Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Những vĩ nhân thay đổi thế giới

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:08' 19-01-2026
Dung lượng: 410.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
https://thuviensach.vn

Những Vĩ nhân thay đổi Thế Giới © Đỗ Châu Huyền, Hoàng Trí Đức
biên soạn | Nhà Xuất Bản Thanh Tân, 1971, 172 trang.
Pdf: cailubietdi
Bìa: Tornad
Ocr, & soát tổng thể: tran ngoc anh

https://thuviensach.vn

TỰA
Thế kỷ thứ hai mươi là thế kỷ khoa học trổ hoa, nhưng cũng là thế kỷ
suy đồi nhất của loài người. Sự độc ác, ích kỷ, tham lam của con người lên
đến tột độ. Thế kỷ hai mươi sản xuất ra nhiều tên đồ tể hơn là những vĩ
nhân. Xã hội loài người sẽ đi về đâu nếu không có một tư tưởng gia vĩ đại
xuất hiện làm ngọn đuốc soi đường?
Những Vĩ Nhân Thay Đổi Thế Giới sẽ phô diễn một sự thực khách quan
những tư tưởng gia vĩ đại của nhân loại như Phật Thích Ca, Đức Khổng Tử,
Socrates, Aristotle, Mohammed, Martin Luther, Galilei, Newton, Rousseau,
Darwin, Karl Marx và Gandhi, cũng như sẽ phác hoạ hành trình tư tưởng
con người từ Đông sang Tây và từ Cổ đến Cận Đại. Và chúng ta nhận thức
rằng, đuốc văn minh luân chuyển từ Đông sang Tây và dường như sắp trở
về Đông theo định luật tuần hoàn của vũ trụ.
Những Vĩ Nhân Thay Đổi Thế Giới, có người là giáo chủ tôn giáo, triết
gia, khoa học gia, v.v… nhưng tất cả đều có chung một tiêu chuẩn, định
nghĩa và giải thích vũ trụ, nhân sinh theo sự khám phá, sáng tạo của họ để
hướng dẫn, mở mắt cho loài người đến những chân trời mới mẻ huy hoàng
hơn.
Thám hiểm vào Những Vĩ Nhân Thay Đổi Thế Giới chúng ta thấy rằng,
có một tư tưởng vĩ đại là một chuyện khó, đúc kết tư tưởng trở thành hệ
thống lại càng khó khăn hơn, nhưng thực hiện tư tưởng là cả một vấn đề. Vĩ
nhân là gì? Đó là người có sức mạnh tinh thần vô địch và sự đam mê tràn
đầy. Họ chỉ là những con người như những con người tầm thường, nhưng
khác hơn là họ vượt lên trên mọi cái tầm thường của con người để trở nên
bất diệt với thời gian.

https://thuviensach.vn

Triết gia người Đức, Nietzsche qua nhân vật Zarathoustra có nói “Đừng
bao giờ giấu mặt vào cát của sự vật trên trời, mà phải ngạo mạn ngẩng đầu
lên, một cái đầu trần gian sẽ sáng tạo các ý nghĩa trần gian”.
Phải chăng, Những Vĩ Nhân Thay Đổi Thế Giới đáng là một quyển sách
gối đầu chờ các bạn Sinh Viên Học Sinh?
ĐỖ CHÂU HUYỀN; HOÀNG TRÍ ĐỨC

https://thuviensach.vn

PHẬT THÍCH CA
(560–480 TTL)

Trên thế giới ngày nay, hai tôn giáo lớn nhất là, Thiên Chúa giáo với
gần 900 triệu con chiên và Phật giáo với hơn 500 triệu tín đồ.
Chúng ta nhận thấy hai tôn giáo này khác biệt nhau trên đạo lý và đối
chiếu nhau giữa hai đức tin. Hai vị giáo chủ Jesus và Phật Thích Ca cũng
không giống nhau.
Tuy nhiên, tình thương của Thiên Chúa giáo và nhân sinh quan của Phật
giáo đều đặt trên căn bản tình yêu thương vô bờ bến đối với chúng sinh
cũng như cứu rỗi nhân loại bằng chính sự chịu đựng và hi sinh cao cả của
hai vị giáo chủ.
Trong thế giới loài người rộng lớn và sống quây quần nhau, có nhiều
điểm tương quan và tình thân hữu giữa con người với con người. Do đó,
nhìn vào kinh Phật, chúng ta biết về đạo lý Phật Thích Ca, và dường như
chúng ta cũng có thể nhận ra dễ dàng vài nét thấp thoáng của cá nhân Jesus.
Phật là người đầu tiên và Chúa là người tiếp tục làm nảy nở thêm sự toàn
mỹ của nhân loại.
Phật Thích Ca là con trai của tiểu vương dòng Sakya, thuộc giai cấp quý
tộc, xếp thứ hai trong bốn giai cấp ở xã hội Ấn Độ. Phật Thích Ca có lẽ
sinh vào khoảng 560 trước Thiên Chúa, và được nuôi nấng trong một gia
đình quyền quý, sống trong nhung lụa suốt cả thời thơ ấu cho đến lúc
trưởng thành.
Chúng ta không thể nào nói vào thời kỳ nào mà ông bắt đầu lo nghĩ, khi
lần đầu tiên, ông nhận thấy sự rỗng tuếch của thú vui ăn chơi vật chất và
thắc mắc với một vấn đề về sự khổ của kiếp người. Nhưng có một điều

https://thuviensach.vn

chắc chắn là khi đứa con trai ông chào đời, Phật lúc đó vừa 29 tuổi, quyết
định thay đổi tất cả lối sống của mình, và cuối cùng mang theo bên mình tư
tưởng cách mạng tôn giáo ở phương Đông.
Ngày hôm đó, tự nhiên Phật khám phá ra là phải từ giả gia đình êm ấm,
vợ đẹp, con ngoan, dứt bỏ tất cả những công danh sự nghiệp, đền đài cung
diện, cũng như những tài sản của cuộc đời này, dồn hết tâm trí trong việc đi
tìm một chân lý đích thực của cuộc đời. Phật đã đạt được quyết định này
với thật nhiều ý chí vĩ đại, vì phải dứt bỏ trong giây phút những ràng buộc
với gia đình khỏng phải là chuyện dễ dàng.
Thức dậy trong đêm khuya thanh vắng, tư tưởng đã chuẩn bị sẵn sàng,
nhưng Phật không thể nào cưỡng lại ý muốn nhìn vợ con lần cuối cùng.
Khi nhìn vợ con yên giấc giữa những bông hoa la liệt, quà tặng của những
người đến dự lễ sinh nhật, lòng Phật bừng lên ý muốn siết chặt đứa con trai
thân yêu lần cuối. Nhưng Phật dằn lòng được, vì sợ vợ thức dậy, và rồi
chiến thắng được sự ham muốn của mình, Phật rón rén bước ra, leo lên
ngựa và băng mình trong đêm tối.
Đi xa khỏi quê hương đất tổ, sau khi băng qua những cánh đồng phì
nhiêu ở thung lũng sông Ganges, Phật đến dãy đồi Vindhya, vùng ranh giới
cây cối um tùm, tách rời Ấn Độ khỏi vùng đất cao khô khan của Decan,
miền đất phía Nam. Phật sống tại đây sáu năm, tìm đạo lý bằng sự hành xác
ghê gớm của người tu khổ hạnh.
Ông cạo râu, tóc, mặc quần áo màu vàng của các tăng và lang thang đi
khất thực cũng như chịu đựng sự hành xác bằng cách hạn chế ăn.
Phật sống cô độc trong một khu rừng già với năm môn đồ. Phật cố gắng
tự ép mình trong giới luật và đày đoạ thể xác để tinh thần đạt đến một sự
thanh tịnh hoàn toàn.
Phật trở nên nổi tiếng, được khắp nơi tán tụng như một con người thánh
thiện trong sạch, nhưng chân lý mà Phật muốn tìm kiếm vẫn còn xa lắc.
Cho đến một hôm, sau một cơn mê mang bất tỉnh vì đã hành xác quá độ,
Phật tỉnh dậy và một tia sáng lóe lên trong trí. Tất cả những sự nhịn ăn và

https://thuviensach.vn

kiềm hãm con người ra khỏi những điều kiện tiên quyết của đời sống bình
thường, như sự hành xác không chăm sóc đến sức khoẻ sẽ không mang lại
kết quả gì, mà chỉ làm gia tăng sự suy nhược về tinh thần cũng như thể xác.
Để có thể giữ gìn lý trí được vững bền, sự suy tư được hoàn mỹ, quan sát
được sự diễn biến của tư tưởng và để có một cái nhìn sáng suốt, thấu đoạt
được kết quả tốt đẹp, con người phải ăn thức ăn tinh khiết và giữ một đời
sống khoẻ mạnh. Rùng mình trước sự khám phá, Phật vội vàng chia sẻ sự
xúc động đó với năm môn đồ. Nhưng khi nghe vị thầy tôn kính của họ từ
bỏ cuộc sống khổ hạnh và đòi ăn trở lại, họ vô cùng sửng sốt và khiếp đảm
trước đề nghị có vẽ nổi loạn ngoài sức tưởng tượng của họ, cho nên họ bỏ
rơi Phật.
Những ngày kế tiếp thật đã gây nhiều hậu quả cho thế giới phương
Đông. Bị bỏ rơi trơ trọi, Phật lang thang khắp các khu rừng ở Gaya, ngày
nay gọi là Bihar. Khi đến bờ sông Neranjara, Phật mới an toạ dưới tán cây
bồ đề hay cây sung rừng. Một người đàn bà đến dâng cho Phật một cốc sữa,
Phật nhận lấy và uống để bồi bổ sức khoẻ, tiếp tục kiên tâm theo đuổi khám
phá chân lý.
Và tại nơi đó, sau những giờ triền miên trong suy tư mãnh liệt cũng như
sự khổ não của tinh thần. Phật đã trải qua tất cả những xúc động của một
con người, từ sự tuyệt vọng đen tối nhất đến niềm hy vọng tuyệt hảo, cuối
cùng Phật đã tìm được sự bình thản của tâm hồn, và khám phá ra chân lý,
ông trở thành Phật Thích Ca, một vị Phật rực rỡ sáng chói.
Lúc đầu, quá đỗi vui mừng với sự khám phá của mình, Phật bị cám dỗ
giữ niềm vui đó một mình và sống nốt quãng đời còn lại trong niềm hạnh
phúc cô đơn. Phật không muốn san sẻ với ai niềm hạnh phúc vĩ đại mà Phật
đã tìm ra được bằng một giá rất đắt. Nhưng ý muốn quá ích kỷ đó không
thể tồn tại trong quả tim của một người như Phật, đã đạt đến chân lý bằng
sự thăng hoa của con người, là phải vượt lên trên tất cả những ham muốn
tầm thường. Vì thế chẳng bao lâu, Phật Thích Ca lại lên đường đến Benares
phổ biến cho tất cả mọi người chân lý đã ngự trị Phật.

https://thuviensach.vn

Tại thành phố, Phật tìm được những môn đồ cũ. Họ mau mắn trở lại làm
đệ tử trung thành của Phật, vì Phật đã nói chuyện với họ, với tất cả phẩm
cách cao cả và lòng tự tin. Sự bình tĩnh điềm đạm, sáng suốt của Phật Thích
Ca đã trấn an họ, dẹp tan tất cả mọi nghi ngờ ngần ngại. Cả nhóm họp lại tự
xây cất chỗ ở trong công viên Deer, tạo thành một làng của những người
hiền triết ở Benares, và tại đó Phật Thích Ca đã giảng cho tất cả mọi người
nghe chân lý mà Phật khám phá được.
Phật Thích Ca nói “có bốn điều chân lý cao xa mà ta phải thấu đáo. Thứ
nhất là chân lý của sự khổ. Sự khổ ở thế gian và kéo dài suốt cuộc đời.
Sinh, lão, bịnh, tử đều là khổ. Không được thương yêu cũng là sự khổ. Bị
chia sớt tình yêu cũng là sự khổ. Không đạt được ý muốn cũng là sự khổ.
Nói tóm lại, những điều căn bản của cá tính con người là sự khổ”.
Chân lý đó đã được khẳng định trong giáo lý nhà Phật. Phật dạy rằng,
nằm sâu trong sự ham muốn của con người là được trường sinh bất tử kèm
theo bằng dục vọng và sự khao khát lúc nào cũng đòi hỏi để thoả mãn,
thèm khát sống, thèm khát quyền lợi. Đây là chân lý thứ hai được khám phá
ra là những nguyên nhân của sự khổ.
Chân lý thứ ba là dạy cách tiêu diệt nỗi đau khổ, dập tắt ngọn lửa tham,
sân, si, và xua đuổi không cho nó có nơi sinh tồn.
Chân lý thứ tư là bát chánh đạo, giải thích phương thức giải thoát con
người bằng cái nhìn xác đáng, trong ý nghĩ, ngôn ngữ, hành động, trong đời
sống, trong sự nỗ lực làm việc, cẩn thận và chú tâm. Những điều đó bao
trùm ba con đường sinh hoạt chính yếu của con người là, thân xác, trí não
và ngôn ngữ.
Ông tự xưng là Phật Thích Ca, vì đã nghiền ngẫm và thông suốt được
bốn điều chân lý cao quý ấy, đã đạt tới bực thánh, một bực chân tu toàn mỹ
nhất của nhân loại.
Bây giờ, Phật đã lĩnh hội được cách giải thoát, được mệnh danh là con
đường trung dung giữa cực đoan, sự hưởng thụ vật chất quá đáng, cũng như
sự hành xác thái quá. Do đó, Phật Thích Ca đã đạt tới con đường đưa đến

https://thuviensach.vn

cõi Niết Bàn, trên cả sự chết, nơi con người được cứu rỗi hoàn toàn, thoát
ra khỏi lòng ham muốn vị kỷ, và mỗi linh hồn đều hợp nhất quây quần
trong hoà bình thân ái của cõi vô vi.
Chủ thuyết của Phật Thích Ca, trong lúc chiếm ưu thế tốt đẹp, đã phải
đương đầu chống lại với khuôn khổ đời sống cũng như ý nghĩ của Ấn Độ
đương thời, trước khi chúng ta có thể xác định tầm quan trọng của đạo
Phật. Tôn giáo ngự trị miền Bắc Ấn Độ vào thời Phật Thích Ca là Ấn Độ
giáo, được người Bà La Môn truyền bá đầu tiên hay những giáo sĩ. Đối với
họ, đời sống căn bản là nghi lễ, chỉ biết trung thành tuân theo lời phát
nguyện, những luật lệ và quy chế mới có thể bảo đảm được đạo đức và thể
chất của con người. Đời sống được giảm thiểu trong một phương thức máy
móc, không thay đổi, không tiến bộ, giữ gìn đời sống khắc khổ theo kinh
Dharma. Xã hội bị chia ra làm bốn giai cấp, và sự phân chia được ấn định
từ thuở lọt lòng. Cho nên địa vị con người đóng khung bất di bất dịch, từ
khi mới sinh ra cho đến lúc nhắm mắt lìa đời. Sự cứng rắn phân chia giai
cấp trong xã hội Ấn Độ đã tạo nên, khiến cho giới quý tộc luôn luôn cố
gắng thống trị giai cấp bần cùng. Giai cấp hạ tiện này không có cơ hội để tự
bày tỏ tư tưởng. Bổn phận của họ là phải phục vụ và lệ thuộc hoàn toàn vào
giai cấp được đặc quyền, do đó chủ nghĩa định mạng đã được an bày. Chủ
nghĩa này là một thiệt thòi quá lớn, không mang lại cho đám đông dân
chúng bất hạnh, nghèo khổ, và ngăn cản không cho một tư tưởng tự do nào
được dịp phát triển. Tín điều chính của họ là lòng tin tưởng một cách mù
quáng, và hoàn toàn nô lệ theo ý muốn của các thần linh. Trong khi đó, tư
tưởng tôn giáo bắt nhịp cầu thông cảm giữa con người với con người,
không phân biệt giai cấp, làm phát triển tình tương giao của nhân loại lại
không được biết đến.
Một bức tranh u tối của đời sống thấp kém, tuyệt vọng bị bỏ rơi của đại
đa số quần chúng được phơi bày ra, khi Phật Thích Ca đi giảng đạo lý cho
dân chúng nghe. Phật Thích Ca đến với họ, không kêu gọi sự cảm động của
mọi người, nhưng Phật đến với họ bằng chính ngôn ngữ của họ, và những
điều giảng dạy của Phật đều đặt trên căn bản tình yêu thương, cũng như ôn

https://thuviensach.vn

hoà trong lời nói, ý nghĩ hay trong hành động. Cá tính nhân từ vượt bực của
Phật đã hấp dẫn tất cả mọi người, già cũng như trẻ, giàu cũng như nghèo,
có quyền thế cũng như kẻ hạ lưu.
Phật Thích Ca thừa nhận thuyết luân hồi với sự tái sinh không ngừng
nghỉ của kiếp người, nhưng Phật cũng đã tìm ra cách để thoát ra khỏi vòng
sinh tử ấy. Thấu suốt được bốn chân lý cao xa để đạt đến cõi Niết Bàn, con
người có thể tự giải thoát mình ra khỏi cá tính một con người, và không còn
vướng trong vòng sinh, lão, bịnh, tử. Những lời giảng dạy của đức Phật
mang lại kết quả khả quan đối với những đệ tử nhà Phật. Triết lý này chỉ có
thể đạt được bằng những tâm hồn đầy nghị lực và nhiệt tâm, và phải ép
mình trong đạo lý cũng như tự răn mình. Bát chánh đạo đặt ra một đạo
pháp thật cao làm phương châm cho con người đến cõi Niết Bàn.
Phật Thích Ca bỏ đi tư tưởng phân chia giai cấp. Đối với Phật, tất cả mọi
người đều bình đẳng, và tất cả đều được đối đãi như anh em bạn bè. Không
sinh vật nào bị giết vì tất cả mọi đời sống đều linh thiêng, Phật cấm các đệ
tử không được nói dối, không được trộm cắp, thông dâm, không được chìm
đắm trong men rượu hay đòi hỏi những quyền lực vượt quá con người.
Để truyền bá đạo lý và giúp ích cũng như cải thiện đa số quần chúng có
một đời sống khả dĩ hơn, Phật Thích Ca thiết lập quy chế cấp bực cho các
tu sĩ. Các luật lệ này rất nghiêm khắc, những người xuất gia đều bị bắt buộc
phải từ bỏ thế giới bên ngoài, mọi liên hệ với gia đình, sống một cuộc đời
trong sạch, tuyệt đối cự tuyệt với tất cả những đòi hỏi của chính mình. Các
tu sĩ phải mặc áo vàng, mang bình bát đi khất thực, rồi chia nhau đi khắp
các ngả đường để truyền bá đạo lý nhà Phật.
Những tín đồ được thu nhận, bổn phận họ là phải tiếp tục nghe lời giảng
dạy của các tu sĩ và gìn giữ giới luật nhà Phật. Trong số tín đồ này có nhiều
Hoàng Tử cũng như con nhà quý tộc. Sau đó, Phật Thích Ca còn cho phép
phái nữ có thể theo tu học, thay vì trước kia xã hội Ấn Độ tin rằng, đàn ông
là sinh vật vượt trên đàn bà. Phật Thích Ca không đồng ý với quan niệm
chung cho rằng, tài năng người đàn bà chỉ có giới hạn. Hơn nữa, Phật Thích

https://thuviensach.vn

Ca còn làm cho phụ nữ ý thức được uy quyền cũng như sức mạnh tiềm ẩn
của họ.
Đức Phật tự mình làm một tấm gương cho các môn đồ, bằng cách tự trở
thành một khất sĩ rày đây mai đó trong suốt khoảng đời còn lại. Rất ít chi
tiết được biết về bước đường lang thang phiêu bạt của Phật đến miền Bắc
Ấn Độ và trong các quận Oudh, Bihar, nhưng trong bốn mươi lăm năm trời,
đức Phật tiếp tục giảng đạo và truyền giáo.
Suốt mùa mưa, Phật lui về một tỉnh hay làng nào đó, và trong suốt thời
kỳ gió mùa lạnh lẽo, Đức Phật lang thang khắp nơi khất thực và xin trú
mưa như một tu sĩ bần cùng nhất.
Vua chúa tiếp đón Phật nồng hậu, người giàu có cũng niềm nở và dành
riêng các khu vườn cho Phật và các tín đồ của Phật, vì các khu vườn rộng
rãi, mới thích hợp cho đám đông dân chúng mộ đạo xin yết kiến Phật Thích
Ca mỗi ngày, và trong các khu vườn mát mẻ tịch mịch, Phật và các môn đồ
có thể thiền tịnh.
Nhưng không phải những hoa viên của các Hoàng Tử và dinh cơ đồ sộ
của người giàu có lúc nào cũng là nơi mà Đức Phật và các đệ tử của Phật
chọn lựa. Vì câu chuyện dưới đây sẽ tiết lộ rõ ràng sự thanh cao trong sạch
vĩ đại của bậc đại thánh, đại sư này.
Một ngày kia, một người dân cư ngụ tại tỉnh Alavi trong khu rừng
Sinsapa, tình cờ gặp Đức Phật đang tĩnh toạ bên vệ đường dành cho súc vật
đi. Tiến gần đến Đức Phật với sự tôn kính, người kia hỏi “Thưa Thầy, kẻ
phẩm cách vượt bực như thầy có sống hạnh phúc không?”
“Có chứ, hỡi chàng tuổi trẻ. Ta sống rất hạnh phúc. Ta là một trong
những người sống hạnh phúc ở thế gian này”.
Người kia hỏi tiếp “Thưa thầy, cái lạnh lẽo của đêm đông, sương lạnh lại
sắp đến, mặt đất thì lòi lõm gồ ghề vì dấu chân súc vật dẵm lên, lá dùng
làm chiếu ngủ lại quá mỏng, áo vàng của tu sĩ lại quá mong manh, trong
khi gió đông rét buốt như cắt da nữa?”

https://thuviensach.vn

Với sự trầm tĩnh siêu phàm, Đức Phật Thích Ca trả lời “Hỡi người trẻ
tuổi, quả đúng như vậy, ta sống rất hạnh phúc. Ta là một trong những người
sống hạnh phúc ở thế gian này”.
Suốt nhiều năm lang thang đây đó, thu được biết bao kinh nghiệm khác
nhau, Đức Phật đã đạt được sự thanh khiết vĩ đại của tâm hồn và lòng tin to
lớn vào chủ đích cứu rỗi chúng sinh của Phật.
Đối với các giáo sĩ Bà La Môn và các giáo phái khác, Đức Phật hay tổ
chức các cuộc tranh luận và không bao giờ sợ bị đánh bại trong khi tranh
luận, Đức Phật tuyên bố “Trong cuộc tranh luận với bất cứ ai, tôi có thể bị
dồn vào những vấn đề rắc rối khó khăn, nhưng điều đó không thể có được,
và chính vì tôi biết rằng không bao giờ việc đó có thể xảy ra nên tôi giữ im
lặng và tin tưởng”.
Đức Phật đã thu thập được một phương pháp giảng dạy quần chúng và
riêng những người bình dân, Đức Phật thường dùng tục ngữ và các bài thơ
ngụ ngôn, chúng ta không thể nào bỏ qua không kể lại câu chuyện anh
chàng nông dân Bhardwaja, đã bảo Đức Phật đừng lười biếng mà phải làm
việc như anh ta để tự kiếm lấy miếng ăn. Đức Phật trả lời cho anh ta biết
Phật cũng là một nông dân, và tạo được cho ông bằng chính sự cày cấy và
trồng trọt. Anh chàng nông dân rất ngạc nhiên vì Đức Phật có bao giờ làm
chủ một miếng ruộng nào đâu?
Đức Phật nói “Đức tin chính là hạt giống của ta, sự suy tư của ta là mưa,
tâm trí ta là chiếc ách bằng da trên cổ trâu bò, và sự siêng năng của ta là
chiếc roi chăn trâu bò. Gìn giữ cơ thể, lời nói và trí óc, hạn chế ăn uống,
cùng với chân lý mà ta đã tìm ra và sự cứu rỗi chúng sinh là bổn phận mà ta
đã khẳng định. Năng lực ta cũng giống như chiếc ách đeo vào cổ cho trâu
bò, đưa ta đến sự an lành tuyệt đỉnh của cõi Niết Bàn. Nó đưa ta đến nơi
không còn sự khổ nữa. Đó là sự cày cấy trồng trọt của ta và công việc đó
cho ta quả bất tử”.
Cũng giống như thế, đối với người mẹ bị cuồng trí sau cái chết của đứa
con yêu quý, Phật Thích Ca đã giảng một bài về sự không thể tránh được

https://thuviensach.vn

cái chết của kiếp người bằng một câu chuyện ngắn đặc sắc tỏ ý khuyên răn
người đàn bà.
Lúc Phật Thích Ca quả tám mươi tuổi, sự bịnh hoạn bắt đầu báo hiệu sự
nguy ngập ngày cuối của cuộc đời. Bằng tất cả cố gắng ý chí vượt bực, Đức
Phật trì hoãn lại cái chết và thổ lộ “Không được quyền đi khỏi sự sống mà
chưa trăn trối điều gì với các môn đồ”.
Cho nên, mặc dầu phải chịu nhiều đau đớn vì bịnh hoạn, Đức Phật cũng
cố gắng suốt mùa mưa, và cho gọi các môn đồ tụ tập lại nghe lời giảng dạy.
Đức Phật nói “Cuộc đời ta sẽ chấm dứt trong vòng ba tháng tới đây, và các
con sẽ không còn được nghe lời ta giảng dạy nữa”. Đức Phật khuyến khích
các môn đồ phải tỏ ra cương quyết, tìm một chỗ an toàn và tiếp tục học hỏi
không ngừng. Và gọi Ananda đến gần, Đức Phật dặn dò, “Ananda ơi, ta
cũng già quá rồi, cuộc hành trình của ta sắp sửa chấm dứt, ta đã trải qua
biết bao nhiêu năm hành đạo và tám mươi tuổi rồi.
Ananda ơi, ta cũng như một chiếc xe bò cũ kỷ, chỉ có thể xê dịch được
nhờ sự giúp sức. Cho nên, ta nghĩ rằng, thân xác của vị minh chủ chỉ có thể
tiếp tục gượng gạo được nhờ sự chăm sóc thật nhiều”.
Rồi, với sự cương quyết không chút mệt mỏi. Đức Phật lại lên đường
tiếp tục cuộc hành trình và điều này chỉ làm cho thể xác càng chịu thêm sự
dày vò đau đớn. Đến Kusinara, Đức Phật đã trải qua những giờ phút cuối
cùng trong khi ban huấn tử cho các tu sĩ “Hãy xem kìa, các con, ta khuyên
nhủ các con, sự mục nát thúi rửa là lẽ tự nhiên của tất cả muôn loài. Hãy
làm siêu đổ chúng sinh một cách thận trọng trong công việc cao cả này”.
Nói xong, Phật Thích Ca về cõi Niết Bàn.
Những lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca đã phong phú hoá đời sống
và tư tưởng của biết bao nhiêu thế hệ phương Đông Mặc dầu sự tinh khiết
của giáo lý nhà Phật chẳng bao lâu vẩn đục đi nhiều, mặc dầu dân chúng
tôn sùng Đức Phật một cách linh thiêng và thờ phượng vị giáo chủ của Phật
giáo một cách ngây thơ khờ khạo, thay vì cố gắng tìm hiểu những giáo lý
của Đức Phật và chú tâm thực hành đúng đắn, đạo Phật cũng mang lại hai

https://thuviensach.vn

điều lợi ích quý giá đối với các tín đồ, đạo Phật đã giải phóng họ khỏi bức
tường giai cấp, và đạo Phật cũng đã dạy họ cuộc đời vẫn tràn đầy hi vọng.
Triết lý biến hoá và tiến bộ của Phật Thích Ca có nghĩa rằng “Con người
hoàn toàn chịu trách nhiệm chính hành động của họ”, và chủ thuyết này đã
thổi một luồng sinh khí mới mẻ vào đám đông đang mê ngủ. Những lời
vàng ngọc của Đức Phật đã mang lại kết quả rất lớn cho những tín đồ Phật
giáo về lòng bác ái độ lượng của người Phật Tử. Cho nên, suốt hành trình
lịch sử dài hơn 2000 năm của Phật giáo, Phật Tử không bao giờ kêu gọi sự
chiến tranh bằng gươm giáo, mà chỉ kêu gọi đến sự ôn hoà và đạo đức. Hơn
nữa, không bao giờ có sự kỳ thị hay ngược đãi tôn giáo khác đối với người
Phật Tử.
Những lời giáo huấn của Đức Phật Thích Ca, thật ra đã lót đường cho tôn
giáo là sự ngoan đạo tích cực, đặt trên căn bản là niềm tin ở chân, thiện, mỹ
của linh hồn con người.

https://thuviensach.vn

ĐỨC KHỔNG TỬ
(550–497 TTL)

Sự trung thành, lòng độ lượng, nhân ái, tinh thần chu toàn trách nhiệm,
sự tế nhị, điều độ, liêm khiết, với một chính thể cai trị ôn hoà trong một xã
hội vàng son. “Đừng làm cho người khác những gì mà ta không thích cho
chính bản thân ta”, Đó là những nguyên tắc căn bản của Khổng giáo, một
quy luật đạo đức đã chỉ đạo linh hồn Trung Quốc biết bao thế kỷ nay, Đức
Khổng Tử, bậc đại hiền triết, bậc thánh, nhà cải cách mà sự thông thái và
đức hạnh của ông đã khai sáng cho một phong trào mới. Ông chết 6 thế kỷ
trước Thiên Chúa, nhưng công nghiệp của ông vẫn còn sống mãi với thời
gian.
Tháng Hai năm 1917, một cuộc tranh luận gay cấn và thú vị xảy ra tại
Quốc Hội Trung Quốc. Năm năm trước đó, khi Hoàng Đế Trung Hoa thoái
vị và Trung Quốc trở thành một nước Cộng Hoà thì Khổng giáo đã được
xem như một quốc giáo hơn hai ngàn năm, nhưng ảnh hưởng đã bị mất dần.
Ngày nay Khổng giáo lại được đề nghị phục hồi và thêm vào đó, Khổng Tử
được tôn làm vị Thánh của Trung Quốc.
Mặc dù với sự nhiệt thành của số đông học giả trong giới chánh khách,
đề nghị trên vẫn không được chấp thuận, nhưng sự kiện đó cũng chứng tỏ
ảnh hưởng sâu đậm của bậc đại hiền triết vẫn còn đè nặng tâm trí người
Trung Hoa. Sức mạnh của sự việc đó được tăng gấp đôi khi nhớ rằng, qua
bao nhiêu thời đại, Khổng Tử đã được dân chúng Trung Hoa tôn thờ, xem
như thần thánh, nhưng trước đó, ông chưa bao giờ được xem như vị thần
thánh. Ý nghĩ thần thánh có lẽ hơi khôi hài đối với ông một chút vì trong tất
cả các hiền triết thời xưa thì Khổng Tử lại là người ít có tín ngưỡng nhất.

https://thuviensach.vn

Theo một nhận định của học giả Du Bose thì Khổng Tử “không phải là một
người cuồng tín, ông chỉ thực hành một ít những nghi thức tôn giá
 
Gửi ý kiến