Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

Đề khảo sát chất lượng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phương Linh
Ngày gửi: 22h:31' 18-09-2024
Dung lượng: 224.2 KB
Số lượt tải: 50
Số lượt thích: 0 người
A. TRUYỆN ĐỒNG THOẠI
I, TRI THỨC NGỮ VĂN
1. Truyện và truyện đồng thoại
- Truyện là loại tác phẩm văn học kể lại một câu chuyện, có cốt truyện, nhân
vật, không gian, thời gian, hoàn cảnh diễn ra các sự việc.
- Truyện đồng thoại là truyện viết cho trẻ em, có nhân vật thường là loài vật
hoặc đồ vật được nhân cách hoá. Các nhân vật này vừa mang những đặc tính
vốn có cùa loài vật hoặc đồ vật vừa mang đặc điểm của con người.
2. Cốt truyện
- Cốt truyện là yếu tố quan trọng cùa truyện kể, gồm các sự kiện chính được sắp
xếp theo một trật tự nhất định: có mờ đầu, diễn biến và kết thúc.
3. Nhân vật
Nhân vật là đối tượng có hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, cảm xúc, suy
nghĩ,... được nhà văn khắc hoạ trong tác phẩm. Nhân vật thường lá con người
nhưng cũng có thể là thần tiên, ma quỷ, con vật. đồ vật,...
4. Người kể chuyện
Người kể chuyện là nhân vật do nhà văn tạo ra để kể lại câu chuyện:
+ Ngôi thứ nhất;
+ Ngôi thứ ba.
5. Lời người kế chuyện và lời nhân vật
- Lời người kể chuyện đảm nhận việc thuật lại các sự việc trong câu chuyện,
bao gồm cà việc thuật lại mọi hoạt động cùa nhân vật vả miêu tả bối cảnh không
gian, thời gian của các sự việc, hoạt động ấy.
- Lời nhân vật là lời nói trục tiếp cùa nhân vật (đối thoại, độc thoại), có thể được
trinh bày tách riêng hoặc xen lẫn với lời người kề chuyện.
B. THƠ ( 5 CHỮ, LỤC BÁT, TỰ DO)
I,TRI THỨC NGỮ VĂN
A, THƠ 5 CHỮ
Thơ năm chữ là thể thơ mỗi dòng gồm năm tiếng. Trong văn học dân gian thì
gọi là thể vãn năm (mỗi câu năm âm tiết). Còn trong văn học bác học thì gọi
đây là thơ ngũ ngôn. Như vậy có thể khẳng định thể thơ năm chữ cũng xuất hiện
từ xa xưa và được lưu hành nhiều trong văn học 'dân gian cũng như trong văn
học bác học.
Ngắt nhịp của thể thơ năm chữ thường là 3/2, hoặc 2/3 :
Anh đội viên / nhìn Bác
Càng nhìn / lại càng thương
Người Cha / mái tóc bạc
Đốt lửa / cho anh nằm…
(Minh Huệ – Đêm nay Bác không ngủ)
Tất nhiên cũng có những trường hợp đan xen thêm một số cách ngắt nhịp khác
như 1/2/2 ; 1/4…
Mầm non / mắt lim dim
Cố nhìn / qua kẽ lá

Thấy / mây bay / hối hả
Thấy / lất phất / mưa phùn
Rào rào / trận lá tuôn
Rải vàng / đầy mặt đất
Rừng cây / trông thưa thớt
Như / chỉ cội / với cành.
(Võ Quảng – Mầm non)
Còn vần được gieo ở thể thơ năm chữ thường là vần chân (có thể là vần liền
hoặc vần cách). Vần thơ thay đổi, không nhất thiết là vần liên tiếp, số câu cũng
không hạn định. Bài thơ thường được chia khổ, mỗi khổ bốn câu, nhưng cũng
có khi hai câu hoặc sáu câu. Một số trường hợp không chia khổ.
Với những đặc điểm trên thì thơ năm chữ có thể được viết theo hai phương thức
: Phương thức tự sự (kể chuyện) và phương thức trữ tình (bộc lộ tình cảm). Có
thể phản ánh những nội dung đơn giản (thơ viết cho thiếu nhi) hoặc những nội
dung lớn lao sâu sắc (đề cập tới những vấn đề có tính xã hội).
B, THƠ LỤC BÁT
1. Một số yếu tố hình thức của bài thơ
- Dòng thơ gồm các tiếng được sắp xếp thành hàng; các dòng thơ có thể giống
hoặc khác nhau về độ dài, ngắn.
- Vần là phương tiện tạo tính nhạc cơ bản của thơ dựa trên sự lặp lại (hoàn toàn
hoặc không hoàn toàn) phần vần của âm tiết. Vân có vị trí ở cuối dòng thơ gọi
là vần chân, ở giữa dòng thơ gọi là vần lưng.
- Nhịp là những điểm ngắt hơi khi đọc một dòng thơ. Ngắt nhịp tạo ra sự hài
hoà, đồng thời giúp hiểu đúng ý nghĩa của dòng thơ.
2. Thơ lục bát
- Lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam, có sức sống mãnh liệt,
mang đậm vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam.
- Số câu, số chữ mỗi dòng: Mỗi bài thơ ít nhất gồm hai dòng với số tiếng cố
định: dòng sáu tiếng (dòng lục) và dòng tám tiếng (dòng bát).
- Gieo vần:
+ Gieo vần chân và vần lưng.
+ Tiếng thứ sáu của dòng lục gieo vần xuống tiếng thứ sáu của dòng bát, tiếng
thứ tám của dòng bát gieo vần xuống tiếng thứ sáu của dòng lục tiếp theo
- Ngắt nhịp: thường ngắt nhịp chẵn (mỗi nhịp hai tiếng)
C, THƠ TỰ DO
Thơ tự do là thơ phân dòng nhưng không có thể thức nhất định và không quy
định số lượng từ trong một câu, cũng như không cần có vần liên tục.
Nó có thể là hợp thể, phối xen các đoạn thơ làm theo các thể khác nhau, hoặc
hoàn toàn tự do. Ví dụ: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Đất nước của
Nguyễn Đình Thi, Cành phong lan bể của Chế Lan Viên. Đặc điểm đáng chú ý
của thơ tự do thường là phá khổ – không theo khổ 4 dòng, 6 dòng đều đặn ngay
ngắn. Đặc biệt điểm thứ hai là có thể mở rộng câu thơ, kéo dài câu thơ thành

hàng chục tiếng, gồm nhiều dòng in, có thể sắp xếp thành “bậc thang” để tô đậm
nhịp điệu ở trong câu, có thể xen kẽ câu ngắn dài thoải mái.
Thơ tự do xuất hiện từ nhu cầu đòi hỏi thơ đi sát cuộc đời hơn, phản ánh được
những khía cạnh mới của cuộc sống đa dạng, thể hiện được những cách nhìn
nghệ thuật mới của nhà thơ. Trong lịch sử văn học, sự nẩy sinh của nó thường
gắn với những biến chuyển lớn về ý thức hệ. Trên thế giới, U. Uýt-man, P. Nêru-đa, N. Ghi-den,… là những nhà thơ nổi tiếng về thơ tự do….
III. TRUYỆN NGẮN
I, TRI THỨC NGỮ VĂN
- Truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, ít nhân vật, ít sự việc phức tạp…
Chi tiết lời văn trong truyện ngắn rất cô đọng. Truyện ngắn hiện đại Việt Nam
xuất hiện tương đối muộn.
- Đặc điểm nhân vật là những nét riêng của nhân vật trong truyện, thường được
thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ,...
- Lời người kể chuyện là lời của người đã kế lại câu chuyện. Nếu người kế theo
ngôi thứ nhất thì lời của người kể là lời của người xưng “tôi”. Ví dụ: “Em gái
tôi tên là Kiêu Phương, nhưng tôi quen gọi nó là Mèo...” (Bức tranh của em gái
tôi - Tạ Duy Anh). Nếu người kể theo ngôi thứ ba thì lời của người kể là lời của
người ngoài, không tham gia câu chuyện. Ví dụ: “Ngày xưa, ở quận Cao Bình
có hai vợ chồng tuổi già mà chưa có con” (Thạch Sanh). Lời nhân vật là lời của
một nhân vật trong truyện, ví dụ lời Thánh Gióng: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây.”
(Thánh Gióng)
IV. KÍ VÀ DU KÍ
I, TRI THỨC NGỮ VĂN
1, Kí là gí?
- Kí là loại tác phẩm văn học chú trọng ghi chép sự thực
- Trong kí có kể sự việc, tả người, tả cảnh, cung cấp thông thông tin và thể hiện
cảm xúc suy nghĩ của người viết. Có những tác phẩm nghiêng về kể sự việc, có
những tác phẩm nghiêng về thể hiện cảm xúc.
- Tác giả trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến sự việc. Sự việc được kể theo trình
tự thời gian
Tác giả có thể xưng “ tôi”, có vai trò như người kể chuyện.
Trình bày suy nghĩ, cảm xúc, sự quan sát, liên tưởng, tưởng tượng của mình về
sự việc.
2, Du kí là gì?
- Du kí là thể loại ghi chép về những chuyến đi tới các vùng đất, các xứ sở nào
đó
Người viết kể lại hoặc miêu tả những điều mắt thấy tai nghe trên hành trình của
mình
V. TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH
I, TRI THỨC NGỮ VĂN
A, TRUYỀN THUYẾT
1, Khái niệm:

- Truyện truyền thuyết là loại truyện dân gian, có yếu tố hoang đường, kì ảo, kể
về các sự việc và nhân vật liên quan đến lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc
phong tục, cảnh vật địa phương theo quan niệm của nhân dân.
2, Phân loại truyền thuyết
+ Truyền thuyết thời Hùng Vương - thời đại mở đầu lịch sử Việt Nam. Đặc
điểm: gắn với việc giải thích nguồn gốc dân tộc và công cuộc dựng nước, giữ
nước thời đại vua Hùng.
+ Truyền thuyết của các triều đại phong kiến. Đặc điểm: bám sát lịch sử hơn, và
sử dụng ít yếu tố hoang đường, kì ảo hơn các truyền thuyết thời Hùng Vương.
B, CỔ TÍCH
1, Khái niệm:
- Truyện cổ tích là loại truyện dân gian, thường có yếu tố hoang đường, kì ảo,
kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật như: nhân vật có tài năng kì lạ, nhân
vật thông minh, nhân vật bất hạnh, nhân vật ngốc nghếch, người mang lốt vật,...
nhằm thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối cùng của cái
thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu....
2, Phân loại truyền cổ tích
+ Cổ tích về loài vật
+ Cổ tích thần kì
+ Cổ tích sinh hoạt
3, So sánh truyện truyền thuyết và truyện cổ tích:
-Giống nhau: • Đều là một thể loại văn học dân gian. • Đều có yếu tố kì ảo.
- Khác nhau: • Truyền thuyết ra đời trước truyện cổ tích. • Truyền thuyết kể về
các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ; truyện cổ tích
phản ánh cuộc sống hằng ngày của nhân dân ta. • Truyền thuyết có cốt lõi là
những sự thực lịch sử còn cổ tích hoàn toàn hư cấu. • Trong truyền thuyết, yếu
tố kì ảo đóng vai trò thần kì hóa để ngợi ca các nhân vật lịch sử còn trong cổ
tích, yếu tố hoang đường, kì ảo đóng vai trò cán cân công lí, thể hiện khát vọng
công bằng, mơ ước và niềm tin của nhân dân về sự chiến thắng của cái thiện đối
với cái ác, cái tốt với cái xấu. • Truyền thuyết thể hiện quan điểm, thái độ và
cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể;
truyện cổ tích biểu hiện cách nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực tại, đồng
thời nói lên những quan điểm đạo đức, những quan niệm về công lí xã hội và
ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại.
VI. VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
I, CỦNG CỐ TRI THỨC NGỮ VĂN
1, Khái niệm:
- Văn bản nghị luận là loại văn bản chủ yếu dùng để thuyết phục người đọc
(người nghe) về một vấn đề.
2, Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận
· Lí lẽ là những lời diễn giải có tí mà người viết (người nói) đưa ra để khẳng
định ý kiến của mình.

Bằng chứng là những ví dụ được lẩy từ thực tế đời sống hoặc từ các nguồn khác
để chứng minh cho lí lẽ.
 
Gửi ý kiến