại, họ như đại bàng tung cánh trên bầu trời. Ngược lại, giáo
sư Trần Đại-Sỹ thì cho rằng, sở dĩ người Việt được như thế, vì họ có một chủ đạo vững
chắc. Ông đã chứng minh được điều đó: Trong cuộc sưu khảo, ông tìm ra hai tộc Lý tại
Đại-hàn, từng là thuyền nhân vào thế kỷ thứ 12 và 13. Đây là hai trường hợp điển hình.
Hai giòng họ này là thuyền nhân tới Hàn quốc vào năm 1150 và 1226 (1). Khi tới Hànquốc, các thuyền nhân này mau chóng trở thành những nhân vật kiệt hiệt trong văn
học, trong chính trị, quân sự. Tổng thống Lý Thừa-Vãn trước đây là con cháu của thuyền
nhân năm 1226. Hiện tại cả Nam lẫn Bắc-hàn, bất cứ trong lãnh vực nào, giòng họ Lý,
gốc thuyền nhân cũng trội hơn các tộc khác. Giáo sư Trần Đại-Sỹ kết luận: Sở dĩ người
Việt chiếm được ưu thế như vậy là do họ có một chủ đạo, gần nghìn năm trước họ đã
hơn người, chứ không phải đến bây giờ.
4. Sang phần thứ nhì của bộ Anh hùng Đông-a là Gươm thiêng Hàm-tử, tác giả thuật
lại hai chiến cuộc lớn nhất của Việt-Nam với Mông-cổ. Khác với lần thứ nhất, quân số
Mông-cổ chỉ có 5 vạn, còn 5 vạn là hàng binh Đại-lý. Người chỉ huy là Thái-sư Ngộtlương Hợp-thai (2). Lần này Hoàng-đế Hốt Tất Liệt sai Thái-tử Thoát Hoan, cùng những
danh tướng tài ba nhất, mang tới 50 vạn quân. Kết quả, Thoát Hoan phải bỏ chạy, hài
hước là vị trừ quân Mông-cổ phải chui vào ống đồng, mới thoát chết. Đến lần thứ ba,
cũng quân số 50 vạn người. Cho rằng vì Việt-Nam giỏi thủy chiến, Hốt Tất Liệt đã gửi
hạm đội ưu tú nhất, gồm 5 vạn người, toàn người Trung-hoa. Kết quả, lại bị phá trong
trận thủy chiến Bạch-đằng. Kỳ diệu thay!
Xin mở cái ngoặc ở đây, khi nghe giáo sư Trần Đại Sỹ giảng về trận Bạch-đằng cho
sinh viên; dù tôi đã được xem vidéo chiếu địa thế Bạch-đằng, song chúng tôi cũng không
tin cho lắm. Hè năm 1998, tôi cùng giáo sư Henri Pontalet, được giáo sư Trần Đại Sỹ dẫn
sang Việt-Nam, quan sát tại chỗ địa thế Bạch-đằng cùng cư dân sống trên thuyền ở vịnh
Hạ-long, chúng tôi mới thực sự tin (3)
5. Chắc quý độc giả muốn biết, chúng tôi đã giúp gì? Bằng phương tiện gì ? Để giáo
sư Trần Đại Sỹ có thể hoàn thành một công việc nghiên cứu ngoài chuyên môn của ông
? Xin thưa, nếu ông không là một bác sĩ y khoa thì ông không thể nào thực hiện được
công việc nghiên cứu này.
Vốn có cái sở học uyên thâm về học thuật Đông-phương thụ đắc của tiền nhân. Từ
năm 1976, ông làm việc cho Ủy-ban y học Pháp-Hoa (Commité Médical FrancoAsiatique), viết tắt là CMFA. Lúc đầu, ông là thông dịch viên, rồi tổng thư ký, rồi trưởng
phái đoàn. Mỗi năm ông theo phái đoàn Pháp sang Trung-quốc trao, tức giảng dạy ; đổi
tức học. Trong những dịp như vậy, ông thu xếp để có thời giờ vào các thư viện, viện bảo
tàng khắp các tỉnh phía Nam Trung-quốc, nghiên cứu về lịch sử Hoa Việt. Thành công
lớn. Ông đã công bố trong những tác phẩm của ông, 34 quyển, với 13 ngàn trang.
Đặc biệt khi sưu khảo tài liệu viết bộ Anh-hùng Đông-a này, ông không dựa vào Ủyban y học Pháp-Hoa được nữa. Vì vùng nghiên cứu không phải là lãnh thổ Trung-quốc.
Cho nên chúng tôi quyết định trợ cấp cho ông : Phí khoản chuyên chở, ẩm thực, cư trú,
máy móc, nhân viên, thông dịch. Ông đã đi gần khắp lãnh thổ Mông-cổ, Bắc-Hàn, tới tất
cả những vùng mà Mông-cổ chinh phục từ Á, sang Âu. (4)
Quân Mông-cổ do tướng Triết Biệt cùng vương tử Truật Xích đã dùng một con đường
băng qua núi cao Borohoso Shan (Ba-la-khoa hiệp sơn), Tien Shan (Thiên-sơn) 7000
thước giữa mùa đông tuyết phủ, lạnh – 30 độ C ; để đánh vào hậu quân của hoàng đế
Ala-Ed Din Mohammed. Một số các sử gia không tin rằng quân Mông-cổ có thể thực hiện
được cuộc tiến quân này. Giáo-sư Trần Đại Sỹ lại tin là có. Để giải quyết nghi vấn, ông
đã thử đi con đường này, cũng vào mùa Đông. Kết quả, ông thành công. Nhưng trong
cuộc di chuyển này, một tai nạn suýt nữa ông cùng bốn đồng nghiệp, hai hướng dẫn
viên, ba nhân viên kỹ thuật, ba thông dịch viên, bẩy nhân viên phục dịch bị chết …đói.
Cũng may phái đoàn có máy truyền tin liên lạc, rồi trực thăng đã tiếp tế lương thực.(5)
Vậy viện Pháp-á trân trọng giới thiệu với quý độc giả đoạn đầu bộ Anh hùng Đông-a,
mang tên Dựng cờ bình Mông, và nhiệt liệt khen ngợi giáo sư Trần Đại-Sỹ về tài năng,
nhất là về sự cố gắng phi thường của ông.
Paris ngày 8 tháng 12 năm 1998.
Giáo-sư Pape Vareilla.
Viện trưởng viện Pháp-Á,
kiêm trưởng khoa Việt-học.
Chú giải
(1) Vua Lý Nhân-tông không có hoàng nam. Niên hiệu Hội-tường Đại-khánh thứ 8 (1117), tháng 10,
nhà vua nhận con trai của các hầu: Sùng Hiền, Thành Khánh, Thánh Quảng, Thành Chiêu, Thành
Hưng làm con nuôi. Khi vua băng, truyền ngôi cho con Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán (1127), tức
vua Lý Thần-tông. Năm 1138, vua Thần-tông băng, trong khi Thái-tử Thiên Tộ mới có 3 tuổi, triều
thần nghị tôn con của Thành-Quảng hầu là Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đã 24 tuổi, thông minh,
tái trí, nhân từ lên làm vua. Nhưng cuối cùng bọn Từ Văn Thông, Đỗ Anh Vũ nhất định theo di chiếu
lập Thiên Tộ lên ngôi, tức vua Lý Anh-tông. Tuy việc đã qua, nhưng sinh mẫu nhà vua là Cảm Thánh
thái hậu, mới 22 tuổi, thấy con của các hầu Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng
là mối lo, bà mưu với tình nhân là Đỗ Anh Vũ, vu cáo cho các hầu mưu phản, rồi sai quân vây bắt cả
nhà đem giết. Bấy giờ Kiến Hải vương đang là Đô-đốc thủy quân, trấn ở Đồn-sơn được mật báo. Ông
đem tông tộc xuống hạm đội, trốn sang Cao-ly xin kiều ngụ. Còn ba hầu Thành Khánh, Thành Chiêu,
Thành Hưng, bị giết cả nhà. Số người chết lên tới hơn năm nghìn! Lý Dương Côn trở thành nguyên tổ
của một tộc Lý tại Đại-hàn.
Năm 1226, dưới triều Trần, vì sợ Trần Thủ Độ “nhổ cỏ phải nhổ tận rễ”, con út của vua Lý Anh-tông
là Thái-sư thượng trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, Thượng-thư tả
bộc xạ, lĩnh Đại Đô-đốc, Kiến Bình vương Lý Long Tường, lại đem toàn bộ tông tộc 6 nghìn người
xuống hạm đội lưu vong, rồi cũng trôi dạt tới Cao-ly, nay là Đại-hàn. Ông là nguyên tổ của tộc Lý thứ
nhì tại Hàn-quốc.
Được sự trợ giúp tài chính của viện Pháp-á, giáo sư Trần Đại-Sỹ đã sang Đại-hàn, cả Nam lẫn Bắc,
nghiên cứu về hai giòng họ Lý. (Xin xem phụ lục AHĐA quyển 3, Nguyên-tổ họ Lý tại Hàn-quốc).
(2). Tất cả các bộ sử như ĐVSKTT, VSL, TS, MCMS đều không chép khi Ngột-lương Hợp thai đem
quân đánh Đại Việt lĩnh chức gì. Duy ANCL, Lê Tắc chép y lĩnh chức Thái-sư. Lê Tắc với Ngột-lương
Hợp-thai sống đồng thời, nên giáo sư Trần Đại-Sỹ tin Lê hơn, chép y lĩnh chức Thái-sư. Chúng tôi
cũng tin như vậy.
(3). Trên vịnh Hạ-long, hiện nay có hằng trăm nghìn ngư dân sống bằng thuyền. Họ rất giỏi thủy
tính. Trẻ con ba tuổi đã biết bơi. Từ sáu bẩy tuổi cho đến…trăm tuổi, dù sóng gió, dù thuyền nhỏ, họ
có thể đi lại như trên đất liền, mà không sợ bị say sóng, không sợ bị ngã. Theo những ngư dân kể lại
với chúng tôi và giáo sư Trần Đại Sỹ thì tổ tiên họ sống trên biển như vậy từ thời lập quốc. Tôi đã
được họ biểu diễn: Tung mấy bé trai từ 4 tới 6 tuổi xuống biển. Ngay lập tức các bé trai nổi lên, bơi
như con cá voi, miệng cười khúc khích, đùa vui với nhau. Hỏi với sắc dân đó, tuyển họ vào thủyquân, thì thủy quân nào thắng nổi họ!!!
(4). Phái đoàn gồm có : Trưởng phái đoàn, giáo sư Trần Đại Sỹ, trưởng khoa Sinologie (Pháp). Giáosư Henri Pontalet, Mông-cổ học (Pháp). Kỹ-sư Jean Marc Zimmemann, địa chất học (Thụy-sĩ). Giáo
sư Shikata John (Hoa-kỳ) nhân chủng họ. Kỹ-sư Mac Frederman (Úc) Khí tượng học. Phái đoàn đã đi
qua các nước : Trung-quốc (Nội-mông, Tân-cương, Tây-tạng), Mông-cổ, Liên-sô, Irak, Iran, Syrie,
Afhhanistan, Thổ-nhĩ-kỳ, Ba-lan, Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Bảo-gia-lợi, Ba-tư, và Đức. Tổng cộng
chuyến đi nghiên cứu này là 48 ngày, với phí tổn là một triệu bẩy trăm ba mươi nghìn
USD.(1.730.000 USD).
(5) Sự kiện này xẩy ra như sau: Hướng đạo viên nói rằng, thời gian đi ngựa để vượt qua rặng núi kia
là 16 ngày. Vì vậy phái đoàn chỉ mang theo lương thực 20 ngày. Thế nhưng trong khi đi, phái đoàn
dừng lại dùng máy trắc nghiệm độ cao, độ dầy của tuyết, tìm kiếm những vũ khí nằm dưới lớp đất.
Thành ra tới ngày thứ 18 thì hết lương, mà bấy giờ phái đoàn đang ở đỉnh cao nhất của núi. Trở lại,
hay đi tới cũng phải mất hơn mười ngày. Phái đoàn dùng máy truyền tin cầu cứu, ba ngày không kết
quả, vì bão tuyết. Phái đoàn đã phải nhịn đói sang ngày thứ nhì, thì may mắn thay, một phi cơ hàng
không bay qua, nhận được tín hiệu cầu cứu. Viên phi công trưởng mới báo xuống đất. Và trực thăng
được xử dụng để chở thực phẩm tiếp tế. Trong khi tiếp cứu cho phái đoàn của giáo sư Trần Đại Sỹ,
chúng tôi lo lắng cho ông, lên ruột vì ông, thì khi về Paris an toàn, ông còn nói bướng: Số Tử-vi của
tôi không bao giờ bị chết đói. Đúng là Việt-Nam dị nhân!
Đi tìm dấu tích về
Ba cuộc bình Mông tộc Việt
thế kỷ thứ XIII
Phần này, tôi viết cho độc giả trẻ, muốn tìm nguồn tài liệu về Mông-cổ, về ba cuộc
chiến tranh Việt-Mông. Xin các vị cao minh bỏ qua, chẳng nên bận tâm.
Các bạn trẻ thân.
Tôi viết những giòng này dành cho các bạn. Hy vọng rằng nó sẽ giúp các bạn những
bước đầu tìm hiểu về Mông-cổ . Nhất là hướng dẫn các bạn đi tìm tài liệu, cách xử dụng
tài liệu về ba cuộc bình Mông của người Việt.
1. Giầu lòng yêu nước, nghèo nàn thư tịch.
Cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông của dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 13
thực là vĩ đại. Thế nhưng, cho đến nay, những thư tịch biên chép quá ít, quá sơ lược.
Nếu các bạn mở bất cứ bộ sách viết về Mông-cổ bằng tiếng Anh, Pháp, Đức nào ra cũng
thấy ghi rằng: Mông-cổ thắng khắp từ Á, sang Âu, đặt ách cai trị. Chỉ bại duy nhất tại
Việt-Nam và Nhật-bản. Thế nhưng khi các bạn mở kho tàng lịch sử Việt-Nam ra, thì hỡi
ơi! Đại-Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), Việt sử lược (VSL), Khâm-định Việt sử thông giám
cương mục (KĐVSTGCM), chỉ dành đâu mươi mười lăm trang chép lại mà thôi. Các sách
sau này, chỉ mô phỏng của ba bộ trên, rồi vẽ rồng, vẽ rắn thêm vào. Đau đớn thay, mô
phỏng luôn cả những cái sai lạc của người xưa.
2. Đi tìm di thư tiền nhân
Bộ sách ghi chép đầy đủ các chiến thắng Mông-cổ, được soạn thảo ngay sau cuộc
chiến, mang tên Trung-hưng thực lục. Trong đó những người có công đều được ghi danh,
và vẽ hình, nay không còn . Hai bộ Binh-thư yếu lược, Vạn-kiếp tông bí truyền thư của
Hưng Đạo vương không tìm ra vết tích.
Đến đây chắc các bạn đặt câu hỏi: Thế tại sao, hiện người Việt đang lưu hành bộ
Binh-thư yếu lược, được dịch sang Việt-ngữ? Thưa đây là người sau ngụy tạo.
Ba bộ sách trên, tôi biết rằng năm 1407, Trương Phụ đã cướp mang về Kim-lăng. Hồi
Bát-quốc đánh nhà Thanh vào cuối thế kỷ thứ 19, chiếm Kim-lăng. Trong 8 đoàn quân
đó, có hai đoàn thuộc nước trình độ văn hóa cực cao là Nhật-bản và Pháp. Hai đoàn
quân này đã mang về nước khá nhiều sách. Trong đó có những sách mà Trương Phụ
cướp từ Đại Việt. Tôi đặt nghi vấn: Biết đâu trong số sách mà Pháp, Nhật mang đi chả có
ba bộ sách trên? Vì vậy tôi gắng công đi tìm.
Đầu tiên, tôi tìm trên đất Trung-quốc.
Trong thời gian theo phái đoàn trao đổi y học Pháp-Hoa (1976-1999), hễ có dịp là tôi
vào những thư viện Trung-quốc mò mẫm. May ra! Nhờ vào vị thế khi thì là thông dịch
viên, khi thì là giảng viên, khi thì là tổng thư ký, gần đây là trưởng phái đoàn. Đoàn của
tôi là đoàn trao, tức giảng dạy tại các đại học y khoa. Tôi nghiễm nhiên trở thành quý
khách của Trung-quốc, nên không bị kỳ thị, không bị nghi ngờ. Hơn nữa được quý mến,
nên thư viện nào tôi muốn vào, đều được chiều theo ý. Đầu tiên tôi tìm ở các thư viện
trung ương, thư viện cấp tỉnh của 5 tỉnh cực Nam Trung-quốc là Quảng Đông, Quảng
Tây, Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam. Không thấy! Kiên chí, tôi mò xuống thư viện cấp
huyện, thư viện các đại học Văn-khoa, đại học Sư-phạm. Biệt tăm! Tôi biết rằng tại thư
viện Bộ-chỉ huy Quân-sự năm tỉnh cực Nam và thư viện Bộ Tư-lệnh ba quân khu mà lãnh
thổ tiếp giáp với Việt-Nam là nơi tàng trữ tất cả tài liệu nghiên cứu về chiến tranh Hoa
Việt. Tôi xin vào nghiên cứu, thì bị từ chối theo kiểu ngoại giao «Đây là tài liệu quá
chuyên môn dành cho những sĩ quan tham mưu nghiên cứu. Ông là thầy thuốc. Ông có
đọc cũng không hiểu gì». Không nản! Tôi biết rằng cổ, kim; Đông, Tây, các bà đều thích
đẹp; và cồng bà bao giờ cũng mạnh hơn lệnh ông. Tôi vận động ân huệ của các bà mà
tôi ngoại giao bằng lột da mặt, cắt mắt, làm mũi cao, làm môi trái đào, lấy mỡ bụng.
Thành công. Tôi được vào tất cả các thư viện trên mò mẫm. Thế nhưng, tôi vẫn không
tìm ra tông tích ba bộ sách của tổ tiên. Đau thực! Tuy không tìm ra, nhưng tôi cũng
được đọc mấy bộ sách quý, có tính cách tài liệu như:
– Nam Việt, Âu Lạc tác chiến khảo lược. Ban nghiên cứu, Sở tác chiến, Bộ Chỉ-huy
quân sự tỉnh Quảng Tây biên tập. Nội dung nghiên cứu về cuộc chiến tranh giữa Triệu
Đà và Thục An Dương vương.
– Đông Hán, bình Giao-chỉ khảo lược. Sở nghiên cứu, cục Tác-chiến, bộ Tổng Tư-lệnh
quân đội Nhân-dân, Trung-quốc. Nội dung nghiên cứu về những trận đánh của vua
Trưng với Mã Viện.
– Tam thế Bạch-đằng nghiên cứu. Sở nghiên cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tư-lệnh Hải-quân
Trung-quốc. Nội dung nghiên cứu ba trận Bạch-đằng về thời vua Ngô, vua Lê và thời
Trần. Phụ đính có luận về trận Hàm-tử, Chương-dương, Tây-kết.
– Quách thị Nam chinh, là bộ nhật ký hành quân của Quách Quỳ, tướng tư lệnh đội
quân Tống sang đánh Đại Việt năm 1077.
– Triệu thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, nhật ký hành quân của Triệu Tiết, tướng phó tư lệnh
quân đội Tống sang đánh Đại Việt năm 1077.
– Nguyên triều chinh tiễu An-Nam khảo bị, sở Nghiên-cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tổng tưlệnh quân đội Nhân-dân Trung-quốc. Nghiên cứu về ba cuộc Mông-cổ sang đánh ĐạiViệt.
– Minh đại, chinh tiễu An-Nam lược khảo. Sở Nghiên -cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tổng Tưlệnh quân đội Nhân-dân Trung-quốc. Nội dung nghiên cứu về những trận đánh giữa
quân Minh do Trương Phụ, Mộc Thạch chỉ huy đánh Hồ Quý Ly, và những trận đánh của
vua Lê Thái-tổ với Liễu Thăng, Vương Thông.
– Càn Long chinh Nam nghiên cứu khảo bị. Sở Nghiên-cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tổng
Tư-lệnh quân đội Nhân-dân Trung-quốc. Đây là tài liệu dài nhất, tổng cộng 320 trang
A4. Nội dung nghiên cứu về nguyên do thất bại của Tôn Sĩ Nghị. (Các bạn nên nhớ, 320
trang chữ Hán, nếu dịch sang Việt ngữ phải 900 trang. Nếu sang Anh, Pháp ngữ còn dài
hơn nữa).
Xin lưu ý các vị điểm sách
của Trung-quốc, Việt-Nam, Pháp.
Khi điểm đến phần này xin các vị trình bầy rõ ràng một chút. Tôi chỉ là thầy thuốc, say mê nghiên
cứu lịch sử để viết tiểu thuyết. Tuy được đọc nhiều tài liệu, nhưng tôi quyết giữ tư cách của một nhà
ngoại giao, trung thành với lời thề tại Đại-học y khoa Paris. Nhất là không phản những vị đã ban ân
cho tôi được vào thư viện đặc biệt để nghiên cứu. Tôi chưa từng tiết lộ, hiện không tiết lộ, và sau
này dù dao kề cổ, dù súng chỉ ngực tôi cũng không tiết lộ những gì có hại cho Trung-quốc, cho các
thân chủ, cho các bạn của tôi.
Cũng nên nói ở đây: Khác với các sử gia Trung-quốc, khi viết về Việt-Nam, luôn gọi là Giao-chỉ, Namman, An Nam, rồi dùng những từ lăng nhục. Các sĩ quan Trung-quốc khi soạn những tài liệu trên đã
bình luận rất vô tư. Việt có sở trường, sở đoản gì thì nói thực. Những lời bình luận rất chính xác.
Tại Trung-quốc không tìm thấy, tôi vẫn không nản chí. Tôi lại bỏ sang Nhật-bản, mò vào đủ các thư
viện, mà cũng tuyệt vô âm tín. Trong thời gian này, giáo sư Trần Kinh Hòa (1914-1997), của đại học
Soka cũng từng cố gắng tìm kiếm, mà…hỡi ôi! Vô ích. Như vậy là mất vĩnh viễn rồi. Tiếc thay! Buồn
thay!
3. Trở về với nguồn thư tịch nghèo nàn
Tôi đành trở về với bộ ĐVSKTT. Nhưng bộ này chép quá sơ sài về ba cuộc kháng
Nguyên-Mông, thì làm sao có thể dựng lại chi tiết các trận đánh? Ấy là không kể Ngô Sĩ
Liên đã có những sai lầm quan trọng như:
– Thuyền lương của Trương Văn Hổ bị đắm trong trận Bạch-đằng.
– Nguyễn Khoái bắt được Áo Lỗ Xích.
– Thoát Hoan cũng bị bắt.
Biết rằng ĐVSKTT có nhiều sai lầm, tôi đi tìm bộ KĐVSTGCM. Bộ này do Quốc-sử quán
triều Nguyễn soạn (1859). Các sử gia triều Nguyễn đã tham khảo thư tịch Trung-quốc
như:
– Nguyên sử của Tống Liêm đời Minh.
– Nguyên sử loại biên tức Tục hoằng giản lục của Thiệu Viễn Bình đời Thanh.
– Nguyên sử bị vong lục của Vương Quang Lỗ đời Minh.
– Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm.
Nhưng KĐVSTGCM cũng vấp vào những sai lầm:
Trận Vân-đồn xẩy ra vào tháng 12 niên hiệu Trùng-hưng thứ 3 (5-1 tới 2-2-1288) khi
thủy quân Nguyên tiến vào nước ta.
Lại chép lầm rằng:
Trận Vân-đồn xẩy ra vào tháng giêng năm Trùng-hưng thứ 4 (3-2 tơí 2-3 năm 1288)
lúc Ô Mã Nhi đem chiến thuyền đi đón Trương Văn Hổ.
Nghĩa là sai lệch một tháng, sai lầm về vị trí trận đánh.
Sự sai lầm này, khiến các sử gia gần đây viết bằng chữ quốc ngữ cũng sai theo. Mà
thảm thay, cho đến nay, tôi nêu ra, chưa chắc thiên hạ đã chịu phục thiện.
Khi vua Lê khởi binh, muốn cho có chính nghĩa, đã tôn một người con cháu vua Trần
là Trần Cảo lên làm vua. Lúc thành đại nghiệp thì đem giết chết. Sau đó giết tất cả
những công thần, nguyên là con cháu nhà Trần, truy lùng giòng dõi nhà Trần rất gắt. Sử
ghi, Lê Lợi giết Tả-tướng quốc Trần Nguyên Hãn, một nhân vật uy tín bậc nhì sau nhà
vua, chỉ vì ông là cháu của Trần Nguyên Đán. Vì vậy trong suốt thời gian nhà Lê trị vì
(1458-1779) không một văn gia nào dám chép những chiến công của ba cuộc kháng
Nguyên-Mông. Mãi tới triều Nguyễn, mới có những sử gia soạn:
– Trần đại vương bình Nguyên thực lục.
– Vạn yên thực lục.
– Trần triều thế phả hành trạng.
– Trần gia điển tích thống biên.
Hầu hết những bộ này chỉ mô phỏng ĐVSKTT, VSL, ANCL hoặc những huy
Thuật giả trân trọng cáo lỗi với độc giả hai điều.
Suốt 50 hồi, bộ Anh Hùng Đông A Dựng Cờ Bình Mông có nhiều vấn đề, nhiều chi tiết đã nói tới, đã
giảng giải, đã chú thích. Thế nhưng quý vị lại thấy nó xuất hiện trong những bài phụ lục, hoặc phụ
đính là tại sao? Xin thưa, những bài phụ lục là những bài diễn văn, những bài tham luận, hoặc những
bài giảng. Vì tính cách độc lập của nó, nên thuật giả phải chú giải, hoặc trình bầy rõ ràng. Rồi khi
xuất bản bộ AHĐA-DCBM, cho in vào. Mong độc giả xí xái bỏ qua cho. Như quyển 3, hồi 27 đã trích
dẫn gia phả con cháu Trần Ích Tắc chép về các con vua Lý Anh-tông. Thế mà trong bài phụ lục, cuối
quyển 3, trong bài “Nguyên-tổ hai giòng họ Lý tại Hàn-quốc” cũng lại trích dẫn đoạn gia phả trên.
Hoặc quyển 1, hồi thứ nhất, đã thuật vụ ông Trần Định Nhân, hậu duệ đời thứ 27 Chiêu Quốc vương
Trần Ích Tắc bị mất chức. Thế nhưng khi viết bài “Đi tìm dấu vết về ba cuộc bình Mông, của tộc Việt
thế kỷ thứ XIII”, tôi lại nhắc đến lần nữa. Không phải là cố ý hay sơ xuất, mà vì bài phụ lục, là bài
diễn văn khai mạc niên khóa 1998-1999 tại viện Pháp-Á, có tính cách độc lập.
Một cái nhìn tổng quát về
Ba cuộc chiến thắng Mông-cổ
thế kỷ thứ XIII của dân tộc Việt-Nam.
Giáo-sư Pape Vareilla
Viện-trưởng viện Pháp-á
Chuyển ngữ : Tăng Hồng Minh, tiến sĩ văn chương.
1. Viện Pháp-á xin trân trọng trình bầy với quý độc giả bộ lịch sử tiểu thuyết mang
tên: Anh hùng Đông-A thuật ba giai đoạn chiến thắng quân Mông-cổ của dân tộc ViệtNam vào thế kỷ thứ 13.
Anh-hùng Đông-A có hai đoạn:
a- Đoạn mở đầu mang tên : Dựng-cờ bình Mông. mà độc giả đang có trên tay.
Trọn bộ gồm 5 quyển, mỗi quyển trên dưới 500 trang, tổng cộng 2566 trang.
b- Đoạn thứ nhì mang tên : Gươm thiêng Hàm-tử.
Bộ này dự trù sẽ được xuất bản vào cuối năm 2000.
Tác giả là Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, giáo sư trưởng khoa Sinologie của viện Pháp-á.
2. Sở dĩ viện Pháp-Á giúp đỡ, cung cấp tài liệu, trợ giúp giáo sư Trần trong việc biên
tập này, vì ba nghi vấn lớn của lịch sử, mà ông có khả năng làm sáng tỏ.
– Một là, như lịch sử chép, quân Mông-cổ chinh phục, chiến thắng toàn bộ các nước từ
Á sang Âu, rồi đặt nền cai trị đến mấy trăm năm. Thế nhưng vó ngựa thép Mông-cổ bị
chặn lại tại Việt-Nam và Nhật-bản. Mông-cổ bị hai dân tộc này đánh bại. Đối với Nhậtbản, thắng Mông-cổ thì dễ hiểu, bởi quân Mông-cổ sống trên vùng Thảo-nguyên, họ chỉ
có kỵ binh, dùng cung tên, và chưa từng biết thủy chiến. Khi đánh Nhật-bản, quân số
của họ ít, lại phải bỏ ngựa đi thuyền. Khi đổ bộ lên Nhật-bản, họ bị dân Nhật đông gấp
bội, quen thủy tính, thuộc địa thế, đón chờ trên bờ, đổ ra đánh. Họ bị bại là lẽ đương
nhiên. Thế nhưng khi đánh Việt-Nam, họ bị bại đến ba lần. Lần đầu 10 vạn quân, lần thứ
nhì, và thứ ba, mỗi lần 50 vạn quân. Địa thế Việt-Nam họ quen thuộc, lại thuận tiện.
Biên giới Hoa-Việt liền với nhau. Đường thủy, đường bộ đều dễ dàng. Cả hai bên cùng
dùng bộ chiến, thủy chiến. Cho đến nay, các nhà Mông-cổ học, các nhà sử học cũng
không hiểu trong cuộc chiến tranh này, người Việt đã dùng vũ khí gì ? Dùng chiến thuật
gì mà thắng Mông-cổ vẻ vang như thế ?
– Hai là, truyền thống của Mông-cổ, mỗi khi bị bại tại một mặt trận nào, không bao
giờ họ chịu nhịn. Họ sẽ dốc quân nghiêng nước sang trả thù, cho đến lúc đạt được chiến
thắng toàn bộ mới thôi. Khi Mông-cổ sang đánh Việt-Nam lần thứ nhất là năm 1258, là
lúc mà họ cực thịnh. Họ đã chiếm đến 9/10 lãnh thổ Trung-quốc, toàn bộ các nước Áchâu như Kim, Liêu, Tây-hạ, Thổ-phồn, Cao-ly, Tây-tạng, Afganistan, Hồi. Họ cũng đã
chinh phục toàn bộ các nước vùng Trung-Đông, các nước Âu-châu như Đức, Hung, Balan, Tiệp-khắc, Liên-sô. Rồi khi họ sang đánh lần thứ nhì (1284-1285) và ba (12871288), là lúc họ chiếm trọn Trung-quốc. Có thể nói, bấy giờ quân của họ đông gấp nghìn
quân Việt. Thế sao, sau ba lần bị bại, họ lại im lặng chịu nhục, không diệt hết dân Việt
như họ đã làm tại các nước Trung-Đông, Âu-châu ?
– Ba là, theo các bộ chính sử Trung-quốc như Sử-ký Hán-thư, Ngũ-đại sử, Đường-thư,
Tống-sử, Nguyên-sử thì người Việt giỏi thủy chiến. Khi đánh nhau với Trung-Quốc, dưới
sông, trên biển, bao giờ họ cũng thắng. Sự thực ra sao ? Người Việt có thể lặn dưới nước
hàng giờ (120 phút ngày nay) như sử Trung-quốc chép không ? Tất cả các trận đánh lớn
với Mông-cổ, mà người Việt toàn thắng đều là thủy chiến : Đông-bộ đầu, Tây-kết, Hàmtử, Chương-dương, Bạch-đằng. Yếu tố nào người Việt lại giỏi thủy chiến như vậy ?
3. Trong phần 1, tức Dựng-cờ bình Mông, giáo-sư Trần Đại-Sỹ đã khởi mốc thời gian
từ thời vua Anh-tông triều Lý (1157), để độc giả thấy rõ, vì lý do gì, mà một triều đại
đang huy hoàng như vậy, bị xụp đổ dễ dàng? Dân chúng mau chóng quên dư vang chiến
thắng đánh Tống, bình Chiêm của triều Lý? Tuy là tiểu thuyết, nhưng tác giả đã tìm ra
được những bí ẩn lịch sử, bị chôn vùi theo thời gian :
– Trải suốt 4 nghìn năm lịch sử, Trung-quốc luôn coi Việt-Nam là một phần lãnh thổ
của họ. Họ gọi Việt-Nam là quận Giao-chỉ. Họ phong cho các vua Việt là Giao-chỉ quận
vương. Trong khi các vua Việt cứ xưng là hoàng đế, có niên hiệu riêng. Nước Việt vẫn
xưng là Đại-Việt. Trò chơi này kéo dài đến 4000 năm. Vậy thì do đâu Trung-quốc lại
công nhận Việt-Nam là một nước, mang tên An-Nam, công nhận vua Việt là An-Nam
quốc vương ?
– Suốt 23 năm qua, các giáo sư nhân chủng học Tây-phương đưa ra nhận xét : Từ
năm 1975, có cuộc di cư vĩ đại của người Việt ra ngoại quốc. Họ ra nước ngoài với hai
bàn tay trắng. Thế nhưng chỉ sau mấy năm, họ đã có chỗ đứng thực vững chắc trong
mọi lãnh vực, hơn dân bản sứ rất nhiều. Trẻ Việt trong các trường học, gần như chúng
đều là những học sinh ưu tú. Rồi kết luận : Người Việt vốn thông minh hiếu học, nhưng
trình độ giáo dục khoa học, kỹ thuật Việt-Nam quá thấp. Họ lúng túng trong cái nhỏ hẹp
của lãnh thổ. Khi ra hải ngoại, họ như đại bàng tung cánh trên bầu trời. Ngược lại, giáo
sư Trần Đại-Sỹ thì cho rằng, sở dĩ người Việt được như thế, vì họ có một chủ đạo vững
chắc. Ông đã chứng minh được điều đó: Trong cuộc sưu khảo, ông tìm ra hai tộc Lý tại
Đại-hàn, từng là thuyền nhân vào thế kỷ thứ 12 và 13. Đây là hai trường hợp điển hình.
Hai giòng họ này là thuyền nhân tới Hàn quốc vào năm 1150 và 1226 (1). Khi tới Hànquốc, các thuyền nhân này mau chóng trở thành những nhân vật kiệt hiệt trong văn
học, trong chính trị, quân sự. Tổng thống Lý Thừa-Vãn trước đây là con cháu của thuyền
nhân năm 1226. Hiện tại cả Nam lẫn Bắc-hàn, bất cứ trong lãnh vực nào, giòng họ Lý,
gốc thuyền nhân cũng trội hơn các tộc khác. Giáo sư Trần Đại-Sỹ kết luận: Sở dĩ người
Việt chiếm được ưu thế như vậy là do họ có một chủ đạo, gần nghìn năm trước họ đã
hơn người, chứ không phải đến bây giờ.
4. Sang phần thứ nhì của bộ Anh hùng Đông-a là Gươm thiêng Hàm-tử, tác giả thuật
lại hai chiến cuộc lớn nhất của Việt-Nam với Mông-cổ. Khác với lần thứ nhất, quân số
Mông-cổ chỉ có 5 vạn, còn 5 vạn là hàng binh Đại-lý. Người chỉ huy là Thái-sư Ngộtlương Hợp-thai (2). Lần này Hoàng-đế Hốt Tất Liệt sai Thái-tử Thoát Hoan, cùng những
danh tướng tài ba nhất, mang tới 50 vạn quân. Kết quả, Thoát Hoan phải bỏ chạy, hài
hước là vị trừ quân Mông-cổ phải chui vào ống đồng, mới thoát chết. Đến lần thứ ba,
cũng quân số 50 vạn người. Cho rằng vì Việt-Nam giỏi thủy chiến, Hốt Tất Liệt đã gửi
hạm đội ưu tú nhất, gồm 5 vạn người, toàn người Trung-hoa. Kết quả, lại bị phá trong
trận thủy chiến Bạch-đằng. Kỳ diệu thay!
Xin mở cái ngoặc ở đây, khi nghe giáo sư Trần Đại Sỹ giảng về trận Bạch-đằng cho
sinh viên; dù tôi đã được xem vidéo chiếu địa thế Bạch-đằng, song chúng tôi cũng không
tin cho lắm. Hè năm 1998, tôi cùng giáo sư Henri Pontalet, được giáo sư Trần Đại Sỹ dẫn
sang Việt-Nam, quan sát tại chỗ địa thế Bạch-đằng cùng cư dân sống trên thuyền ở vịnh
Hạ-long, chúng tôi mới thực sự tin (3)
5. Chắc quý độc giả muốn biết, chúng tôi đã giúp gì? Bằng phương tiện gì ? Để giáo
sư Trần Đại Sỹ có thể hoàn thành một công việc nghiên cứu ngoài chuyên môn của ông
? Xin thưa, nếu ông không là một bác sĩ y khoa thì ông không thể nào thực hiện được
công việc nghiên cứu này.
Vốn có cái sở học uyên thâm về học thuật Đông-phương thụ đắc của tiền nhân. Từ
năm 1976, ông làm việc cho Ủy-ban y học Pháp-Hoa (Commité Médical FrancoAsiatique), viết tắt là CMFA. Lúc đầu, ông là thông dịch viên, rồi tổng thư ký, rồi trưởng
phái đoàn. Mỗi năm ông theo phái đoàn Pháp sang Trung-quốc trao, tức giảng dạy ; đổi
tức học. Trong những dịp như vậy, ông thu xếp để có thời giờ vào các thư viện, viện bảo
tàng khắp các tỉnh phía Nam Trung-quốc, nghiên cứu về lịch sử Hoa Việt. Thành công
lớn. Ông đã công bố trong những tác phẩm của ông, 34 quyển, với 13 ngàn trang.
Đặc biệt khi sưu khảo tài liệu viết bộ Anh-hùng Đông-a này, ông không dựa vào Ủyban y học Pháp-Hoa được nữa. Vì vùng nghiên cứu không phải là lãnh thổ Trung-quốc.
Cho nên chúng tôi quyết định trợ cấp cho ông : Phí khoản chuyên chở, ẩm thực, cư trú,
máy móc, nhân viên, thông dịch. Ông đã đi gần khắp lãnh thổ Mông-cổ, Bắc-Hàn, tới tất
cả những vùng mà Mông-cổ chinh phục từ Á, sang Âu. (4)
Quân Mông-cổ do tướng Triết Biệt cùng vương tử Truật Xích đã dùng một con đường
băng qua núi cao Borohoso Shan (Ba-la-khoa hiệp sơn), Tien Shan (Thiên-sơn) 7000
thước giữa mùa đông tuyết phủ, lạnh – 30 độ C ; để đánh vào hậu quân của hoàng đế
Ala-Ed Din Mohammed. Một số các sử gia không tin rằng quân Mông-cổ có thể thực hiện
được cuộc tiến quân này. Giáo-sư Trần Đại Sỹ lại tin là có. Để giải quyết nghi vấn, ông
đã thử đi con đường này, cũng vào mùa Đông. Kết quả, ông thành công. Nhưng trong
cuộc di chuyển này, một tai nạn suýt nữa ông cùng bốn đồng nghiệp, hai hướng dẫn
viên, ba nhân viên kỹ thuật, ba thông dịch viên, bẩy nhân viên phục dịch bị chết …đói.
Cũng may phái đoàn có máy truyền tin liên lạc, rồi trực thăng đã tiếp tế lương thực.(5)
Vậy viện Pháp-á trân trọng giới thiệu với quý độc giả đoạn đầu bộ Anh hùng Đông-a,
mang tên Dựng cờ bình Mông, và nhiệt liệt khen ngợi giáo sư Trần Đại-Sỹ về tài năng,
nhất là về sự cố gắng phi thường của ông.
Paris ngày 8 tháng 12 năm 1998.
Giáo-sư Pape Vareilla.
Viện trưởng viện Pháp-Á,
kiêm trưởng khoa Việt-học.
Chú giải
(1) Vua Lý Nhân-tông không có hoàng nam. Niên hiệu Hội-tường Đại-khánh thứ 8 (1117), tháng 10,
nhà vua nhận con trai của các hầu: Sùng Hiền, Thành Khánh, Thánh Quảng, Thành Chiêu, Thành
Hưng làm con nuôi. Khi vua băng, truyền ngôi cho con Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán (1127), tức
vua Lý Thần-tông. Năm 1138, vua Thần-tông băng, trong khi Thái-tử Thiên Tộ mới có 3 tuổi, triều
thần nghị tôn con của Thành-Quảng hầu là Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đã 24 tuổi, thông minh,
tái trí, nhân từ lên làm vua. Nhưng cuối cùng bọn Từ Văn Thông, Đỗ Anh Vũ nhất định theo di chiếu
lập Thiên Tộ lên ngôi, tức vua Lý Anh-tông. Tuy việc đã qua, nhưng sinh mẫu nhà vua là Cảm Thánh
thái hậu, mới 22 tuổi, thấy con của các hầu Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng
là mối lo, bà mưu với tình nhân là Đỗ Anh Vũ, vu cáo cho các hầu mưu phản, rồi sai quân vây bắt cả
nhà đem giết. Bấy giờ Kiến Hải vương đang là Đô-đốc thủy quân, trấn ở Đồn-sơn được mật báo. Ông
đem tông tộc xuống hạm đội, trốn sang Cao-ly xin kiều ngụ. Còn ba hầu Thành Khánh, Thành Chiêu,
Thành Hưng, bị giết cả nhà. Số người chết lên tới hơn năm nghìn! Lý Dương Côn trở thành nguyên tổ
của một tộc Lý tại Đại-hàn.
Năm 1226, dưới triều Trần, vì sợ Trần Thủ Độ “nhổ cỏ phải nhổ tận rễ”, con út của vua Lý Anh-tông
là Thái-sư thượng trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, Thượng-thư tả
bộc xạ, lĩnh Đại Đô-đốc, Kiến Bình vương Lý Long Tường, lại đem toàn bộ tông tộc 6 nghìn người
xuống hạm đội lưu vong, rồi cũng trôi dạt tới Cao-ly, nay là Đại-hàn. Ông là nguyên tổ của tộc Lý thứ
nhì tại Hàn-quốc.
Được sự trợ giúp tài chính của viện Pháp-á, giáo sư Trần Đại-Sỹ đã sang Đại-hàn, cả Nam lẫn Bắc,
nghiên cứu về hai giòng họ Lý. (Xin xem phụ lục AHĐA quyển 3, Nguyên-tổ họ Lý tại Hàn-quốc).
(2). Tất cả các bộ sử như ĐVSKTT, VSL, TS, MCMS đều không chép khi Ngột-lương Hợp thai đem
quân đánh Đại Việt lĩnh chức gì. Duy ANCL, Lê Tắc chép y lĩnh chức Thái-sư. Lê Tắc với Ngột-lương
Hợp-thai sống đồng thời, nên giáo sư Trần Đại-Sỹ tin Lê hơn, chép y lĩnh chức Thái-sư. Chúng tôi
cũng tin như vậy.
(3). Trên vịnh Hạ-long, hiện nay có hằng trăm nghìn ngư dân sống bằng thuyền. Họ rất giỏi thủy
tính. Trẻ con ba tuổi đã biết bơi. Từ sáu bẩy tuổi cho đến…trăm tuổi, dù sóng gió, dù thuyền nhỏ, họ
có thể đi lại như trên đất liền, mà không sợ bị say sóng, không sợ bị ngã. Theo những ngư dân kể lại
với chúng tôi và giáo sư Trần Đại Sỹ thì tổ tiên họ sống trên biển như vậy từ thời lập quốc. Tôi đã
được họ biểu diễn: Tung mấy bé trai từ 4 tới 6 tuổi xuống biển. Ngay lập tức các bé trai nổi lên, bơi
như con cá voi, miệng cười khúc khích, đùa vui với nhau. Hỏi với sắc dân đó, tuyển họ vào thủyquân, thì thủy quân nào thắng nổi họ!!!
(4). Phái đoàn gồm có : Trưởng phái đoàn, giáo sư Trần Đại Sỹ, trưởng khoa Sinologie (Pháp). Giáosư Henri Pontalet, Mông-cổ học (Pháp). Kỹ-sư Jean Marc Zimmemann, địa chất học (Thụy-sĩ). Giáo
sư Shikata John (Hoa-kỳ) nhân chủng họ. Kỹ-sư Mac Frederman (Úc) Khí tượng học. Phái đoàn đã đi
qua các nước : Trung-quốc (Nội-mông, Tân-cương, Tây-tạng), Mông-cổ, Liên-sô, Irak, Iran, Syrie,
Afhhanistan, Thổ-nhĩ-kỳ, Ba-lan, Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Bảo-gia-lợi, Ba-tư, và Đức. Tổng cộng
chuyến đi nghiên cứu này là 48 ngày, với phí tổn là một triệu bẩy trăm ba mươi nghìn
USD.(1.730.000 USD).
(5) Sự kiện này xẩy ra như sau: Hướng đạo viên nói rằng, thời gian đi ngựa để vượt qua rặng núi kia
là 16 ngày. Vì vậy phái đoàn chỉ mang theo lương thực 20 ngày. Thế nhưng trong khi đi, phái đoàn
dừng lại dùng máy trắc nghiệm độ cao, độ dầy của tuyết, tìm kiếm những vũ khí nằm dưới lớp đất.
Thành ra tới ngày thứ 18 thì hết lương, mà bấy giờ phái đoàn đang ở đỉnh cao nhất của núi. Trở lại,
hay đi tới cũng phải mất hơn mười ngày. Phái đoàn dùng máy truyền tin cầu cứu, ba ngày không kết
quả, vì bão tuyết. Phái đoàn đã phải nhịn đói sang ngày thứ nhì, thì may mắn thay, một phi cơ hàng
không bay qua, nhận được tín hiệu cầu cứu. Viên phi công trưởng mới báo xuống đất. Và trực thăng
được xử dụng để chở thực phẩm tiếp tế. Trong khi tiếp cứu cho phái đoàn của giáo sư Trần Đại Sỹ,
chúng tôi lo lắng cho ông, lên ruột vì ông, thì khi về Paris an toàn, ông còn nói bướng: Số Tử-vi của
tôi không bao giờ bị chết đói. Đúng là Việt-Nam dị nhân!
Đi tìm dấu tích về
Ba cuộc bình Mông tộc Việt
thế kỷ thứ XIII
Phần này, tôi viết cho độc giả trẻ, muốn tìm nguồn tài liệu về Mông-cổ, về ba cuộc
chiến tranh Việt-Mông. Xin các vị cao minh bỏ qua, chẳng nên bận tâm.
Các bạn trẻ thân.
Tôi viết những giòng này dành cho các bạn. Hy vọng rằng nó sẽ giúp các bạn những
bước đầu tìm hiểu về Mông-cổ . Nhất là hướng dẫn các bạn đi tìm tài liệu, cách xử dụng
tài liệu về ba cuộc bình Mông của người Việt.
1. Giầu lòng yêu nước, nghèo nàn thư tịch.
Cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông của dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 13
thực là vĩ đại. Thế nhưng, cho đến nay, những thư tịch biên chép quá ít, quá sơ lược.
Nếu các bạn mở bất cứ bộ sách viết về Mông-cổ bằng tiếng Anh, Pháp, Đức nào ra cũng
thấy ghi rằng: Mông-cổ thắng khắp từ Á, sang Âu, đặt ách cai trị. Chỉ bại duy nhất tại
Việt-Nam và Nhật-bản. Thế nhưng khi các bạn mở kho tàng lịch sử Việt-Nam ra, thì hỡi
ơi! Đại-Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), Việt sử lược (VSL), Khâm-định Việt sử thông giám
cương mục (KĐVSTGCM), chỉ dành đâu mươi mười lăm trang chép lại mà thôi. Các sách
sau này, chỉ mô phỏng của ba bộ trên, rồi vẽ rồng, vẽ rắn thêm vào. Đau đớn thay, mô
phỏng luôn cả những cái sai lạc của người xưa.
2. Đi tìm di thư tiền nhân
Bộ sách ghi chép đầy đủ các chiến thắng Mông-cổ, được soạn thảo ngay sau cuộc
chiến, mang tên Trung-hưng thực lục. Trong đó những người có công đều được ghi danh,
và vẽ hình, nay không còn . Hai bộ Binh-thư yếu lược, Vạn-kiếp tông bí truyền thư của
Hưng Đạo vương không tìm ra vết tích.
Đến đây chắc các bạn đặt câu hỏi: Thế tại sao, hiện người Việt đang lưu hành bộ
Binh-thư yếu lược, được dịch sang Việt-ngữ? Thưa đây là người sau ngụy tạo.
Ba bộ sách trên, tôi biết rằng năm 1407, Trương Phụ đã cướp mang về Kim-lăng. Hồi
Bát-quốc đánh nhà Thanh vào cuối thế kỷ thứ 19, chiếm Kim-lăng. Trong 8 đoàn quân
đó, có hai đoàn thuộc nước trình độ văn hóa cực cao là Nhật-bản và Pháp. Hai đoàn
quân này đã mang về nước khá nhiều sách. Trong đó có những sách mà Trương Phụ
cướp từ Đại Việt. Tôi đặt nghi vấn: Biết đâu trong số sách mà Pháp, Nhật mang đi chả có
ba bộ sách trên? Vì vậy tôi gắng công đi tìm.
Đầu tiên, tôi tìm trên đất Trung-quốc.
Trong thời gian theo phái đoàn trao đổi y học Pháp-Hoa (1976-1999), hễ có dịp là tôi
vào những thư viện Trung-quốc mò mẫm. May ra! Nhờ vào vị thế khi thì là thông dịch
viên, khi thì là giảng viên, khi thì là tổng thư ký, gần đây là trưởng phái đoàn. Đoàn của
tôi là đoàn trao, tức giảng dạy tại các đại học y khoa. Tôi nghiễm nhiên trở thành quý
khách của Trung-quốc, nên không bị kỳ thị, không bị nghi ngờ. Hơn nữa được quý mến,
nên thư viện nào tôi muốn vào, đều được chiều theo ý. Đầu tiên tôi tìm ở các thư viện
trung ương, thư viện cấp tỉnh của 5 tỉnh cực Nam Trung-quốc là Quảng Đông, Quảng
Tây, Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam. Không thấy! Kiên chí, tôi mò xuống thư viện cấp
huyện, thư viện các đại học Văn-khoa, đại học Sư-phạm. Biệt tăm! Tôi biết rằng tại thư
viện Bộ-chỉ huy Quân-sự năm tỉnh cực Nam và thư viện Bộ Tư-lệnh ba quân khu mà lãnh
thổ tiếp giáp với Việt-Nam là nơi tàng trữ tất cả tài liệu nghiên cứu về chiến tranh Hoa
Việt. Tôi xin vào nghiên cứu, thì bị từ chối theo kiểu ngoại giao «Đây là tài liệu quá
chuyên môn dành cho những sĩ quan tham mưu nghiên cứu. Ông là thầy thuốc. Ông có
đọc cũng không hiểu gì». Không nản! Tôi biết rằng cổ, kim; Đông, Tây, các bà đều thích
đẹp; và cồng bà bao giờ cũng mạnh hơn lệnh ông. Tôi vận động ân huệ của các bà mà
tôi ngoại giao bằng lột da mặt, cắt mắt, làm mũi cao, làm môi trái đào, lấy mỡ bụng.
Thành công. Tôi được vào tất cả các thư viện trên mò mẫm. Thế nhưng, tôi vẫn không
tìm ra tông tích ba bộ sách của tổ tiên. Đau thực! Tuy không tìm ra, nhưng tôi cũng
được đọc mấy bộ sách quý, có tính cách tài liệu như:
– Nam Việt, Âu Lạc tác chiến khảo lược. Ban nghiên cứu, Sở tác chiến, Bộ Chỉ-huy
quân sự tỉnh Quảng Tây biên tập. Nội dung nghiên cứu về cuộc chiến tranh giữa Triệu
Đà và Thục An Dương vương.
– Đông Hán, bình Giao-chỉ khảo lược. Sở nghiên cứu, cục Tác-chiến, bộ Tổng Tư-lệnh
quân đội Nhân-dân, Trung-quốc. Nội dung nghiên cứu về những trận đánh của vua
Trưng với Mã Viện.
– Tam thế Bạch-đằng nghiên cứu. Sở nghiên cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tư-lệnh Hải-quân
Trung-quốc. Nội dung nghiên cứu ba trận Bạch-đằng về thời vua Ngô, vua Lê và thời
Trần. Phụ đính có luận về trận Hàm-tử, Chương-dương, Tây-kết.
– Quách thị Nam chinh, là bộ nhật ký hành quân của Quách Quỳ, tướng tư lệnh đội
quân Tống sang đánh Đại Việt năm 1077.
– Triệu thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, nhật ký hành quân của Triệu Tiết, tướng phó tư lệnh
quân đội Tống sang đánh Đại Việt năm 1077.
– Nguyên triều chinh tiễu An-Nam khảo bị, sở Nghiên-cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tổng tưlệnh quân đội Nhân-dân Trung-quốc. Nghiên cứu về ba cuộc Mông-cổ sang đánh ĐạiViệt.
– Minh đại, chinh tiễu An-Nam lược khảo. Sở Nghiên -cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tổng Tưlệnh quân đội Nhân-dân Trung-quốc. Nội dung nghiên cứu về những trận đánh giữa
quân Minh do Trương Phụ, Mộc Thạch chỉ huy đánh Hồ Quý Ly, và những trận đánh của
vua Lê Thái-tổ với Liễu Thăng, Vương Thông.
– Càn Long chinh Nam nghiên cứu khảo bị. Sở Nghiên-cứu, Cục Tác-chiến, Bộ Tổng
Tư-lệnh quân đội Nhân-dân Trung-quốc. Đây là tài liệu dài nhất, tổng cộng 320 trang
A4. Nội dung nghiên cứu về nguyên do thất bại của Tôn Sĩ Nghị. (Các bạn nên nhớ, 320
trang chữ Hán, nếu dịch sang Việt ngữ phải 900 trang. Nếu sang Anh, Pháp ngữ còn dài
hơn nữa).
Xin lưu ý các vị điểm sách
của Trung-quốc, Việt-Nam, Pháp.
Khi điểm đến phần này xin các vị trình bầy rõ ràng một chút. Tôi chỉ là thầy thuốc, say mê nghiên
cứu lịch sử để viết tiểu thuyết. Tuy được đọc nhiều tài liệu, nhưng tôi quyết giữ tư cách của một nhà
ngoại giao, trung thành với lời thề tại Đại-học y khoa Paris. Nhất là không phản những vị đã ban ân
cho tôi được vào thư viện đặc biệt để nghiên cứu. Tôi chưa từng tiết lộ, hiện không tiết lộ, và sau
này dù dao kề cổ, dù súng chỉ ngực tôi cũng không tiết lộ những gì có hại cho Trung-quốc, cho các
thân chủ, cho các bạn của tôi.
Cũng nên nói ở đây: Khác với các sử gia Trung-quốc, khi viết về Việt-Nam, luôn gọi là Giao-chỉ, Namman, An Nam, rồi dùng những từ lăng nhục. Các sĩ quan Trung-quốc khi soạn những tài liệu trên đã
bình luận rất vô tư. Việt có sở trường, sở đoản gì thì nói thực. Những lời bình luận rất chính xác.
Tại Trung-quốc không tìm thấy, tôi vẫn không nản chí. Tôi lại bỏ sang Nhật-bản, mò vào đủ các thư
viện, mà cũng tuyệt vô âm tín. Trong thời gian này, giáo sư Trần Kinh Hòa (1914-1997), của đại học
Soka cũng từng cố gắng tìm kiếm, mà…hỡi ôi! Vô ích. Như vậy là mất vĩnh viễn rồi. Tiếc thay! Buồn
thay!
3. Trở về với nguồn thư tịch nghèo nàn
Tôi đành trở về với bộ ĐVSKTT. Nhưng bộ này chép quá sơ sài về ba cuộc kháng
Nguyên-Mông, thì làm sao có thể dựng lại chi tiết các trận đánh? Ấy là không kể Ngô Sĩ
Liên đã có những sai lầm quan trọng như:
– Thuyền lương của Trương Văn Hổ bị đắm trong trận Bạch-đằng.
– Nguyễn Khoái bắt được Áo Lỗ Xích.
– Thoát Hoan cũng bị bắt.
Biết rằng ĐVSKTT có nhiều sai lầm, tôi đi tìm bộ KĐVSTGCM. Bộ này do Quốc-sử quán
triều Nguyễn soạn (1859). Các sử gia triều Nguyễn đã tham khảo thư tịch Trung-quốc
như:
– Nguyên sử của Tống Liêm đời Minh.
– Nguyên sử loại biên tức Tục hoằng giản lục của Thiệu Viễn Bình đời Thanh.
– Nguyên sử bị vong lục của Vương Quang Lỗ đời Minh.
– Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm.
Nhưng KĐVSTGCM cũng vấp vào những sai lầm:
Trận Vân-đồn xẩy ra vào tháng 12 niên hiệu Trùng-hưng thứ 3 (5-1 tới 2-2-1288) khi
thủy quân Nguyên tiến vào nước ta.
Lại chép lầm rằng:
Trận Vân-đồn xẩy ra vào tháng giêng năm Trùng-hưng thứ 4 (3-2 tơí 2-3 năm 1288)
lúc Ô Mã Nhi đem chiến thuyền đi đón Trương Văn Hổ.
Nghĩa là sai lệch một tháng, sai lầm về vị trí trận đánh.
Sự sai lầm này, khiến các sử gia gần đây viết bằng chữ quốc ngữ cũng sai theo. Mà
thảm thay, cho đến nay, tôi nêu ra, chưa chắc thiên hạ đã chịu phục thiện.
Khi vua Lê khởi binh, muốn cho có chính nghĩa, đã tôn một người con cháu vua Trần
là Trần Cảo lên làm vua. Lúc thành đại nghiệp thì đem giết chết. Sau đó giết tất cả
những công thần, nguyên là con cháu nhà Trần, truy lùng giòng dõi nhà Trần rất gắt. Sử
ghi, Lê Lợi giết Tả-tướng quốc Trần Nguyên Hãn, một nhân vật uy tín bậc nhì sau nhà
vua, chỉ vì ông là cháu của Trần Nguyên Đán. Vì vậy trong suốt thời gian nhà Lê trị vì
(1458-1779) không một văn gia nào dám chép những chiến công của ba cuộc kháng
Nguyên-Mông. Mãi tới triều Nguyễn, mới có những sử gia soạn:
– Trần đại vương bình Nguyên thực lục.
– Vạn yên thực lục.
– Trần triều thế phả hành trạng.
– Trần gia điển tích thống biên.
Hầu hết những bộ này chỉ mô phỏng ĐVSKTT, VSL, ANCL hoặc những huy
 








Các ý kiến mới nhất