tieng viet 5 . BÀI KT ĐK GIŨA HKI LỚP 5 NĂM HỌC 24-25

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: NGUYỄN THỊ HƯNG
Ngày gửi: 22h:06' 06-10-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 189
Nguồn:
Người gửi: NGUYỄN THỊ HƯNG
Ngày gửi: 22h:06' 06-10-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 189
Số lượt thích:
0 người
MA TRẬN NỘI DUNG 1)
KIỂM TRA ĐỌC HIỂU,
KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT - GIỮA HỌC KÌ I LỚP 5
Năm học: 2024 – 2025
---------- ---------N
À
M
Mạch kiến thức, kĩ năng
Số câu,
câu số,
số điểm
Mức 1:
Nhận
biết
1. Đọc hiểu văn bản
a. Đọc hiểu văn bản văn học
* Đọc hiểu nội dung: Nhận biết được
những chi tiết tiêu biểu và nội dung chính
của văn bản. Hiểu được nội dung hàm ẩn Số câu
4
dễ nhận biết của văn bản. Chỉ ra được mối
liên hệ giữa các chi tiết. Biết tóm tắt văn
bản. Hiểu chủ đề của văn bản.
* Đọc hiểu hình thức: Nhận biết được văn
bản viết theo tưởng tượng và văn bản viết
về người thật, việc thật. Nhận biết được
thời gian, địa điểm và tác dụng của chúng
trong câu chuyện. Hiểu từ ngữ, hình ảnh,
biện pháp so sánh, nhân hoá trong văn bản. Câu số 1, 2, 3, 4
* Liên hệ, so sánh, kết nối: Biết nhận xét
về thời gian, địa điểm; hình dáng, tính
cách nhân vật qua hình ảnh trong truyện
tranh hoặc phim hoạt hình. Tìm được một
cách kết thúc khác cho câu chuyện. Nêu
những điều học được từ câu chuyện, bài
thơ, màn kịch; lựa chọn điều tâm đắc nhất
và giải thích vì sao.
b. Đọc hiểu văn bản thông tin
* Đọc hiểu nội dung: Nhận biết được
những chi tiết tiêu biểu và các thông tin
chính của văn bản. Dựa vào nhan đề và
các đề mục lớn, xác định được đề tài,
thông tin chính của văn bản. Nhận biết
được mối liên hệ giữa các chi tiết. Biết
Số điểm
2
tóm tắt văn bản.
* Đọc hiểu hình thức: Nhận biết được
mục đích và đặc điểm của văn bản giải
thích về một hiện tượng tự nhiên; văn bản
giới thiệu sách hoặc phim; văn bản quảng
cáo, văn bản chương trình hoạt động.
Nhận biết được bố cục (phần đầu, phần
giữa (chính), phần cuối) và các yếu tố
Mức 2:
Kết nối
Mức 3:
Vận
dụng
2
1
5, 6
7
2
1
Tổng
7
câu
5
điểm
(nhan đề, đoạn văn, câu chủ đề) của một
văn bản thông tin đơn giản. Nhận biết
được cách triển khai ý tưởng và thông tin
trong văn bản theo trật tự thời gian hoặc
theo tầm quan trọng. Nhận biết được vai
trò của hình ảnh, kí hiệu hoặc số liệu trong
việc thể hiện thông tin chính của văn bản
(văn bản in hoặc văn bản điện tử).
* Liên hệ, so sánh, kết nối: Nêu được
những thay đổi trong hiểu biết, tình cảm,
cách ứng xử của bản thân sau khi đọc văn
bản.
2. Kiến thức tiếng Việt:
- Nắm được quy tắc viết tên người, tên địa
lí nước ngoài; một số trường hợp viết hoa
danh từ chung để thể hiện sự tôn trọng đặc Số câu
biệt.
- Hiểu nghĩa và sử dụng được một số từ
ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ, từ Hán Việt
thông dụng) thuộc các chủ điểm đã học.
- Hiểu được đặc điểm và chức năng của
danh từ, động từ, tính từ. Nhận biết được
đại từ (đặc điểm và chức năng của đại từ
Câu số
thay thế, đại từ nghi vấn, đại từ xưng hô).
- Nhận biết và xác định được từ đồng
nghĩa (đặc điểm và tác dụng), từ đa nghĩa
(nghĩa của từ đa nghĩa trong văn bản). Đặt
câu được với từ đồng nghĩa và từ đa nghĩa.
- Sử dụng đúng danh từ, động từ, tính từ,
đại từ, từ đồng nghĩa, từ đa nghĩa trong
từng lời nói và câu văn cụ thể.
Số điểm
- Sử dụng được các dấu câu đã học.
- Nhận biết và bước đầu cảm nhận được
cái hay của những câu văn có sử dụng biện
pháp so sánh, nhân hóa; biết dùng biện
pháp so sánh, nhân hóa để viết được câu
văn hay.
2
1
1
8, 9
10
11
1
1
1
3
điểm
Số câu
6
3
2
11
câu
Số điểm
3
3
2
8
điểm
Tổng
4
câu
MA TRẬN NỘI DUNG KIỂM TRA ĐỌC HIỂU, KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
GIỮA HỌC KÌ I LỚP 5
Năm học: 2024 - 2025
---------- ----------
STT
1
2
Mạch kiến thức,
kĩ năng
Số câu,
câu số,
số điểm
Số câu
Đọc hiểu văn bản
Câu số
Số điểm
Số câu
Kiến thức tiếng Việt Câu số
Số điểm
Tổng
Số câu
Số điểm
Các mức độ năng lực
Mức 1:
Mức 2:
Mức 3:
Nhận biết
Kết nối Vận dụng
TN
T TN TL TN TL
L
4
2
1
1, 2, 3, 4
5, 6
7
2
2
1
2
1
1
8, 9
10
11
1
1
1
6
3
2
3
3
2
Tổng
7 câu
5 điểm
4 câu
3 điểm
11 câu
8 điểm
TRƯỜNG TH&THCS MINH KHAI
---------- ----------
Họ và tên:
…………………………………...
Lớp:
………………………………………....
Thứ ………….., ngày…… tháng ….. năm
2024.
BÀI KIỂM TRA ĐỊNH KÌ GIỮA HỌC KÌ
I
Môn: Tiếng Việt - Lớp 5
Năm học: 2024 – 2025
(Thời gian làm bài: 90 phút)
Điểm
Nhận xét của giáo viên
Đọc:……………….
Viết:……………….
Chung:…………..
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm)
1. Kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói. (2 điểm)
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt. (8 điểm) - (35 phút)
Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi:
TRIỀN ĐÊ TUỔI THƠ
Tuổi thơ tôi với con đê sông Hồng gắn liền như hình với bóng, tựa hai người bạn
thân thiết suốt ngày quấn quýt bên nhau. Từ lúc chập chững biết đi, mẹ đã dắt tôi men
theo bờ cỏ chân đê. Con đê thân thuộc đã nâng bước, dìu dắt và tôi luyện cho những bước
chân của tôi ngày một chắc chắn để tự tin lớn lên, tự tin bước vào đời. Chẳng riêng gì tôi,
mà hầu hết những đứa nhỏ sinh ra ở trong làng đều coi con đê là bạn. Chúng cũng nô đùa,
chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan trên đê mỗi khi bố mẹ vắng nhà ra đồng, ra bãi làm việc.
Tuổi học trò, cứ sáng cắp sách tới trường, chiều về cả hội lại lùa tất cả trâu, bò lên đê cho
chúng gặm cỏ và tha hồ vui chơi đợi khi hoàng hôn xuống trở về làng. Những đêm trăng
thanh gió mát lên đê trải chiếu nằm đếm sao trời mới tuyệt và thú làm sao. Tôi nhớ nhất
là những đêm Trung thu, người lớn trong làng tổ chức bày cỗ cho thiếu nhi trên mặt đê rất
vui và không khí của lễ hội trẻ em kéo dài tưởng như bất tận...
Năm tháng qua đi, những lối mòn chạy xéo ngoằn ngoèo từ chân lên tới mặt đê đã
in dấu biết bao bàn chân của các thế hệ sớm hôm đi, về. Đời người ai cũng có nhiều đổi
thay qua thời gian, song con đê vẫn gần như nguyên vẹn, vẫn sừng sững chở che bao bọc
lấy dân làng tôi cũng như cả một vùng rộng lớn. Những trận lũ lớn đỏ ngầu phù sa hung
dữ, con đê lại gồng mình lên để không chỉ bảo vệ cho tính mạng con người, gia súc mà
còn bảo vệ cả mùa màng ...
... Xa quê bao năm trời, mùa lũ này tôi mới trở lại quê hương, trở lại làng quê đã
sinh ra và nuôi tôi lớn khôn. Con đê vẫn đấy, màu xanh của cỏ mượt mà vẫn đấy. Tôi tần
ngần dạo gót trên chiều dài của con đê chạy suốt từ điếm canh đê này tới điếm canh đê
kia và mường tượng nhớ về những kỉ niệm của một thời xa xăm ...
(Theo Nguyễn Hoàng Đại)
* Khoanh vào chữ cái trước câu trả lời đúng hoặc làm theo yêu cầu dưới đây:
Câu 1 (0,5 điểm). Hình ảnh nào ở làng quê gắn bó thân thiết với tác giả “như hình
với bóng”?
A. Trường học
B. Con đê
C. Đêm trăng
D. Con sông
Câu 2 (0,5 điểm). Từ lúc chập chững biết đi, tác giả được mẹ đã dắt men theo bờ cỏ
ở đâu?
A. Công viên
B. Ngoài ruộng
C. Mặt đê
D. Chân đê
Câu 3 (0,5 điểm). Nối từng từ ngữ ở cột bên trái với từ ngữ ở cột bên phải để phù
hợp với nội dung của bài văn:
a, Con đê thân thuộc
mà hầu hết những đứa nhỏ sinh ra ở trong làng đều
coi con đê là bạn. (1)
đã nâng bước, dìu dắt và tôi luyện cho những bước
b, Chẳng riêng gì tôi,
chân của tôi ngày một chắc chắn để tự tin lớn lên, tự
tin bước vào đời. (2)
Câu 4 (0,5 điểm). Dựa vào bài đọc, xác định các điều dưới đây đúng hay sai?
Khoanh tròn vào Đúng hoặc Sai:
Thông tin
Trả lời
a, Tuổi học trò, cứ sáng cắp sách tới trường, chiều về cả hội lại lùa
tất cả trâu, bò lên đê cho chúng gặm cỏ và tha hồ chơi trò chơi thả
Đúng / Sai
diều.
b, Năm tháng qua đi, những lối mòn chạy xéo ngoằn ngoèo từ chân
lên tới mặt đê đã in dấu biết bao bàn chân của các thế hệ sớm hôm
Đúng / Sai
đi, về.
Câu 5 (1 điểm). Vì sao các bạn nhỏ coi “con đê” là “bạn”?
Câu 6 (1 điểm). Tại sao tác giả cho rằng con đê “chở che, bao bọc lấy dân làng tôi
cũng như cả một vùng rộng lớn”?
Câu 7 (1 điểm). Bài văn trên muốn nói với em điều gì?
Câu 8 (0,5 điểm). Cho các từ: “tuổi thơ, uốn lượn, ngoằn ngoèo, tôi”. Tính từ là:
A. tuổi thơ
B. uốn lượn
C. ngoằn ngoèo
D. tôi
Câu 9 (0,5 điểm). Từ “chúng” trong câu văn: “Chúng cũng nô đùa, chơi trò đuổi bắt,
chơi ô ăn quan trên đê mỗi khi bố mẹ vắng nhà ra đồng, ra bãi làm việc.” chỉ những
ai?
A. Trẻ em trong làng
B. Những người lớn
C. Tác giả bài văn
D. Con đê sông Hồng
Câu 10 (1 điểm). Viết 2 từ đồng nghĩa với từ “trẻ em”. Đặt 1 câu với một trong hai từ
đồng nghĩa em vừa tìm được.
Câu 11 (1 điểm). Từ “chân” trong từ “chân đê” được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa
chuyển? Đặt 1 câu với từ “chân” được dùng với nghĩa gốc.
II. KIỂM TRA VIẾT (10 điểm)
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết bài văn kể chuyện sáng tạo câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ” mà em đã được
học.
Đề 2: Viết bài văn tả một cảnh sông, hồ, ao, biển ở quê hương em hoặc ở nơi khác
mà em biết.
Bài làm
NÀ
M
HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ, CHO ĐIỂM
BÀI KIỂM TRA MÔN TIẾNG VIỆT GIỮA HỌC KÌ I
Lớp 5 - Năm học: 2024 – 2025
---------- ----------
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm)
1. Kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói. (2 điểm)
* Nội dung kiểm tra:
+ Học sinh đọc một đoạn văn, bài thơ do giáo viên lựa chọn và chuẩn bị trước, ghi rõ
tên bài, đoạn đọc vào phiếu cho từng học sinh bốc thăm rồi đọc thành tiếng.
+ HS trả lời 1 câu hỏi về nội dung đoạn đọc do giáo viên nêu ra.
* Thời gian kiểm tra: Giáo viên kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói đối
với từng học sinh trong khi kiểm tra phần Đọc – hiểu.
* Cách đánh giá, cho điểm:
Cách đánh giá
Điểm
1) Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng các văn bản truyện, bài thơ, bài văn miêu
tả, ... ; tốc độ đọc đạt yêu cầu (tốc độ đọc khoảng 90 - 100 tiếng/ phút).
0,5 điểm
2) - Đọc đúng tiếng, từ (không đọc sai quá 5 tiếng).
0,5 điểm
- Đọc diễn cảm (giọng đọc có biểu cảm) (nếu có)
3) Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa.
0,5 điểm
4) Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn/bài thơ đọc.
0,5 điểm
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt. (8 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm). Khoanh vào B.
Câu 2 (0,5 điểm). Khoanh vào D.
Câu 3 (0,5 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,25 điểm.
Nối a, - (2) ; b, - (1)
Câu 4 (0,5 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,25 điểm.
a. Sai.
b. Đúng.
Câu 5 (1 điểm). Các bạn nhỏ coi “con đê” là “bạn” bởi vì: Chính trên con đê này, các
bạn nhỏ đã nô đùa, chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan, chăn trâu bò, trải chiếu nằm đếm
sao trời, được người lớn trong làng tổ chức bày cỗ Trung thu.
Câu 6 (1 điểm). Tác giả cho rằng con đê “chở che, bao bọc lấy dân làng tôi cũng như
cả một vùng rộng lớn” là vì: Trong những trận lũ lớn đỏ ngầu phù sa hung dữ, con đê lại
gồng mình lên để không chỉ bảo vệ cho tính mạng con người, gia súc mà còn bảo vệ cả
mùa màng.
Câu 7 (1 điểm). Bài văn trên tả con đê và kể về những kỉ niệm gắn bó với con đê, gắn bó
với quê hương.
Câu 8 (0,5 điểm). Khoanh vào C.
Câu 9 (0,5 điểm). Khoanh vào A.
Câu 10 (1 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm.
* Từ đồng nghĩa với từ “trẻ em” là: trẻ con, trẻ thơ, con trẻ, con nhỏ, thiếu nhi, nhi
đồng, thiếu niên, con nít, nhóc con, ranh con, nhãi ranh, ...
* Đặt 1 câu với một trong hai từ đồng nghĩa em vừa tìm được.
Chẳng hạn:
+ Ông bà ngoại em rất quý trẻ con.
+ Trẻ con cần được yêu thương và chăm sóc.
+ Bác Hồ rất yêu quý thiếu niên, nhi đồng.
+ Thiếu nhi Việt Nam rất kính trọng Bác Hồ.
Câu 11 (1 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm.
* Từ “chân” trong từ “chân đê” được dùng với nghĩa chuyển.
* Đặt 1 câu với từ “chân” được dùng với nghĩa gốc.
Chẳng hạn:
+ Mẹ em bị đau chân.
+ Chú gà trống nhà em có đôi chân rất to.
II. KIỂM TRA VIẾT (10 điểm)
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết bài văn kể chuyện sáng tạo câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ” mà em đã được
học.
Đề 2: Viết bài văn tả một cảnh sông, hồ, ao, biển ở quê hương em hoặc ở nơi khác
mà em biết.
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
STT
Tiêu chí đánh giá
Điểm
1
Bố cục, nội dung
5 điểm
2
Kĩ năng (Cách dùng từ, đặt câu, cách sắp xếp ý, liên kết ý,…)
3 điểm
3
Hình thức trình bày, chính tả, chữ viết
2 điểm
Cụ thể bài viết được đánh giá theo các tiêu chí sau:
Các mức độ năng lực
STT
Tiêu
Mức 1:
Mức 2:
Mức 3:
chí/điểm
Nhận biết
Kết nối
Vận dụng
(3 điểm)
(4 điểm)
(5 điểm)
- Bố cục chưa thật - Bố cục mạch lạc - Bố cục mạch lạc,
mạch lạc (Nội dung (Nội dung thể hiện rõ chặt chẽ (Nội dung thể
chưa thể hiện rõ 3 3 phần: Mở bài, Thân hiện rõ 3 phần: Mở
phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài. Mở bài, bài, Thân bài, Kết bài,
1 Bố
cục, bài, Kết bài; hoặc Kết bài đáp ứng đúng trong đó Mở bài, Kết
nội dung thiếu Kết bài hoặc yêu cầu cơ bản của bài tạo được ấn tượng
(5 điểm)
viết Mở bài, Kết bài kiểu bài văn kể (có sự sáng tạo.
sơ sài, chưa đúng chuyện hoặc tả phong
yêu cầu.
cảnh; ...).
- Nội dung bài đáp - Nội dung đáp ứng - Nội dung phong phủ,
ứng yêu cầu tối đúng yêu cầu, đàm có những ý thể hiện
thiếu, ý còn sơ sài.
bảo các ý cần thiết.
suy nghĩ riêng, sáng
tạo.
Kĩ năng - Còn mắc 4-5 lỗi và - Còn mắc 2 – 3 lỗi Không mắc lỗi về kĩ
(Cách
kĩ năng (VD: lỗi và kĩ năng (VD: lỗi năng hoặc chỉ mắc một
dùng
từ, dùng từ, viết câu, dùng từ, viết câu, sắp chút lỗi nhỏ về dùng từ
2 đặt
câu, sắp xếp ý, liên kết ý, xếp ý, liên kết ý, ...). hoặc viết câu nhưng có
cách sắp ...).
sáng tạo trong việc lựa
xếp ý, liên
chọn từ ngữ, sử dụng
kết ý,…) (3
kiểu câu hoặc sắp xếp
điểm)
ý, liên kết ý, ...)
3
Hình thức
trình bày,
chính tả,
chữ viết (2
điểm)
- Còn mắc 4-5 lỗi - Còn mắc 2-3 lỗi - Bài làm không mắc
trong bài làm. (VD: trong bài làm. (VD: lỗi (chữ viết đúng
không trình bày rõ không trình bày rõ chính tả, trình bày bài
các phần theo bố các phần theo bố cục, sạch sẽ, rõ ràng.
cục, còn có chữ viết còn có chữ viết chưa
chưa đúng (thiếu, đúng (thiếu, thừa nét,
thừa nét, độ cao, độ độ cao, độ rộng,
rộng, khoảng cách khoảng cách các con
các con chữ, ...), chữ, ...), còn mắc lỗi
còn mắc lỗi chính chính tả, ...).
tả, ...).
Hướng dẫn chấm các đề như sau:
Đề 1:
- Thể loại bài: Văn kể chuyện (Kể chuyện sáng tạo).
- Nội dung: Học sinh viết bài văn kể chuyện sáng tạo theo đúng yêu cầu đề bài theo các
cách sau:
* Thêm chi tiết tả bối cảnh (không gian, thời gian);
* Thêm chi tiết tả ngoại hình, hành động của nhân vật;
* Thêm (hoặc thay đổi) chi tiết kể tình huống, sự việc;
* Thêm nhân vật vào câu chuyện;
* Thêm lời thoại cho nhân vật;
* Thay đổi cách kết thúc câu chuyện: thêm đoạn kết; thay đổi đoạn kết;…
+ Học sinh biết viết bài văn kể chuyện sáng tạo theo trình tự phù hợp, bố cục đoạn văn
hợp lý, có liên kết ý cân đối, chặt chẽ.
+ Học sinh biết dùng từ ngữ thích hợp (chính xác, thể hiện tình cảm), viết câu ngắn gọn,
giúp người đọc dễ hình dung.
- Hình thức: Bài viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
Cụ thể bài viết đủ 3 phần như sau:
1) Mở bài: Giới thiệu tên câu chuyện và tác giả câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ”:
- Câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ” SGK Tiếng Việt 5 tập 1 Bộ sách Kết nối tri thức với
cuộc sống.
- Tác giả Lê Khắc Hoan.
2) Thân bài: Kể lại câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ” với những chi tiết sáng tạo.
- Việt là cậu bé đá bóng giỏi, được bạn bè trong khu phố công nhận là “Cầu thủ Xuất
sắc”. Việt có dịp ra mắt “giới hâm mộ bóng đá trường nhà" trong trận đấu với lớp 5C
sáng nay.
- Trận đấu gay cấn từ những phút đầu tiên. Mạnh lăn xả cướp bóng rồi chuyền cho Việt
dần xuống vòng cấm địa. Hậu vệ lớp C xổ lên chặn. Mạnh và Chiến đã lên kịp. Nhưng
Việt vẫn cố hất bóng qua hậu vệ lớp C vì không muốn nhường ai cơ hội ghi bàn. Chậm
rồi, thủ môn đã lao lên bắt bóng. Cả sân vỡ oà vì tiếc.
- Sốt ruột lắm nhưng đến giữa hiệp Việt mới ghi bàn. Tiếng vỗ tay dội lên, Việt sung
sướng chạy như một ngôi sao sản cỏ. Từ lúc đó, lớp C kèm Việt như hình với bóng. Việt
dắt bóng một quãng là mất, lại chẳng chuyền cho ai, lớp C được thể tấn công và ghi liền
hai bàn.
- Giữa hai hiệp, các bạn lớp Việt hội ý và trách Việt.
- Việt dỗi không đá, bỏ ra khỏi sân, ngồi khuất một góc xem hiệp hai.
- Các bạn lớp Việt càng đá càng hay. Bộ ba Long, Chiến, Mạnh chuyền bóng rất ăn ý.
Hậu vệ lớp C không sao chặn nổi đường bóng ấy. Rồi Mạnh ung dung đội đầu, tạt bóng
gọn vào lưới.
- Cả sân vỗ tay vang dội. Bàn thắng đẹp quá! Nếu Việt là một trong ba đứa, bàn thắng có
đẹp thế không? Việt bần thần nghĩ, không biết Vĩnh chạy đến: “Vào đi Việt, Chiến đau
chân.”. Việt ngẩn ra giây lát rồi tức tốc chạy theo Vĩnh, cứ như vừa đón được một đường
bóng đồng đội chuyền đến cho Việt.
3) Kết bài: Nêu cảm xúc, suy nghĩ về câu chuyện, rút ra bài học cho bản thân.
- Khó có thể thành công và đi tới đích khi chỉ có một mình bản thân tự lực cánh sinh.
Trong mọi tình huống, cần biết đoàn kết, phối hợp ăn ý, dựa vào sức mạnh tập thể, cùng
nhau làm nên kì tích, vượt qua chông gai để chiến thắng.
Đề 2:
- Thể loại: Văn miêu tả (Tả phong cảnh).
- Nội dung: Học sinh viết bài văn tả phong cảnh theo đúng yêu cầu đề bài.
+ Học sinh biết viết bài văn tả phong cảnh sông, hồ, ao, biển, ... theo trình tự phù hợp, bố
cục đoạn văn hợp lý, có liên kết ý cân đối, chặt chẽ.
+ Học sinh biết dùng từ ngữ thích hợp (chính xác, thể hiện tình cảm), viết câu ngắn gọn,
bước đầu biết sử dụng các biện pháp tu từ, dùng các từ gợi tả, giúp người đọc dễ hình
dung.
- Hình thức: Bài viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
Cụ thể bài viết có đủ 3 phần như sau:
1) Mở bài: Giới thiệu khái quát về cảnh sông, hồ, ao, biển ở quê hương em hoặc ở nơi
khác mà em biết.
2) Thân bài: Tả lần lượt từng phần hoặc từng vẻ đẹp của cảnh cảnh sông, hồ, ao, biển
ở quê hương em hoặc ở nơi khác mà em biết.
3) Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ về cảnh.
* Chẳng hạn: Các ý trong bài văn tả con sông Hồng quê em:
1. Mở bài: Giới thiệu về sông Hồng.
- Dải đất hình chữ S mềm mại được bồi tụ lên từ biết bao dòng sông đẹp.
- Vùng núi Tây Bắc có con sông Đà “tuôn dài tuôn dài như áng tóc trữ tình”, đất Huế
mộng mơ có con sông Hương với điệu hò điệu hát nao nức lòng người.
- Vùng đồng bằng Bắc Bộ lại đặc trưng với con sông Hồng “Hồng Hà mênh mông vẫn
chảy đều nối tiếp”.
2. Thân bài
a. Nguồn gốc và vị trí của sông Hồng
+ Không biết sông Hồng có từ bao giờ. Từ thuở tấm bé, em đã được nghe danh con sông
này qua lời kể của ông bà, qua lời ru của mẹ.
+ Qua tìm hiểu, sông Hồng chảy qua phía đông thủ đô Hà Nội trước khi đổ ra biển Đông
ở cửa Ba Lạt. Con sông trước nhà em chính là một nhánh của sông Hồng.
b. Tả vẻ đẹp của dòng sông
+ Quang cảnh sông Hồng đẹp như tạc ra từ bức tranh thủy mặc.
+ Nhìn từ xa dòng sông như dải lụa khổng lồ mềm mại uốn quanh làng xóm.
+ “Sông Hồng đỏ nặng phù sa” nên nước sông không trong xanh như những con sông
khác mà phớt một màu hồng đào. Đó cũng chính là nguồn gốc của tên sông.
+ Mặt sông rộng như chiếc gương khổng lồ phản chiếu hình ảnh của cả đất trời. Bầu trời
xanh, mây trắng, nắng vàng, tất cả thu gọn trong ống kính của nhiếp ảnh gia sông Hồng.
+ Nổi trên bề mặt sông là những đợt sóng nước nối tiếp nhau xô nhẹ vào bờ. Sóng lắn
tăn như đang đung đưa theo nhịp nhạc của thiên nhiên.
+ Vào buổi sáng sớm, nắng đậu trên mặt nước, gió khẽ thổi làm mơn man gợn sóng, tất
cả tạo cho sông Hồng vẻ quyến rũ lạ kì.
+ Trưa hè nắng gắt, dòng nước sông lóng lánh như có ai thả những viên ngọc xuống mặt
nước.
+ Về đêm, sông nhuộm màu đen thẳm rì rào khúc hát ru của đất trời.
c. Hoạt động diễn ra trên sông
+ Hai bên bờ là bãi bồi phù sa, là vùng đất thích hợp cho nông dân tận dụng trồng cây
rau, cây ngô để cung cấp cho cuộc sống sinh hoạt.
+ Sông là nơi giao thương buôn bán với nhiều thuyền đánh cá giăng buồm thả lưới, là
nơi kinh doanh với nhiều thuyền khai thác cát đi lại ngày đêm.
+ Vào buổi chiều hè lộng gió, trẻ em thường được người lớn dẫn ra tắm sông. Vì thế, đối
với nhiều người, sông Hồng là một phần kỉ niệm tuổi thơ.
+ Vào ngày cuối tuần lại có đội tình nguyện đi dọc bờ sông nhặt rác còn sót lại, môi
trường sông biển vì thế mà sạch đẹp hơn nhiều.
3. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về sông Hồng.
- Sông Hồng không chỉ làm nên vẻ đẹp cho đất nước ta mà còn là một biểu tượng văn hóa
từ ngàn đời.
- Dù sau này có đi đến những chân trời mới, hình ảnh con sông Hồng quê hương vẫn sẽ
in đậm trong trí nhớ em.
Điểm chung của môn Tiếng Việt = (Điểm Đọc + Điểm Viết) : 2
(Làm tròn 0,5 thành 1)
Lưu ý: Chỉ làm tròn một lần. Ví dụ: Điểm thực tế của 2 bài kiểm tra Đọc và Viết
là 19, quy về thang điểm 10 là: 9,5 (làm tròn số thành 10).
PHIẾU KIỂM TRA ĐỌC THÀNH TIẾNG KẾT HỢP KIỂM TRA NGHE NÓI
---------- ----------
1. Bài đọc “Trăng lên” trang 17 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
TRĂNG LÊN
Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ, từ từ lên ở chân trời, sau
rặng tre đen của làng xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc mảnh dần, rồi đứt hẳn.
Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng những hương thơm
ngát.
Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, thật là sáng trăng hẳn: trời bây giờ
trong vắt, thăm thẳm và cao, mặt trăng nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không. Ánh trăng
trong chảy khắp cành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường trắng xoá.
Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ, lấp lánh như thuỷ tinh.
Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng như ánh nước.
(Theo Thạch Lam)
2. Bài đọc “Tiếng gà trưa” trang 20 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng
tạo”.
TIẾNG GÀ TRƯA
(Trích)
Trên đường hành quân xa
Tiếng gà trưa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Tiếng gà ai nhảy ổ:
Đêm cháu về nằm mơ
“Cục... cục tác cục ta”
Giấc ngủ hồng sắc trứng.
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Cháu chiến đấu hôm nay
Nghe gọi về tuổi thơ.
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Tiếng gà trưa
Bà ơi cũng vì bà
Ổ rơm hồng những trứng
Vi tiếng gà cục tác
Này con gà mái mơ
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Khắp mình hoa đốm trắng
(Xuân Quỳnh)
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng.
3. Bài đọc “Ban mai” trang 42 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
BAN MAI
Tôi chạy ra bờ sông, chỗ thả mấy con ngựa. Cỏ linh lăng ướt đẫm lành lạnh quất
tanh tách vào đôi chân trần, đâm đau nhói vào hai bàn chân nứt nẻ nhưng tôi vẫn cảm
thấy thích thú.
Tôi vừa chạy vừa quan sát mọi diễn biến xung quanh. Mặt trời vươn mình nhô lên
sau dãy núi, cây hướng dương mọc hoang trên bờ kênh vươn về phía mặt trời. Đám cúc
thỉ xa đầu trắng hau háu xúm xít vây lấy nó, nhưng nó không chịu thua nó thè ra những
chiếc lưỡi vàng, đón lấy những tia nắng ban mai, cho bầy quả nang chặt cứng hạt uống no
ánh sáng. Kia là lối qua kênh, mặt đất nát nhừ vì xe cộ qua lại nhiều, nước rỉ qua những
vệt bánh xe. Kia là đám cây bạc hà thơm thơm mọc cao ngang tầm thắt lưng, nom như
một hòn đảo nhỏ màu tím nhạt. Tôi chạy trên mảnh đất quê hương, trên đầu tôi chim én
thi nhau lao vun vút.
Chao ôi, nếu tôi có màu vẽ thì tuyệt quá, tôi sẽ vẽ cả vầng mặt trời buổi sáng này, cả
dãy núi xanh điểm những vệt trắng kia, cả cánh đồng cỏ linh lăng long lanh sương sớm
này, cả cây hướng dương mọc hoang bên bờ kênh kia!
(Theo Chin-ghit Ai-ma-tốp, Phạm Mạnh Hùng dịch)
4. Bài “Chuyện một khu vườn nhỏ” (SGK lớp 5 trang 102 - CTGDPT 2006).
CHUYỆN MỘT KHU VƯỜN NHỎ
Bé Thu rất khoái ra ban công ngồi với ông nội, nghe ông rủ rỉ giảng về từng loài
cây.
Cây quỳnh lá dày, giữ được nước, chẳng phải tưới nhiều. Cây hoa ti gôn thích leo
trèo, cứ thò những cái râu ra, theo gió mà ngọ nguậy như những cái vòi voi bé xíu. Cây
hoa giấy mọc ngay bên cạnh bị nó quấn chặt một cành. Những chiếc vòi quấn chắc nhiều
vòng, rồi một chùm ti gôn hé nở. Cây đa Ấn Độ thì liên tục bật ra những búp đỏ hồng
nhọn hoắt. Khi đủ lớn, nó xòe ra thành chiếc lá nâu rõ to, ở trong lại hiện ra cái búp đa
mới nhọn hoắt, đỏ hồng... Có điều Thu chưa vui: Cái Hằng ở nhà dưới cứ bảo ban công
nhà Thu không phải là vườn!
Một sớm chủ nhật đầu xuân, khi mặt trời vừa hé mây nhìn xuống, Thu phát hiện ra
chú chim lông xanh biếc sà xuống cành lựu. Nó săm soi, mổ mổ mấy con sâu rồi thản
nhiên rỉa cánh, hót lên mấy tiếng líu ríu. Thu vội xuống nhà Hằng mời bạn lên xem để
biết rằng: Ban công có chim về đậu tức là vườn rồi! Chẳng ngờ, khi hai bạn lên đến nơi
thì chú chim đã bay đi. Sợ Hằng không tin, Thu cầu viện ông:
- Ông ơi, đúng là có chú chim vừa đỗ ở đây bắt sâu và hót nữa ông nhỉ!
Ông nó hiền hậu quay lại xoa đầu cả hai đứa:
- Ừ, đúng rồi! Đất lành chim đậu, có gì lạ đâu hả cháu?
(Theo VÂN LONG)
5. Bài “Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà” (SGK lớp 5 trang 69 - CTGDPT 2006).
TIẾNG ĐÀN BA-LA-LAI-CA TRÊN SÔNG ĐÀ
(Trích)
Trên sông Đà
Một đêm trăng chơi vơi
Tôi đã nghe tiếng đàn ba-la-lai-ca như thế
Một cô gái Nga mái tóc màu hạt dẻ
Ngón tay đan trên những sợi dây đồng.
Lúc ấy,
Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông
Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ
Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ
Chỉ còn tiếng đàn ngân nga
Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà.
Ngày mai,
Chiếc đập lớn nối liền hai khối núi
Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên
Sông Đà gửi ánh sáng đi muôn ngả
Từ công trình thuỷ điện lớn đầu tiên.
QUANG HUY
6. Bài đọc “Cao Bằng” trang 129 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Cánh Diều”.
CAO BẰNG
(Trích)
Cao Bằng, rõ thật cao!
Còn núi non Cao Bằng
Bạn ơi có thấy đâu
Rồi dần bằng bằng xuống
Đo làm sao cho hết
Cao Bằng xa xa ấy
Đầu tiên là mận ngọt
Như lòng yêu đất nước.
Vì ta mà giữ lấy
Đón môi ta dịu dàng.
Sâu sắc người Cao Bằng.
Một dải dài biên cương.
(Trúc Thông)
Rồi đến chị rất thương
Đã dâng đến tận cùng
Rồi đến em rất thảo
Hết tầm cao Tổ quốc
Ông lành như hạt gạo
Lại lặng thầm trong suốt
Bà hiền như suối trong.
Như suối khuất rì rào.
7. Bài “Đất Cà Mau” (SGK lớp 5 trang 89-90 Chương trình GDPT 2006).
ĐẤT CÀ MAU
Cà Mau là đất mưa dông. Vào tháng ba, tháng tư, sớm nắng chiều mưa. Đang nắng
đó, mưa đổ ngay xuống đó. Mưa hối hả, không kịp chạy vào nhà. Mưa rất phũ, một hồi
rồi tạnh hẳn. Trong mưa thường nổi cơn dông.
Cà Mau đất xốp. Mùa nắng, đất nẻ chân chim, nền nhà cũng rạn nứt. Trên cái đất
phập phều và lắm gió, dông như thế, cây đứng lẻ khó mà chống nổi với những cơn thịnh
nộ của trời. Cây bình bát, cây bần cũng phải quây quần thành chòm, thành rặng; rễ phải
dài, phải cắm sâu vào trong lòng đất. Nhiều nhất là đước. Đước mọc san sát đến tận mũi
đất cuối cùng, thẳng đuột như hằng hà sa số cây dù xanh cắm trên bãi. Nhà cửa dựng dọc
theo những bờ kênh, dưới những hàng đước xanh rì. Nhà nọ sang nhà kia phải leo trên
cầu bằng thân cây đước...
Sống trên cái đất mà ngày xưa, dưới sông "sấu cản mũi thuyền", trên cạn "hổ rình
xem hát" này, con người phải thông minh và giàu nghị lực. Họ thích kể, thích nghe những
huyền thoại về người vật hổ, bắt cá sấu, bắt rắn hổ mây. Tinh thần thượng võ của cha ông
được nung đúc và lưu truyền để khai phá gìn giữ mũi đất tận cùng này của Tổ quốc.
(Theo Mai Văn Tạo)
BÀI KIỂM TRA ĐỌC THÀNH TIẾNG
KẾT HỢP TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA GIÁO VIÊN
---------- ----------
1. Bài đọc “Trăng lên” trang 17 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
TRĂNG LÊN
Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ, từ từ lên ở chân trời, sau
rặng tre đen của làng xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc mảnh dần, rồi đứt hẳn.
Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng những hương thơm
ngát.
Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, thật là sáng trăng hẳn: trời bây giờ
trong vắt, thăm thẳm và cao, mặt trăng nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không. Ánh trăng
trong chảy khắp cành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường trắng xoá.
Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ, lấp lánh như thuỷ tinh.
Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng như ánh nước.
(Theo Thạch Lam)
a. Bài văn tả cảnh gì? (Bài văn tả cảnh trăng lên).
b. Khi mới lên và khi lên cao, trăng được tả như thế nào?
(- Khi mới lên: Mặt trăng tròn, to và đỏ, từ từ lên ở chân trời, sau rặng tre đen của làng
xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc mảnh dần, rồi đứt hẳn.
- Khi lên cao: Mặt trăng nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không. Ánh trăng trong chảy khắp
cành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường trắng xoá.)
c. Tìm hình ảnh so sánh trong bài văn và nêu tác dụng của những hình ảnh đó.
(Hình ảnh so sánh:
- Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ, lấp lánh như thuỷ tinh.
- Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng như ánh nước.
=> Tác dụng: Miêu tả vẻ đẹp của cây cối.)
2. Bài đọc “Tiếng gà trưa” trang 20 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
TIẾNG GÀ TRƯA
(Trích)
Trên đường hành quân xa
Tiếng gà trưa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Tiếng gà ai nhảy ổ:
Đêm cháu về nằm mơ
“Cục... cục tác cục ta”
Giấc ngủ hồng sắc trứng.
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Cháu chiến đấu hôm nay
Nghe gọi về tuổi thơ.
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi cũng vì bà
Vi tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
(Xuân Quỳnh)
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng.
a. Âm thanh tiếng gà trưa trong khổ thơ đầu đem đến cho anh chiến sĩ những cảm xúc gì?
(Âm thanh tiếng gà trưa trong khổ thơ đầu đêm đến cho anh chiến sĩ những cảm xúc xao
động, bớt mệt mỏi và nhớ về tuổi thơ.)
b. Tìm trong khổ thơ 2 và 3 các chi tiết, hình ảnh nói về những kỉ niệm của thời thơ ấu
mà tiếng gà trưa gợi lại. (Các chi tiết, hình ảnh nói về những kỉ niệm của thời thơ ấu mà
tiếng gà trưa gợi lại:
- Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng.
- Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng.)
c. Theo em, vì sao tiếng gà lại có ý nghĩa đối với anh chiến sĩ? (Tiếng gà trưa có ý nghĩa
đối với anh chiến sĩ vì tiếng gà trưa gắn liền tuổi thơ đẹp đẽ, gắn liền với hình ảnh người
bà thân yêu.)
3. Bài đọc “Ban mai” trang 42 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
BAN MAI
Tôi chạy ra bờ sông, chỗ thả mấy con ngựa. Cỏ linh lăng ướt đẫm lành lạnh quất
tanh tách vào đôi chân trần, đâm đau nhói vào hai bàn chân nứt nẻ nhưng tôi vẫn cảm
thấy thích thú.
Tôi vừa chạy vừa quan sát mọi diễn biến xung quanh. Mặt trời vươn mình nhô lên
sau dãy núi, cây hướng dương mọc hoang trên bờ kênh vươn về phía mặt trời. Đám cúc
thỉ xa đầu trắng hau háu xúm xít vây lấy nó, nhưng nó không chịu thua nó thè ra những
chiếc lưỡi vàng, đón lấy những tia nắng ban mai, cho bầy quả nang chặt cứng hạt uống no
ánh sáng. Kia là lối qua kênh, mặt đất nát nhừ vì xe cộ qua lại nhiều, nước rỉ qua những
vệt bánh xe. Kia là đám cây bạc hà thơm thơm mọc cao ngang tầm thắt lưng, nom như
một hòn đảo nhỏ màu tím nhạt. Tôi chạy trên mảnh đất quê hương, trên đầu tôi chim én
thi nhau...
KIỂM TRA ĐỌC HIỂU,
KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT - GIỮA HỌC KÌ I LỚP 5
Năm học: 2024 – 2025
---------- ---------N
À
M
Mạch kiến thức, kĩ năng
Số câu,
câu số,
số điểm
Mức 1:
Nhận
biết
1. Đọc hiểu văn bản
a. Đọc hiểu văn bản văn học
* Đọc hiểu nội dung: Nhận biết được
những chi tiết tiêu biểu và nội dung chính
của văn bản. Hiểu được nội dung hàm ẩn Số câu
4
dễ nhận biết của văn bản. Chỉ ra được mối
liên hệ giữa các chi tiết. Biết tóm tắt văn
bản. Hiểu chủ đề của văn bản.
* Đọc hiểu hình thức: Nhận biết được văn
bản viết theo tưởng tượng và văn bản viết
về người thật, việc thật. Nhận biết được
thời gian, địa điểm và tác dụng của chúng
trong câu chuyện. Hiểu từ ngữ, hình ảnh,
biện pháp so sánh, nhân hoá trong văn bản. Câu số 1, 2, 3, 4
* Liên hệ, so sánh, kết nối: Biết nhận xét
về thời gian, địa điểm; hình dáng, tính
cách nhân vật qua hình ảnh trong truyện
tranh hoặc phim hoạt hình. Tìm được một
cách kết thúc khác cho câu chuyện. Nêu
những điều học được từ câu chuyện, bài
thơ, màn kịch; lựa chọn điều tâm đắc nhất
và giải thích vì sao.
b. Đọc hiểu văn bản thông tin
* Đọc hiểu nội dung: Nhận biết được
những chi tiết tiêu biểu và các thông tin
chính của văn bản. Dựa vào nhan đề và
các đề mục lớn, xác định được đề tài,
thông tin chính của văn bản. Nhận biết
được mối liên hệ giữa các chi tiết. Biết
Số điểm
2
tóm tắt văn bản.
* Đọc hiểu hình thức: Nhận biết được
mục đích và đặc điểm của văn bản giải
thích về một hiện tượng tự nhiên; văn bản
giới thiệu sách hoặc phim; văn bản quảng
cáo, văn bản chương trình hoạt động.
Nhận biết được bố cục (phần đầu, phần
giữa (chính), phần cuối) và các yếu tố
Mức 2:
Kết nối
Mức 3:
Vận
dụng
2
1
5, 6
7
2
1
Tổng
7
câu
5
điểm
(nhan đề, đoạn văn, câu chủ đề) của một
văn bản thông tin đơn giản. Nhận biết
được cách triển khai ý tưởng và thông tin
trong văn bản theo trật tự thời gian hoặc
theo tầm quan trọng. Nhận biết được vai
trò của hình ảnh, kí hiệu hoặc số liệu trong
việc thể hiện thông tin chính của văn bản
(văn bản in hoặc văn bản điện tử).
* Liên hệ, so sánh, kết nối: Nêu được
những thay đổi trong hiểu biết, tình cảm,
cách ứng xử của bản thân sau khi đọc văn
bản.
2. Kiến thức tiếng Việt:
- Nắm được quy tắc viết tên người, tên địa
lí nước ngoài; một số trường hợp viết hoa
danh từ chung để thể hiện sự tôn trọng đặc Số câu
biệt.
- Hiểu nghĩa và sử dụng được một số từ
ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ, từ Hán Việt
thông dụng) thuộc các chủ điểm đã học.
- Hiểu được đặc điểm và chức năng của
danh từ, động từ, tính từ. Nhận biết được
đại từ (đặc điểm và chức năng của đại từ
Câu số
thay thế, đại từ nghi vấn, đại từ xưng hô).
- Nhận biết và xác định được từ đồng
nghĩa (đặc điểm và tác dụng), từ đa nghĩa
(nghĩa của từ đa nghĩa trong văn bản). Đặt
câu được với từ đồng nghĩa và từ đa nghĩa.
- Sử dụng đúng danh từ, động từ, tính từ,
đại từ, từ đồng nghĩa, từ đa nghĩa trong
từng lời nói và câu văn cụ thể.
Số điểm
- Sử dụng được các dấu câu đã học.
- Nhận biết và bước đầu cảm nhận được
cái hay của những câu văn có sử dụng biện
pháp so sánh, nhân hóa; biết dùng biện
pháp so sánh, nhân hóa để viết được câu
văn hay.
2
1
1
8, 9
10
11
1
1
1
3
điểm
Số câu
6
3
2
11
câu
Số điểm
3
3
2
8
điểm
Tổng
4
câu
MA TRẬN NỘI DUNG KIỂM TRA ĐỌC HIỂU, KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
GIỮA HỌC KÌ I LỚP 5
Năm học: 2024 - 2025
---------- ----------
STT
1
2
Mạch kiến thức,
kĩ năng
Số câu,
câu số,
số điểm
Số câu
Đọc hiểu văn bản
Câu số
Số điểm
Số câu
Kiến thức tiếng Việt Câu số
Số điểm
Tổng
Số câu
Số điểm
Các mức độ năng lực
Mức 1:
Mức 2:
Mức 3:
Nhận biết
Kết nối Vận dụng
TN
T TN TL TN TL
L
4
2
1
1, 2, 3, 4
5, 6
7
2
2
1
2
1
1
8, 9
10
11
1
1
1
6
3
2
3
3
2
Tổng
7 câu
5 điểm
4 câu
3 điểm
11 câu
8 điểm
TRƯỜNG TH&THCS MINH KHAI
---------- ----------
Họ và tên:
…………………………………...
Lớp:
………………………………………....
Thứ ………….., ngày…… tháng ….. năm
2024.
BÀI KIỂM TRA ĐỊNH KÌ GIỮA HỌC KÌ
I
Môn: Tiếng Việt - Lớp 5
Năm học: 2024 – 2025
(Thời gian làm bài: 90 phút)
Điểm
Nhận xét của giáo viên
Đọc:……………….
Viết:……………….
Chung:…………..
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm)
1. Kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói. (2 điểm)
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt. (8 điểm) - (35 phút)
Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi:
TRIỀN ĐÊ TUỔI THƠ
Tuổi thơ tôi với con đê sông Hồng gắn liền như hình với bóng, tựa hai người bạn
thân thiết suốt ngày quấn quýt bên nhau. Từ lúc chập chững biết đi, mẹ đã dắt tôi men
theo bờ cỏ chân đê. Con đê thân thuộc đã nâng bước, dìu dắt và tôi luyện cho những bước
chân của tôi ngày một chắc chắn để tự tin lớn lên, tự tin bước vào đời. Chẳng riêng gì tôi,
mà hầu hết những đứa nhỏ sinh ra ở trong làng đều coi con đê là bạn. Chúng cũng nô đùa,
chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan trên đê mỗi khi bố mẹ vắng nhà ra đồng, ra bãi làm việc.
Tuổi học trò, cứ sáng cắp sách tới trường, chiều về cả hội lại lùa tất cả trâu, bò lên đê cho
chúng gặm cỏ và tha hồ vui chơi đợi khi hoàng hôn xuống trở về làng. Những đêm trăng
thanh gió mát lên đê trải chiếu nằm đếm sao trời mới tuyệt và thú làm sao. Tôi nhớ nhất
là những đêm Trung thu, người lớn trong làng tổ chức bày cỗ cho thiếu nhi trên mặt đê rất
vui và không khí của lễ hội trẻ em kéo dài tưởng như bất tận...
Năm tháng qua đi, những lối mòn chạy xéo ngoằn ngoèo từ chân lên tới mặt đê đã
in dấu biết bao bàn chân của các thế hệ sớm hôm đi, về. Đời người ai cũng có nhiều đổi
thay qua thời gian, song con đê vẫn gần như nguyên vẹn, vẫn sừng sững chở che bao bọc
lấy dân làng tôi cũng như cả một vùng rộng lớn. Những trận lũ lớn đỏ ngầu phù sa hung
dữ, con đê lại gồng mình lên để không chỉ bảo vệ cho tính mạng con người, gia súc mà
còn bảo vệ cả mùa màng ...
... Xa quê bao năm trời, mùa lũ này tôi mới trở lại quê hương, trở lại làng quê đã
sinh ra và nuôi tôi lớn khôn. Con đê vẫn đấy, màu xanh của cỏ mượt mà vẫn đấy. Tôi tần
ngần dạo gót trên chiều dài của con đê chạy suốt từ điếm canh đê này tới điếm canh đê
kia và mường tượng nhớ về những kỉ niệm của một thời xa xăm ...
(Theo Nguyễn Hoàng Đại)
* Khoanh vào chữ cái trước câu trả lời đúng hoặc làm theo yêu cầu dưới đây:
Câu 1 (0,5 điểm). Hình ảnh nào ở làng quê gắn bó thân thiết với tác giả “như hình
với bóng”?
A. Trường học
B. Con đê
C. Đêm trăng
D. Con sông
Câu 2 (0,5 điểm). Từ lúc chập chững biết đi, tác giả được mẹ đã dắt men theo bờ cỏ
ở đâu?
A. Công viên
B. Ngoài ruộng
C. Mặt đê
D. Chân đê
Câu 3 (0,5 điểm). Nối từng từ ngữ ở cột bên trái với từ ngữ ở cột bên phải để phù
hợp với nội dung của bài văn:
a, Con đê thân thuộc
mà hầu hết những đứa nhỏ sinh ra ở trong làng đều
coi con đê là bạn. (1)
đã nâng bước, dìu dắt và tôi luyện cho những bước
b, Chẳng riêng gì tôi,
chân của tôi ngày một chắc chắn để tự tin lớn lên, tự
tin bước vào đời. (2)
Câu 4 (0,5 điểm). Dựa vào bài đọc, xác định các điều dưới đây đúng hay sai?
Khoanh tròn vào Đúng hoặc Sai:
Thông tin
Trả lời
a, Tuổi học trò, cứ sáng cắp sách tới trường, chiều về cả hội lại lùa
tất cả trâu, bò lên đê cho chúng gặm cỏ và tha hồ chơi trò chơi thả
Đúng / Sai
diều.
b, Năm tháng qua đi, những lối mòn chạy xéo ngoằn ngoèo từ chân
lên tới mặt đê đã in dấu biết bao bàn chân của các thế hệ sớm hôm
Đúng / Sai
đi, về.
Câu 5 (1 điểm). Vì sao các bạn nhỏ coi “con đê” là “bạn”?
Câu 6 (1 điểm). Tại sao tác giả cho rằng con đê “chở che, bao bọc lấy dân làng tôi
cũng như cả một vùng rộng lớn”?
Câu 7 (1 điểm). Bài văn trên muốn nói với em điều gì?
Câu 8 (0,5 điểm). Cho các từ: “tuổi thơ, uốn lượn, ngoằn ngoèo, tôi”. Tính từ là:
A. tuổi thơ
B. uốn lượn
C. ngoằn ngoèo
D. tôi
Câu 9 (0,5 điểm). Từ “chúng” trong câu văn: “Chúng cũng nô đùa, chơi trò đuổi bắt,
chơi ô ăn quan trên đê mỗi khi bố mẹ vắng nhà ra đồng, ra bãi làm việc.” chỉ những
ai?
A. Trẻ em trong làng
B. Những người lớn
C. Tác giả bài văn
D. Con đê sông Hồng
Câu 10 (1 điểm). Viết 2 từ đồng nghĩa với từ “trẻ em”. Đặt 1 câu với một trong hai từ
đồng nghĩa em vừa tìm được.
Câu 11 (1 điểm). Từ “chân” trong từ “chân đê” được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa
chuyển? Đặt 1 câu với từ “chân” được dùng với nghĩa gốc.
II. KIỂM TRA VIẾT (10 điểm)
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết bài văn kể chuyện sáng tạo câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ” mà em đã được
học.
Đề 2: Viết bài văn tả một cảnh sông, hồ, ao, biển ở quê hương em hoặc ở nơi khác
mà em biết.
Bài làm
NÀ
M
HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ, CHO ĐIỂM
BÀI KIỂM TRA MÔN TIẾNG VIỆT GIỮA HỌC KÌ I
Lớp 5 - Năm học: 2024 – 2025
---------- ----------
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm)
1. Kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói. (2 điểm)
* Nội dung kiểm tra:
+ Học sinh đọc một đoạn văn, bài thơ do giáo viên lựa chọn và chuẩn bị trước, ghi rõ
tên bài, đoạn đọc vào phiếu cho từng học sinh bốc thăm rồi đọc thành tiếng.
+ HS trả lời 1 câu hỏi về nội dung đoạn đọc do giáo viên nêu ra.
* Thời gian kiểm tra: Giáo viên kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói đối
với từng học sinh trong khi kiểm tra phần Đọc – hiểu.
* Cách đánh giá, cho điểm:
Cách đánh giá
Điểm
1) Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng các văn bản truyện, bài thơ, bài văn miêu
tả, ... ; tốc độ đọc đạt yêu cầu (tốc độ đọc khoảng 90 - 100 tiếng/ phút).
0,5 điểm
2) - Đọc đúng tiếng, từ (không đọc sai quá 5 tiếng).
0,5 điểm
- Đọc diễn cảm (giọng đọc có biểu cảm) (nếu có)
3) Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa.
0,5 điểm
4) Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn/bài thơ đọc.
0,5 điểm
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt. (8 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm). Khoanh vào B.
Câu 2 (0,5 điểm). Khoanh vào D.
Câu 3 (0,5 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,25 điểm.
Nối a, - (2) ; b, - (1)
Câu 4 (0,5 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,25 điểm.
a. Sai.
b. Đúng.
Câu 5 (1 điểm). Các bạn nhỏ coi “con đê” là “bạn” bởi vì: Chính trên con đê này, các
bạn nhỏ đã nô đùa, chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan, chăn trâu bò, trải chiếu nằm đếm
sao trời, được người lớn trong làng tổ chức bày cỗ Trung thu.
Câu 6 (1 điểm). Tác giả cho rằng con đê “chở che, bao bọc lấy dân làng tôi cũng như
cả một vùng rộng lớn” là vì: Trong những trận lũ lớn đỏ ngầu phù sa hung dữ, con đê lại
gồng mình lên để không chỉ bảo vệ cho tính mạng con người, gia súc mà còn bảo vệ cả
mùa màng.
Câu 7 (1 điểm). Bài văn trên tả con đê và kể về những kỉ niệm gắn bó với con đê, gắn bó
với quê hương.
Câu 8 (0,5 điểm). Khoanh vào C.
Câu 9 (0,5 điểm). Khoanh vào A.
Câu 10 (1 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm.
* Từ đồng nghĩa với từ “trẻ em” là: trẻ con, trẻ thơ, con trẻ, con nhỏ, thiếu nhi, nhi
đồng, thiếu niên, con nít, nhóc con, ranh con, nhãi ranh, ...
* Đặt 1 câu với một trong hai từ đồng nghĩa em vừa tìm được.
Chẳng hạn:
+ Ông bà ngoại em rất quý trẻ con.
+ Trẻ con cần được yêu thương và chăm sóc.
+ Bác Hồ rất yêu quý thiếu niên, nhi đồng.
+ Thiếu nhi Việt Nam rất kính trọng Bác Hồ.
Câu 11 (1 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm.
* Từ “chân” trong từ “chân đê” được dùng với nghĩa chuyển.
* Đặt 1 câu với từ “chân” được dùng với nghĩa gốc.
Chẳng hạn:
+ Mẹ em bị đau chân.
+ Chú gà trống nhà em có đôi chân rất to.
II. KIỂM TRA VIẾT (10 điểm)
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết bài văn kể chuyện sáng tạo câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ” mà em đã được
học.
Đề 2: Viết bài văn tả một cảnh sông, hồ, ao, biển ở quê hương em hoặc ở nơi khác
mà em biết.
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
STT
Tiêu chí đánh giá
Điểm
1
Bố cục, nội dung
5 điểm
2
Kĩ năng (Cách dùng từ, đặt câu, cách sắp xếp ý, liên kết ý,…)
3 điểm
3
Hình thức trình bày, chính tả, chữ viết
2 điểm
Cụ thể bài viết được đánh giá theo các tiêu chí sau:
Các mức độ năng lực
STT
Tiêu
Mức 1:
Mức 2:
Mức 3:
chí/điểm
Nhận biết
Kết nối
Vận dụng
(3 điểm)
(4 điểm)
(5 điểm)
- Bố cục chưa thật - Bố cục mạch lạc - Bố cục mạch lạc,
mạch lạc (Nội dung (Nội dung thể hiện rõ chặt chẽ (Nội dung thể
chưa thể hiện rõ 3 3 phần: Mở bài, Thân hiện rõ 3 phần: Mở
phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài. Mở bài, bài, Thân bài, Kết bài,
1 Bố
cục, bài, Kết bài; hoặc Kết bài đáp ứng đúng trong đó Mở bài, Kết
nội dung thiếu Kết bài hoặc yêu cầu cơ bản của bài tạo được ấn tượng
(5 điểm)
viết Mở bài, Kết bài kiểu bài văn kể (có sự sáng tạo.
sơ sài, chưa đúng chuyện hoặc tả phong
yêu cầu.
cảnh; ...).
- Nội dung bài đáp - Nội dung đáp ứng - Nội dung phong phủ,
ứng yêu cầu tối đúng yêu cầu, đàm có những ý thể hiện
thiếu, ý còn sơ sài.
bảo các ý cần thiết.
suy nghĩ riêng, sáng
tạo.
Kĩ năng - Còn mắc 4-5 lỗi và - Còn mắc 2 – 3 lỗi Không mắc lỗi về kĩ
(Cách
kĩ năng (VD: lỗi và kĩ năng (VD: lỗi năng hoặc chỉ mắc một
dùng
từ, dùng từ, viết câu, dùng từ, viết câu, sắp chút lỗi nhỏ về dùng từ
2 đặt
câu, sắp xếp ý, liên kết ý, xếp ý, liên kết ý, ...). hoặc viết câu nhưng có
cách sắp ...).
sáng tạo trong việc lựa
xếp ý, liên
chọn từ ngữ, sử dụng
kết ý,…) (3
kiểu câu hoặc sắp xếp
điểm)
ý, liên kết ý, ...)
3
Hình thức
trình bày,
chính tả,
chữ viết (2
điểm)
- Còn mắc 4-5 lỗi - Còn mắc 2-3 lỗi - Bài làm không mắc
trong bài làm. (VD: trong bài làm. (VD: lỗi (chữ viết đúng
không trình bày rõ không trình bày rõ chính tả, trình bày bài
các phần theo bố các phần theo bố cục, sạch sẽ, rõ ràng.
cục, còn có chữ viết còn có chữ viết chưa
chưa đúng (thiếu, đúng (thiếu, thừa nét,
thừa nét, độ cao, độ độ cao, độ rộng,
rộng, khoảng cách khoảng cách các con
các con chữ, ...), chữ, ...), còn mắc lỗi
còn mắc lỗi chính chính tả, ...).
tả, ...).
Hướng dẫn chấm các đề như sau:
Đề 1:
- Thể loại bài: Văn kể chuyện (Kể chuyện sáng tạo).
- Nội dung: Học sinh viết bài văn kể chuyện sáng tạo theo đúng yêu cầu đề bài theo các
cách sau:
* Thêm chi tiết tả bối cảnh (không gian, thời gian);
* Thêm chi tiết tả ngoại hình, hành động của nhân vật;
* Thêm (hoặc thay đổi) chi tiết kể tình huống, sự việc;
* Thêm nhân vật vào câu chuyện;
* Thêm lời thoại cho nhân vật;
* Thay đổi cách kết thúc câu chuyện: thêm đoạn kết; thay đổi đoạn kết;…
+ Học sinh biết viết bài văn kể chuyện sáng tạo theo trình tự phù hợp, bố cục đoạn văn
hợp lý, có liên kết ý cân đối, chặt chẽ.
+ Học sinh biết dùng từ ngữ thích hợp (chính xác, thể hiện tình cảm), viết câu ngắn gọn,
giúp người đọc dễ hình dung.
- Hình thức: Bài viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
Cụ thể bài viết đủ 3 phần như sau:
1) Mở bài: Giới thiệu tên câu chuyện và tác giả câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ”:
- Câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ” SGK Tiếng Việt 5 tập 1 Bộ sách Kết nối tri thức với
cuộc sống.
- Tác giả Lê Khắc Hoan.
2) Thân bài: Kể lại câu chuyện “Ngôi sao sân cỏ” với những chi tiết sáng tạo.
- Việt là cậu bé đá bóng giỏi, được bạn bè trong khu phố công nhận là “Cầu thủ Xuất
sắc”. Việt có dịp ra mắt “giới hâm mộ bóng đá trường nhà" trong trận đấu với lớp 5C
sáng nay.
- Trận đấu gay cấn từ những phút đầu tiên. Mạnh lăn xả cướp bóng rồi chuyền cho Việt
dần xuống vòng cấm địa. Hậu vệ lớp C xổ lên chặn. Mạnh và Chiến đã lên kịp. Nhưng
Việt vẫn cố hất bóng qua hậu vệ lớp C vì không muốn nhường ai cơ hội ghi bàn. Chậm
rồi, thủ môn đã lao lên bắt bóng. Cả sân vỡ oà vì tiếc.
- Sốt ruột lắm nhưng đến giữa hiệp Việt mới ghi bàn. Tiếng vỗ tay dội lên, Việt sung
sướng chạy như một ngôi sao sản cỏ. Từ lúc đó, lớp C kèm Việt như hình với bóng. Việt
dắt bóng một quãng là mất, lại chẳng chuyền cho ai, lớp C được thể tấn công và ghi liền
hai bàn.
- Giữa hai hiệp, các bạn lớp Việt hội ý và trách Việt.
- Việt dỗi không đá, bỏ ra khỏi sân, ngồi khuất một góc xem hiệp hai.
- Các bạn lớp Việt càng đá càng hay. Bộ ba Long, Chiến, Mạnh chuyền bóng rất ăn ý.
Hậu vệ lớp C không sao chặn nổi đường bóng ấy. Rồi Mạnh ung dung đội đầu, tạt bóng
gọn vào lưới.
- Cả sân vỗ tay vang dội. Bàn thắng đẹp quá! Nếu Việt là một trong ba đứa, bàn thắng có
đẹp thế không? Việt bần thần nghĩ, không biết Vĩnh chạy đến: “Vào đi Việt, Chiến đau
chân.”. Việt ngẩn ra giây lát rồi tức tốc chạy theo Vĩnh, cứ như vừa đón được một đường
bóng đồng đội chuyền đến cho Việt.
3) Kết bài: Nêu cảm xúc, suy nghĩ về câu chuyện, rút ra bài học cho bản thân.
- Khó có thể thành công và đi tới đích khi chỉ có một mình bản thân tự lực cánh sinh.
Trong mọi tình huống, cần biết đoàn kết, phối hợp ăn ý, dựa vào sức mạnh tập thể, cùng
nhau làm nên kì tích, vượt qua chông gai để chiến thắng.
Đề 2:
- Thể loại: Văn miêu tả (Tả phong cảnh).
- Nội dung: Học sinh viết bài văn tả phong cảnh theo đúng yêu cầu đề bài.
+ Học sinh biết viết bài văn tả phong cảnh sông, hồ, ao, biển, ... theo trình tự phù hợp, bố
cục đoạn văn hợp lý, có liên kết ý cân đối, chặt chẽ.
+ Học sinh biết dùng từ ngữ thích hợp (chính xác, thể hiện tình cảm), viết câu ngắn gọn,
bước đầu biết sử dụng các biện pháp tu từ, dùng các từ gợi tả, giúp người đọc dễ hình
dung.
- Hình thức: Bài viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
Cụ thể bài viết có đủ 3 phần như sau:
1) Mở bài: Giới thiệu khái quát về cảnh sông, hồ, ao, biển ở quê hương em hoặc ở nơi
khác mà em biết.
2) Thân bài: Tả lần lượt từng phần hoặc từng vẻ đẹp của cảnh cảnh sông, hồ, ao, biển
ở quê hương em hoặc ở nơi khác mà em biết.
3) Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ về cảnh.
* Chẳng hạn: Các ý trong bài văn tả con sông Hồng quê em:
1. Mở bài: Giới thiệu về sông Hồng.
- Dải đất hình chữ S mềm mại được bồi tụ lên từ biết bao dòng sông đẹp.
- Vùng núi Tây Bắc có con sông Đà “tuôn dài tuôn dài như áng tóc trữ tình”, đất Huế
mộng mơ có con sông Hương với điệu hò điệu hát nao nức lòng người.
- Vùng đồng bằng Bắc Bộ lại đặc trưng với con sông Hồng “Hồng Hà mênh mông vẫn
chảy đều nối tiếp”.
2. Thân bài
a. Nguồn gốc và vị trí của sông Hồng
+ Không biết sông Hồng có từ bao giờ. Từ thuở tấm bé, em đã được nghe danh con sông
này qua lời kể của ông bà, qua lời ru của mẹ.
+ Qua tìm hiểu, sông Hồng chảy qua phía đông thủ đô Hà Nội trước khi đổ ra biển Đông
ở cửa Ba Lạt. Con sông trước nhà em chính là một nhánh của sông Hồng.
b. Tả vẻ đẹp của dòng sông
+ Quang cảnh sông Hồng đẹp như tạc ra từ bức tranh thủy mặc.
+ Nhìn từ xa dòng sông như dải lụa khổng lồ mềm mại uốn quanh làng xóm.
+ “Sông Hồng đỏ nặng phù sa” nên nước sông không trong xanh như những con sông
khác mà phớt một màu hồng đào. Đó cũng chính là nguồn gốc của tên sông.
+ Mặt sông rộng như chiếc gương khổng lồ phản chiếu hình ảnh của cả đất trời. Bầu trời
xanh, mây trắng, nắng vàng, tất cả thu gọn trong ống kính của nhiếp ảnh gia sông Hồng.
+ Nổi trên bề mặt sông là những đợt sóng nước nối tiếp nhau xô nhẹ vào bờ. Sóng lắn
tăn như đang đung đưa theo nhịp nhạc của thiên nhiên.
+ Vào buổi sáng sớm, nắng đậu trên mặt nước, gió khẽ thổi làm mơn man gợn sóng, tất
cả tạo cho sông Hồng vẻ quyến rũ lạ kì.
+ Trưa hè nắng gắt, dòng nước sông lóng lánh như có ai thả những viên ngọc xuống mặt
nước.
+ Về đêm, sông nhuộm màu đen thẳm rì rào khúc hát ru của đất trời.
c. Hoạt động diễn ra trên sông
+ Hai bên bờ là bãi bồi phù sa, là vùng đất thích hợp cho nông dân tận dụng trồng cây
rau, cây ngô để cung cấp cho cuộc sống sinh hoạt.
+ Sông là nơi giao thương buôn bán với nhiều thuyền đánh cá giăng buồm thả lưới, là
nơi kinh doanh với nhiều thuyền khai thác cát đi lại ngày đêm.
+ Vào buổi chiều hè lộng gió, trẻ em thường được người lớn dẫn ra tắm sông. Vì thế, đối
với nhiều người, sông Hồng là một phần kỉ niệm tuổi thơ.
+ Vào ngày cuối tuần lại có đội tình nguyện đi dọc bờ sông nhặt rác còn sót lại, môi
trường sông biển vì thế mà sạch đẹp hơn nhiều.
3. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về sông Hồng.
- Sông Hồng không chỉ làm nên vẻ đẹp cho đất nước ta mà còn là một biểu tượng văn hóa
từ ngàn đời.
- Dù sau này có đi đến những chân trời mới, hình ảnh con sông Hồng quê hương vẫn sẽ
in đậm trong trí nhớ em.
Điểm chung của môn Tiếng Việt = (Điểm Đọc + Điểm Viết) : 2
(Làm tròn 0,5 thành 1)
Lưu ý: Chỉ làm tròn một lần. Ví dụ: Điểm thực tế của 2 bài kiểm tra Đọc và Viết
là 19, quy về thang điểm 10 là: 9,5 (làm tròn số thành 10).
PHIẾU KIỂM TRA ĐỌC THÀNH TIẾNG KẾT HỢP KIỂM TRA NGHE NÓI
---------- ----------
1. Bài đọc “Trăng lên” trang 17 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
TRĂNG LÊN
Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ, từ từ lên ở chân trời, sau
rặng tre đen của làng xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc mảnh dần, rồi đứt hẳn.
Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng những hương thơm
ngát.
Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, thật là sáng trăng hẳn: trời bây giờ
trong vắt, thăm thẳm và cao, mặt trăng nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không. Ánh trăng
trong chảy khắp cành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường trắng xoá.
Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ, lấp lánh như thuỷ tinh.
Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng như ánh nước.
(Theo Thạch Lam)
2. Bài đọc “Tiếng gà trưa” trang 20 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng
tạo”.
TIẾNG GÀ TRƯA
(Trích)
Trên đường hành quân xa
Tiếng gà trưa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Tiếng gà ai nhảy ổ:
Đêm cháu về nằm mơ
“Cục... cục tác cục ta”
Giấc ngủ hồng sắc trứng.
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Cháu chiến đấu hôm nay
Nghe gọi về tuổi thơ.
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Tiếng gà trưa
Bà ơi cũng vì bà
Ổ rơm hồng những trứng
Vi tiếng gà cục tác
Này con gà mái mơ
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Khắp mình hoa đốm trắng
(Xuân Quỳnh)
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng.
3. Bài đọc “Ban mai” trang 42 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
BAN MAI
Tôi chạy ra bờ sông, chỗ thả mấy con ngựa. Cỏ linh lăng ướt đẫm lành lạnh quất
tanh tách vào đôi chân trần, đâm đau nhói vào hai bàn chân nứt nẻ nhưng tôi vẫn cảm
thấy thích thú.
Tôi vừa chạy vừa quan sát mọi diễn biến xung quanh. Mặt trời vươn mình nhô lên
sau dãy núi, cây hướng dương mọc hoang trên bờ kênh vươn về phía mặt trời. Đám cúc
thỉ xa đầu trắng hau háu xúm xít vây lấy nó, nhưng nó không chịu thua nó thè ra những
chiếc lưỡi vàng, đón lấy những tia nắng ban mai, cho bầy quả nang chặt cứng hạt uống no
ánh sáng. Kia là lối qua kênh, mặt đất nát nhừ vì xe cộ qua lại nhiều, nước rỉ qua những
vệt bánh xe. Kia là đám cây bạc hà thơm thơm mọc cao ngang tầm thắt lưng, nom như
một hòn đảo nhỏ màu tím nhạt. Tôi chạy trên mảnh đất quê hương, trên đầu tôi chim én
thi nhau lao vun vút.
Chao ôi, nếu tôi có màu vẽ thì tuyệt quá, tôi sẽ vẽ cả vầng mặt trời buổi sáng này, cả
dãy núi xanh điểm những vệt trắng kia, cả cánh đồng cỏ linh lăng long lanh sương sớm
này, cả cây hướng dương mọc hoang bên bờ kênh kia!
(Theo Chin-ghit Ai-ma-tốp, Phạm Mạnh Hùng dịch)
4. Bài “Chuyện một khu vườn nhỏ” (SGK lớp 5 trang 102 - CTGDPT 2006).
CHUYỆN MỘT KHU VƯỜN NHỎ
Bé Thu rất khoái ra ban công ngồi với ông nội, nghe ông rủ rỉ giảng về từng loài
cây.
Cây quỳnh lá dày, giữ được nước, chẳng phải tưới nhiều. Cây hoa ti gôn thích leo
trèo, cứ thò những cái râu ra, theo gió mà ngọ nguậy như những cái vòi voi bé xíu. Cây
hoa giấy mọc ngay bên cạnh bị nó quấn chặt một cành. Những chiếc vòi quấn chắc nhiều
vòng, rồi một chùm ti gôn hé nở. Cây đa Ấn Độ thì liên tục bật ra những búp đỏ hồng
nhọn hoắt. Khi đủ lớn, nó xòe ra thành chiếc lá nâu rõ to, ở trong lại hiện ra cái búp đa
mới nhọn hoắt, đỏ hồng... Có điều Thu chưa vui: Cái Hằng ở nhà dưới cứ bảo ban công
nhà Thu không phải là vườn!
Một sớm chủ nhật đầu xuân, khi mặt trời vừa hé mây nhìn xuống, Thu phát hiện ra
chú chim lông xanh biếc sà xuống cành lựu. Nó săm soi, mổ mổ mấy con sâu rồi thản
nhiên rỉa cánh, hót lên mấy tiếng líu ríu. Thu vội xuống nhà Hằng mời bạn lên xem để
biết rằng: Ban công có chim về đậu tức là vườn rồi! Chẳng ngờ, khi hai bạn lên đến nơi
thì chú chim đã bay đi. Sợ Hằng không tin, Thu cầu viện ông:
- Ông ơi, đúng là có chú chim vừa đỗ ở đây bắt sâu và hót nữa ông nhỉ!
Ông nó hiền hậu quay lại xoa đầu cả hai đứa:
- Ừ, đúng rồi! Đất lành chim đậu, có gì lạ đâu hả cháu?
(Theo VÂN LONG)
5. Bài “Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà” (SGK lớp 5 trang 69 - CTGDPT 2006).
TIẾNG ĐÀN BA-LA-LAI-CA TRÊN SÔNG ĐÀ
(Trích)
Trên sông Đà
Một đêm trăng chơi vơi
Tôi đã nghe tiếng đàn ba-la-lai-ca như thế
Một cô gái Nga mái tóc màu hạt dẻ
Ngón tay đan trên những sợi dây đồng.
Lúc ấy,
Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông
Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ
Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ
Chỉ còn tiếng đàn ngân nga
Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà.
Ngày mai,
Chiếc đập lớn nối liền hai khối núi
Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên
Sông Đà gửi ánh sáng đi muôn ngả
Từ công trình thuỷ điện lớn đầu tiên.
QUANG HUY
6. Bài đọc “Cao Bằng” trang 129 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Cánh Diều”.
CAO BẰNG
(Trích)
Cao Bằng, rõ thật cao!
Còn núi non Cao Bằng
Bạn ơi có thấy đâu
Rồi dần bằng bằng xuống
Đo làm sao cho hết
Cao Bằng xa xa ấy
Đầu tiên là mận ngọt
Như lòng yêu đất nước.
Vì ta mà giữ lấy
Đón môi ta dịu dàng.
Sâu sắc người Cao Bằng.
Một dải dài biên cương.
(Trúc Thông)
Rồi đến chị rất thương
Đã dâng đến tận cùng
Rồi đến em rất thảo
Hết tầm cao Tổ quốc
Ông lành như hạt gạo
Lại lặng thầm trong suốt
Bà hiền như suối trong.
Như suối khuất rì rào.
7. Bài “Đất Cà Mau” (SGK lớp 5 trang 89-90 Chương trình GDPT 2006).
ĐẤT CÀ MAU
Cà Mau là đất mưa dông. Vào tháng ba, tháng tư, sớm nắng chiều mưa. Đang nắng
đó, mưa đổ ngay xuống đó. Mưa hối hả, không kịp chạy vào nhà. Mưa rất phũ, một hồi
rồi tạnh hẳn. Trong mưa thường nổi cơn dông.
Cà Mau đất xốp. Mùa nắng, đất nẻ chân chim, nền nhà cũng rạn nứt. Trên cái đất
phập phều và lắm gió, dông như thế, cây đứng lẻ khó mà chống nổi với những cơn thịnh
nộ của trời. Cây bình bát, cây bần cũng phải quây quần thành chòm, thành rặng; rễ phải
dài, phải cắm sâu vào trong lòng đất. Nhiều nhất là đước. Đước mọc san sát đến tận mũi
đất cuối cùng, thẳng đuột như hằng hà sa số cây dù xanh cắm trên bãi. Nhà cửa dựng dọc
theo những bờ kênh, dưới những hàng đước xanh rì. Nhà nọ sang nhà kia phải leo trên
cầu bằng thân cây đước...
Sống trên cái đất mà ngày xưa, dưới sông "sấu cản mũi thuyền", trên cạn "hổ rình
xem hát" này, con người phải thông minh và giàu nghị lực. Họ thích kể, thích nghe những
huyền thoại về người vật hổ, bắt cá sấu, bắt rắn hổ mây. Tinh thần thượng võ của cha ông
được nung đúc và lưu truyền để khai phá gìn giữ mũi đất tận cùng này của Tổ quốc.
(Theo Mai Văn Tạo)
BÀI KIỂM TRA ĐỌC THÀNH TIẾNG
KẾT HỢP TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA GIÁO VIÊN
---------- ----------
1. Bài đọc “Trăng lên” trang 17 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
TRĂNG LÊN
Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ, từ từ lên ở chân trời, sau
rặng tre đen của làng xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc mảnh dần, rồi đứt hẳn.
Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng những hương thơm
ngát.
Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, thật là sáng trăng hẳn: trời bây giờ
trong vắt, thăm thẳm và cao, mặt trăng nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không. Ánh trăng
trong chảy khắp cành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường trắng xoá.
Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ, lấp lánh như thuỷ tinh.
Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng như ánh nước.
(Theo Thạch Lam)
a. Bài văn tả cảnh gì? (Bài văn tả cảnh trăng lên).
b. Khi mới lên và khi lên cao, trăng được tả như thế nào?
(- Khi mới lên: Mặt trăng tròn, to và đỏ, từ từ lên ở chân trời, sau rặng tre đen của làng
xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc mảnh dần, rồi đứt hẳn.
- Khi lên cao: Mặt trăng nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không. Ánh trăng trong chảy khắp
cành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường trắng xoá.)
c. Tìm hình ảnh so sánh trong bài văn và nêu tác dụng của những hình ảnh đó.
(Hình ảnh so sánh:
- Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ, lấp lánh như thuỷ tinh.
- Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng như ánh nước.
=> Tác dụng: Miêu tả vẻ đẹp của cây cối.)
2. Bài đọc “Tiếng gà trưa” trang 20 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
TIẾNG GÀ TRƯA
(Trích)
Trên đường hành quân xa
Tiếng gà trưa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Tiếng gà ai nhảy ổ:
Đêm cháu về nằm mơ
“Cục... cục tác cục ta”
Giấc ngủ hồng sắc trứng.
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Cháu chiến đấu hôm nay
Nghe gọi về tuổi thơ.
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi cũng vì bà
Vi tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
(Xuân Quỳnh)
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng.
a. Âm thanh tiếng gà trưa trong khổ thơ đầu đem đến cho anh chiến sĩ những cảm xúc gì?
(Âm thanh tiếng gà trưa trong khổ thơ đầu đêm đến cho anh chiến sĩ những cảm xúc xao
động, bớt mệt mỏi và nhớ về tuổi thơ.)
b. Tìm trong khổ thơ 2 và 3 các chi tiết, hình ảnh nói về những kỉ niệm của thời thơ ấu
mà tiếng gà trưa gợi lại. (Các chi tiết, hình ảnh nói về những kỉ niệm của thời thơ ấu mà
tiếng gà trưa gợi lại:
- Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng.
- Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng.)
c. Theo em, vì sao tiếng gà lại có ý nghĩa đối với anh chiến sĩ? (Tiếng gà trưa có ý nghĩa
đối với anh chiến sĩ vì tiếng gà trưa gắn liền tuổi thơ đẹp đẽ, gắn liền với hình ảnh người
bà thân yêu.)
3. Bài đọc “Ban mai” trang 42 SGK Tiếng Việt 5 Bộ sách “Chân trời sáng tạo”.
BAN MAI
Tôi chạy ra bờ sông, chỗ thả mấy con ngựa. Cỏ linh lăng ướt đẫm lành lạnh quất
tanh tách vào đôi chân trần, đâm đau nhói vào hai bàn chân nứt nẻ nhưng tôi vẫn cảm
thấy thích thú.
Tôi vừa chạy vừa quan sát mọi diễn biến xung quanh. Mặt trời vươn mình nhô lên
sau dãy núi, cây hướng dương mọc hoang trên bờ kênh vươn về phía mặt trời. Đám cúc
thỉ xa đầu trắng hau háu xúm xít vây lấy nó, nhưng nó không chịu thua nó thè ra những
chiếc lưỡi vàng, đón lấy những tia nắng ban mai, cho bầy quả nang chặt cứng hạt uống no
ánh sáng. Kia là lối qua kênh, mặt đất nát nhừ vì xe cộ qua lại nhiều, nước rỉ qua những
vệt bánh xe. Kia là đám cây bạc hà thơm thơm mọc cao ngang tầm thắt lưng, nom như
một hòn đảo nhỏ màu tím nhạt. Tôi chạy trên mảnh đất quê hương, trên đầu tôi chim én
thi nhau...
 









Các ý kiến mới nhất