AQ chính chuyện

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:27' 19-01-2026
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:27' 19-01-2026
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
NHÀ VĂN LỖ TẤN
LỜI TỰA
Phần 1
LƯỢC THUẬT NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
Phần 2
LƯỢC THUẬT THÊM VỀ NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
Phần 3
BI KỊCH TÌNH YÊU
Phần 4
VẤN ĐỀ SINH KẾ
Phần 5
LÊN VOI XUỐNG CHÓ
Phần 6
CÁCH MẠNG
Phần 7
KHÔNG CHO LÀM CÁCH MẠNG
Phần 8
ĐẠI ĐOÀN VIÊN
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
魯迅
Nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn (1881-1936)
NHÀ VĂN LỖ TẤN
Lỗ Tấn 鲁迅 (1881-1936), danh nhân văn hoá thế giới, tên thật là Chu Thụ Nhân 周树人,
tự Dự Tài 豫才, quê huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Lỗ Tấn sinh trong một gia đình quan
lại đã sa sút. Cha của ông là Chu Bá Nghi đỗ tú tài nhưng không được ra làm quan, bị bệnh mất
sớm. Mẹ của ông là Lỗ Thuỵ. Bà đã sớm có ảnh hưởng đến khả năng văn chương của Lỗ Tấn
qua vệc bà kể cho ông nghe nhiều truyện cổ dân gian. Lỗ Tấn là bút danh ông lấy từ họ mẹ.
Năm 1899, ông đến Nam Kinh theo học ở Thuỷ sư học đường (trường đào tạo nhân viên hàng
hải). Hai năm sau, ông thi vào trường Khoáng lộ học đường (đào tạo kỹ sư mỏ địa chất). Năm
1902, Lỗ Tấn du học Nhật Bản, tại đây ông tham gia Quang Phục hội, một tổ chức yêu nước của
người Trung Quốc. Sau hai năm học tiếng Nhật, năm 1904, ông chính thức vào học ngành y ở
trường Đại học Tiên Đài. Năm 1906, ông thôi học và bắt đầu hoạt động văn nghệ bằng việc
dịch và viết một số tiểu luận giới thiệu các tác phẩm văn học châu Âu như thơ Puskin, tiểu
thuyết khoa học viễn tưởng Jules Verne. Năm 1909, vì hoàn cảnh gia đình, Lỗ Tấn trở về Trung
Quốc. Ông dạy ở trường trung học Thiệu Hưng và có làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu
Hưng một thời gian. Từ 1920 đến 1925, Lỗ Tấn làm việc tại các trường Đại học Bắc Kinh, Cao
đẳng Sư phạm Bắc Kinh và Đại học nữ Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1926, ông tới Hạ Môn (tỉnh
Phúc Kiến) và làm việc tại trường Đại học Hạ Môn. Đầu năm 1927, Lỗ Tấn đến Quảng Châu,
làm trưởng phòng giáo vụ kiêm chủ nhiệm khoa văn của trường Đại học Trung Sơn. Tháng 10
năm 1927, ông rời Quảng Châu tới Thượng Hải và ở lại đây đến lúc qua đời (1936).
Ở Việt Nam, Lỗ Tấn được đông đảo bạn đọc đón nhận và hầu hết các tác phẩm chủ yếu của
ông đã được dịch ra tiếng Việt (truyện ngắn, tiểu luận, tạp văn). Riêng về thơ, toàn bộ 75 bài
của ông cũng đã được giới thiệu và dịch ở Việt Nam.
Tác phẩm:
- Gào thét (truyện ngắn)
- Bàng hoàng (truyện ngắn)
- AQ chính truyện (truyện ngắn)
- Cỏ dại (thơ văn xuôi, NXB Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2006)
- Thơ Lỗ Tấn (Phí Trọng Hậu, Phan Văn Các giới thiệu, dịch và chú giải)
- Chuyện cũ viết lại (tạp văn)
- Tạp văn Lỗ Tấn.
自嘲
運交華蓋欲何求?
未敢翻身已碰頭。
破帽遮顏過鬧市,
漏船載酒泛中流。
橫眉冷對千夫指,
俯首甘為孺子牛。
躲進小樓成一統,
管他冬夏與春秋。
TỰ TRÀO
Vận giao hoa cái dục hà cầu?
Vị cảm phiên thân dĩ bính đầu.
Phá mạo già nhan quá náo thị,
Lậu thuyền tải tửu phiếm trung lưu.
Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ,
Phủ thủ cam vi nhụ tử ngưu.
Đoá tiến tiểu lâu thành nhất thống,
Quản tha đông hạ dữ xuân thu.
TỰ TRÀO
(Bản dịch của Hoàng Trung Thông)
Gặp khi vận rủi há mong cầu?
Chưa dám vươn thân đã cụng đầu
Mũ cũ che mày qua phố rộn
Thuyền rò chở rượu vượt sông sâu
Mắt trừng đối mặt phường hung bạo
Cổ cúi làm trâu đám tí nhau
Nấp chốn lầu con thành nhất thống
Kể gì Đông, Hạ với Xuân, Thu.
AQ CHÍNH TRUYỆN
AQ chính truyện (The True Story of Ah Q) là truyện vừa duy nhất của Lỗ Tấn (Lu Xun)
được đăng tải lần đầu trên “Thần báo phó san” ở Bắc Kinh trong khoảng thời gian từ 4 tháng
12, 1921 đến 12 tháng 2, 1922. Sau đó truyện được in trong tuyển tập truyện ngắn “Gào thét”
(呐喊, Nahan) năm 1923 và là truyện dài nhất trong tuyển tập này. Tác phẩm này thường
được coi là một kiệt tác của Văn học Trung Quốc hiện đại; nó cũng được coi là tác phẩm đầu
tiên viết bằng bạch thoại văn sau phong trào Ngũ Tứ (1919) tại Trung Quốc.
Bối cảnh lịch sử của câu chuyện là thời kỳ trước sau cách mạng Tân Hợi (1911) với những
thế lực phong kiến hiện vào các tên địa chủ. Trong làng Mùi, cụ cố họ Triệu, cụ cố họ Tiền là
tượng trưng cho kỷ cương, cho pháp luật, cho chân lý. Chúng nắm quyền bính trong tay. Xung
quanh chúng là cả một hệ thống tay sai từ bác Khán đại diện cho chính quyền phong kiến đến
Triệu Bạch Nhân, Triệu Tư Thần, thím Bảy Trần là những người bà con láng giềng có quan hệ
kinh tế và huyết thống với chúng. Những người này tự đặt thông lệ để biến thành những tập
quán bất di bất dịch và có hiệu lực hơn cả pháp luật nhà nước, làm cho dân làng không phân
biệt được phải trái đến nỗi họ làm gì dân làng cũng cho là phải. Cụ cố Triệu tát cho A.Q một cái
vào mặt thì nhất định A.Q là người có lỗi rồi, không cần bàn cãi: Thì chả lẽ cụ Cố cụ Triệu lại có
lỗi được sao? Đó là một thứ uy thế tuyệt đối, địa chủ ở nông thôn lại được cơ cấu phong kiến
che chở. Khi xảy ra chuyện giữa địa chủ và nông dân thì quan trên đứng về phía địa chủ đè nén
nông dân.
Lỗ Tấn thấy nông dân là những người chịu khổ nhưng không phải lúc nào họ cũng chịu ép
một bề. A.Q biết căm thù kẻ áp bức mình. Trong làng Mùi, y ghét nhất bọn địa chủ và con cái
địa chủ. Y xem lão Tây giả, thằng cả con cụ cố họ Tiền là kẻ thù của y, hễ thấy mặt là chửi thầm
trong bụng. Tuy những lý do y đưa ra để căm thù chưa đúng nhưng y đã nhìn đúng đối tượng
để căm thù. Lòng căm thù bộc lộ rõ nhất là lúc phong trào cách mạng nổi lên. A.Q muốn làm
cách mạng để “cách… mẹ cái mạng” của bọn địa chủ để tìm cho mình con đường sống. Sau khi
A.Q chính truyện xuất bản không bao lâu, có nhà phê bình cho rằng một người lạc hậu như A.Q
thì không thể nào có tinh thần cách mạng được. Nhưng Lỗ Tấn đã trả lời như sau: “Theo ý tôi,
nếu Trung Quốc không làm cách mạng thì A.Q cũng chẳng bao giờ làm cách mạng, nhưng nếu
Trung Quốc làm cách mạng thì thế nào A.Q cũng sẽ làm. Số mạng của chú A.Q của tôi phải thế”.
Lỗ Tấn viết tiểu thuyết không nhằm mục đích nào khác là “lôi hết bệnh tật của họ (những
người bất hạnh) ra, làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa”, nói rõ hơn là nêu nhược
điểm, khuyết điểm của họ và tìm cách giác ngộ họ. Trong những “bệnh tật” của người nông dân
mà Lỗ Tấn nêu ra có những bệnh tật do giai cấp thống trị mang đến cho họ, thí dụ như tư
tưởng định mệnh làm cho Nhuận Thổ an phận với nỗi khổ cực của mình, như những điều mê
tín dị đoan làm cho thím Tường Lâm quằn quại cho đến lúc chết hay “phương pháp thắng lợi
tinh thần” lừa dối mình dối người, làm cho A.Q vẫn hể hả ngay khi người ta đem y ra pháp
trường xử bắn… Nhưng có những bệnh, theo Lỗ Tấn chính nông dân có sẵn trong người họ như
thái độ bàng quan, lạnh nhạt trước những nỗi bất hạnh của kẻ khác. Cùng bị áp bức bóc lột cả
nhưng trước tai nạn chung họ chưa có một sự đồng tình cần phải có. Nỗi bất hạnh rơi vào đầu
ai người ấy phải chịu, xung quanh vẫn có những người thờ ơ, thậm chí còn lấy làm vui. Họ theo
A.Q ra tậ n phá p trường khi trở ve khô ng thỏ a mã n bả o nhau: “Ban người trô ng khô ng vui mat
bằng chém…” và tiếc mất công toi, theo A.Q bao nhiêu đường đất mà không nghe A.Q hát lên
được một câu.
Trong A.Q chính truyện, Lỗ Tấn cũng vạch trần tính chất giả dối và phản động của giai cấp
tư sản lãnh đạo cuối cùng hoàn toàn do một bọn đầu cơ thao túng. Nhờ tin tức nhanh chóng,
cụ Triệu biết rằng bọn cách mạng đã vào huyện đêm hôm trước. Cụ liền quất đuôi sam vòng
lên đầu… qua nhà họ Tiền thăm thằng Tây giả… hẹn hò cùng nhau làm cách mạng. Chính
quyền cũng rơi vào tay bọn địa chủ phong kiến và quân phiệt. Những người như A.Q không
được làm cách mạng. Đời sống xã hội không chút thay đổi, A.Q cũng phải thốt lên: “Đã cách cái
mạng đi rồi mà vẫn thế này thôi ư?”
Lúc đầu A.Q có thành kiến cho rằng: “Làm cách mạng tức là làm giặc, làm giặc tức là báo
hại y”. Vì vậy, xưa nay y vẫn ghét cay ghét đắng bọn cách mạng! Nhưng vốn là người bị áp bức
bóc lột, vốn sẵn căm thù kẻ áp bức bóc lột nên khi thấy cụ Cử ở trên huyện sợ cách mạng, phải
chuyển gia sản về quê… thì y cũng hơi lấy làm “lác mắt”. Bấy giờ y mới nghĩ bụng: “Cách mạng
cũng hay! Cách mẹ cái mạng lũ chó đi? Ghét quá đi mất! Giận quá đi mất! và y quyết định “đầu
hàng cách mạng”. Như vậy là logic cuộc sống, chứ không phải giác ngộ thực sự, mà A.Q ngả về
phía cách mạng. Mặt khác, quan niệm của A.Q về cách mạng cũng hết sức mơ hồ, ấu trĩ, có chỗ
lạc hậu đến nực cười. Y mới chỉ vạch ra được ranh giới giữa y và bọn cụ Cố họ Tiền, họ Triệu
mà thôi. Y chưa nhận ra được rằng thằng cu D, Vương Râu Xồm cũng phải về phe với y mà làm
cách mạng. Cách mạng theo quan niệm vẫn là dùng bạo lực để báo thù, “mặc áo giáp bạch, đội
mũ bạch, ăn bận trắng toát một loạt để tang cho vua Sùng Chính” tức là cuộc chính biến, vương
triều này lật đổ vương triều kia để lên ngôi trị vì mà thôi. Về bản chất tư tưởng của A.Q là tư
tưởng cách mạng nông dân truyền thống. Cuộc cách mạng do nông dân lãnh đạo sẽ không xây
dựng được “xã hội mới” như Lỗ Tấn mong ước. Đối với giai cấp nông dân, Lỗ Tấn biết chắc
chắn rằng họ đòi hỏi cách mạng, tin tưởng chắc rằng họ là động lực rất quan trọng của cách
mạng. Chỉ có thế.
KHUYẾT DANH theo lời giới thiệu Truyện ngắn Lỗ Tấn
Phần 1
LƯỢC THUẬT NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
A Q không những tên, họ, quê quán đều mập mờ, cho đến "hành trạng" trước kia ra sao
cũng không rõ ràng nốt. Số là người làng Mùi đối với A Q xưa nay thì cần y làm công cho, hoặc
chỉ đem y ra làm trò cười mà thôi, chứ không bao giờ có ai chú ý đến "hành trạng" của y cả. Mà
chính y tự mình cũng chưa hề bao giờ nói tới chuyện đó hết. Chỉ có những lúc cãi lộn với ai thì
họa hoằn y mới trừng ngược mắt lên mà tuyên bố:
- Nhà tao xưa kia có bề có thế bằng mấy mày kia! Thứ mày thấm vào đâu!
A Q không hề có nhà cửa. Y trọ ngay trong đền Thổ Cốc làng Mùi. Y cũng không có nghề nghiệp
nhất định, chỉ đi làm thuê làm mướn cho người ta, ai thuê gặt lúa thì gặt lúa, thuê giã gạo thì
giã gạo, thuê chống thuyền thì chống thuyền. Ngộ những lúc công việc kéo dài thì y ở lại trong
nhà chủ tạm thời hôm đó, xong công việc lại đi. Cho nên, người ta có công việc bận bịu lắm thì
còn nhớ đến A Q, nhưng nhớ là nhớ công ăn việc làm, chứ nào phải nhớ gì đến "hành trạng"!
Rồi đến lúc công việc rỗi thì luôn cả A Q người ta cũng chả nhớ nữa, còn nói gì đến "hành
trạng"!
Ấy thế mà có một lần, một ông lão nào đã tâng bốc y một câu như sau: "A Q được việc
thật!" Lúc đó A Q đang đánh trần đứng trước lão, người gầy gò và bộ uể oải; người ngoài chả ai
hiểu lão kia nói thật hay chế giễu, nhưng A Q rất lấy làm đắc ý.
A Q lại có tính tự cao. Cả bấy nhiêu mặt dân trong làng Mùi, y tuyệt nhiên không đếm xỉa
đến ai cả. Cho đến hai cậu đồ trong làng cũng vậy, y vẫn xem thường hết sức. Phú cậu đồ giả,
ngày sau có thể thành thầy tú giả dã. Cụ Cố nhà họ Triệu và Cụ Cố nhà họ Tiền là hai người mà
trong làng ai ai cũng kính trọng, bởi vì hai cụ gia tư đã giàu có, lại hai cậu con là hai cậu đồ; thế
mà chỉ một mình A Q là không ra vẻ sùng bái lắm. Y nghĩ bụng: "Con tớ ngày sau lại không làm
nên, to bằng năm bằng mười lũ ấy à!". Hơn nữa, A Q lại có thể lên mặt với cả làng Mùi ở chỗ y
đã lên huyện mấy bận, mặc dù y có trọng gì lũ phố phường. Thì chẳng hạn như cái ghế dài ba
thước, rộng ba tấc, ở làng Mùi gọi là cái "ghế dài", A Q cũng gọi là "ghế dài", thế mà trên huyện
họ lại gọi là "tràng kỷ"! Y nghĩ bụng: "Gọi như thế là sai! Là đáng cười!" ở làng Mùi, rán cá,
người ta bao giờ cũng cho thêm một vài lá hành dài bằng ba đốt tay, thế mà trên huyện, họ lại
cho nhánh hành thái thỏ vào! A Q nghĩ bụng: "Thế là sai, là đáng cười!" Nhưng người làng Mùi
là những người nhà quê, chưa hề đi đâu cả, lại chẳng đáng cười hơn ai hết hay sao? Một đời
chúng nó chưa hề biết trên huyện người ta rán cá như thế nào kia mà!
A Q là người "trước kia có bề có thế", kiến thức rộng, lại "được việc", kể ra cũng đã có thể
gọi là người "hoàn toàn" lắm rồi. Chỉ đáng tiếc là trong người y còn có một tí khuyết điểm. Bực
bội nhất là ngay trên đầu có một đám sẹo to tướng chẳng biết từ bao giờ. Mặc dù đám sẹo đó
cũng là vật sở hữu của y, nhưng xem trong ý tứ y thì hình như y cũng chẳng cho là quý báu gì,
bởi vì y kiêng tuyệt không dùng đến tiếng "sẹo" và tất cả những tiếng âm gần giống âm "sẹo".
Về sau cứ mở rộng phạm vi dần, tiếng "sáng", tiếng "rạng" cũng kiêng, rồi tiếng "đèn", tiếng
"đuốc" cũng kiêng tuốt. Chẳng cứ người nào, bất kỳ vô tình hay hữu ý mà phạm phải huý là A Q
nổi giận, cái đám sẹo đỏ ửng lên, y nhìn để đánh giá đối thủ rồi kẻ ít mồm ít miệng là y chửi, kẻ
sức yếu là y đánh. Nhưng chẳng biết thế quái nào, A Q thường vẫn thua nhiều hơn là được. Do
đó y thay đổi dần dần chính sách, về sau chỉ lườm kẻ thù bằng một cặp mắt giận dữ nữa mà
thôi.
Nào ngờ, sau lúc A Q thi hành cái chính sách "lườm nguýt" đó thì bọn vô công rồi nghề ở làng
Mùi lại càng thích chọc ghẹo y hơn. Hễ thấy mặt A Q đâu là y như chúng nó giả vờ làm bộ ngạc
nhiên nói:
- Ơ kìa! Sáng quang lên rồi kia kìa!
A Q lại nổi giận, lại lườm bằng một cặp mắt rất dữ tợn.
Nhưng chúng nó vẫn không sợ, cứ nói:
- À té ra có ngọn đèn bảo hiểm kia kìa!
Không có cách gì đối phó, A Q đành nghĩ ra một câu để trả thù:
- Thứ chúng mày không xứng...
Lúc đó, y lại có cảm tưởng rằng cái sẹo trên đầu y không phải là một cái sẹo tầm thường
mà là một cái sẹo vinh diệu, danh giá nữa kia. Nhưng như trên kia đã nói, A Q là người kiến
thức rộng, y biết ngay rằng nếu y nói nữa nhất định sẽ phạm húy, nên y không nói hết câu.
Thế mà lắm đứa vẫn chưa chịu thôi, cứ ghẹo y, thành ra cuối cùng lại đánh nhau. Thực tế
thì A Q thua, người ta nắm lấy cái đuôi sam vàng hoe của y dúi đầu vào tường thình thình bốn
năm cái liền rồi mới hả dạ bỏ đi. Còn A Q thì đứng ngẩn người ra một lúc, nghĩ bụng:
- Nó đánh mình thì khác gì nó đánh bố nó.Thật thời buổi này hết chỗ nói!
Rồi cũng hớn hở ra về vẻ đắc thắng.
Cái điều A Q vừa nghĩ trong bụng, về sau y nói toạc ra. Vì vậy, những kẻ vẫn hay chọc ghẹo
y đều biết rõ cái thủ đoạn đắc thắng tưởng tượng đó của y. Cho nên, từ đó hễ đứa nào tóm lấy
cái đuôi sam vàng hoa của y, nó cũng bảo:
- A Q này! Đây không phải là con đánh bố đâu nhé! Đây là người đánh con vật, nghe chưa?
Hãy nói đi nào: người đánh con vật!
A Q hai tay cố giữ lấy cái đuôi sam, nghếch đầu lên nói:
- Đánh con sâu! Được chưa! Tớ là sâu! Chưa thả ra à!
Tuy A Q đã nhận là sâu rồi mà nó vẫn chưa chịu thả. Nó còn tóm lấy đầu y dúi luôn năm
sáu cái thình thình nữa vào chỗ nào gần đó rồi mới hớn hở bỏ đi, yên trí rằng sau trận này y có
thể xấu hổ mà chết đi được! Nhưng chưa đầy mươi giây đồng hồ sau, A Q đã lại hớn hở ra về có
vẻ đắc thắng. Y nhận thấy y là người giỏi nhịn nhục bậc nhất, và ngoài việc "nhịn nhục" ra, thì
về mọi phương diện, y vẫn là người "bậc nhất". Trạng nguyên cũng chỉ là người "bậc nhất" mà
thôi! ”Thứ mày kể vào đâu"!
Sau lúc đã dùng bấy nhiêu phương pháp thần diệu ra đối phó với kẻ thù, A Q liền khoan
khoái đi tới quán rượu, nốc luôn mấy chén, đùa cợt với anh này, cãi lộn với anh kia, lại "đắc
thắng" rồi mới hớn hở bỏ về đền Thổ Cốc, ngả ra làm một giấc đến sáng.
Giá phỏng trong túi sẵn tiền thì A Q đi đánh bạc. Giữa một đám người xúm nhau ngồi xổm,
A Q mặt đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi chen ngay vào, tiếng nói giòn hơn ai hết.
- Này, cửa Thanh lang, bốn quan đấy!
- Mở lớ!
Bác nhà cái vừa mở vừa xướng, mặt cũng đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi.
- Thiên môn lớ... Bao nhiêu cửa giác cho về lớ! Cửa nhân và Xuyên đường để lại lớ! Tiền A Q
đâu? Đưa đây!
- Cửa Xuyên đường một quan này! Quan năm này!
Giữa bấy nhiêu tiếng xướng ngân nga đó, tiền của A Q cứ thế dần dần luồn vào túi một bọn
người khác, mặt cũng như mặt y, cũng đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi. Cuối cùng, A Q đành
tháo ra ngoài vòng, đứng sau lưng bọn con bạc mà nhìn vào và hồi hộp thay cho kẻ khác, cho
đến lúc tan sòng mới ngậm ngùi trở vào đền Thổ Cốc, để hôm sau sẽ lại vác cặp mắt sưng húp
đi làm thuê.
Kể ra "mất ngựa biết đâu không phải là một điều may cho ông già cửa ải". Đã có lần, A Q bất
hạnh được luôn một canh bạc, nhưng lần ấy cơ hồ lại như là thất bại.
Đêm hôm ấy, làng Mùi rước thần. Theo lệ thường, làng có tổ chức một đám hát. Bên rạp
hát, cũng theo lệ thường, có mấy sòng bạc. Đối với A Q, tiếng trống, tiếng phèng la bên rạp như
phảng phất ở đâu ngoài mười dặm đường xa dội lại. Chỉ có tiếng xướng của nhà cái là y nghe
rành mạch. Y được luôn mấy hội. Tiền đồng thành bạc hào, bạc hào thành bạc đồng, bạc đồng
chất dần dần thành một đống; A Q đắc ý, mặt mày nở hẳn lên.
- Này! Thiên môn hai đồng này!
A Q không biết rõ ai đánh nhau với ai và vì cớ gì, chỉ thấy tiếng mắng chửi, tiếng đấm đá cứ
ào ào loạn xạ cả lên, choáng cả đầu óc một hồi khá lâu. Lúc y ngồi dậy được thì lũ con bạc đã
biến đâu mất, cả bọn người xung quanh hồi nãy cũng không thấy một ai nữa! A Q cảm thấy có
mấy chỗ đau ran lên như vừa bị mấy quả đấm, mấy cú đá vào người. Trước mặt y, một bọn
đứng nhìn ra vẻ ngạc nhiên. A Q bàng hoàng chạy về đền Thổ Cốc, rồi đến lúc định được thần
hồn thì mới sực nhớ ra rằng đống tiền củamình cũng bay đâu mất rồi. Trong ngày hội, bọn
phường bạc đều là người tứ chiếng, biết dò đâu cho ra manh mối?
Rõ ràng một đống bạc đồng trắng xóa lên đó, mà lại là của mình, thế mà bây giờ biến đâu mất!
Cứ cho là "con nó cướp của bố đi" và tự mắng mình là "đồ con sâu" cũng vẫn không khuây
được. Lần ấy, A Q mới hơi cảm thấy nỗi đau khổ của một cuộc bại trận thật tình.
Nhưng chẳng mấy chốc là A Q lại đã chuyển bại thành thắng. Y sẽ dang cánh tay phải lên,
rán hết sức đánh vào mặt y luôn hai bạt tai, đau ran lên. Đánh xong, y hình như đã hả dạ, tựa hồ
người đánh là mình là người bị đánh bại lại là một "mình" nào khác... Rồi một lát, y có cảm
tưởng rằng y vừa mới đánh một đứa nào ấy, mặc dù còn đau nhức cả mặt mũi. Y hả lòng hả dạ
ngả lưng xuống giường.
Thế là ngủ thẳng.
Phần 2
LƯỢC THUẬT THÊM VỀ NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
Tiếng rằng AQ bao giờ cũng "đắc thắng", nhưng thật ra mãi đến ngày được Cụ Cố nhà họ
Triệu tát cho mấy tát tai vào mặt thì y mới nổi tiếng hẳn. Đưa hai quan tiền rượu kỉnh bác
khán xong xuôi rồi, AQ uất ức về nhà, ngả lưng xuống giường, nghĩ bụng: "Thời buổi này, hết
chỗ nói! Con đánh bố!" Nhưng y lại sực nghĩ ra rằng: Cụ Cố nhà họ Triệu oai vệ biết bao nhiêu
mà mình cũng xem như là bà con mình, cho nên y lại dần dần tỏ vẻ đắc ý. Rồi y đứng dậy, hát
bài "Gái góa thăm mồ" và đi tới quán rượu. Trong lúc đó, y có cảm tưởng là Cụ Cố nhà họ Triệu
vẫn là nhân vật oai vệ hơn ai hết.
Nói nghe ra có vẻ lạnh lùng, nhưng từ hôm AQ bị đánh, quả nhiên người làng đối với y xem
chừng kiêng nể hơn trước nhiều. Thấy vậy, AQ nghĩ bụng: "Hẳn có lẽ bởi vì mình là bực bố Cụ
Cố nhà họ Triệu!" Thật ra, nào có phải thế. Theo lệ thường, ở làng Mùi nếu tên Kèo đánh tên
Cột, anh Ba đánh anh Năm thì xưa nay chẳng ai để ý đến cả. Nhưng nếu có dính dáng đến một
nhân vật "xù" như là Cụ Cố nhà họ Triệu chẳng hạn thì mới có tiếng đồn. Lúc đã có tiếng đồn
thì không những người đánh đã có danh có giá mà luôn cả người bị đánh cũng nhờ đó mà lẫy
lừng. Còn như nói đến sự phải trái thì nhất định là lỗi về AQ rồi, không cần phải bàn nữa. Tại
sao vậy? Thì cả lẽ Cụ Cố nhà họ Triệu lại có thể có lỗi được hay sao? Nhưng, nếu AQ có lỗi, thì
sao người ta lại có vẻ kiêng nể y hơn trước? Nào ai biết đâu đấy! Kẻ xuyên tạc thì cho rằng
hoặc giả là vì AQ nói y là bà con với Cụ Cố họ Triệu, tuy bị đánh đấy, song người ta vẫn e rằng
AQ nói cũng có phần nào đúng, thà kiêng nể y chút đỉnh có lẽ cũng êm hơn. Nếu không phải
như thế thì có thể nói là AQ cũng như con bò thái lao tế thánh, tuy cũng chỉ là một con vật,
chẳng khác con dê, con lợn thường, nhưng đã được Đức Thánh ngài nhúng đũa vào rồi thì bao
nhiêu tiên nho đố bác nào dám động vào nữa!
Từ đó AQ đắc ý được mấy năm ròng.
Rồi, đến mùa xuân năm nọ, AQ say mềm bước đi trên con đường làng, bỗng thấy lão
Vương Râu xồm đang mình trần trùi trụi, ngồi bắt rận bên một góc tường dưới bóng mặt trời.
Bất giác, AQ cũng nghe ngứa ran cả mình lên. Cái lão Vương Râu xồm này, râu vừa xồm lại vừa
lắm sẹo, trong làng vẫn quen gọi là lão Vương Sẹo Xồm, nhưng AQ bỏ bớt chữ "sẹo" đi. Và AQ
khinh lão ra mặt. Cứ trong ý tứ AQ thì sẹo chẳng lấy gì làm lạ cả, chỉ bộ râu quai nón kia mới là
kỳ quặc, mới là chướng mắt. Thế rồi AQ sẽ ngồi xuống cạnh Vương Râu xồm. Kể ra, nếu là kẻ
khác thì chưa hẳn AQ đã ngồi một cách vô ý vô tứ như vậy. Nhưng lão râu xồm này thì sợ cóc gì
mà chẳng ngồi! Nói trắng ra, AQ chịu ngồi như thế này là vẻ vang cho lão ta lắm rồi.
AQ cũng cởi mảnh áo cộc đụp rách ra, và cũng mằn mò, tìm tòi một lúc. Chẳng biết vì áo
mới giặt hay vì AQ lơ đễnh mà một hồi khá lâu, y chỉ bắt được có ba bốn con thôi! Liếc qua bên
cạnh thấy lão râu xồm đã làm luôn một lúc ba, bốn, năm, sáu con, và cứ con này đến con khác,
chét vào răng, cúp nghe đánh "bụp" lên từng tiếng một!
AQ lúc đầu còn thất vọng, sau phải cáu lên. Làm sao cái lão Vương Râu xồm đáng ghét thế
kia mà lại bắt được nhiều rận như vậy, còn mình thì ít ỏi thế này, còn gì là thể thống nữa? Y
muốn tìm cho ra một hai chú rõ to, thế mà vẫn không được! Tìm đi tìm lại, mãi mới được một
chú choai choai. AQ nét mặt hầm hầm, nhét vào giữa cặp môi dày, rán hết sức cúp một cái, thế
mà tiếng cúp lại chỉ tẹt một tiếng, vẫn không kêu to bằng Vương Râu xồm.
Vết sẹo trên đầu AQ đỏ bừng lên. Y vất mẹ áo xuống đất, nhổ một bãi nước bọt, nói:
- Đồ sâu róm!
- Đồ chó ghẻ, mày mắng ai đấy!
Vương Râu xồm vừa trả lời vừa ngước mắt lên, ra vẻ khinh bỉ.
Gần đây, AQ tiếng được người ta kiêng nể và cũng hay lên mặt, nhưng gặp tụi lưu manh
trong làng thường cà khịa với y thì y vẫn e sợ. Chỉ có lần này là tinh thần thượng võ của y lại
hăng lên ghê lắm! Cái thằng râu quai nón xồm xoàm cả mặt kia mà cũng dám nói lếu nói láo à?
- Thằng nào nghe là chửi thằng ấy!
AQ đứng phắt dậy, hai tay chống nạnh.
- Thằng này lại ngứa xương ống rồi hẳn?
Vương Râu xồm vừa nói vừa khoác áo lên mình, cũng đứng dậy.
AQ tưởng nó định chuồn, thốc ngay vào, cho một quả đấm. Nào ngờ quả đấm chưa bén
tầm thì Vương Râu xồm đã tóm lấy AQ giật một cái, AQ loạng choạng ngã sấp xuống. Tức thì
Vương Râu xồm níu lấy cái đuôi sam, lôi tới bên tường, định chiếu lệ dúi đầu vào tường... AQ
nghếch đầu lên nói:
- Người quân tử chỉ đấu khẩu, ai đi đấu sức?
Hình như lão Vương Râu xồm này không "quân tử" cho lắm, nên nó không đếm xỉa tới câu
nói ấy, cứ dúi đầu AQ vào tường luôn năm cái liền, đoạn rán sức xô một cái thật mạnh làm cho
AQ ngã té ra đằng kia có đến năm sáu thước, bấy giờ mới hả dạ, đắc ý bỏ đi.
Trong ký ức của AQ thật là chưa bao giờ có một chuyện nhục nhã như thế. Số là đối với
Vương Râu xồm quai nón kia, AQ cười nó thì có, chứ bao giờ nó lại dám cười AQ? Nói gì đến
chuyện đấm đá! Thế mà lần này... nó dám thượng cẳng chân hạ cẳng tay, ai ngờ như thế được!
Chẳng lẽ lại đúng như người ta nói: vì đức Hoàng đế sắp bỏ khoa thi, không cần lấy tú tài cử
nhân nữa, do đó mà thanh thế họ Triệu nhà mình từ nay kém
NHÀ VĂN LỖ TẤN
LỜI TỰA
Phần 1
LƯỢC THUẬT NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
Phần 2
LƯỢC THUẬT THÊM VỀ NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
Phần 3
BI KỊCH TÌNH YÊU
Phần 4
VẤN ĐỀ SINH KẾ
Phần 5
LÊN VOI XUỐNG CHÓ
Phần 6
CÁCH MẠNG
Phần 7
KHÔNG CHO LÀM CÁCH MẠNG
Phần 8
ĐẠI ĐOÀN VIÊN
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
魯迅
Nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn (1881-1936)
NHÀ VĂN LỖ TẤN
Lỗ Tấn 鲁迅 (1881-1936), danh nhân văn hoá thế giới, tên thật là Chu Thụ Nhân 周树人,
tự Dự Tài 豫才, quê huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Lỗ Tấn sinh trong một gia đình quan
lại đã sa sút. Cha của ông là Chu Bá Nghi đỗ tú tài nhưng không được ra làm quan, bị bệnh mất
sớm. Mẹ của ông là Lỗ Thuỵ. Bà đã sớm có ảnh hưởng đến khả năng văn chương của Lỗ Tấn
qua vệc bà kể cho ông nghe nhiều truyện cổ dân gian. Lỗ Tấn là bút danh ông lấy từ họ mẹ.
Năm 1899, ông đến Nam Kinh theo học ở Thuỷ sư học đường (trường đào tạo nhân viên hàng
hải). Hai năm sau, ông thi vào trường Khoáng lộ học đường (đào tạo kỹ sư mỏ địa chất). Năm
1902, Lỗ Tấn du học Nhật Bản, tại đây ông tham gia Quang Phục hội, một tổ chức yêu nước của
người Trung Quốc. Sau hai năm học tiếng Nhật, năm 1904, ông chính thức vào học ngành y ở
trường Đại học Tiên Đài. Năm 1906, ông thôi học và bắt đầu hoạt động văn nghệ bằng việc
dịch và viết một số tiểu luận giới thiệu các tác phẩm văn học châu Âu như thơ Puskin, tiểu
thuyết khoa học viễn tưởng Jules Verne. Năm 1909, vì hoàn cảnh gia đình, Lỗ Tấn trở về Trung
Quốc. Ông dạy ở trường trung học Thiệu Hưng và có làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu
Hưng một thời gian. Từ 1920 đến 1925, Lỗ Tấn làm việc tại các trường Đại học Bắc Kinh, Cao
đẳng Sư phạm Bắc Kinh và Đại học nữ Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1926, ông tới Hạ Môn (tỉnh
Phúc Kiến) và làm việc tại trường Đại học Hạ Môn. Đầu năm 1927, Lỗ Tấn đến Quảng Châu,
làm trưởng phòng giáo vụ kiêm chủ nhiệm khoa văn của trường Đại học Trung Sơn. Tháng 10
năm 1927, ông rời Quảng Châu tới Thượng Hải và ở lại đây đến lúc qua đời (1936).
Ở Việt Nam, Lỗ Tấn được đông đảo bạn đọc đón nhận và hầu hết các tác phẩm chủ yếu của
ông đã được dịch ra tiếng Việt (truyện ngắn, tiểu luận, tạp văn). Riêng về thơ, toàn bộ 75 bài
của ông cũng đã được giới thiệu và dịch ở Việt Nam.
Tác phẩm:
- Gào thét (truyện ngắn)
- Bàng hoàng (truyện ngắn)
- AQ chính truyện (truyện ngắn)
- Cỏ dại (thơ văn xuôi, NXB Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2006)
- Thơ Lỗ Tấn (Phí Trọng Hậu, Phan Văn Các giới thiệu, dịch và chú giải)
- Chuyện cũ viết lại (tạp văn)
- Tạp văn Lỗ Tấn.
自嘲
運交華蓋欲何求?
未敢翻身已碰頭。
破帽遮顏過鬧市,
漏船載酒泛中流。
橫眉冷對千夫指,
俯首甘為孺子牛。
躲進小樓成一統,
管他冬夏與春秋。
TỰ TRÀO
Vận giao hoa cái dục hà cầu?
Vị cảm phiên thân dĩ bính đầu.
Phá mạo già nhan quá náo thị,
Lậu thuyền tải tửu phiếm trung lưu.
Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ,
Phủ thủ cam vi nhụ tử ngưu.
Đoá tiến tiểu lâu thành nhất thống,
Quản tha đông hạ dữ xuân thu.
TỰ TRÀO
(Bản dịch của Hoàng Trung Thông)
Gặp khi vận rủi há mong cầu?
Chưa dám vươn thân đã cụng đầu
Mũ cũ che mày qua phố rộn
Thuyền rò chở rượu vượt sông sâu
Mắt trừng đối mặt phường hung bạo
Cổ cúi làm trâu đám tí nhau
Nấp chốn lầu con thành nhất thống
Kể gì Đông, Hạ với Xuân, Thu.
AQ CHÍNH TRUYỆN
AQ chính truyện (The True Story of Ah Q) là truyện vừa duy nhất của Lỗ Tấn (Lu Xun)
được đăng tải lần đầu trên “Thần báo phó san” ở Bắc Kinh trong khoảng thời gian từ 4 tháng
12, 1921 đến 12 tháng 2, 1922. Sau đó truyện được in trong tuyển tập truyện ngắn “Gào thét”
(呐喊, Nahan) năm 1923 và là truyện dài nhất trong tuyển tập này. Tác phẩm này thường
được coi là một kiệt tác của Văn học Trung Quốc hiện đại; nó cũng được coi là tác phẩm đầu
tiên viết bằng bạch thoại văn sau phong trào Ngũ Tứ (1919) tại Trung Quốc.
Bối cảnh lịch sử của câu chuyện là thời kỳ trước sau cách mạng Tân Hợi (1911) với những
thế lực phong kiến hiện vào các tên địa chủ. Trong làng Mùi, cụ cố họ Triệu, cụ cố họ Tiền là
tượng trưng cho kỷ cương, cho pháp luật, cho chân lý. Chúng nắm quyền bính trong tay. Xung
quanh chúng là cả một hệ thống tay sai từ bác Khán đại diện cho chính quyền phong kiến đến
Triệu Bạch Nhân, Triệu Tư Thần, thím Bảy Trần là những người bà con láng giềng có quan hệ
kinh tế và huyết thống với chúng. Những người này tự đặt thông lệ để biến thành những tập
quán bất di bất dịch và có hiệu lực hơn cả pháp luật nhà nước, làm cho dân làng không phân
biệt được phải trái đến nỗi họ làm gì dân làng cũng cho là phải. Cụ cố Triệu tát cho A.Q một cái
vào mặt thì nhất định A.Q là người có lỗi rồi, không cần bàn cãi: Thì chả lẽ cụ Cố cụ Triệu lại có
lỗi được sao? Đó là một thứ uy thế tuyệt đối, địa chủ ở nông thôn lại được cơ cấu phong kiến
che chở. Khi xảy ra chuyện giữa địa chủ và nông dân thì quan trên đứng về phía địa chủ đè nén
nông dân.
Lỗ Tấn thấy nông dân là những người chịu khổ nhưng không phải lúc nào họ cũng chịu ép
một bề. A.Q biết căm thù kẻ áp bức mình. Trong làng Mùi, y ghét nhất bọn địa chủ và con cái
địa chủ. Y xem lão Tây giả, thằng cả con cụ cố họ Tiền là kẻ thù của y, hễ thấy mặt là chửi thầm
trong bụng. Tuy những lý do y đưa ra để căm thù chưa đúng nhưng y đã nhìn đúng đối tượng
để căm thù. Lòng căm thù bộc lộ rõ nhất là lúc phong trào cách mạng nổi lên. A.Q muốn làm
cách mạng để “cách… mẹ cái mạng” của bọn địa chủ để tìm cho mình con đường sống. Sau khi
A.Q chính truyện xuất bản không bao lâu, có nhà phê bình cho rằng một người lạc hậu như A.Q
thì không thể nào có tinh thần cách mạng được. Nhưng Lỗ Tấn đã trả lời như sau: “Theo ý tôi,
nếu Trung Quốc không làm cách mạng thì A.Q cũng chẳng bao giờ làm cách mạng, nhưng nếu
Trung Quốc làm cách mạng thì thế nào A.Q cũng sẽ làm. Số mạng của chú A.Q của tôi phải thế”.
Lỗ Tấn viết tiểu thuyết không nhằm mục đích nào khác là “lôi hết bệnh tật của họ (những
người bất hạnh) ra, làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa”, nói rõ hơn là nêu nhược
điểm, khuyết điểm của họ và tìm cách giác ngộ họ. Trong những “bệnh tật” của người nông dân
mà Lỗ Tấn nêu ra có những bệnh tật do giai cấp thống trị mang đến cho họ, thí dụ như tư
tưởng định mệnh làm cho Nhuận Thổ an phận với nỗi khổ cực của mình, như những điều mê
tín dị đoan làm cho thím Tường Lâm quằn quại cho đến lúc chết hay “phương pháp thắng lợi
tinh thần” lừa dối mình dối người, làm cho A.Q vẫn hể hả ngay khi người ta đem y ra pháp
trường xử bắn… Nhưng có những bệnh, theo Lỗ Tấn chính nông dân có sẵn trong người họ như
thái độ bàng quan, lạnh nhạt trước những nỗi bất hạnh của kẻ khác. Cùng bị áp bức bóc lột cả
nhưng trước tai nạn chung họ chưa có một sự đồng tình cần phải có. Nỗi bất hạnh rơi vào đầu
ai người ấy phải chịu, xung quanh vẫn có những người thờ ơ, thậm chí còn lấy làm vui. Họ theo
A.Q ra tậ n phá p trường khi trở ve khô ng thỏ a mã n bả o nhau: “Ban người trô ng khô ng vui mat
bằng chém…” và tiếc mất công toi, theo A.Q bao nhiêu đường đất mà không nghe A.Q hát lên
được một câu.
Trong A.Q chính truyện, Lỗ Tấn cũng vạch trần tính chất giả dối và phản động của giai cấp
tư sản lãnh đạo cuối cùng hoàn toàn do một bọn đầu cơ thao túng. Nhờ tin tức nhanh chóng,
cụ Triệu biết rằng bọn cách mạng đã vào huyện đêm hôm trước. Cụ liền quất đuôi sam vòng
lên đầu… qua nhà họ Tiền thăm thằng Tây giả… hẹn hò cùng nhau làm cách mạng. Chính
quyền cũng rơi vào tay bọn địa chủ phong kiến và quân phiệt. Những người như A.Q không
được làm cách mạng. Đời sống xã hội không chút thay đổi, A.Q cũng phải thốt lên: “Đã cách cái
mạng đi rồi mà vẫn thế này thôi ư?”
Lúc đầu A.Q có thành kiến cho rằng: “Làm cách mạng tức là làm giặc, làm giặc tức là báo
hại y”. Vì vậy, xưa nay y vẫn ghét cay ghét đắng bọn cách mạng! Nhưng vốn là người bị áp bức
bóc lột, vốn sẵn căm thù kẻ áp bức bóc lột nên khi thấy cụ Cử ở trên huyện sợ cách mạng, phải
chuyển gia sản về quê… thì y cũng hơi lấy làm “lác mắt”. Bấy giờ y mới nghĩ bụng: “Cách mạng
cũng hay! Cách mẹ cái mạng lũ chó đi? Ghét quá đi mất! Giận quá đi mất! và y quyết định “đầu
hàng cách mạng”. Như vậy là logic cuộc sống, chứ không phải giác ngộ thực sự, mà A.Q ngả về
phía cách mạng. Mặt khác, quan niệm của A.Q về cách mạng cũng hết sức mơ hồ, ấu trĩ, có chỗ
lạc hậu đến nực cười. Y mới chỉ vạch ra được ranh giới giữa y và bọn cụ Cố họ Tiền, họ Triệu
mà thôi. Y chưa nhận ra được rằng thằng cu D, Vương Râu Xồm cũng phải về phe với y mà làm
cách mạng. Cách mạng theo quan niệm vẫn là dùng bạo lực để báo thù, “mặc áo giáp bạch, đội
mũ bạch, ăn bận trắng toát một loạt để tang cho vua Sùng Chính” tức là cuộc chính biến, vương
triều này lật đổ vương triều kia để lên ngôi trị vì mà thôi. Về bản chất tư tưởng của A.Q là tư
tưởng cách mạng nông dân truyền thống. Cuộc cách mạng do nông dân lãnh đạo sẽ không xây
dựng được “xã hội mới” như Lỗ Tấn mong ước. Đối với giai cấp nông dân, Lỗ Tấn biết chắc
chắn rằng họ đòi hỏi cách mạng, tin tưởng chắc rằng họ là động lực rất quan trọng của cách
mạng. Chỉ có thế.
KHUYẾT DANH theo lời giới thiệu Truyện ngắn Lỗ Tấn
Phần 1
LƯỢC THUẬT NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
A Q không những tên, họ, quê quán đều mập mờ, cho đến "hành trạng" trước kia ra sao
cũng không rõ ràng nốt. Số là người làng Mùi đối với A Q xưa nay thì cần y làm công cho, hoặc
chỉ đem y ra làm trò cười mà thôi, chứ không bao giờ có ai chú ý đến "hành trạng" của y cả. Mà
chính y tự mình cũng chưa hề bao giờ nói tới chuyện đó hết. Chỉ có những lúc cãi lộn với ai thì
họa hoằn y mới trừng ngược mắt lên mà tuyên bố:
- Nhà tao xưa kia có bề có thế bằng mấy mày kia! Thứ mày thấm vào đâu!
A Q không hề có nhà cửa. Y trọ ngay trong đền Thổ Cốc làng Mùi. Y cũng không có nghề nghiệp
nhất định, chỉ đi làm thuê làm mướn cho người ta, ai thuê gặt lúa thì gặt lúa, thuê giã gạo thì
giã gạo, thuê chống thuyền thì chống thuyền. Ngộ những lúc công việc kéo dài thì y ở lại trong
nhà chủ tạm thời hôm đó, xong công việc lại đi. Cho nên, người ta có công việc bận bịu lắm thì
còn nhớ đến A Q, nhưng nhớ là nhớ công ăn việc làm, chứ nào phải nhớ gì đến "hành trạng"!
Rồi đến lúc công việc rỗi thì luôn cả A Q người ta cũng chả nhớ nữa, còn nói gì đến "hành
trạng"!
Ấy thế mà có một lần, một ông lão nào đã tâng bốc y một câu như sau: "A Q được việc
thật!" Lúc đó A Q đang đánh trần đứng trước lão, người gầy gò và bộ uể oải; người ngoài chả ai
hiểu lão kia nói thật hay chế giễu, nhưng A Q rất lấy làm đắc ý.
A Q lại có tính tự cao. Cả bấy nhiêu mặt dân trong làng Mùi, y tuyệt nhiên không đếm xỉa
đến ai cả. Cho đến hai cậu đồ trong làng cũng vậy, y vẫn xem thường hết sức. Phú cậu đồ giả,
ngày sau có thể thành thầy tú giả dã. Cụ Cố nhà họ Triệu và Cụ Cố nhà họ Tiền là hai người mà
trong làng ai ai cũng kính trọng, bởi vì hai cụ gia tư đã giàu có, lại hai cậu con là hai cậu đồ; thế
mà chỉ một mình A Q là không ra vẻ sùng bái lắm. Y nghĩ bụng: "Con tớ ngày sau lại không làm
nên, to bằng năm bằng mười lũ ấy à!". Hơn nữa, A Q lại có thể lên mặt với cả làng Mùi ở chỗ y
đã lên huyện mấy bận, mặc dù y có trọng gì lũ phố phường. Thì chẳng hạn như cái ghế dài ba
thước, rộng ba tấc, ở làng Mùi gọi là cái "ghế dài", A Q cũng gọi là "ghế dài", thế mà trên huyện
họ lại gọi là "tràng kỷ"! Y nghĩ bụng: "Gọi như thế là sai! Là đáng cười!" ở làng Mùi, rán cá,
người ta bao giờ cũng cho thêm một vài lá hành dài bằng ba đốt tay, thế mà trên huyện, họ lại
cho nhánh hành thái thỏ vào! A Q nghĩ bụng: "Thế là sai, là đáng cười!" Nhưng người làng Mùi
là những người nhà quê, chưa hề đi đâu cả, lại chẳng đáng cười hơn ai hết hay sao? Một đời
chúng nó chưa hề biết trên huyện người ta rán cá như thế nào kia mà!
A Q là người "trước kia có bề có thế", kiến thức rộng, lại "được việc", kể ra cũng đã có thể
gọi là người "hoàn toàn" lắm rồi. Chỉ đáng tiếc là trong người y còn có một tí khuyết điểm. Bực
bội nhất là ngay trên đầu có một đám sẹo to tướng chẳng biết từ bao giờ. Mặc dù đám sẹo đó
cũng là vật sở hữu của y, nhưng xem trong ý tứ y thì hình như y cũng chẳng cho là quý báu gì,
bởi vì y kiêng tuyệt không dùng đến tiếng "sẹo" và tất cả những tiếng âm gần giống âm "sẹo".
Về sau cứ mở rộng phạm vi dần, tiếng "sáng", tiếng "rạng" cũng kiêng, rồi tiếng "đèn", tiếng
"đuốc" cũng kiêng tuốt. Chẳng cứ người nào, bất kỳ vô tình hay hữu ý mà phạm phải huý là A Q
nổi giận, cái đám sẹo đỏ ửng lên, y nhìn để đánh giá đối thủ rồi kẻ ít mồm ít miệng là y chửi, kẻ
sức yếu là y đánh. Nhưng chẳng biết thế quái nào, A Q thường vẫn thua nhiều hơn là được. Do
đó y thay đổi dần dần chính sách, về sau chỉ lườm kẻ thù bằng một cặp mắt giận dữ nữa mà
thôi.
Nào ngờ, sau lúc A Q thi hành cái chính sách "lườm nguýt" đó thì bọn vô công rồi nghề ở làng
Mùi lại càng thích chọc ghẹo y hơn. Hễ thấy mặt A Q đâu là y như chúng nó giả vờ làm bộ ngạc
nhiên nói:
- Ơ kìa! Sáng quang lên rồi kia kìa!
A Q lại nổi giận, lại lườm bằng một cặp mắt rất dữ tợn.
Nhưng chúng nó vẫn không sợ, cứ nói:
- À té ra có ngọn đèn bảo hiểm kia kìa!
Không có cách gì đối phó, A Q đành nghĩ ra một câu để trả thù:
- Thứ chúng mày không xứng...
Lúc đó, y lại có cảm tưởng rằng cái sẹo trên đầu y không phải là một cái sẹo tầm thường
mà là một cái sẹo vinh diệu, danh giá nữa kia. Nhưng như trên kia đã nói, A Q là người kiến
thức rộng, y biết ngay rằng nếu y nói nữa nhất định sẽ phạm húy, nên y không nói hết câu.
Thế mà lắm đứa vẫn chưa chịu thôi, cứ ghẹo y, thành ra cuối cùng lại đánh nhau. Thực tế
thì A Q thua, người ta nắm lấy cái đuôi sam vàng hoe của y dúi đầu vào tường thình thình bốn
năm cái liền rồi mới hả dạ bỏ đi. Còn A Q thì đứng ngẩn người ra một lúc, nghĩ bụng:
- Nó đánh mình thì khác gì nó đánh bố nó.Thật thời buổi này hết chỗ nói!
Rồi cũng hớn hở ra về vẻ đắc thắng.
Cái điều A Q vừa nghĩ trong bụng, về sau y nói toạc ra. Vì vậy, những kẻ vẫn hay chọc ghẹo
y đều biết rõ cái thủ đoạn đắc thắng tưởng tượng đó của y. Cho nên, từ đó hễ đứa nào tóm lấy
cái đuôi sam vàng hoa của y, nó cũng bảo:
- A Q này! Đây không phải là con đánh bố đâu nhé! Đây là người đánh con vật, nghe chưa?
Hãy nói đi nào: người đánh con vật!
A Q hai tay cố giữ lấy cái đuôi sam, nghếch đầu lên nói:
- Đánh con sâu! Được chưa! Tớ là sâu! Chưa thả ra à!
Tuy A Q đã nhận là sâu rồi mà nó vẫn chưa chịu thả. Nó còn tóm lấy đầu y dúi luôn năm
sáu cái thình thình nữa vào chỗ nào gần đó rồi mới hớn hở bỏ đi, yên trí rằng sau trận này y có
thể xấu hổ mà chết đi được! Nhưng chưa đầy mươi giây đồng hồ sau, A Q đã lại hớn hở ra về có
vẻ đắc thắng. Y nhận thấy y là người giỏi nhịn nhục bậc nhất, và ngoài việc "nhịn nhục" ra, thì
về mọi phương diện, y vẫn là người "bậc nhất". Trạng nguyên cũng chỉ là người "bậc nhất" mà
thôi! ”Thứ mày kể vào đâu"!
Sau lúc đã dùng bấy nhiêu phương pháp thần diệu ra đối phó với kẻ thù, A Q liền khoan
khoái đi tới quán rượu, nốc luôn mấy chén, đùa cợt với anh này, cãi lộn với anh kia, lại "đắc
thắng" rồi mới hớn hở bỏ về đền Thổ Cốc, ngả ra làm một giấc đến sáng.
Giá phỏng trong túi sẵn tiền thì A Q đi đánh bạc. Giữa một đám người xúm nhau ngồi xổm,
A Q mặt đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi chen ngay vào, tiếng nói giòn hơn ai hết.
- Này, cửa Thanh lang, bốn quan đấy!
- Mở lớ!
Bác nhà cái vừa mở vừa xướng, mặt cũng đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi.
- Thiên môn lớ... Bao nhiêu cửa giác cho về lớ! Cửa nhân và Xuyên đường để lại lớ! Tiền A Q
đâu? Đưa đây!
- Cửa Xuyên đường một quan này! Quan năm này!
Giữa bấy nhiêu tiếng xướng ngân nga đó, tiền của A Q cứ thế dần dần luồn vào túi một bọn
người khác, mặt cũng như mặt y, cũng đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi. Cuối cùng, A Q đành
tháo ra ngoài vòng, đứng sau lưng bọn con bạc mà nhìn vào và hồi hộp thay cho kẻ khác, cho
đến lúc tan sòng mới ngậm ngùi trở vào đền Thổ Cốc, để hôm sau sẽ lại vác cặp mắt sưng húp
đi làm thuê.
Kể ra "mất ngựa biết đâu không phải là một điều may cho ông già cửa ải". Đã có lần, A Q bất
hạnh được luôn một canh bạc, nhưng lần ấy cơ hồ lại như là thất bại.
Đêm hôm ấy, làng Mùi rước thần. Theo lệ thường, làng có tổ chức một đám hát. Bên rạp
hát, cũng theo lệ thường, có mấy sòng bạc. Đối với A Q, tiếng trống, tiếng phèng la bên rạp như
phảng phất ở đâu ngoài mười dặm đường xa dội lại. Chỉ có tiếng xướng của nhà cái là y nghe
rành mạch. Y được luôn mấy hội. Tiền đồng thành bạc hào, bạc hào thành bạc đồng, bạc đồng
chất dần dần thành một đống; A Q đắc ý, mặt mày nở hẳn lên.
- Này! Thiên môn hai đồng này!
A Q không biết rõ ai đánh nhau với ai và vì cớ gì, chỉ thấy tiếng mắng chửi, tiếng đấm đá cứ
ào ào loạn xạ cả lên, choáng cả đầu óc một hồi khá lâu. Lúc y ngồi dậy được thì lũ con bạc đã
biến đâu mất, cả bọn người xung quanh hồi nãy cũng không thấy một ai nữa! A Q cảm thấy có
mấy chỗ đau ran lên như vừa bị mấy quả đấm, mấy cú đá vào người. Trước mặt y, một bọn
đứng nhìn ra vẻ ngạc nhiên. A Q bàng hoàng chạy về đền Thổ Cốc, rồi đến lúc định được thần
hồn thì mới sực nhớ ra rằng đống tiền củamình cũng bay đâu mất rồi. Trong ngày hội, bọn
phường bạc đều là người tứ chiếng, biết dò đâu cho ra manh mối?
Rõ ràng một đống bạc đồng trắng xóa lên đó, mà lại là của mình, thế mà bây giờ biến đâu mất!
Cứ cho là "con nó cướp của bố đi" và tự mắng mình là "đồ con sâu" cũng vẫn không khuây
được. Lần ấy, A Q mới hơi cảm thấy nỗi đau khổ của một cuộc bại trận thật tình.
Nhưng chẳng mấy chốc là A Q lại đã chuyển bại thành thắng. Y sẽ dang cánh tay phải lên,
rán hết sức đánh vào mặt y luôn hai bạt tai, đau ran lên. Đánh xong, y hình như đã hả dạ, tựa hồ
người đánh là mình là người bị đánh bại lại là một "mình" nào khác... Rồi một lát, y có cảm
tưởng rằng y vừa mới đánh một đứa nào ấy, mặc dù còn đau nhức cả mặt mũi. Y hả lòng hả dạ
ngả lưng xuống giường.
Thế là ngủ thẳng.
Phần 2
LƯỢC THUẬT THÊM VỀ NHỮNG CHUYỆN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
Tiếng rằng AQ bao giờ cũng "đắc thắng", nhưng thật ra mãi đến ngày được Cụ Cố nhà họ
Triệu tát cho mấy tát tai vào mặt thì y mới nổi tiếng hẳn. Đưa hai quan tiền rượu kỉnh bác
khán xong xuôi rồi, AQ uất ức về nhà, ngả lưng xuống giường, nghĩ bụng: "Thời buổi này, hết
chỗ nói! Con đánh bố!" Nhưng y lại sực nghĩ ra rằng: Cụ Cố nhà họ Triệu oai vệ biết bao nhiêu
mà mình cũng xem như là bà con mình, cho nên y lại dần dần tỏ vẻ đắc ý. Rồi y đứng dậy, hát
bài "Gái góa thăm mồ" và đi tới quán rượu. Trong lúc đó, y có cảm tưởng là Cụ Cố nhà họ Triệu
vẫn là nhân vật oai vệ hơn ai hết.
Nói nghe ra có vẻ lạnh lùng, nhưng từ hôm AQ bị đánh, quả nhiên người làng đối với y xem
chừng kiêng nể hơn trước nhiều. Thấy vậy, AQ nghĩ bụng: "Hẳn có lẽ bởi vì mình là bực bố Cụ
Cố nhà họ Triệu!" Thật ra, nào có phải thế. Theo lệ thường, ở làng Mùi nếu tên Kèo đánh tên
Cột, anh Ba đánh anh Năm thì xưa nay chẳng ai để ý đến cả. Nhưng nếu có dính dáng đến một
nhân vật "xù" như là Cụ Cố nhà họ Triệu chẳng hạn thì mới có tiếng đồn. Lúc đã có tiếng đồn
thì không những người đánh đã có danh có giá mà luôn cả người bị đánh cũng nhờ đó mà lẫy
lừng. Còn như nói đến sự phải trái thì nhất định là lỗi về AQ rồi, không cần phải bàn nữa. Tại
sao vậy? Thì cả lẽ Cụ Cố nhà họ Triệu lại có thể có lỗi được hay sao? Nhưng, nếu AQ có lỗi, thì
sao người ta lại có vẻ kiêng nể y hơn trước? Nào ai biết đâu đấy! Kẻ xuyên tạc thì cho rằng
hoặc giả là vì AQ nói y là bà con với Cụ Cố họ Triệu, tuy bị đánh đấy, song người ta vẫn e rằng
AQ nói cũng có phần nào đúng, thà kiêng nể y chút đỉnh có lẽ cũng êm hơn. Nếu không phải
như thế thì có thể nói là AQ cũng như con bò thái lao tế thánh, tuy cũng chỉ là một con vật,
chẳng khác con dê, con lợn thường, nhưng đã được Đức Thánh ngài nhúng đũa vào rồi thì bao
nhiêu tiên nho đố bác nào dám động vào nữa!
Từ đó AQ đắc ý được mấy năm ròng.
Rồi, đến mùa xuân năm nọ, AQ say mềm bước đi trên con đường làng, bỗng thấy lão
Vương Râu xồm đang mình trần trùi trụi, ngồi bắt rận bên một góc tường dưới bóng mặt trời.
Bất giác, AQ cũng nghe ngứa ran cả mình lên. Cái lão Vương Râu xồm này, râu vừa xồm lại vừa
lắm sẹo, trong làng vẫn quen gọi là lão Vương Sẹo Xồm, nhưng AQ bỏ bớt chữ "sẹo" đi. Và AQ
khinh lão ra mặt. Cứ trong ý tứ AQ thì sẹo chẳng lấy gì làm lạ cả, chỉ bộ râu quai nón kia mới là
kỳ quặc, mới là chướng mắt. Thế rồi AQ sẽ ngồi xuống cạnh Vương Râu xồm. Kể ra, nếu là kẻ
khác thì chưa hẳn AQ đã ngồi một cách vô ý vô tứ như vậy. Nhưng lão râu xồm này thì sợ cóc gì
mà chẳng ngồi! Nói trắng ra, AQ chịu ngồi như thế này là vẻ vang cho lão ta lắm rồi.
AQ cũng cởi mảnh áo cộc đụp rách ra, và cũng mằn mò, tìm tòi một lúc. Chẳng biết vì áo
mới giặt hay vì AQ lơ đễnh mà một hồi khá lâu, y chỉ bắt được có ba bốn con thôi! Liếc qua bên
cạnh thấy lão râu xồm đã làm luôn một lúc ba, bốn, năm, sáu con, và cứ con này đến con khác,
chét vào răng, cúp nghe đánh "bụp" lên từng tiếng một!
AQ lúc đầu còn thất vọng, sau phải cáu lên. Làm sao cái lão Vương Râu xồm đáng ghét thế
kia mà lại bắt được nhiều rận như vậy, còn mình thì ít ỏi thế này, còn gì là thể thống nữa? Y
muốn tìm cho ra một hai chú rõ to, thế mà vẫn không được! Tìm đi tìm lại, mãi mới được một
chú choai choai. AQ nét mặt hầm hầm, nhét vào giữa cặp môi dày, rán hết sức cúp một cái, thế
mà tiếng cúp lại chỉ tẹt một tiếng, vẫn không kêu to bằng Vương Râu xồm.
Vết sẹo trên đầu AQ đỏ bừng lên. Y vất mẹ áo xuống đất, nhổ một bãi nước bọt, nói:
- Đồ sâu róm!
- Đồ chó ghẻ, mày mắng ai đấy!
Vương Râu xồm vừa trả lời vừa ngước mắt lên, ra vẻ khinh bỉ.
Gần đây, AQ tiếng được người ta kiêng nể và cũng hay lên mặt, nhưng gặp tụi lưu manh
trong làng thường cà khịa với y thì y vẫn e sợ. Chỉ có lần này là tinh thần thượng võ của y lại
hăng lên ghê lắm! Cái thằng râu quai nón xồm xoàm cả mặt kia mà cũng dám nói lếu nói láo à?
- Thằng nào nghe là chửi thằng ấy!
AQ đứng phắt dậy, hai tay chống nạnh.
- Thằng này lại ngứa xương ống rồi hẳn?
Vương Râu xồm vừa nói vừa khoác áo lên mình, cũng đứng dậy.
AQ tưởng nó định chuồn, thốc ngay vào, cho một quả đấm. Nào ngờ quả đấm chưa bén
tầm thì Vương Râu xồm đã tóm lấy AQ giật một cái, AQ loạng choạng ngã sấp xuống. Tức thì
Vương Râu xồm níu lấy cái đuôi sam, lôi tới bên tường, định chiếu lệ dúi đầu vào tường... AQ
nghếch đầu lên nói:
- Người quân tử chỉ đấu khẩu, ai đi đấu sức?
Hình như lão Vương Râu xồm này không "quân tử" cho lắm, nên nó không đếm xỉa tới câu
nói ấy, cứ dúi đầu AQ vào tường luôn năm cái liền, đoạn rán sức xô một cái thật mạnh làm cho
AQ ngã té ra đằng kia có đến năm sáu thước, bấy giờ mới hả dạ, đắc ý bỏ đi.
Trong ký ức của AQ thật là chưa bao giờ có một chuyện nhục nhã như thế. Số là đối với
Vương Râu xồm quai nón kia, AQ cười nó thì có, chứ bao giờ nó lại dám cười AQ? Nói gì đến
chuyện đấm đá! Thế mà lần này... nó dám thượng cẳng chân hạ cẳng tay, ai ngờ như thế được!
Chẳng lẽ lại đúng như người ta nói: vì đức Hoàng đế sắp bỏ khoa thi, không cần lấy tú tài cử
nhân nữa, do đó mà thanh thế họ Triệu nhà mình từ nay kém
 









Các ý kiến mới nhất