Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ban-ve-tu-do

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:27' 06-03-2026
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
NGUYÊN LÝ TỰ DO

John Stuart Mill
1859

MỤC LỤC

Chương 1:
LỜI GIỚI THIỆU………………………………………………..…………...3
Chương 2:
BÀN VỀ TỰ DO TƯ TƯỞNG VÀ TỰ DO THẢO LUẬN…………….……18
Chương 3:
CON NGƯỜI CÁ NHÂN NHƯ MỘT THÀNH TỐ CỦA AN SINH……….57
Chương 4:
GIỚI HẠN CỦA QUYỀN UY XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÁ NHÂN….........……..77
Chương 5:
CÁC ỨNG DỤNG…………………………………………………………....97

1

LỜI ĐỀ TẶNG

Mọi luận cứ trình bày trên các trang viết này đều trực tiếp hướng đồng quy về
một nguyên lý chủ đạo lớn lao: ấy là tầm quan trọng cơ bản và tuyệt đối của sự phát
triển con người trong sự đa dạng phong phú của nó.
Wilhelm von Humboldt
Phạm vi và những Bổn phận của Chính quyền
(Sphere and Duties of Government)
Để tưởng nhớ với lòng yêu mến và tiếc thương tới nàng, người truyền cảm
hứng và một phần là tác giả của những gì tốt đẹp nhất mà tôi viết ra – người bạn và
người vợ, mà sự thấu hiểu tuyệt vời của nàng đối với chân lý và quyền năng là sự cổ
vũ mạnh mẽ nhất cho tôi, và sự tán thành của nàng là phần thưởng lớn nhất cho tôi –
tôi xin dâng tặng tập sách này.
Cũng giống như tất cả những gì tôi đã viết ra nhiều năm nay, cuốn sách này
thuộc về nàng cũng như thuộc về tôi; bản thảo trước đây là rất thiếu sót, nhưng điều
vô cùng quý giá là được nàng sửa chữa lại. Nhiều phần quan trọng nhất đã được để
dành lại để nghiên cứu cNn thận hơn, nhưng giờ đây chúng chịu số phận chung chẳng
bao giờ còn được nàng nghiên cứu nữa. Ước gì tôi có khả năng diễn giải được cho thế
gian phân nửa những ý tưởng vĩ đại và tình cảm cao quý chôn giấu dưới mộ nàng, tôi
sẽ làm người nhập đồng đem lại lợi ích lớn hơn cho nhân gian, hơn là những lợi ích
không biết khi nào có được từ những gì tôi có thể viết ra, những điều không còn được
nàng gợi ý và giúp đỡ, có là gì thì cũng không phải là điều thông tuệ tuyệt đỉnh.

2

CHƯƠNG MỘT
LỜI GIỚI THIỆU

Đề tài của luận văn này không phải là điều được gọi là Tự do của Ý chí, không
may bị đối lập với học thuyết có cái tên gọi không đúng là sự Tất yếu Triết học; mà là
Tự do Dân sự hay là Tự do Xã hội: tức là bản chất và các giới hạn của quyền lực mà
xã hội có thể thực thi một cách chính đáng đối với cá nhân. Đây là một vấn đề ít khi
được nêu ra, và hầu như chưa bao giờ được thảo luận một cách tổng thể, nhưng sự
hiện diện vô hình của nó lại ảnh hưởng sâu sắc đến các mâu thuẫn thực tế của thời đại,
và có vẻ như chẳng bao lâu nữa nó sẽ buộc người ta phải thừa nhận như một vấn đề
sinh tử của tương lai. Đây là điều không mới mẻ gì, theo một nghĩa nào đó, ngay từ
thời cổ xưa đã làm chia rẽ loài người. Tuy nhiên, khi các dân tộc văn minh hơn của
loài người đang bước vào thời đại tiến bộ, điều này biểu hiện ra trong những điều kiện
mới và đòi hỏi một sự xem xét khác, cơ bản hơn.
Cuộc đấu tranh giữa Tự do và Quyền uy là đặc trưng nổi bật nhất trong phần
lớn lịch sử chúng ta từng quen thuộc từ xa xưa, đặc biệt là trong lịch sử Hy Lạp, La
Mã và nước Anh. N hưng vào thời cổ xưa, đây là cuộc tranh đoạt giữa dân chúng hay
một vài giai tầng của dân chúng với Chính quyền. Quyền tự do thời đó được hiểu là sự
bảo vệ chống lại chuyên chế của những kẻ nắm quyền chính trị. Kẻ cầm quyền bị cọi
là (ngoại trừ một số chính quyền bình dân của Hy Lạp) nhất thiết ở vị trí đối kháng
với những người mà họ cai trị. Kẻ cầm quyền có thể là một vị chúa tể Độc nhất, là
một phe nhóm hay một gia tầng, nắm giữ quyền uy do thừa kế hay chinh phục, nhưng
trong trường hợp nào đi nữa cũng đều không phải là theo ý nguyện của người bị trị.
Dù có vận dụng biện pháp phòng vệ nào đi nữa nhằm chống lại các hành động áp bức,
người ta vẫn không dám mạo hiểm và có thể cũng không dám ước mong tranh đoạt
quyền tối thượng này. Quyền lực của kẻ cai trị được xem là cần thiết, nhưng cũng cực
kỳ nguy hiểm; kẻ cai trị có thể mưu toan sử dụng nó như một vũ khí chống lại dân
chúng cũng giống như chống lại kẻ thù bên ngoài. Để ngăn chặn không cho các thành
viên yếu ớt hơn của cộng đồng bị làm mồi cho vô số những con kền kền thì cần phải
có con thú săn mồi mạnh hơn tất cả những con khác, được uỷ nhiệm đi ngăn cản
chúng. Thế nhưng vua chúa của những con kền kền thì cũng thèm khát ăn thịt bầy đàn
3

không kém hơn những con quái vật tham lam khác, cho nên cứ phải mãi mãi không
bao giờ chấm dứt thái độ để phòng cái mỏ và móng vuốt của nó. Vì vậy, mục đích của
những người yêu đất nước là thiết lập những giới hạn đối với quyền lực mà những kẻ
cầm quyền phải chịu, khi thực thi quyền lực đối với cộngd dồng; và sự giới hạn này
chính là điều họ muốn nói trong khái niệm tự do. Hai phương cách đã được thử
nghiệm. Thứ nhất là giành được sự thừa nhận cho những quyền miễn trừ nào đó, được
gọi là những quyền tự do chính trị, theo đó kẻ cai trị bội ước lấn quyền sẽ bị coi là vi
phạm trách nhiệm và nếu điều đó xảy ra thì một sự kháng cự đặc biệt hay nổi loạn
toàn thể phải được xem là hợp pháp. Phương cách thứ hai, một biện pháp nói chung
gần đây mới xuất hiện, là hình thành một thiết chế kiểm tra theo hiến pháp. Theo đó,
sự tán đồng của cộng đồng hay một thực tế nào đó giả định là đại diện cho quyền lợi
của họ, là điều kiện cần thiết cho một số hành động quan trọng nào đó của quyền lực
cai trị. Đối với kiểu cách giới hạn thứ nhất, giới quyền lực tại phần lớn các nước châu
Âu ít nhiều đều bị buộc phải tuân theo. Sự tình không được như thế với kiểu cách thứ
hai: mục tiêu có tính nguyên tắc của những người yêu tự do ở khắp mọi nơi vẫn còn là
nhằm đạt được nó, hoặc nhằm đạt được nó trọn vẹn hơn khi đã đạt được nó ở một mức
độ nào đó. Chừng nào mà loài người vẫn còn tự bằng lòng với tình trạng chiến đấu với
kẻ thù này bằng kẻ thù khác và còn cam chịu bị cai trị bởi một ông chủ với điều kiện
có sự đảm bảo ngăn chặn ít nhiều công hiệu đối với sự chuyên chế của ông ta, thì họ
còn chưa thể đưa ý nguyện của mình vượt qua được điểm hạn chế đó.
Tuy nhiên, một thời mới đã đến theo bước tiến bộ trong các hoạt động của con
người, khi người ta thôi không còn nghĩ như là một điều tất yếu tự nhiên, rằng kẻ
thống trị phải là một quyền lực độc lập và đối lập về lợi ích với họ. Họ thấy rằng, tốt
hơn là các loại quan cai trị (magistrates) của N hà nước phải là người họ thuê làm hay
là đại biểu có thể bị họ bãi miễn theo ý muốn. Họ tưởng chừng, bằng riêng phương
cách đó thôi, có thể có được sự an toàn triệt để, đảm bảo rằng quyền lực cai trị sẽ
không bao giờ bị lạm dụng gây thiệt hại cho họ. Dần dần cái đòi hỏi mới mẻ về những
người cầm quyền có thời hạn và được bầu ra, trở thành mục tiêu trọng yếu trong nỗ
lực của các đảng bình dân ở bất cứ đâu có đảng như thế: nó làm cho các nỗ lực trước
đây nhằm hạn chế quyền lực của kẻ cầm quyền bị gác lại ở một mức độ đáng kể. Khi
người ta tiếp tục theo đuổi cuộc đấu tranh nhằm tạo ra quyền lực cai trị từ các cuộc lựa
4

chọn định kỳ của người bị trị, thì một số người bắt đầu nghĩ rằng sự hạn chế bản thân
quyền lực đã được gán cho một tầm quan trọng hơi quá đáng. Biện pháp ấy (họ có thể
tưởng là như vậy) chỉ nhằm chống lại người cầm quyền có quyền lợi thường xuyên
đối lập với quyền lợi nhân dân. Điều mong muốn bây giờ là người cầm quyền phải
được đồng nhất với nhân dân, rằng quyền lợi và ý chí của họ phải là quyền lợi và ý chí
của quốc gia. Quốc gia không cần phải được bảo hộ chống lại ý chí của chính mình.
Không phải e sợ sự chuyên chế tự mình đối với chính mình. Hãy để những người cầm
quyền chịu trách nhiệm một cách hiệu lực với quốc gia, có thể bị quốc gia bãi miễn
nhanh chóng, và quốc gia tin cậy giao cho họ cái quyền lực mà quốc gia có thể tự
mình ra lệnh sử dụng ra sao. Quyền lực của họ chỉ là quyền lực của bản thân quốc gia,
được tập trung lại dưới một hình thức tiện lợi cho việc vận dụng. Cái kiểu cách suy
nghĩ, hay có lẽ đúng hơn là cái kiểu cách cảm nhận như thế, khá phổ biến trong thế hệ
mới đây của chủ nghĩa tự do (liberalism) châu Âu, và hiện nay xu hướng này có vẻ
như vẫn còn chiếm ưu thế trong phái chủ nghĩa tự do ở Lục Địa 1 . N hững người thừa
nhận sự giới hạn nào đó đối với bất cứ chính phủ nào, ngoại trừ trường hợp kiểu chính
phủ mà họ nghĩ rằng không đáng tồn tại, là những ngoại lệ nổi bật lên như các nhà tư
tưởng chính trị lỗi lạc của Lục Địa. Một sắc thái cảm nhận tương tự cũng đã có thể
thịnh hành ở nước ta vào thời này, nếu giả sử hoàn cảnh đã từng khích lệ nó một thời
vẫn tiếp tục không thay đổi.
Tuy nhiên, trong lý thuyết triết học và chính trị cũng như đối với con người,
thành công làm bộc lộ ra những thiếu sót và nhược điểm mà sự thất bại có thể che đậy
không cho quan sát thấy. Cái nhận xét rằng nhân dân không cần hạn chế quyền lực
của mình đối với chính mình, có thể giống như một giả định mang tính tiên đề, khi
chính phủ bình dân hãy còn là điều mơ tưởng hay là điều được ghi chép như đã từng
tồn tại vào một thời xa xưa nào đó trong quá khứ. N hận xét ấy cũng không nhất thiết
phải bị lay chuyển bởi những sai lệch tạm thời như những sai lệch trong Cách mạng
Pháp, mà cái tồi tệ nhất là do bàn tay của một thiểu số soán quyền và dù sao các sai
lệch ấy cũng không thuộc về công việc thường trực của các thiết chế nhân dân, mà
thuộc về một sự bùng nổ bạo động đột ngột chống lại chế độ chuyên chế phong kiến

1

Chỉ phần lục địa châu Âu bên ngoài nước Anh.

5

quý tộc. Tuy nhiên, vừa đúng lúc ấy, lại xuất hiện một nền cộng hoà dan chủ, chiếm
một phần lớn diện tích trái đất và trở thànhmột trong những thành viên hùng mạnh
nhất của cộng đồng các quốc gia. Cái chính phủ được bầu ra và có trách nhiệm đã trở
thành đối tượng quan sát và phê phán như thường thấy đối với một sự kiện trọng đại.
Bây giờ người ta đã nhận ra rằng, những từ ngữ như “sự cai trị tự quản” và “quyền lực
của nhân dân đối với chính mình” không biểu đạt được cái thực chất của nó. Cái
“nhân dân” thực thi quyền lực không phải lúc nào cũng là cái nhân dân chịu sự thực
thi quyền lực; còn cái “sự cai trị tự quản” được nói tới không phải là sự cai trị mỗi
người tự quản lấy mình, mà là mỗi người bị quản bởi tất cả những người khác. Hơn
thế nữa, cái ý chí của nhân dân trên thực tế có nghĩa là ý chí của số đông nhất hay của
một bộ phận tích cực nhất của nhân dân; của cái đa số, hay là của cái số người đã
thành công trong việc được chấp nhận như là đa số; do đó mà nhân dân có thể muốn
áp chế một bộ phận của mình; và sự đề phòng cũng rất cần thiết để chống lại điều đó
cũng như chống lại bất cứ sự lạm quyền nào khác. Vì vậy, sự giới hạn quyền lực của
chính phủ đối với các cá nhân không mảy may mất đi tầm quan trọng, khi những
người nắm quyền đã phải thường kỳ giải trình trước cộng đồng, [thực chất] tức là
trước phe đảng mạnh nhất trong đó. Quan điểm này gửi gắm cho giới tư tưởng trí thức
cũng như các khuynh hướng của những giai tầng quan trọng trong xã hội châu Âu, mà
đối với họ nền dân chủ đi ngược lại quyền lợi giả định hay thực tế của họ, và nó được
xác lập không mấy khó khăn. Trong các suy luận chính trị thì “sự chuyên chế của đa
số” giờ đây nói chung được xếp vào loại những điều xấu xa mà xã hội cần đề phòng
chống lại.
Cũng giống như các nền chuyên chế khác, mặc dù còn thô thiển, những nền
chuyên chế của đa số trước hết dựa trên sự sợ hãi, chủ yếu vận hành thông qua những
hành động của giới công quyền. N hưng những người có suy xét hiểu ra rằng, một khi
xã hội tự thân là chuyên chế – xã hội chuyên chế tập thể đối với các cá nhân riêng rẽ
cấu thành nó – thì các phương tiện thực thi chuyên chế sẽ không giới hạn ở những
hành động do bàn tay của các viên chức chính trị thực hiện. Xã hội có thể và sẽ thi
hành huấn lệnh của chính mình; nếu nó ban hành các huấn lệch sai trái thay cho huấn
lệnh đúng đắn, hoặc chẳng cần huấn lệnh nào hết mà cứ nhúng tay vào những việc lẽ
ra không nên làm, thì xã hội này sẽ thực hành một nền chuyên chế kinh khủng hơn so
với nhiều loại đàn áp chính trị khác. N ó cho phép có ít hơn các biện pháp trốn tránh,
6

xuyên thấu sâu hơn vào những chi tiết của đời sống và bắt làm nô lệ ngay cả bản thân
linh hồn, mặc dù thường không dùng những hình phạt cực đoan. Vì vậy, việc bảo hộ
chống lại sự chuyên chế của quan cai trị là không đủ mà ở đây cần phải bảo hộ chống
lại cả sự chuyên chế của ý kiến và cảm xúc đang thịnh hành; chống lại xu thế của xã
hội áp đặt những ý tưởng và tập quán của riêng nó thành quy tắc cư xử cho những
người bất đồng với nó bằng những phương tiện ngoài khuôn khổ các trừng phạt dân
sự; chống lại xu thế của xã hội trói buộc sự phát triển, và khi có thể thì ngăn cản việc
hình thành bất cứ cá tính nào không hoà hợp với cung cách của nó, cưỡng bức mọi
tính cách thích ứng theo khuôn mẫu của nó. Có một giới hạn cho sự can thiệp hợp
pháp của ý kiến tập thể đối với sự độc lập của cá nhân: việc tìm ra giới hạn này và giữ
cho nó không bị lấn quyền là điều không thể thiếu để tạo điều kiện tốt cho hoạt động
của con người cũng như nhằm bảo hộ chống lại sự áp chế chính trị.
Mặc dù đề xuất này dường như không cần phải tranh cãi ở mức độ tổng thể,
nhưng vấn đề thực tiễn đặt giới hạn ở chỗ nào – hiệu chỉnh thế nào giữa độc lập cá
nhân và kiểm soát xã hội – là một đè tài gần như còn bỏ trống, chưa làm được gì. Tất
cả những gì đem lại giá trị cho sự tồn tại của mỗi con người phụ thuộc vào sự thực thi
việc kiềm chế hành động của những người khác. Vì vậy, một số quy tắc cư xử nào đó
cần phải được áp đặt, trước hết bằng pháp luật, và bằng dư luận đối với nhiều vấn đề
không là đối tượng áp dụng của pháp luật. N hững quy tắc ấy phải như thế nào là một
vấn đề nguyên tắc trong hoạt động của con người. Thế nhưng, ngoài vài ngoại lệ ít ỏi
những trường hợp quá hiển nhiên ra, thì đây là một trong những lĩnh vực mà việc giải
quyết đạt được ít tiến bộ nhất. Không có hai thời đại nào, và hiếm có hai đất nước nào
lại quyết định giống nhau; và sự quyết định của một thời đại hay một đất nước này lại
là điều gây ngạc nhiên cho thời đại và đất nước khác. Ấy thế mà dân chúng của một
thời đại hay một đất nước nào đó lại vẫn chẳng hề thấy có khó khăn gì trong quyết
định của họ, cứ như là chuyện nhân loại đã luôn thoả thuận như thế. N hững quy tắc
mà họ thiết lập với nhau có vẻ như tự bản thân nó là hiển nhiên và đúng đắn đối với
họ.
Cái ảo tưởng gần như là toàn cầu đó là một trong những ví dụ về ảnh hưởng
đầy ma thuật của tập quán, cái mà không phải chỉ là bản chất thứ hai như một câu tục
ngữ đã nói, mà còn là cái luôn bị lầm lẫn là bản chất thứ nhất. Tác dụng của tập quán
trong việc ngăn chặn sự hoài nghi đối với các quy tác cư xử mà loài người áp đặt cho
nhau lại càng triệt để, bởi vì đối tượng là một thứ nói chung bị coi như không cần phải
đưa ra lý lẽ để giải thích, không những là người này đối với người kia mà cả mỗi
7

người đối với bản thân mình. Dân chúng được tập cho thói quen tin tưởng và được
khuyến khích giữ niềm tin bởi những người khao khát vươn tới tính cáh của các triết
gia, những người cho rằng cảm nhận của họ đối với những thứ có bản chất như thế
còn tốt hơn lý lẽ, xem lý lẽ là không cần thiết. N guyên lý thực tiễn hướng dẫn họ đưa
ra ý kiến điều chỉnh cách cư xử giữa con người với nhau là sự cảm nhận trong đầu óc
mỗi người rằng bất cứ ai cũng cần phải hành động giống những người mà anh ta yêu
thích. Thực tế không ai chịu thừa nhận với chính mình rằng chuNn mực xét đoán của
anh ta chỉ là cái thích của riêng anh ta; thế nhưng khi một ý kiến về quan điểm cư xử
mà không được lý lẽ hậu thuẫn thì chỉ có thể coi là sở thích riêng của cá nhân; còn lý
lẽ, nếu có đi nữa, mà chỉ đơn thuần là lời hiệu triệu đối với một sở thích tương tự được
cảm nhận bởi nhiều người khác, thì nó cũng vẫn chỉ là ý thích của nhiều người thay vì
một người mà thôi. Tuy nhiên, đối với một cá nhân bình thường thì cái sở thích riêng
của anh ta được hậu thuẫn như thế, không những là lý lẽ hoàn toàn thoả đáng, mà còn
là lý lẽ duy nhất anh ta dựa vào để nhận xét về đạo đức, sở thích, tính đúng sai, những
thứ còn chưa được viết rõ trong sách tín điều tôn giáo của anh ta; thậm chí còn là cái
chỉ dẫn chủ đạo cho sự diễn giải ngay cả tín điều đó. Ý kiến của con người về cái gì
đáng khen, cái gì đáng chê, bị ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân đủ các loại tác động
đến mong muốn của họ đối với sự cư xử của người khác; những nguyên nhân này
cũng nhiều vô số, giống như vô số nguyên nhân xác định mong muốn của họ đối với
các đối tượng khác. Đôi lúc là lý lẽ, khi khác lại là thành kiến hay điều mê tín của họ,
mà thông thường là các xúc cảm xã hội, cũng không hiếm khi là xúc cảm phản xã hội,
lòng ganh ghét hay đố kỵ, thói ngạo mạn hay khinh người, nhưng phổ biến nhất là
những dục vọng hay mối lo sợ cho bản thân họ – tư lợi của họ, dù chính đáng hay
không chính đáng.
Ở bất cứ nơi đâu có giai cấp uy thế đang lên thì phần lớn nền đạo đức của xứ sở
này xuất phát từ quyền lợi giai cấp và từ cảm nhận tính ưu trội của giai cấp đó. N ền
đạo đức giữa người Sparta và người Helot 2 , giữa các chủ đồn điền và các nô lệ da đen,
giữa các ông hoàng và kẻ tôi tớ, giữa quý tộc và tiện dân, giữa nam giới và nữ giới,
phần nhiều đều là sản phNm của những quyền lợi và cảm nhân giai cấp ấy. Các tình
cảm phát sinh như thế đến lượt chúng, lại tác động trở lại lên các cảm nhận đạo đức
2

Sparta là một thành bang Huy Lạp cổ đại không có chế độ chuyên chế. Helot không có nguồn gốc sắc tộc rõ
ràng, nhưng có lẽ họ là cư dan gốc của vùng Laconia ở gần thủ đô của Sparta. N gười Helot trong một nghĩa nào
đó là nô lệ quốc gia của Sparta, bị gắn với đất đai và bị ấn định làm việc cày cấy cho các cá nhân người Sparta.
Chủ của người Helot không có quyền trả tự do cho họ và cũng không có quyền bán họ. N gười Helot có quyền
tích luỹ tài sản hạn chế sau khi trả cho chủ một tỷ lệ xác định sản phNm làm ra trên đất đai của chủ. N gười Helot
cũng phục vụ cho chủ trong các cuộc chinh chiến.

8

của các thành viên giai cấp uy thế đang lên trong các quan hệ giữa họ với nhau. Mặt
khác, nơi nào có giai cấp trước kia đã từng là giai cấp uy thế đang lên mà nay mất đi
uy thế đó, hoặc giả sự hưng vượng của nó làm thất nhân tâm, thì tình cảm đạo đức
thịnh hành thường mang dấu ấn thù ghét gay gắt đối với vị thế ưu trội. Một nguyên lý
vĩ đại nữa xác định quy tắc cư xử cả về hành động lẫn sự nhẫn nhịn, những điều bị
bắt buộc theo luật pháp hay dư luận, đó là tính nô lệ của loài người đón hóng ý yêu
ghét của các ông chủ nhất thời hay các đấng thượng đế của họ. Cái tính nô lệ này du
thực chất là vụ lợi ích kỷ nhưng không phải là giả đạo đức; nó đem lại những tình
cảm hoàn toàn đích thực của lòng căm thù; nó tạo ra những kẻ thiêu chết các phù
thuỷ và người tà giáo. Ở giữa vô số những ảnh hưởng thấp hèn ấy, lợi ích toàn thể và
hiển nhiên của xã hội đương nhiên chiếm phần chủ đạo trong việc định hướng tình
cảm đạo đức. Tuy nhiên, kết quả này không hẳn dựa trên lý lẽ thuần tuý và bản thân
những lợi ích xã hội, mà phần nhiều như một hệ quả của thiện cảm hay ác cảm, là
những cái nảy sinh ra từ những lợi ích xã hội: thiện cảm hay ác cảm chẳng liên quan
gì nhiều đến lợi ích của xã hội, nhưng tự chúng là một sức mạnh rất to lớn trong việc
thiếp lập nên đạo đức phNm hạnh.
N hư vậy, những cái yêu ghét của xã hội, hay của một phần hùng mạnh nào đấy
của nó, chính là yếu tố chủ đạo mà trên thực tế thiết lập các quy tắc cho công chúng
tuân theo dưới hình phát của luật pháp hay dư luận. N ói chung, những người tiên tiến
về tư duy và cảm nhận trong xã hội chưa đề cập đến điều kiện này về mặt nguyên tắc,
dù cho có va chạm với nó thế nào đi nữa về một số chi tiết. Họ bận tâm nhiều đến việc
đòi hỏi xã hội phải yêu ghét cái gì, hơn là việc đặt vấn đề xem liệu cái yêu ghét có
nhất thiết phải thành luật pháp cho các cá nhân hay không. Họ thích gắng sức thu
chỉnh cảm nhận của loài người về những điểm riêng biệt khiến bản than họ bị coi là dị
giáo, hơn là đặt ra mục tiêu chung trong việc bảo vệ quyền tự do cho tất cả các dị
giáo. Chỉ có một trường hợp mà căn cứ được xác lập cao hơn dựa trên nguyên lý và
được mọi người duy trì nhất quán, ngoại trừ sự cá biệt ở nơi này hay nơi khác, đó là
trường hợp tín ngưỡng tôn giáo: một trường hợp đáng học hỏi về nhiều mặt và đặc
biệt là tạo ra một thí dụ điển hình nhất về tính-có-thể-sai của cái được gọi là cảm nhận
đạo đức, bởi vì cái lòng thù địch nhau về tranh cãi thần học (odium theologicum)
trong một kẻ cuồng tín là một trong những trường hợp hiển nhiên nhất của xúc cảm
đạo đức. N hững người đầu tiên phá vỡ cái ách của cái tự xưng là Giáo hội Toàn cầu,
cũng chẳng mấy mong muốn cho phép có ý kiến tôn giáo khác nhau, giống y như bản
thân giáo hội vậy. Thế nhưng khi sự nóng bỏng của cuộc xung đột đã qua đi mà không
9

đem lại thắng lợi hoàn toàn cho bất cứ phe nào và mỗi giáo hội hay giáo phái hạ thấp
giới hạn kỳ vọng của mình xuống thành việc giữ được vị trí đang có; các phe thiểu số
thấy mình không có cơ may trở thành đa số, bị áp lực phải phòng thủ trước những kẻ
mà họ không cải giáo được, chỉ mong sao được phép giữ một tín ngưỡng khác. Hầu
như thuần tuý là nhờ vào tình thế như vậy trên chiến trường, mà quyền của cá nhân
chống lại xã hội mới được khẳng định trên căn cứ rộng lớn của nguyên tắc, và đòi hỏi
của xã hội vận dụng quyền uy với những người bất đồng mới bị công khai phản đối.
Các nhà văn lớn mà thế giới chịu ơn để có được tự do tín ngưỡng, phần lớn đều khẳng
định tự do lương tâm như quyền tối thượng và phủ nhận tuyệt đối việc con người phải
giải trình với người khác về tín ngưỡng tôn giáo của mình. N hưng bản chất tự nhiên
của loài người vẫn còn không khoan dung trong bất cứ chuyện gì mà họ quan tâm, cho
nên tự do tôn giáo thực tế khó lòng trở thành hiện thực ở bất cứ chỗ nào, ngoại trừ
những nơi có sự thờ ơ với tôn giáo góp thêm trọng lượng, vì lẽ những người này
không thích sự thanh bình của họ bị phá vỡ bởi những cuộc tranh cãi tín ngưỡng.
Trong đầu óc của hầu hết những người có tín ngưỡng tôn giáo, ngay cả ở những xứ sở
khoan dung nhất, thì nghĩa vụ khoan dung vẫn được hiểu ngầm là không phải như vậy.
N gười này chịu đựng được sự bất đồng về việc cai trị của nhà thờ, nhưng không chịu
đựng được sự bất đồng về giáo điều; người khác có thể khoan dung với bất kỳ ai,
ngoại trừ tín đồ theo chủ nghãi giáo hoàng (Papist) hay theo thuyết nhất thể
(Unitarian); người khác nữa khoan dung với bất cứ tín đồ tôn giáo khải thị nào; một số
ít mở rộng lòng nhân ái ra xa hơn, nhưng dừng lại ở lòng tin vào Thượng đế và cuộc
sống đời đời trong tương lai. Ở bất cứ đâu mà cảm xúc của đa số vẫn còn chân thành
và mạnh mẽ, thì việc đòi h
 
Gửi ý kiến