tieng viet 4 ĐỀ KTCHK1 LỚP 4 KNTT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: TỰ LÀM
Người gửi: Trần Thị Hợp
Ngày gửi: 16h:18' 01-01-2026
Dung lượng: 81.2 KB
Số lượt tải: 412
Nguồn: TỰ LÀM
Người gửi: Trần Thị Hợp
Ngày gửi: 16h:18' 01-01-2026
Dung lượng: 81.2 KB
Số lượt tải: 412
Số lượt thích:
0 người
UBND TXÃ EADRÔNG
TRƯỜNG TH TRẦN QUỐC TOẢN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MA TRẬN PHẦN THI ĐỌC HIỂU – KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
Nội dung kiến thức
PHẦN ĐỌC HIỂU
Số câu/
Câu số/
Số điểm
1. Xác định được hình ảnh Số câu
nhân vật, chi tiết trong bài đọc.
Câu số
Mức 1
TN
Mức 2
TN
TL
1
Tổng
1
1, 2
Số điểm
1
2. Hiểu ý chính, chủ đề của bài Số câu
đọc hoặc nhận ra mối liên hệ
Câu số
giữa các chi tiết quan trọng.
Số điểm
1
1
3,5
8
1
1
3. Nhận biết được tính cách
của nhân vật thông qua hành
động, lời thoại.
- Nêu được suy nghĩ hành
động của mình sau khi đọc bài.
4. Viết được đoạn văn tưởng
tượng (3-5 câu) dựa vào câu
chuyện trong đó thể hiện ý
kiến của mình qua bài đọc.
Mức 3
TL
1
3
2
Số câu
1
1
Câu số
9
Số điểm
1
1
Số câu
1
1
Câu số
11
Số điểm
1
1
PHẦN KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
1. Nhận biết được tính từ có Số câu
trong câu.
Câu số
Số điểm
1
4
0,5
2. Biện pháp tu từ nhân hóa: Số câu
đặc điểm và chức năng.
Câu số
Số điểm
0.5
1
1
1
1
1
7
0.5
0.5
4. Đặt câu với tục ngữ thuộc Số câu
chủ điểm: Niềm vui sáng tạo
Câu số
hoặc Chắp cánh ước mơ.
Số điểm
TỔNG
1
6
Số điểm
3. Dấu gạch ngang và tác dụng Số câu
của dấu gạch ngang.
Câu số
1
1
1
10
1
1
Số câu
6
2
1
2
Câu số
1,2,3,4,5,7
6,8
10
9,11
Số điểm
3
2
1
2
11
8
UBND TXÃ EADRÔNG
TRƯỜNG TH TRẦN QUỐC TOẢN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ KIỂM TRA MÔN TIẾNG VIỆT CUỐI KÌ 1 – KHỐI 4
Ngày kiểm tra: Thứ ... ngày ..../0..../2026
I. KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
1. Phần đọc thành tiếng: (2 điểm)
Thời gian khoảng 3 -5 phút/em cho đọc và trả lời câu hỏi.
2. Phần đọc hiểu + phần Luyện từ và câu: (8 điểm)
Đọc thầm bài văn sau:
ƯỚC VỌNG VÀ HẠT GIỐNG
Ngày xưa, có hai đứa trẻ cùng có nhiều ước vọng rất đẹp đẽ. Làm sao có thể
thực hiện được những ước vọng đó? Tranh luận hoài mà hai đứa trẻ không tìm được
lời giải đáp. Chúng bèn mang câu hỏi đến một cụ già, mong tìm lời chỉ bảo. Cụ già
cho mỗi đứa trẻ một hạt giống và bảo:
- Đây chỉ là hạt giống bình thường, nhưng ai có thể bảo quản nó tốt thì người
đó có thể tìm ra con đường thực hiện ước vọng.
Nói xong, cụ già quay lại rồi đi khuất ngay. Sau đó mấy năm, cụ già hỏi hai
đứa trẻ về tình trạng bảo quản hạt giống.
Đứa trẻ thứ nhất mang ra một chiếc hộp được quấn bằng dây lụa rất đẹp. Nó
nói:
- Cháu đặt hạt giống trong cái hộp, suốt ngày giữ nó.
Nói rồi, nó lấy hạt giống ra cho cụ già xem. Cụ già thấy rõ hạt giống còn
nguyên vẹn như trước. Đứa trẻ thứ hai mặt mũi rám nắng, hai bàn tay nổi chai. Nó
chỉ ra cánh đồng mênh mông lúa vàng, phấn khởi nói:
- Cháu đem hạt giống gieo xuống đất, mỗi ngày lo tưới nước, chăm sóc, bón
phân, nhặt cỏ,... Tới nay nó đã kết hạt mới đầy đồng.
Cụ già nghe xong, mừng rỡ nói:
- Các cháu, ước vọng cũng như hạt giống đó. Chỉ biết khư khư giữ lấy nó thì
chẳng có thể lớn lên được. Chỉ khi dùng mồ hôi, sức lực, tưới tắm, vun trồng cho nó
thì mới có thể biến thành hoa trái, mùa màng bội thu.
(Theo tập truyện Ba con búp bê vàng, Lê Hạnh tuyển chọn)
Khoanh vào chữ cái A, B, C hoặc D trước phương án đúng và trả lời các câu hỏi:
Câu 1. (0.5 điểm) Để tìm được lời giải đáp cho câu hỏi: “Làm sao có thể thực hiện
được ước vọng?” hai đứa trẻ mang câu hỏi đến tìm gặp ai?
A. Một bà tiên
B. Một nhà tiên tri
C. Một anh thanh niên
D. Một cụ già
Câu 2. (0.5 điểm) Khi hai đứa trẻ hỏi cụ già về cách thực hiện ước vọng, cụ đã làm
gì?
A. Cho mỗi đứa trẻ một chiếc quạt nhiệm màu để biến ước vọng thành sự
thật.
B. Cho mỗi đứa trẻ một điều ước và biến ước vọng thành sự thực ngay tức
thì.
C. Cho mỗi đứa trẻ một hạt giống và nói rằng ai bảo quản tốt sẽ tìm được con
đường thực hiện ước vọng.
D. Cho mỗi đứa một hạt giống và dạy cho chúng cách tìm ra con đường thực
hiện ước vọng.
Câu 3. (0.5 điểm) Cậu bé thứ nhất đã làm gì khi nhận hạt giống?
A.
B.
C.
D.
Vứt ngay hạt giống đi.
Đặt hạt giống trong cái hộp, suốt ngày giữ nó.
Đưa cho cậu bé thứ hai.
Gieo xuống đất và bỏ mặc nó.
Câu 4. (0,5 điểm) Các tính từ có trong câu:“Nó chỉ ra cánh đồng mênh mông lúa
vàng óng.” là:
A. nó, cánh đồng
B. mênh mông, vàng óng
C. chỉ, mênh mông
D. cánh đồng, lúa
Câu 5. (0,5 điểm) Qua việc làm của cậu bé thứ hai, em thấy cậu là người như thế
nào?
A. Người hay làm theo lời người khác.
B. Người lười lao động, không chịu học hỏi.
C. Người chăm làm, luôn cố gắng và nỗ lực thực hiện ước mơ.
D. Người có ước mơ viển vông, hay dựa dẫm vào người khác.
Câu 6. (1 điểm) Trong câu: “ Cánh đồng lúa nặng trĩu bông cúi đầu nói lời cảm ơn
cậu bé.” Sự vật và từ ngữ được nhân hóa là:
A. Sự vật được nhân hóa: cánh đồng lúa. Từ ngữ dùng chỉ hoạt động được
nhân hóa: cúi đầu, nói.
B. Sự vật được nhân hóa: cánh đồng lúa. Từ ngữ dùng chỉ đặc điểm được
nhân hóa: trĩu bông, nặng.
C. Sự vật được nhân hóa: cậu bé. Từ ngữ dùng chỉ hoạt động được nhân hóa:
cúi đầu, nói.
D. Sự vật được nhân hóa: cậu bé. Từ ngữ dùng chỉ hoạt động được nhân hóa:
cảm ơn, cúi đầu.
Câu 7: (0,5 điểm) Dấu gạch ngang trong đoạn văn dưới đây có tác dụng gì?
- Các cháu, ước vọng cũng như hạt giống đó. Chỉ biết khư khư giữ lấy nó thì
chẳng có thể lớn lên được. Chỉ khi dùng mồ hôi, sức lực, tưới tắm, vun trồng cho nó
thì mới có thể biến thành hoa trái, mùa màng bội thu.
A. Đánh dấu các ý trong một đoạn liệt kê.
B. Nối các từ ngữ trong một liên danh.
C. Đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật.
D. Dùng để giải thích một sự việc.
Câu 8. (1 điểm) Theo em, giá trị của “hạt giống” trong bài đọc là gì?
A. Là chính nó, không thay đổi theo thời gian.
B. Là một vật có thể đem bán để lấy tiền làm việc khác.
C. Là một kỉ vật thiêng liêng, cần giữ gìn và bảo quản nguyên vẹn.
D. Là thứ mà từ đó có thể sinh sôi nảy nở để phát triển thêm nhiều hơn.
Câu 9. (1 điểm) Sau khi đọc bài: Ước vọng và hạt giống, em rút ra được điều gì cho
bản thân ? Em sẽ làm gì để thực hiện ước mơ của mình?
Câu 10. (1 điểm): Đặt một câu có tục ngữ: “Dám nghĩ dám làm”.
Câu 11. (1 điểm): Em hãy tưởng tượng và viết thêm lời của cậu bé thứ nhất sau khi
nghe lời giảng giải của cụ già ở đoạn kết câu chuyện.
II. KIỂM TRA VIẾT: 10 điểm.
Em hãy chọn một trong hai đề sau:
Đề 1: Viết bài văn miêu tả một con vật mà em từng nuôi hoặc từng nhìn thấy và có
ấn tượng đặc biệt.
Đề 2: Em hãy viết thư cho một người thân ở xa để thăm hỏi và chia sẻ thông tin về
gia đình và tình hình học tập của em với người thân đó.
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN TIẾNG VIỆT CUỐI HỌC KỲ I KHỐI 4.
Năm học: 2025 - 2026
I. Phần đọc:
1. Đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe, nói: 2 điểm.
Tiêu chí
Điểm
- Đọc đúng đoạn văn bản, tốc độ khoảng 85 đến 90 tiếng/1phút.
1 điểm
- Đọc diễn cảm đoạn văn bản, bước đầu nhấn giọng ở những từ ngữ
quan trọng, thể hiện được cảm xúc qua giọng đọc.
0,5 điểm
- Nghe hiểu và trả lời đúng trọng tâm câu hỏi về nội dung đoạn đọc.
0,5 điểm.
HS bốc thăm, đọc và trả lời các câu hỏi của nội dung bài đọc:
CỔ TÍCH VIẾT BẰNG CHÂN
Những trang vở đỏ chói điểm 9, 10 với những dòng chữ tròn, đều, thẳng tắp-ít
ai có thể ngờ rằng những dòng chữ đó được viết không phải bởi tay mà là bằng
chân: một đôi chân kì diệu của bạn Nguyễn Minh Phú, lớp 4B, Trường Tiểu học Hồ
Tông Thốc, xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Cô Nguyễn Thị Bình - mẹ của Phú - không thể nào quên được cái ngày 17-71990 ấy. Cô đã ngất xỉu khi nhìn thấy đứa con vừa chào đời của mình: một hài nhi
yếu ớt, nhỏ bé và thiếu hẳn đôi cánh tay. Nhưng Phú đã lớn lên và có ý thức tự lập
từ rất sớm, tập làm mọi việc bằng đôi chân của mình. Mỗi sáng ngủ dậy, Phú dùng
chân kẹp bàn chải đánh răng và lấy khăn rửa mặt. Với đôi chân của mình, Phú
không chỉ tự ăn cơm, mặc quần áo, mắc màn, xếp chăn, tắt mở công tắc điện,… mà
còn giúp bố mẹ làm nhiều việc vặt trong nhà, từ bóc ngô, nhặt rau, đun bếp, quét
nhà cho đến xâu kim chỉ cho mẹ vá quần áo. Một lần, Phú mon men đến lớp học,
say sưa nhìn cô giáo giảng bài, nhìn lũ bạn ê a đánh vần, tập viết,… về nhà, Phú lấy
viên phấn kẹp vào chân, viết những chữ nguệch ngoạc trên nền gạch. Khi biết đọc
thông, viết thạo, Phú nằng nặc đòi cha mẹ cho đi học. Cô giáo chủ nhiệm dành cho
Phú một chiếc ghế để Phú đặt vở lên đấy, xoay ngang người, kê chân lên và cặp bút
viết. Cứ như thế, Phú cần cù chịu đau, chịu khó, dù cho vào những ngày nóng nực,
mồ hôi rỏ xuống nhoè hết cả trang vở, còn về mùa đông thì bàn chân tê cóng vì
lạnh, điều khiển cây bút cực kì khó khăn. Có những hôm, do viết quá nhiều, Phú bị
chuột rút khiến các ngón chân co quắp, cứng đờ.
Vất vả, khổ sở là thế nhưng Phú không hề nản lòng, chưa hề nghỉ một buổi học
nào. Điều đáng nói là Phú viết rất đẹp và đặc biệt là tiếp thu bài vở rất nhanh. Suốt
bốn năm học qua, Phú luôn là người dẫn đầu lớp về thành tích học tập. Phú rất có
khả năng về môn Toán, trong vở chỉ toàn điểm 9, 10. Năm 2002, Phú đoạt giải “Vở
sạch – Chữ đẹp” của huyện. Mơ ước của Phú là trở thành một người phiên dịch, vì
theo bạn, đó là công việc thích hợp nhất đối với một người không có tay như Phú.
Nhìn gương mặt thông minh với đôi mắt sáng, kiên quyết của Phú, tôi tin rằng Phú
sẽ học thành tài, sẽ thực hiện được ước mơ của mình.
(Theo Báo Thiếu niên Tiền phong)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Bạn Phú trong câu chuyện thiếu hẳn đôi tay nhưng đã biết làm những việc
gì?
Trả lời: Bạn Phú biết bóc ngô, nhặt rau, đun bếp, quét nhà, xâu kim chỉ....
Câu 2: Phú đã gặp những khó khăn gì khi tập viết bằng chân?
Trả lời: Mùa hè, mồ hôi rỏ xuống làm nhoè vở. Mùa đông, chân tê cóng vì lạnh.
Hay bị chuột rút khiến các ngón chân co quắp, cứng đờ.
Câu 3: Phú đã đạt được những thành tích gì trong học tập?
Trả lời: Là người dẫn đầu lớp về thành tích học tập, rất giỏi Toán, đoạt giải “Vở
sạch – Chữ đẹp”.
Câu 4: Nội dung câu chuyện này là gì?
Trả lời: Ca ngợi bạn Nguyễn Minh Phú giàu nghị lực mặc dù thiếu hẳn đôi tay
nhưng vẫn chăm làm, học giỏi và viết chữ đẹp.
CÂY TÁO ĐÃ NẢY MẦM
Cô bé đem hạt táo đẹp nhất gieo vào chiếc chậu đất ngoài ban công, thầm ước ao
từ đó sẽ mọc lên một cây táo. Cô yêu màu hoa táo trắng và chùm quả lúc lỉu xanh
biết mấy.
Cô bé tưới nước cho chậu đất mỗi ngày với niềm tin chắc chắn rằng ở đó sẽ mọc
lên một cây táo.
Một tuần rồi một tháng trôi qua, chậu đất vẫn im lìm, không có cây nào mọc lên
cả. Có lẽ hạt táo chỉ nảy mầm được ở cánh đồng nhiều nắng gió. Nhưng cô bé vẫn
không thôi mơ mộng về một cây táo có hoa trắng và chùm quả xanh xuất hiện ở ban
công nhà mình.
Mỗi sáng cô bé thì thầm trước chậu đất: “Hạt táo đang ngủ, mình sẽ tưới nước mỗi
ngày để hạt táo thức dậy.”. Rồi một buổi sáng, có tiếng reo vui ngoài ban công của
cô bé: “Chào bạn táo!”
Vậy là cây táo đã nảy mầm với hai chiếc lá bé xíu non xanh. Rồi cây táo sẽ lớn
lên, sẽ cho những chùm hoa táo trắng muốt, những trái táo căng mọng trĩu cành…
Mầm cây bé nhỏ ấy là bằng chứng rõ ràng cho một niềm tin: gieo hạt lành, ắt sẽ
được quả thơm.
Chào mầm cây bé nhỏ đã đến nơi này, đợi ngày nở hoa để đáp lại niềm tin hồn
nhiên của cô bé.
(Theo Trương Huỳnh Như Trân)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Cô bé ước ao điều gì khi gieo hạt táo vào chiếc chậu đất ngoài ban công?
Trả lời: Khi gieo hạt táo vào chiếc chậu đất ngoài ban công, cô bé ước ao hạt táo sẽ
mọc lên một cây táo.
Câu 2: Những chi tiết nào cho thấy cô bé rất hi vọng hạt táo sẽ nảy mầm?
Trả lời: Những chi tiết cho thấy cô bé rất hi vọng hạt táo sẽ nảy mầm là:
+ Cô bé tưới nước cho chậu đất mỗi ngày.
+ Mỗi sáng, cô bé thì thầm trước chậu đất: “Hạt táo đang ngủ, mình sẽ tưới nước
mỗi ngày để hạt táo thức dậy.”.
Câu 3: Lời nói của cô bé khi thấy hạt táo nảy mầm nói lên điều gì?
Trả lời: Cô bé coi cây táo như một người bạn.
Câu 5: Hãy đặt một tên khác cho bài đọc?
Trả lời: Tình yêu cây xanh (hoặc Ước mơ xanh).
HỌC ĐÀN - HÃY HỌC IM LẶNG TRƯỚC
Bét-tô-ven (1770 - 1825) là nhạc sĩ thiên tài người Đức. Ngay từ khi còn rất
nhỏ, ông đã trải qua những năm tháng khổ luyện cùng âm nhạc. Mỗi ngày, Bét-tôven phải học 12 tiếng với đủ các loại đàn. Sau 12 tiếng âm nhạc, cậu bắt đầu học
thêm tiếng La tinh và các kiến thức phổ thông khác. Cậu đàn mải miết, ngón tay tê
đi thì ngâm vào nước lạnh, mắt mỏi thì vã nước vào... Bét-tô-ven đã thực sự bỏ
mọi trò chơi trẻ nhỏ để học đàn.
Người thầy đầu tiên của cậu là một nghệ sĩ trong dàn nhạc. Trong tuần học
đầu tiên, thầy giáo dạy cậu tính kiên nhẫn. Suốt cả tuần, thầy chỉ dạy cậu đúng một
nốt nhạc. Bét-tô-ven đánh nốt nhạc, âm thanh vang lên. Thầy hỏi :
- Con thấy âm thanh lan xa tới đâu ?
- Con không thấy ạ !
- Con đánh lại đi và cố gắng nghe xem âm thanh này lan toả tới đâu.
Cậu làm lại và chú ý lắng nghe. Cậu cảm thấy âm thanh dường như vang xa ra
tận ô cửa sổ, điều mà xưa nay cậu chưa từng thấy. Điều mới mẻ này khiến cậu
phấn chấn. Cậu đánh tiếp nốt nhạc, lần này dường như nó lan toả xa hơn ô cửa sổ,
nó hoà với bầu trời ngoài kia. Thầy giáo gật đầu :
- Âm thanh của con đã tìm được sự tự do rồi ! Hãy ghi nhớ : Mọi bản nhạc đều
được sáng tạo ra trong sự tĩnh lặng sâu nhất của tâm hồn. Hãy học sự im lặng đầu
tiên.
Năm 8 tuổi, sau hàng trăm đêm miệt mài tập đàn. Bét-tô-ven đã có buổi biểu
diễn trước công chúng. Sau buổi biểu diễn, khán giả đã phải trầm trồ: đúng là cậu
bé có nghị lực tập luyện. Không lâu sau, ông đã trở thành thần đồng âm nhạc thế
giới.
( Theo Uyên Khuê)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Cậu bé Bét-tô-ven trong câu chuyện đã phải khổ luyện như thế nào mới thành
tài ?
Trả lời: Đàn mải miết, ngón tay tê đi thì ngâm vào nước lạnh, mắt mỏi thì vã nước
vào.
Câu 2: Tại sao thầy giáo lại chỉ dạy cậu một nốt nhạc trong suốt tuần học đầu tiên?
Trả lời: Vì thầy giáo muốn cậu cảm nhận được sự lan toả của âm thanh.
Câu 3: Bét-tô-ven đã phải học những gì?
Trả lời: Bét-tô-ven đã học đàn, tiếng La tinh và các kiến thức phổ thông khác.
Câu 4: Nội dung câu chuyện là gì ?
Trả lời: Ca ngợi người thầy giáo đã dạy cho cậu bé Bét-tô-ven biết lắng nghe âm thanh
và ca ngợi cậu bé Bét-tô-ven đã kiên trì khổ luyện tập luyện đàn để thành tài.
ĐƯỜNG ĐUA CỦA NIỀM TIN
Thủ đô Mê-xi-cô một buổi tối mùa đông năm 1968. Đồng hồ chỉ bảy giờ kém
mười phút. Vận động viên Giôn Xti-phen Ác-va-ri, người Tan-da-ni-a tập tễnh kết thúc
những mét cuối cùng của đường đua Thế vận hội Ô-lim-píc với một chân bị băng bó.
Anh là người cuối cùng về đích trong cuộc thi Ma-ra-tông năm ấy.
Những người chiến thắng cuộc thi đã nhận huy chương và lễ trao giải cũng đã
kết thúc. Vì thế sân vận động hầu như vắng ngắt khi Ác-va-ri, với vết thương ở chân
đang rớm máu, cố gắng chạy vòng cuối cùng để về đích. Chỉ có Búc Grin-xpan, nhà
làm phim tài liệu nổi tiếng là còn tại đó, đang ngạc nhiên nhìn anh từ xa chạy tới. Sau
đó, không giấu được sự tò mò, Grin-xpan bước tới chỗ Ác-va-ri đang thở dốc và hỏi tại
sao anh lại cố vất vả chạy về đích như thế khi cuộc đua đã kết thúc từ lâu và chẳng còn
khán giả nào trên sân nữa.
Giôn Xti-phen Ác-va-ri trả lời bằng giọng nói hụt hơi: “Tôi rất hạnh phúc vì đã
hoàn thành chặng đua với cố gắng hết mình. Tôi được đất nước gửi đi chín ngàn dặm
đến đây không phải chỉ để bắt đầu cuộc đua – mà còn là để hoàn thành cuộc đua.”
(Theo Bích Thủy)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Ác-va-ri chạy về đích trong tình trạng cơ thể như thế nào?
Trả lời: Ác-va-ri chạy về đích tập tễnh với một chân băng bó.
Câu 2: Tại sao anh phải hoàn thành cuộc đua?
Trả lời: Vì anh muốn làm tròn trách nhiệm của một vận động viên với đất nước
mình: tham gia và hoàn thành cuộc đua.
Câu 3: Câu chuyện khuyên chúng ta điều gì?
Trả lời: Câu chuyện khuyên chúng ta hãy luôn nỗ lực hết sức mình, kiên trì và
đừng bao giờ bỏ cuộc. Cũng hãy luôn là người trách nhiệm hoàn thành trọn vẹn
công việc mà mình đang làm.
Ê-ĐI-XƠN VÀ BÀ MẸ
Hôm đó, Ê-đi-xơn vừa đi ra ga thì mẹ ở nhà đau bụng dữ dội. Bố bận đi làm. Khi
chị Ta-ni-a về, mẹ thều thào bảo chị đi gọi em và mời bác sĩ.
Bác sĩ đến khám bệnh và cho biết: bà đang đau ruột thừa, phải mổ ngay, chờ đến
sáng thì muộn quá. Nhưng trời cứ tối dần, mà dưới ánh đèn dầu thì làm sao mổ
được. Thấy bác sĩ lo lắng, Ê-đi-xơn hỏi ông:
- Thưa bác sĩ, nếu thắp tất cả đèn dầu lên để mổ thì có được không ạ?
- Không được vì không đủ ánh sáng, mổ như thế nguy hiểm lắm.
Ê-đi xơn ôm đầu suy nghĩ, niềm thương mẹ day dứt trong lòng. Đột nhiên, cậu bé
nhìn thấy ánh đèn sáng chói phản chiếu từ mảnh sắt tây trên tủ. Một tia sáng lóe
lên rong đầu cậu : "Sao không mượn tấm gương lớn ở hiệu tạp hóa về và cho phản
chiếu thật nhiều ánh đèn cho sáng hơn?". Thế là cậu liền chạy ngay đi mượn tấm
gương lớn. Lát sau, tất cả đèn dầu trong nhà được thắp sáng và đặt trước gương.
Xong xuôi, cậu sang phòng bên, gặp bác sĩ và tự hào nói:
- Thưa bác sĩ, đã có đủ ánh sáng rồi ạ! Mời bác sang xem.
Bác sĩ sang phòng bên nhìn ánh đèn, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên:
- Cháu làm thế nào mà tài thế, hỡi cậu bé thông minh! Bác sẽ bắt đầu ngay!
Rạng sáng thì mổ xong. Bà mẹ thoát khỏi tay thần chết. Ê-đi-xơn cứu được mẹ
nhờ sáng kiến của mình.
(Theo cuốn Ê-đi-xơn - NXB Kim Đồng, 1977)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Bà mẹ của Ê-đi-xơn trong câu chuyện rơi vào tình trạng ra sao?
Trả lời: Bà mẹ của Ê-đi-xơn bị đau ruột thừa, phải mổ ngay mới cứu được.
Câu 2: Ê-đi-xơn đã nghĩ ra sáng kiến gì giúp bác sĩ cứu sống mẹ?
Trả lời: Ê-đi-xơn mượn tấm gương lớn phản chiếu nhiều ánh đèn, đủ ánh sáng để
mổ.
Câu 3: Em thấy cậu bé Ê-đi-xơn là người như thế nào?
Trả lời: Cậu bé Ê-đi-xơn thông minh, có tình cảm thương mẹ sâu sắc.
KHÔNG CÓ GÌ CÓ THỂ NGĂN BƯỚC ANH ẤY
Sau một trận bỏng nặng ở cả hai chân khi mới lên năm, Glenn Cunningham
được các bác sĩ chuẩn đoán rằng trường hợp của cậu là vô phương cứu chữa. Họ
cho rằng cậu bé sẽ bị tàn tật và suốt đời phải ngồi xe lăn. “Cậu bé sẽ không bao giờ
có thể đi lại được nữa”, họ khẳng định: “Không còn cơ hội nào nữa”.
Các bác sĩ kiểm tra đôi chân của Glenn Cunningham, nhưng họ không thể
hiểu được con người cậu. Cậu bé chẳng tin vào lời các bác sĩ, vẫn một mực bắt đầu
tập đi trở lại. Nằm trên giường, với đôi chân đỏ đầy những vết sẹo chưa kéo da non,
Glenn nguyện rằng: “Tuần tới mình sẽ bước xuống đường, mình sẽ đi được”. Và
Glenn đã làm được.
Mẹ cậu bé kể lại những lần bà vén màn nhìn ra cửa sổ, thấy cảnh Glenn rướn
tay lên nắm lấy cái cày cũ kĩ trong vườn. Nắm lấy tay cầm của nó, cậu bé bắt đầu
cuộc đấu tranh buộc đôi chân xương xẩu vặn vẹo của mình phải hoạt động. Mỗi
bước đi của cậu là một bước đau. Mặt cậu bé liên tục nhăn lại, mồ hôi túa ra như
tắm. Nhưng cậu bé vẫn kiên định. Dần dần cậu có thể đi từng bước ngắn, và chẳng
bao lâu sau, cậu gần như có thể đi lại bình thường. Khi cậu bé bắt đầu chạy được
trên đôi chân chằng chịt sẹo bỏng của mình, cậu lại càng tỏ rõ quyết tâm hơn.
“Lúc nào tôi cũng tin là mình có thể đi được, và tôi đã làm như vậy. Còn bây
giờ tôi đang cố gắng để có thể chạy nhanh hơn bất kì người nào khác”. Và cậu bé đã
chứng minh rằng cậu có thể thực hiện những điều mình nói.
Cậu bé ngày ấy đã trở thành nhà vô địch môn điền kinh đường trường cự ly
một dặm khi lập kỉ lục thế giới trong thời gian chỉ có 4 phút 6 giây vào năm 1934.
Anh đã được trao tặng bằng khen danh dự dành cho vận động viên tiêu biểu nhất
thế kỉ ở quảng trường danh tiếng Madison.
(Quà tặng cuộc sống)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Cậu bé trong câu chuyện đã gặp phải chuyện gì?
Trả lời: Cậu bé bị bỏng nặng ở cả hai chân khi mới lên năm tuổi.
Câu 2: Cậu bé đã có thái độ, hành động như thế nào khi gặp phải chuyện không
may?
Trả lời: Cậu không tin lời bác sĩ, quyết tâm tập đi trở lại.
Câu 3: Điều kì diệu nào đã xảy ra với cậu bé?
Trả lời: Cậu bé đã đi lại, chạy được bình thường, cậu còn trở thành nhà vô địch thế
giới ở môn điền kinh đường trường cự li một dặm năm 1934.
CHA CON NGƯỜI ĐẮP THÀNH ĐÁ
Ở xã Cam Hoà, huyện Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà có một người đàn ông đã
ròng rã suốt từ năm 1988 tới nay (16 năm) bới đất, nhặt đá, đắp dãy trường thành
bằng đá dài gần 1 ki-lô-mét. Thật là một kì công có một không hai ở Việt Nam. Đó
là chú Nguyễn Văn Trọng, năm nay 46 tuổi.
Ban đầu nhiều người thấy việc làm của chú Trọng nhặt đá đắp thành
là “điên”. Còn chú Trọng lại nghĩ rất đơn giản, đất vùng này đá rất nhiều, nếu không
nhặt đi thì khó trồng trọt. Và chú ước ao mình sẽ biến miếng đất lóc chóc sỏi đá này
thành một nương rẫy phì nhiêu như cánh đồng dưới chân núi kia. Chính vì vậy suốt
ngày, kể cả những đêm trăng chú Trọng một mình cùi cũi cuốc đá gánh gồng đắp
thành. Từng tí một hết ngày này tới ngày kia, chỗ đất nào nhặt sạch đá là chú trồng
trọt hoa màu liền. Nhìn những vạt đất được phủ dần màu xanh, chú Trọng rất mừng
nhưng thiên nhiên thật khắc nghiệt, nhặt bới hết đá nhỏ thì lòi đá lớn, có hòn to như
quả bí ngô, bí đao phải vần chứ không vác được.
Với gia đình, tưởng chú chỉ nhặt đá một chút rồi lo phát rẫy trồng trọt, vợ chú
Trọng nén chịu đựng đi hái cỏ tranh, quả sa nhân bán lấy gạo nuôi chồng nhưng
thấy chồng say nhặt đá đắp thành quá, mùa vụ chẳng được gì, người vợ bực lắm. Có
lúc không muốn làm với ông “đắp đá vá trời” này nữa, song nghĩ lại, người vợ lại
càng thương chồng hơn. Đứa con trai nhỏ của chú Trọng tên Nguyễn Trọng Trí
cũng ra giúp bố vác đá đắp thành.
Bây giờ, sau 16 năm vác đá đắp thành, chú Trọng đã có được một trang trại
rộng 3,8 héc-ta xanh rờn hoa màu, cây trái như xoài, mận, ngô, đậu, dưa,… mùa
nào thức ấy. Chú đã mua được máy công cụ làm đất, hai con bò. Tất nhiên vẫn còn
khó khăn nhưng việc làm của chú Trọng thực sự làm cho mọi người kính nể vì nghị
lực và sự kiên trì phi thường của mình. Suốt 16 năm qua, chú Trọng đã lập một kỉ
lục có một không hai : đào vác gần 1000 tấn đá, đắp thành đá dài 800 mét, với chiều
cao trung bình 1,5 mét, rộng đáy 2,5 mét, mặt thành rộng 1,5 mét.
Bước vào trang trại của chú Trọng, ấn tượng nhất vẫn là bốn phía tường thành
đá dựng. Mùa này, khi mưa xuống, những dây khoai từ, khoai mỡ cùng dây đậu
biếc bò xanh rờn nở hoa tím ngắt. Miền đất hồi sinh từ bàn tay con người. Một nông
dân hiền lành nhưng đầy ý chí hơn người.
( Theo Lê Đức Dương)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Vì sao chú Trọng lại làm công việc nhặt đá đắp thành?
Trả lời: Vì chú mong có đất trồng trọt.
Câu 2: Tại sao nhiều người thấy việc làm của chú Trọng nhặt đá đắp thành là
“điên”?
Trả lời: Vì họ biết đó là công việc vô cùng khó khăn, nặng nhọc.
Câu 3: Vì sao tác giả lại nói Miền đất hồi sinh từ bàn tay con người?
Trả lời: Bởi vì nhờ sự kiên trì nhặt đá của
TRƯỜNG TH TRẦN QUỐC TOẢN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MA TRẬN PHẦN THI ĐỌC HIỂU – KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
Nội dung kiến thức
PHẦN ĐỌC HIỂU
Số câu/
Câu số/
Số điểm
1. Xác định được hình ảnh Số câu
nhân vật, chi tiết trong bài đọc.
Câu số
Mức 1
TN
Mức 2
TN
TL
1
Tổng
1
1, 2
Số điểm
1
2. Hiểu ý chính, chủ đề của bài Số câu
đọc hoặc nhận ra mối liên hệ
Câu số
giữa các chi tiết quan trọng.
Số điểm
1
1
3,5
8
1
1
3. Nhận biết được tính cách
của nhân vật thông qua hành
động, lời thoại.
- Nêu được suy nghĩ hành
động của mình sau khi đọc bài.
4. Viết được đoạn văn tưởng
tượng (3-5 câu) dựa vào câu
chuyện trong đó thể hiện ý
kiến của mình qua bài đọc.
Mức 3
TL
1
3
2
Số câu
1
1
Câu số
9
Số điểm
1
1
Số câu
1
1
Câu số
11
Số điểm
1
1
PHẦN KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
1. Nhận biết được tính từ có Số câu
trong câu.
Câu số
Số điểm
1
4
0,5
2. Biện pháp tu từ nhân hóa: Số câu
đặc điểm và chức năng.
Câu số
Số điểm
0.5
1
1
1
1
1
7
0.5
0.5
4. Đặt câu với tục ngữ thuộc Số câu
chủ điểm: Niềm vui sáng tạo
Câu số
hoặc Chắp cánh ước mơ.
Số điểm
TỔNG
1
6
Số điểm
3. Dấu gạch ngang và tác dụng Số câu
của dấu gạch ngang.
Câu số
1
1
1
10
1
1
Số câu
6
2
1
2
Câu số
1,2,3,4,5,7
6,8
10
9,11
Số điểm
3
2
1
2
11
8
UBND TXÃ EADRÔNG
TRƯỜNG TH TRẦN QUỐC TOẢN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ KIỂM TRA MÔN TIẾNG VIỆT CUỐI KÌ 1 – KHỐI 4
Ngày kiểm tra: Thứ ... ngày ..../0..../2026
I. KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
1. Phần đọc thành tiếng: (2 điểm)
Thời gian khoảng 3 -5 phút/em cho đọc và trả lời câu hỏi.
2. Phần đọc hiểu + phần Luyện từ và câu: (8 điểm)
Đọc thầm bài văn sau:
ƯỚC VỌNG VÀ HẠT GIỐNG
Ngày xưa, có hai đứa trẻ cùng có nhiều ước vọng rất đẹp đẽ. Làm sao có thể
thực hiện được những ước vọng đó? Tranh luận hoài mà hai đứa trẻ không tìm được
lời giải đáp. Chúng bèn mang câu hỏi đến một cụ già, mong tìm lời chỉ bảo. Cụ già
cho mỗi đứa trẻ một hạt giống và bảo:
- Đây chỉ là hạt giống bình thường, nhưng ai có thể bảo quản nó tốt thì người
đó có thể tìm ra con đường thực hiện ước vọng.
Nói xong, cụ già quay lại rồi đi khuất ngay. Sau đó mấy năm, cụ già hỏi hai
đứa trẻ về tình trạng bảo quản hạt giống.
Đứa trẻ thứ nhất mang ra một chiếc hộp được quấn bằng dây lụa rất đẹp. Nó
nói:
- Cháu đặt hạt giống trong cái hộp, suốt ngày giữ nó.
Nói rồi, nó lấy hạt giống ra cho cụ già xem. Cụ già thấy rõ hạt giống còn
nguyên vẹn như trước. Đứa trẻ thứ hai mặt mũi rám nắng, hai bàn tay nổi chai. Nó
chỉ ra cánh đồng mênh mông lúa vàng, phấn khởi nói:
- Cháu đem hạt giống gieo xuống đất, mỗi ngày lo tưới nước, chăm sóc, bón
phân, nhặt cỏ,... Tới nay nó đã kết hạt mới đầy đồng.
Cụ già nghe xong, mừng rỡ nói:
- Các cháu, ước vọng cũng như hạt giống đó. Chỉ biết khư khư giữ lấy nó thì
chẳng có thể lớn lên được. Chỉ khi dùng mồ hôi, sức lực, tưới tắm, vun trồng cho nó
thì mới có thể biến thành hoa trái, mùa màng bội thu.
(Theo tập truyện Ba con búp bê vàng, Lê Hạnh tuyển chọn)
Khoanh vào chữ cái A, B, C hoặc D trước phương án đúng và trả lời các câu hỏi:
Câu 1. (0.5 điểm) Để tìm được lời giải đáp cho câu hỏi: “Làm sao có thể thực hiện
được ước vọng?” hai đứa trẻ mang câu hỏi đến tìm gặp ai?
A. Một bà tiên
B. Một nhà tiên tri
C. Một anh thanh niên
D. Một cụ già
Câu 2. (0.5 điểm) Khi hai đứa trẻ hỏi cụ già về cách thực hiện ước vọng, cụ đã làm
gì?
A. Cho mỗi đứa trẻ một chiếc quạt nhiệm màu để biến ước vọng thành sự
thật.
B. Cho mỗi đứa trẻ một điều ước và biến ước vọng thành sự thực ngay tức
thì.
C. Cho mỗi đứa trẻ một hạt giống và nói rằng ai bảo quản tốt sẽ tìm được con
đường thực hiện ước vọng.
D. Cho mỗi đứa một hạt giống và dạy cho chúng cách tìm ra con đường thực
hiện ước vọng.
Câu 3. (0.5 điểm) Cậu bé thứ nhất đã làm gì khi nhận hạt giống?
A.
B.
C.
D.
Vứt ngay hạt giống đi.
Đặt hạt giống trong cái hộp, suốt ngày giữ nó.
Đưa cho cậu bé thứ hai.
Gieo xuống đất và bỏ mặc nó.
Câu 4. (0,5 điểm) Các tính từ có trong câu:“Nó chỉ ra cánh đồng mênh mông lúa
vàng óng.” là:
A. nó, cánh đồng
B. mênh mông, vàng óng
C. chỉ, mênh mông
D. cánh đồng, lúa
Câu 5. (0,5 điểm) Qua việc làm của cậu bé thứ hai, em thấy cậu là người như thế
nào?
A. Người hay làm theo lời người khác.
B. Người lười lao động, không chịu học hỏi.
C. Người chăm làm, luôn cố gắng và nỗ lực thực hiện ước mơ.
D. Người có ước mơ viển vông, hay dựa dẫm vào người khác.
Câu 6. (1 điểm) Trong câu: “ Cánh đồng lúa nặng trĩu bông cúi đầu nói lời cảm ơn
cậu bé.” Sự vật và từ ngữ được nhân hóa là:
A. Sự vật được nhân hóa: cánh đồng lúa. Từ ngữ dùng chỉ hoạt động được
nhân hóa: cúi đầu, nói.
B. Sự vật được nhân hóa: cánh đồng lúa. Từ ngữ dùng chỉ đặc điểm được
nhân hóa: trĩu bông, nặng.
C. Sự vật được nhân hóa: cậu bé. Từ ngữ dùng chỉ hoạt động được nhân hóa:
cúi đầu, nói.
D. Sự vật được nhân hóa: cậu bé. Từ ngữ dùng chỉ hoạt động được nhân hóa:
cảm ơn, cúi đầu.
Câu 7: (0,5 điểm) Dấu gạch ngang trong đoạn văn dưới đây có tác dụng gì?
- Các cháu, ước vọng cũng như hạt giống đó. Chỉ biết khư khư giữ lấy nó thì
chẳng có thể lớn lên được. Chỉ khi dùng mồ hôi, sức lực, tưới tắm, vun trồng cho nó
thì mới có thể biến thành hoa trái, mùa màng bội thu.
A. Đánh dấu các ý trong một đoạn liệt kê.
B. Nối các từ ngữ trong một liên danh.
C. Đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật.
D. Dùng để giải thích một sự việc.
Câu 8. (1 điểm) Theo em, giá trị của “hạt giống” trong bài đọc là gì?
A. Là chính nó, không thay đổi theo thời gian.
B. Là một vật có thể đem bán để lấy tiền làm việc khác.
C. Là một kỉ vật thiêng liêng, cần giữ gìn và bảo quản nguyên vẹn.
D. Là thứ mà từ đó có thể sinh sôi nảy nở để phát triển thêm nhiều hơn.
Câu 9. (1 điểm) Sau khi đọc bài: Ước vọng và hạt giống, em rút ra được điều gì cho
bản thân ? Em sẽ làm gì để thực hiện ước mơ của mình?
Câu 10. (1 điểm): Đặt một câu có tục ngữ: “Dám nghĩ dám làm”.
Câu 11. (1 điểm): Em hãy tưởng tượng và viết thêm lời của cậu bé thứ nhất sau khi
nghe lời giảng giải của cụ già ở đoạn kết câu chuyện.
II. KIỂM TRA VIẾT: 10 điểm.
Em hãy chọn một trong hai đề sau:
Đề 1: Viết bài văn miêu tả một con vật mà em từng nuôi hoặc từng nhìn thấy và có
ấn tượng đặc biệt.
Đề 2: Em hãy viết thư cho một người thân ở xa để thăm hỏi và chia sẻ thông tin về
gia đình và tình hình học tập của em với người thân đó.
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN TIẾNG VIỆT CUỐI HỌC KỲ I KHỐI 4.
Năm học: 2025 - 2026
I. Phần đọc:
1. Đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe, nói: 2 điểm.
Tiêu chí
Điểm
- Đọc đúng đoạn văn bản, tốc độ khoảng 85 đến 90 tiếng/1phút.
1 điểm
- Đọc diễn cảm đoạn văn bản, bước đầu nhấn giọng ở những từ ngữ
quan trọng, thể hiện được cảm xúc qua giọng đọc.
0,5 điểm
- Nghe hiểu và trả lời đúng trọng tâm câu hỏi về nội dung đoạn đọc.
0,5 điểm.
HS bốc thăm, đọc và trả lời các câu hỏi của nội dung bài đọc:
CỔ TÍCH VIẾT BẰNG CHÂN
Những trang vở đỏ chói điểm 9, 10 với những dòng chữ tròn, đều, thẳng tắp-ít
ai có thể ngờ rằng những dòng chữ đó được viết không phải bởi tay mà là bằng
chân: một đôi chân kì diệu của bạn Nguyễn Minh Phú, lớp 4B, Trường Tiểu học Hồ
Tông Thốc, xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Cô Nguyễn Thị Bình - mẹ của Phú - không thể nào quên được cái ngày 17-71990 ấy. Cô đã ngất xỉu khi nhìn thấy đứa con vừa chào đời của mình: một hài nhi
yếu ớt, nhỏ bé và thiếu hẳn đôi cánh tay. Nhưng Phú đã lớn lên và có ý thức tự lập
từ rất sớm, tập làm mọi việc bằng đôi chân của mình. Mỗi sáng ngủ dậy, Phú dùng
chân kẹp bàn chải đánh răng và lấy khăn rửa mặt. Với đôi chân của mình, Phú
không chỉ tự ăn cơm, mặc quần áo, mắc màn, xếp chăn, tắt mở công tắc điện,… mà
còn giúp bố mẹ làm nhiều việc vặt trong nhà, từ bóc ngô, nhặt rau, đun bếp, quét
nhà cho đến xâu kim chỉ cho mẹ vá quần áo. Một lần, Phú mon men đến lớp học,
say sưa nhìn cô giáo giảng bài, nhìn lũ bạn ê a đánh vần, tập viết,… về nhà, Phú lấy
viên phấn kẹp vào chân, viết những chữ nguệch ngoạc trên nền gạch. Khi biết đọc
thông, viết thạo, Phú nằng nặc đòi cha mẹ cho đi học. Cô giáo chủ nhiệm dành cho
Phú một chiếc ghế để Phú đặt vở lên đấy, xoay ngang người, kê chân lên và cặp bút
viết. Cứ như thế, Phú cần cù chịu đau, chịu khó, dù cho vào những ngày nóng nực,
mồ hôi rỏ xuống nhoè hết cả trang vở, còn về mùa đông thì bàn chân tê cóng vì
lạnh, điều khiển cây bút cực kì khó khăn. Có những hôm, do viết quá nhiều, Phú bị
chuột rút khiến các ngón chân co quắp, cứng đờ.
Vất vả, khổ sở là thế nhưng Phú không hề nản lòng, chưa hề nghỉ một buổi học
nào. Điều đáng nói là Phú viết rất đẹp và đặc biệt là tiếp thu bài vở rất nhanh. Suốt
bốn năm học qua, Phú luôn là người dẫn đầu lớp về thành tích học tập. Phú rất có
khả năng về môn Toán, trong vở chỉ toàn điểm 9, 10. Năm 2002, Phú đoạt giải “Vở
sạch – Chữ đẹp” của huyện. Mơ ước của Phú là trở thành một người phiên dịch, vì
theo bạn, đó là công việc thích hợp nhất đối với một người không có tay như Phú.
Nhìn gương mặt thông minh với đôi mắt sáng, kiên quyết của Phú, tôi tin rằng Phú
sẽ học thành tài, sẽ thực hiện được ước mơ của mình.
(Theo Báo Thiếu niên Tiền phong)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Bạn Phú trong câu chuyện thiếu hẳn đôi tay nhưng đã biết làm những việc
gì?
Trả lời: Bạn Phú biết bóc ngô, nhặt rau, đun bếp, quét nhà, xâu kim chỉ....
Câu 2: Phú đã gặp những khó khăn gì khi tập viết bằng chân?
Trả lời: Mùa hè, mồ hôi rỏ xuống làm nhoè vở. Mùa đông, chân tê cóng vì lạnh.
Hay bị chuột rút khiến các ngón chân co quắp, cứng đờ.
Câu 3: Phú đã đạt được những thành tích gì trong học tập?
Trả lời: Là người dẫn đầu lớp về thành tích học tập, rất giỏi Toán, đoạt giải “Vở
sạch – Chữ đẹp”.
Câu 4: Nội dung câu chuyện này là gì?
Trả lời: Ca ngợi bạn Nguyễn Minh Phú giàu nghị lực mặc dù thiếu hẳn đôi tay
nhưng vẫn chăm làm, học giỏi và viết chữ đẹp.
CÂY TÁO ĐÃ NẢY MẦM
Cô bé đem hạt táo đẹp nhất gieo vào chiếc chậu đất ngoài ban công, thầm ước ao
từ đó sẽ mọc lên một cây táo. Cô yêu màu hoa táo trắng và chùm quả lúc lỉu xanh
biết mấy.
Cô bé tưới nước cho chậu đất mỗi ngày với niềm tin chắc chắn rằng ở đó sẽ mọc
lên một cây táo.
Một tuần rồi một tháng trôi qua, chậu đất vẫn im lìm, không có cây nào mọc lên
cả. Có lẽ hạt táo chỉ nảy mầm được ở cánh đồng nhiều nắng gió. Nhưng cô bé vẫn
không thôi mơ mộng về một cây táo có hoa trắng và chùm quả xanh xuất hiện ở ban
công nhà mình.
Mỗi sáng cô bé thì thầm trước chậu đất: “Hạt táo đang ngủ, mình sẽ tưới nước mỗi
ngày để hạt táo thức dậy.”. Rồi một buổi sáng, có tiếng reo vui ngoài ban công của
cô bé: “Chào bạn táo!”
Vậy là cây táo đã nảy mầm với hai chiếc lá bé xíu non xanh. Rồi cây táo sẽ lớn
lên, sẽ cho những chùm hoa táo trắng muốt, những trái táo căng mọng trĩu cành…
Mầm cây bé nhỏ ấy là bằng chứng rõ ràng cho một niềm tin: gieo hạt lành, ắt sẽ
được quả thơm.
Chào mầm cây bé nhỏ đã đến nơi này, đợi ngày nở hoa để đáp lại niềm tin hồn
nhiên của cô bé.
(Theo Trương Huỳnh Như Trân)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Cô bé ước ao điều gì khi gieo hạt táo vào chiếc chậu đất ngoài ban công?
Trả lời: Khi gieo hạt táo vào chiếc chậu đất ngoài ban công, cô bé ước ao hạt táo sẽ
mọc lên một cây táo.
Câu 2: Những chi tiết nào cho thấy cô bé rất hi vọng hạt táo sẽ nảy mầm?
Trả lời: Những chi tiết cho thấy cô bé rất hi vọng hạt táo sẽ nảy mầm là:
+ Cô bé tưới nước cho chậu đất mỗi ngày.
+ Mỗi sáng, cô bé thì thầm trước chậu đất: “Hạt táo đang ngủ, mình sẽ tưới nước
mỗi ngày để hạt táo thức dậy.”.
Câu 3: Lời nói của cô bé khi thấy hạt táo nảy mầm nói lên điều gì?
Trả lời: Cô bé coi cây táo như một người bạn.
Câu 5: Hãy đặt một tên khác cho bài đọc?
Trả lời: Tình yêu cây xanh (hoặc Ước mơ xanh).
HỌC ĐÀN - HÃY HỌC IM LẶNG TRƯỚC
Bét-tô-ven (1770 - 1825) là nhạc sĩ thiên tài người Đức. Ngay từ khi còn rất
nhỏ, ông đã trải qua những năm tháng khổ luyện cùng âm nhạc. Mỗi ngày, Bét-tôven phải học 12 tiếng với đủ các loại đàn. Sau 12 tiếng âm nhạc, cậu bắt đầu học
thêm tiếng La tinh và các kiến thức phổ thông khác. Cậu đàn mải miết, ngón tay tê
đi thì ngâm vào nước lạnh, mắt mỏi thì vã nước vào... Bét-tô-ven đã thực sự bỏ
mọi trò chơi trẻ nhỏ để học đàn.
Người thầy đầu tiên của cậu là một nghệ sĩ trong dàn nhạc. Trong tuần học
đầu tiên, thầy giáo dạy cậu tính kiên nhẫn. Suốt cả tuần, thầy chỉ dạy cậu đúng một
nốt nhạc. Bét-tô-ven đánh nốt nhạc, âm thanh vang lên. Thầy hỏi :
- Con thấy âm thanh lan xa tới đâu ?
- Con không thấy ạ !
- Con đánh lại đi và cố gắng nghe xem âm thanh này lan toả tới đâu.
Cậu làm lại và chú ý lắng nghe. Cậu cảm thấy âm thanh dường như vang xa ra
tận ô cửa sổ, điều mà xưa nay cậu chưa từng thấy. Điều mới mẻ này khiến cậu
phấn chấn. Cậu đánh tiếp nốt nhạc, lần này dường như nó lan toả xa hơn ô cửa sổ,
nó hoà với bầu trời ngoài kia. Thầy giáo gật đầu :
- Âm thanh của con đã tìm được sự tự do rồi ! Hãy ghi nhớ : Mọi bản nhạc đều
được sáng tạo ra trong sự tĩnh lặng sâu nhất của tâm hồn. Hãy học sự im lặng đầu
tiên.
Năm 8 tuổi, sau hàng trăm đêm miệt mài tập đàn. Bét-tô-ven đã có buổi biểu
diễn trước công chúng. Sau buổi biểu diễn, khán giả đã phải trầm trồ: đúng là cậu
bé có nghị lực tập luyện. Không lâu sau, ông đã trở thành thần đồng âm nhạc thế
giới.
( Theo Uyên Khuê)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Cậu bé Bét-tô-ven trong câu chuyện đã phải khổ luyện như thế nào mới thành
tài ?
Trả lời: Đàn mải miết, ngón tay tê đi thì ngâm vào nước lạnh, mắt mỏi thì vã nước
vào.
Câu 2: Tại sao thầy giáo lại chỉ dạy cậu một nốt nhạc trong suốt tuần học đầu tiên?
Trả lời: Vì thầy giáo muốn cậu cảm nhận được sự lan toả của âm thanh.
Câu 3: Bét-tô-ven đã phải học những gì?
Trả lời: Bét-tô-ven đã học đàn, tiếng La tinh và các kiến thức phổ thông khác.
Câu 4: Nội dung câu chuyện là gì ?
Trả lời: Ca ngợi người thầy giáo đã dạy cho cậu bé Bét-tô-ven biết lắng nghe âm thanh
và ca ngợi cậu bé Bét-tô-ven đã kiên trì khổ luyện tập luyện đàn để thành tài.
ĐƯỜNG ĐUA CỦA NIỀM TIN
Thủ đô Mê-xi-cô một buổi tối mùa đông năm 1968. Đồng hồ chỉ bảy giờ kém
mười phút. Vận động viên Giôn Xti-phen Ác-va-ri, người Tan-da-ni-a tập tễnh kết thúc
những mét cuối cùng của đường đua Thế vận hội Ô-lim-píc với một chân bị băng bó.
Anh là người cuối cùng về đích trong cuộc thi Ma-ra-tông năm ấy.
Những người chiến thắng cuộc thi đã nhận huy chương và lễ trao giải cũng đã
kết thúc. Vì thế sân vận động hầu như vắng ngắt khi Ác-va-ri, với vết thương ở chân
đang rớm máu, cố gắng chạy vòng cuối cùng để về đích. Chỉ có Búc Grin-xpan, nhà
làm phim tài liệu nổi tiếng là còn tại đó, đang ngạc nhiên nhìn anh từ xa chạy tới. Sau
đó, không giấu được sự tò mò, Grin-xpan bước tới chỗ Ác-va-ri đang thở dốc và hỏi tại
sao anh lại cố vất vả chạy về đích như thế khi cuộc đua đã kết thúc từ lâu và chẳng còn
khán giả nào trên sân nữa.
Giôn Xti-phen Ác-va-ri trả lời bằng giọng nói hụt hơi: “Tôi rất hạnh phúc vì đã
hoàn thành chặng đua với cố gắng hết mình. Tôi được đất nước gửi đi chín ngàn dặm
đến đây không phải chỉ để bắt đầu cuộc đua – mà còn là để hoàn thành cuộc đua.”
(Theo Bích Thủy)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Ác-va-ri chạy về đích trong tình trạng cơ thể như thế nào?
Trả lời: Ác-va-ri chạy về đích tập tễnh với một chân băng bó.
Câu 2: Tại sao anh phải hoàn thành cuộc đua?
Trả lời: Vì anh muốn làm tròn trách nhiệm của một vận động viên với đất nước
mình: tham gia và hoàn thành cuộc đua.
Câu 3: Câu chuyện khuyên chúng ta điều gì?
Trả lời: Câu chuyện khuyên chúng ta hãy luôn nỗ lực hết sức mình, kiên trì và
đừng bao giờ bỏ cuộc. Cũng hãy luôn là người trách nhiệm hoàn thành trọn vẹn
công việc mà mình đang làm.
Ê-ĐI-XƠN VÀ BÀ MẸ
Hôm đó, Ê-đi-xơn vừa đi ra ga thì mẹ ở nhà đau bụng dữ dội. Bố bận đi làm. Khi
chị Ta-ni-a về, mẹ thều thào bảo chị đi gọi em và mời bác sĩ.
Bác sĩ đến khám bệnh và cho biết: bà đang đau ruột thừa, phải mổ ngay, chờ đến
sáng thì muộn quá. Nhưng trời cứ tối dần, mà dưới ánh đèn dầu thì làm sao mổ
được. Thấy bác sĩ lo lắng, Ê-đi-xơn hỏi ông:
- Thưa bác sĩ, nếu thắp tất cả đèn dầu lên để mổ thì có được không ạ?
- Không được vì không đủ ánh sáng, mổ như thế nguy hiểm lắm.
Ê-đi xơn ôm đầu suy nghĩ, niềm thương mẹ day dứt trong lòng. Đột nhiên, cậu bé
nhìn thấy ánh đèn sáng chói phản chiếu từ mảnh sắt tây trên tủ. Một tia sáng lóe
lên rong đầu cậu : "Sao không mượn tấm gương lớn ở hiệu tạp hóa về và cho phản
chiếu thật nhiều ánh đèn cho sáng hơn?". Thế là cậu liền chạy ngay đi mượn tấm
gương lớn. Lát sau, tất cả đèn dầu trong nhà được thắp sáng và đặt trước gương.
Xong xuôi, cậu sang phòng bên, gặp bác sĩ và tự hào nói:
- Thưa bác sĩ, đã có đủ ánh sáng rồi ạ! Mời bác sang xem.
Bác sĩ sang phòng bên nhìn ánh đèn, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên:
- Cháu làm thế nào mà tài thế, hỡi cậu bé thông minh! Bác sẽ bắt đầu ngay!
Rạng sáng thì mổ xong. Bà mẹ thoát khỏi tay thần chết. Ê-đi-xơn cứu được mẹ
nhờ sáng kiến của mình.
(Theo cuốn Ê-đi-xơn - NXB Kim Đồng, 1977)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Bà mẹ của Ê-đi-xơn trong câu chuyện rơi vào tình trạng ra sao?
Trả lời: Bà mẹ của Ê-đi-xơn bị đau ruột thừa, phải mổ ngay mới cứu được.
Câu 2: Ê-đi-xơn đã nghĩ ra sáng kiến gì giúp bác sĩ cứu sống mẹ?
Trả lời: Ê-đi-xơn mượn tấm gương lớn phản chiếu nhiều ánh đèn, đủ ánh sáng để
mổ.
Câu 3: Em thấy cậu bé Ê-đi-xơn là người như thế nào?
Trả lời: Cậu bé Ê-đi-xơn thông minh, có tình cảm thương mẹ sâu sắc.
KHÔNG CÓ GÌ CÓ THỂ NGĂN BƯỚC ANH ẤY
Sau một trận bỏng nặng ở cả hai chân khi mới lên năm, Glenn Cunningham
được các bác sĩ chuẩn đoán rằng trường hợp của cậu là vô phương cứu chữa. Họ
cho rằng cậu bé sẽ bị tàn tật và suốt đời phải ngồi xe lăn. “Cậu bé sẽ không bao giờ
có thể đi lại được nữa”, họ khẳng định: “Không còn cơ hội nào nữa”.
Các bác sĩ kiểm tra đôi chân của Glenn Cunningham, nhưng họ không thể
hiểu được con người cậu. Cậu bé chẳng tin vào lời các bác sĩ, vẫn một mực bắt đầu
tập đi trở lại. Nằm trên giường, với đôi chân đỏ đầy những vết sẹo chưa kéo da non,
Glenn nguyện rằng: “Tuần tới mình sẽ bước xuống đường, mình sẽ đi được”. Và
Glenn đã làm được.
Mẹ cậu bé kể lại những lần bà vén màn nhìn ra cửa sổ, thấy cảnh Glenn rướn
tay lên nắm lấy cái cày cũ kĩ trong vườn. Nắm lấy tay cầm của nó, cậu bé bắt đầu
cuộc đấu tranh buộc đôi chân xương xẩu vặn vẹo của mình phải hoạt động. Mỗi
bước đi của cậu là một bước đau. Mặt cậu bé liên tục nhăn lại, mồ hôi túa ra như
tắm. Nhưng cậu bé vẫn kiên định. Dần dần cậu có thể đi từng bước ngắn, và chẳng
bao lâu sau, cậu gần như có thể đi lại bình thường. Khi cậu bé bắt đầu chạy được
trên đôi chân chằng chịt sẹo bỏng của mình, cậu lại càng tỏ rõ quyết tâm hơn.
“Lúc nào tôi cũng tin là mình có thể đi được, và tôi đã làm như vậy. Còn bây
giờ tôi đang cố gắng để có thể chạy nhanh hơn bất kì người nào khác”. Và cậu bé đã
chứng minh rằng cậu có thể thực hiện những điều mình nói.
Cậu bé ngày ấy đã trở thành nhà vô địch môn điền kinh đường trường cự ly
một dặm khi lập kỉ lục thế giới trong thời gian chỉ có 4 phút 6 giây vào năm 1934.
Anh đã được trao tặng bằng khen danh dự dành cho vận động viên tiêu biểu nhất
thế kỉ ở quảng trường danh tiếng Madison.
(Quà tặng cuộc sống)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Cậu bé trong câu chuyện đã gặp phải chuyện gì?
Trả lời: Cậu bé bị bỏng nặng ở cả hai chân khi mới lên năm tuổi.
Câu 2: Cậu bé đã có thái độ, hành động như thế nào khi gặp phải chuyện không
may?
Trả lời: Cậu không tin lời bác sĩ, quyết tâm tập đi trở lại.
Câu 3: Điều kì diệu nào đã xảy ra với cậu bé?
Trả lời: Cậu bé đã đi lại, chạy được bình thường, cậu còn trở thành nhà vô địch thế
giới ở môn điền kinh đường trường cự li một dặm năm 1934.
CHA CON NGƯỜI ĐẮP THÀNH ĐÁ
Ở xã Cam Hoà, huyện Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà có một người đàn ông đã
ròng rã suốt từ năm 1988 tới nay (16 năm) bới đất, nhặt đá, đắp dãy trường thành
bằng đá dài gần 1 ki-lô-mét. Thật là một kì công có một không hai ở Việt Nam. Đó
là chú Nguyễn Văn Trọng, năm nay 46 tuổi.
Ban đầu nhiều người thấy việc làm của chú Trọng nhặt đá đắp thành
là “điên”. Còn chú Trọng lại nghĩ rất đơn giản, đất vùng này đá rất nhiều, nếu không
nhặt đi thì khó trồng trọt. Và chú ước ao mình sẽ biến miếng đất lóc chóc sỏi đá này
thành một nương rẫy phì nhiêu như cánh đồng dưới chân núi kia. Chính vì vậy suốt
ngày, kể cả những đêm trăng chú Trọng một mình cùi cũi cuốc đá gánh gồng đắp
thành. Từng tí một hết ngày này tới ngày kia, chỗ đất nào nhặt sạch đá là chú trồng
trọt hoa màu liền. Nhìn những vạt đất được phủ dần màu xanh, chú Trọng rất mừng
nhưng thiên nhiên thật khắc nghiệt, nhặt bới hết đá nhỏ thì lòi đá lớn, có hòn to như
quả bí ngô, bí đao phải vần chứ không vác được.
Với gia đình, tưởng chú chỉ nhặt đá một chút rồi lo phát rẫy trồng trọt, vợ chú
Trọng nén chịu đựng đi hái cỏ tranh, quả sa nhân bán lấy gạo nuôi chồng nhưng
thấy chồng say nhặt đá đắp thành quá, mùa vụ chẳng được gì, người vợ bực lắm. Có
lúc không muốn làm với ông “đắp đá vá trời” này nữa, song nghĩ lại, người vợ lại
càng thương chồng hơn. Đứa con trai nhỏ của chú Trọng tên Nguyễn Trọng Trí
cũng ra giúp bố vác đá đắp thành.
Bây giờ, sau 16 năm vác đá đắp thành, chú Trọng đã có được một trang trại
rộng 3,8 héc-ta xanh rờn hoa màu, cây trái như xoài, mận, ngô, đậu, dưa,… mùa
nào thức ấy. Chú đã mua được máy công cụ làm đất, hai con bò. Tất nhiên vẫn còn
khó khăn nhưng việc làm của chú Trọng thực sự làm cho mọi người kính nể vì nghị
lực và sự kiên trì phi thường của mình. Suốt 16 năm qua, chú Trọng đã lập một kỉ
lục có một không hai : đào vác gần 1000 tấn đá, đắp thành đá dài 800 mét, với chiều
cao trung bình 1,5 mét, rộng đáy 2,5 mét, mặt thành rộng 1,5 mét.
Bước vào trang trại của chú Trọng, ấn tượng nhất vẫn là bốn phía tường thành
đá dựng. Mùa này, khi mưa xuống, những dây khoai từ, khoai mỡ cùng dây đậu
biếc bò xanh rờn nở hoa tím ngắt. Miền đất hồi sinh từ bàn tay con người. Một nông
dân hiền lành nhưng đầy ý chí hơn người.
( Theo Lê Đức Dương)
Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Vì sao chú Trọng lại làm công việc nhặt đá đắp thành?
Trả lời: Vì chú mong có đất trồng trọt.
Câu 2: Tại sao nhiều người thấy việc làm của chú Trọng nhặt đá đắp thành là
“điên”?
Trả lời: Vì họ biết đó là công việc vô cùng khó khăn, nặng nhọc.
Câu 3: Vì sao tác giả lại nói Miền đất hồi sinh từ bàn tay con người?
Trả lời: Bởi vì nhờ sự kiên trì nhặt đá của
 









Các ý kiến mới nhất