ĐỀ ÔN GIỮA KÌ 1.KHỐI 10.2024

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Lệ Tuyến
Ngày gửi: 11h:01' 29-10-2024
Dung lượng: 78.1 KB
Số lượt tải: 166
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Lệ Tuyến
Ngày gửi: 11h:01' 29-10-2024
Dung lượng: 78.1 KB
Số lượt tải: 166
Số lượt thích:
0 người
SỞ GD&ĐT ……..
TRƯỜNG THPT …………
------------------ĐỀ RÈN LUYỆN
(Đề gồm có ... trang)
KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2024 – Đề 1
Môn: NGỮ VĂN - Lớp 10
Ngày kiểm tra: …/…./20
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
I. Phần Đọc (6,0 điểm)
Đọc văn bản và thực hiện những yêu cầu sau
Nữ thần nghề mộc
Sau khi đã sáng tạo ra loài người, lại thấy loài người phải sống chui rúc trong các hang
đá tối tăm lạnh lẽo. Ngọc Hoàng thương tình bèn sai một vị thần bày cho loài người cách làm
nhà cửa và các vật dụng sinh hoạt. Vị thần này xuống trần dưới dạng một người đàn bà đã già
với mái tóc trắng như cước và vẻ mặt bí hiểm. Bà già sống lẩn lộn trong dân gian, cùng làm
cùng ăn với mọi người và ngày càng có uy tín với nhân dân. Bấy giờ loài người chỉ mới biết
đẵn gỗ hoặc tre nứa làm chỗ tránh mưa, tránh nắng tạm thời. Bà già đã tìm cách hướng dẫn
loài người làm cưa, để cưa gỗ cho nhanh chóng hơn. Nhưng cách truyền nghề của bà cụ độc
đáo. Không bao giờ bà nói thẳng cách thức làm mà chỉ hướng dẫn một cách gián tiếp. Chẳng
hạn, bà đưa mọi người ra bờ suối, bên những bụi dứa dại đầy gai. Bà bứt lấy một chiếc lá và
cứa vào chân của từng người. Ai tinh ý thì nghĩ ra cách làm chiếc cưa, tương tự như chiếc lá
dứa.
Trong số những người đi theo bà, có hai anh em nhà nọ tên là Lỗ Ban, Lỗ Bốc tinh ý hơn
cả. Họ suy nghĩ cách hướng dẫn của bà và rèn được một lưỡi cưa. Có lưỡi cưa, mọi người xẻ
gỗ nhanh hơn. Từ đó anh em Lỗ Ban trở thành những người thầy đầu tiên của nghề mộc.
Nữ thần còn dạy cho mọi người cách làm nhà, làm thuyền bằng gỗ. Cách làm nhà được
bà hướng dẫn như sau: bà đứng thẳng trước mọi người, hai tay chống vào hai bên hông, để từ
đó Lỗ Ban, Lỗ Bốc suy diễn. Lỗ Ban cho rằng nữ thần dạy làm kiểu nhà có một cột chính ở
giữa, giao múi với hai đầu kèo, còn Lỗ Bốc thì lại cho rằng có thể làm kiểu hai cột đâm lên vào
khoảng giữa hai kèo, v.v... Hai anh em tranh luận và mỗi người làm một kiểu, kiểu nhà nào
trông cũng chắc chắn, vững chãi. Dân chung quanh từ hai kiểu nhổ nào biến chế được rất
nhiều kiểu khác nữa.
Nữ thần lại còn dạy cho dân cách làm thuyền để đi trên mặt nước. Bà nằm ngửa, hơi co
người, để cho tay và chân gấp lại. Anh em Lỗ Ban, Lỗ Bốc bắt chước kiểu đó nghĩ ngay với việc
lấy một khúc gỗ, đục rỗng lòng và đặt những mái chèo ngắn ở hai đầu.
Sau này họ còn tìm cách trang trí những hình chạm trổ chim, hoa, cá... vào những công
trình bằng lỗ của mình cho thêm đẹp. Nghề làm mộc phát triển từ đấy nhưng nguồn gốc ban sơ
chính là nhờ nữ thần nghề mộc truyền cho từ thuở xưa.
(Nguồn: https://lazi.vn/truyen/d/3416/nu-than-nghe-moc)
Câu 1. Dấu hiệu của câu chuyện thần thoại
Câu 2. Sự kiện chính của câu chuyện
Câu 3 : Những nhân vật chính của câu chuyện?
Câu 4. Văn bản đã giải thích sự ra đời nghề mộc, theo anh/chị sự giải thích đó có còn phù hợp
với con người hiện đại không?
Câu 5. Qua câu chuyện, người xưa muốn gửi gắm thông điệp gì?
II. Phần Viết (4,0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về sức mạnh niềm tin của giới
trẻ hiện nay.
Phần
I
Câu
1
2
Nội dung
ĐỌC HIỂU
- Không gian trong câu chuyện là trần gian nơi con
người sống, với cảnh vật tự nhiên như hang đá, bờ suối,
bụi dứa.
-Thời gian thuộc thời kỳ sơ khai, khi loài người chưa
biết làm nhà hay chế tạo dụng cụ, mang tính phiếm chỉ
và không cụ thể, đặc trưng của các câu chuyện thần
thoại.- -Các nhân vật có năng lực siêu nhiên, chẳng hạn
như nữ thần xuống trần và truyền dạy nghề cho loài
người.
- Câu chuyện giải thích nguồn gốc một nghề nghiệp và
sự phát triển của loài người trong việc sử dụng kỹ thuật
làm nhà, làm thuyền, và chế tác gỗ.
Sự kiện chính của câu chuyện:
Điểm
6,0
1,0
1,0
-Ngọc Hoàng thấy loài người phải sống trong điều kiện
khổ cực nên sai một vị thần dưới hình dáng bà già xuống
dạy loài người làm nhà cửa, đồ dùng.
-Bà già (nữ thần nghề mộc) không truyền dạy trực tiếp
mà hướng dẫn gián tiếp qua các hành động.
-Hai anh em Lỗ Ban và Lỗ Bốc là những người thông
minh nhất, đã học được cách làm cưa, làm nhà, làm
thuyền.
-Nghề mộc được phát triển và từ đó truyền lại cho nhiều
thế hệ sau.
3
Những nhân vật chính của câu chuyện:
1,5
-Nữ thần nghề mộc (bà già) là nhân vật quan trọng,
truyền dạy nghề mộc cho loài người.
-Hai anh em Lỗ Ban và Lỗ Bốc là người tiếp thu và phát
triển nghề mộc, trở thành những người thầy đầu tiên của
nghề này.
4
Văn bản đã giải thích sự ra đời nghề mộc, theo anh/chị
sự giải thích đó có còn phù hợp với con người hiện đại
không?:
1,5
5
II
VIẾT
Sự giải thích này chủ yếu mang tính chất thần thoại,
không phù hợp với những kiến thức khoa học và kỹ
thuật hiện đại. Tuy nhiên, nó vẫn có giá trị văn hóa, giúp
ta hiểu về cách suy nghĩ của người xưa và cách họ giải
thích những hiện tượng tự nhiên, sự ra đời của nghề
nghiệp qua những câu chuyện huyền thoại. Với người
hiện đại, câu chuyện này còn mang giá trị lịch sử và văn
hóa hơn là một lời giải thích khoa học.
Qua câu chuyện, người xưa muốn gửi gắm thông điệp :
- Tôn trọng sự sáng tạo
- Ca ngợi trí tuệ con người
- Học tập sự kiên trì , nỗ lực phấn đấu của con
người
- Ca ngợi sự khéo léo, tinh tế của con người,…….
1,0
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ
quan điểm về sức mạnh niềm tin của giới trẻ hiện nay.
4,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận xã hội
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn
đề, Kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Về sức mạnh
niềm tin của giới trẻ hiện nay.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm.
- Học sinh xác định không đúng vấn đề nghị luận: 0,0
điểm.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận
dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ
và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:
A. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề nghị luận về vai trò quan trọng
của niềm tin trong cuộc sống, đặc biệt là đối với thế hệ
trẻ.
- Dẫn dắt trích dẫn đề: Khẳng định sức mạnh của
niềm tin là một yếu tố quan trọng giúp thanh niên vượt
qua khó khăn và đạt được thành công.
- Nội dung chính (Luận đề )
Minh họa:
Trong hành trình xây dựng cuộc sống và phát triển bản
thân, niềm tin luôn đóng một vai trò vô cùng quan
trọng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ - những người đang
0,25
0,25
2,5
đứng trước nhiều thử thách và cơ hội trong xã hội hiện
đại. Thật vậy, sức mạnh niềm tin của thanh niên không
chỉ giúp thanh niên giữ vững ý chí mà còn là nguồn
động lực mạnh mẽ để vượt qua khó khăn, kiên trì theo
đuổi ước mơ và lý tưởng. Như một kim chỉ nam, sức
mạnh của niềm tin định hướng cho những quyết định
và hành động của thanh niên, dẫn dắt thanh niên đến với
thành công trong cuộc sống.
B.Thân bài
* Giải thích: Sức mạnh của niềm tin của giới trẻ hiện
nay là khả năng thúc đẩy động lực, sự sáng tạo và tinh
thần vượt qua thử thách. Khi giới trẻ tin vào bản thân,
vào giá trị của những mục tiêu, họ sẽ mạnh mẽ và kiên
trì hơn trong việc theo đuổi ước mơ và lý tưởng. Niềm
tin giúp họ không ngại thất bại, luôn tìm kiếm cơ hội
học hỏi và phát triển.
* Phân tích các biểu hiện và dẫn chứng
- Luận điểm 1:Tầm quan trọng của Sức mạnh của
niềm tin của giới trẻ hiện nay vô cùng cần thiết
+ Vì nó là động lực thúc đẩy sự phát triển bản thân
và đổi mới xã hội. Niềm tin giúp giới trẻ kiên trì vượt
qua khó khăn, không sợ thất bại và luôn sáng tạo trong
học tập và công việc.. Sức mạnh này không chỉ thúc
đẩy cá nhân phát triển mà còn góp phần tạo nên
những thay đổi lớn trong cộng đồng.
+ Bên cạnh đó, niềm tin vào công nghệ và khả năng
thay đổi thế giới cũng là cơ sở để họ đóng góp tích cực
vào các lĩnh vực như môi trường, giáo dục, và công
bằng xã hội
+ Minh chứng cho sức mạnh của niềm tin là Võ
Nguyên Giáp. Ông là một trong những vị tướng kiệt
xuất của Việt Nam, người đã lãnh đạo quân đội đánh bại
thực dân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy
năm châu. Niềm tin mãnh liệt vào độc lập dân tộc và
khả năng chiến thắng của quân đội Việt Nam đã giúp Võ
Nguyên Giáp đưa ra những quyết định táo bạo, dẫn đến
chiến thắng vang dội, thay đổi cục diện lịch sử.
- Luận điểm 2 : Sức mạnh của niềm tin ở thanh niên
mang lại lợi ích to lớn có ý nghĩa trong cuộc sống
+ Sức mạnh niềm tin giúp thanh niên vượt qua khó
khăn, thử thách: Khi đối diện với những khó khăn
trong học tập, công việc, hay cuộc sống, niềm tin giúp
thanh niên có động lực để không bỏ cuộc. Họ tin rằng
bằng nỗ lực, họ sẽ đạt được mục tiêu, từ đó trở nên kiên
cường và mạnh mẽ hơn.
+ Sức mạnh niềm tin phát huy tiềm năng cá nhân:
Nhờ có niềm tin, thanh niên tự tin hơn vào năng lực bản
thân, dám mơ ước và thực hiện những điều lớn lao. Họ
tin vào giá trị và khả năng sáng tạo của mình, từ đó
không ngừng học hỏi, phát triển.
+Sức mạnh niềm tin tạo động lực đóng góp cho xã
hội: Thanh niên có niềm tin vào tương lai tốt đẹp sẽ dễ
dàng tham gia vào các hoạt động cộng đồng, tình
nguyện, hay đóng góp tích cực trong các lĩnh vực như
giáo dục, môi trường, và công nghệ. Niềm tin này giúp
họ trở thành những công dân có trách nhiệm, đem lại sự
phát triển cho xã hội.
Dẫn chứng: Nguyễn Ngọc Ký, người dù bị liệt cả hai
tay từ nhỏ nhưng nhờ niềm tin vào bản thân, anh đã học
viết bằng chân và trở thành thầy giáo. Câu chuyện của
anh là một minh chứng rõ ràng về việc niềm tin giúp con
người vượt qua nghịch cảnh và phát huy tiềm năng cá
nhân.
*Bàn luận Phê phán : Bên cạnh những người có sức
mạnh niềm tin sống và làm việc có ích lên thì vẫn còn
một số người có
+ Niềm tin mù quáng hoặc sai lệch có thể gây hậu
quả tiêu cực: Không phải lúc nào niềm tin cũng mang
lại lợi ích, đặc biệt khi niềm tin đặt vào những điều
không có cơ sở hoặc thiếu thực tế. Thanh niên có thể bị
lôi kéo vào các tư tưởng sai lầm, phong trào tiêu cực
hoặc hành động theo niềm tin mù quáng, dẫn đến hậu
quả nguy hiểm cho bản thân và xã hội. Ví dụ, tham gia
các tổ chức cực đoan, hoặc theo đuổi những trào lưu tiêu
cực mà không suy xét kỹ lưỡng.
+Sự cố chấp với niềm tin cá nhân: Đôi khi, quá tin vào
quan điểm cá nhân mà không lắng nghe hoặc chấp nhận
ý kiến khác có thể khiến thanh niên trở nên bảo thủ, hạn
chế sự phát triển của bản thân. Sự cố chấp này khiến họ
khó hợp tác với người khác, không sẵn lòng thay đổi khi
cần thiết, và gây ra xung đột trong cộng đồng hoặc tổ
chức.
Dẫn chứng: Niềm tin mù quáng vào cờ bạc, lô đề:
Nhiều thanh niên có niềm tin sai lầm rằng họ sẽ may
mắn trúng thưởng mà không cần làm việc, dẫn đến hậu
quả là nghiện ngập, nợ nần, thậm chí phá sản cuộc đời.
* Bài học nhận thức và hành động
-Bài học nhận thức và hành động cho sức mạnh của
niềm tin:
+ Nhận thức hiểu đúng giá trị của niềm tin: Niềm tin
có thể mang lại sức mạnh vượt qua khó khăn, tạo động
lực cho những nỗ lực và sáng tạo. Tuy nhiên, niềm tin
cần được xây dựng dựa trên cơ sở thực tế, kiến thức và
sự hiểu biết đúng đắn, tránh rơi vào mù quáng hoặc ảo
tưởng.
+Nhận ra giới hạn của niềm tin: Niềm tin dù mạnh mẽ
đến đâu cũng không thể thay thế cho sự chuẩn bị kỹ
càng và khả năng thực tế. Cần biết kết hợp giữa niềm tin
và nỗ lực, trau dồi kỹ năng, tri thức để đạt được thành
công.
-Hành động:
+Xây dựng niềm tin dựa trên mục tiêu rõ ràng và kế
hoạch hành động: Thanh niên cần đặt ra những mục
tiêu cụ thể, thực tế và lập kế hoạch rõ ràng để đạt được
chúng. Niềm tin sẽ là động lực để kiên trì thực hiện kế
hoạch đó, ngay cả khi gặp khó khăn.
+Kết hợp niềm tin với sự nỗ lực, học hỏi không
ngừng: Niềm tin cần được củng cố bởi kiến thức và kinh
nghiệm. Do đó, hành động cụ thể là luôn học hỏi, cải
thiện bản thân, không ngừng rèn luyện các kỹ năng cần
thiết để biến niềm tin thành hiện thực.
+Cân nhắc và điều chỉnh niềm tin khi cần thiết:
Trong quá trình phát triển, thanh niên cần biết đánh giá
lại niềm tin của mình, lắng nghe ý kiến của người khác
và linh hoạt thay đổi khi cần, để tránh cố chấp vào
những niềm tin sai lầm hay không còn phù hợp.
C.Kết bài :khái quát vấn đề - Rút ra nhận thức – Bài
học
-Sức mạnh của niềm tin là một tài sản quý giá, nhưng
để phát huy tối đa giá trị, nó cần đi kèm với hiểu biết,
nỗ lực và sự linh hoạt.
-Hành động có trách nhiệm dựa trên niềm tin vững chắc
sẽ giúp thanh niên không chỉ vượt qua khó khăn mà còn
tạo nên thành công và đóng góp tích cực cho xã hội.
d.Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm:
Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ
pháp.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách
0,5
0,5
diễn đạt mới mẻ.
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – ĐỀ 2
Môn thi: Ngữ văn 10
Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
I.
ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
NỮ THẦN MẶT TRỜI VÀ MẶT TRĂNG
Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là hai chị em, con của Trời. Công việc của Trời giao phó
hàng ngày phải thay phiên nhau đi xem xét thế gian. Bọn khiêng kiệu gồm có hai lớp già và trẻ
thay phiên nhau. Gặp phải bọn khiêng kiệu già đi chậm, cô Mặt Trời phải ngồi lâu, ngày ở dưới
trần hóa dài ra. Đến lượt bọn trẻ khiêng kiệu đi mau, cô Mặt Trời được chóng công việc về sớm
thì ngày ngắn lại.
Cô em Mặt Trăng tính tình nóng nảy không kém gì cô chị làm cho thiên hạ ở mặt đất suốt
cả ngày đã phải chịu nóng bức vì cô chị, đến đêm lại cũng phải khó chịu vì cô em. Loài người
than thở đến tai nhà Trời, bà mẹ mới lấy tro trát vào mặt cô Mặt Trăng. Từ đó, cô em đổi tính ra
hết sức dịu dàng, khác hẳn với cô chị, nên được người dưới trần ai cũng thích. Mỗi khi cô
ngoảnh mặt nhìn xuống trần là lúc đó trăng rằm, ngoảnh lưng lại là ba mươi, ngoảnh sang phải,
sang trái là trăng thượng huyền hay hạ huyền. Hôm nào trăng quầng là lúc vết tro trát mặt hiện
ra.
Người ta nghe nói rằng chồng của hai nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là một con gấu. Mỗi
lần gấu đến với vợ là sinh ra nguyệt thực hay nhật thực, lúc đó người dưới trần làm ầm ĩ lên
đánh trống, khua chiêng, gõ mõ, để cho gấu xa ra, vì gấu đi lại với vợ, che lấp Mặt Trời, Mặt
Trăng làm hại cho mùa màng.
(Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng – Truyện thần thoại Việt Nam
TheGioiCoTich.Vn)
Câu 1 Hãy chỉ ra những dấu hiệu giúp em nhận ra Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là một
truyện thần thoại?
Câu 2. Những nhân vật chính nào xuất hiện trong truyện trên?
Câu 3 . Qua nhân vật Mặt Trăng, tác giả dân gian lí giải các hiện tượng tự nhiên nào?
Câu 4. Truyện được xây dựng trên các yếu tố đặc trưng nào?
Câu 5 . Hình tượng nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng phản ánh quan niệm, nhận thức gì của
người xưa về thế giới tự nhiên?
Câu 6 . Thông điệp mà người xưa gửi gắm qua câu chuyện này là gì?
II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận về lòng khoan dung.
Phần Câu
Nội dung
I
ĐỌC HIỂU
1
- Thời gian: Tuần hoàn, gắn với sự thay đổi của ngày, đêm,
trăng tròn, trăng khuyết, nhật thực và nguyệt thực.
- Không gian: Thiên giới (nơi các nữ thần sống) và trần gian
(nơi con người chịu ảnh hưởng từ các hiện tượng tự nhiên).
- Nhân vật: Nữ thần Mặt Trời (cai quản ngày), Nữ thần Mặt
Trăng (cai quản đêm), Trời, bà mẹ và con gấu (gây ra nhật
thực, nguyệt thực).
-Cốt truyện : Câu chuyện kể về hai chị em Nữ thần Mặt Trời
và Nữ thần Mặt Trăng, con của Trời, thay phiên nhau cai
quản ngày và đêm. Nữ thần Mặt Trời khiến ngày dài ngắn
khác nhau tùy vào tốc độ của người khiêng kiệu, còn Nữ thần
Mặt Trăng ban đầu nóng nảy nhưng sau khi bị trát tro lên
mặt, cô trở nên dịu dàng hơn. Chồng của hai nữ thần là gấu,
mỗi lần gấu đến thăm gây ra hiện tượng nhật thực và nguyệt
thực.
2
Những nhân vật chính xuất hiện trong truyện trên:
-Nữ thần Mặt Trời
-Nữ thần Mặt Trăng
-Trời (người giao nhiệm vụ cho hai nữ thần)
-Bà mẹ của các nữ thần
-Con gấu (chồng của hai nữ thần)
Điểm
6,0
0,75
0,75
3
Qua nhân vật Mặt Trăng, tác giả dân gian lí giải các hiện
tượng tự nhiên sau:
-Hiện tượng trăng rằm, ba mươi, trăng thượng huyền và hạ
huyền.
-Hiện tượng trăng quầng xuất hiện khi vết tro trên mặt Mặt
Trăng hiện ra.
-Hiện tượng nguyệt thực, được giải thích là do gấu che lấp
Mặt Trăng.
1,5
4
Truyện được xây dựng trên các yếu tố đặc trưng:
-Nhân vật thần thánh: Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là các
vị thần.
-Yếu tố kỳ ảo: Các sự kiện và hành động vượt qua giới hạn
của đời thường, như việc tro trát lên mặt Mặt Trăng thay đổi
tính cách của cô, hoặc gấu đến với vợ gây ra nguyệt thực,
nhật thực.
-Giải thích hiện tượng tự nhiên: Câu chuyện lý giải cách các
1,5
hiện tượng tự nhiên xảy ra theo quan niệm dân gian.
5
Hình tượng nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng phản ánh quan
niệm, nhận thức của người xưa về thế giới tự nhiên:
-Người xưa coi các hiện tượng tự nhiên như mặt trời, mặt
trăng, nhật thực, nguyệt thực là do các vị thần cai quản, và
các hiện tượng đó là kết quả của hành động của các thần.
-Họ cho rằng sự vận hành của thời gian, ngày đêm, và các
hiện tượng trên trời ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và
mùa màng của con người, và cần phải có các biện pháp để
"can thiệp" như đánh trống khua chiêng khi xảy ra nhật thực
hay nguyệt thực.
6
II
1,0
- Sự tôn trọng đối với các hiện tượng tự nhiên
- Tầm quan trọng của sự hòa hợp giữa con người và thế giới
xung quanh.
VIẾT Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan
điểm về lòng khoan dung
0,5
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận xã hội
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề,
Kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: lòng khoan dung
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm.
- Học sinh xác định không đúng vấn đề nghị luận: 0,0 điểm.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng
tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn
chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:
A. MB
- Giới thiệu vấn đề: Trong cuộc sống hiện đại, con người
ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức trong các mối
quan hệ cá nhân và xã hội. Để giữ gìn hòa bình và duy trì sự
gắn kết, lòng khoan dung trở thành một giá trị đạo đức không
thể thiếu. Khoan dung không chỉ giúp giải quyết xung đột mà
còn giúp xây dựng một môi trường sống chan hòa, yêu
thương.
- Dẫn dắt trích dẫn đề nghị luận: Như Mahatma Gandhi
từng nói: “Khoan dung là điều cần thiết nhất trong cuộc
sống, bởi không ai là hoàn hảo cả”. Điều này nhắc nhở
chúng ta rằng khoan dung là một đức tính cao đẹp, không chỉ
giúp người khác mà còn giúp chính bản thân mỗi người
0,25
4,0
0,25
2,5
trưởng thành và phát triển.
- Nêu nội dung đề (ý chính của đề): Từ câu nói trên, chúng
ta thấy rõ tầm quan trọng của lòng khoan dung trong đời sống
xã hội. Vậy, lợi ích của khoan dung là gì, và làm thế nào để
thực hành khoan dung trong cuộc sống hàng ngày? Đây là
những vấn đề mà chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận và làm rõ
trong bài viết này.
*Minh họa : Trong cuộc sống hiện đại, con người ngày càng
phải đối mặt với nhiều thách thức trong các mối quan hệ cá
nhân và xã hội. Để giữ gìn hòa bình và duy trì sự gắn kết,
lòng khoan dung trở thành một giá trị đạo đức không thể
thiếu. Như Mahatma Gandhi từng nói: “Khoan dung là điều
cần thiết nhất trong cuộc sống, bởi không ai là hoàn hảo cả.
Từ đó, chúng ta nhận thấy rõ rằng lòng khoan dung có vai trò
quan trọng trong việc xây dựng một xã hội đoàn kết và bền
vững.
B. TB
- Giải thích:Lòng khoan dung là gì? Lòng khoan dung là sự
sẵn sàng chấp nhận, tha thứ và tôn trọng những khác biệt, sai
sót hoặc hành vi của người khác mà không phán xét hay chỉ
trích gay gắt. Người có lòng khoan dung thường không dễ
dàng nổi giận hay khó chịu trước những sai lầm nhỏ nhặt, mà
thay vào đó, họ có sự cảm thông và hiểu biết sâu sắc đối với
những tình huống, hoàn cảnh và lỗi lầm của người khác.
- Phân tích và chúng minh
-Luận điểm 1: Tầm quan trọng của lòng khoan dung cần
+Khoan dung giúp xây dựng môi trường xã hội hòa bình,
giúp tạo dựng sự đoàn kết và hòa hợp giữa các cá nhân trong
xã hội, giảm bớt căng thẳng, xung đột và tranh chấp.
+Khoan dung là nền tảng của tình yêu thương và sự tha
thứ. Thật vậy, khoan dung không chỉ là chấp nhận những lỗi
lầm nhỏ nhặt mà còn là sự tha thứ cho những sai lầm của
người khác. Điều này góp phần xây dựng và củng cố các mối
quan hệ giữa cá nhân, gia đình và cộng đồng, giúp duy trì sự
gắn bó và yêu thương.
+ Khoan dung giúp vượt qua những bất đồng và hiểu lầm.
Trong cuộc sống, bất đồng và hiểu lầm là không thể tránh
khỏi. Tuy nhiên, nếu có lòng khoan dung, mọi người sẽ biết
lắng nghe và giải quyết các bất đồng một cách hòa bình, thay
vì biến chúng thành mâu thuẫn không thể cứu vãn.
+Dẫn chứng : Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc
Việt Nam, luôn thể hiện lòng khoan dung đối với cả kẻ thù và
đồng bào. Một ví dụ tiêu biểu là sau khi Cách mạng Tháng
Tám thành công, Hồ Chí Minh đã khoan dung với những
người từng cộng tác với thực dân Pháp và chính quyền tay sai
bằng cách không trả thù họ. Thay vào đó, Người kêu gọi toàn
dân đoàn kết, tha thứ những lỗi lầm trong quá khứ để xây
dựng một đất nước độc lập và hòa bình.
-Luận điểm 2: Lợi ích của khoan dung rất đáng quan tâm
+ Lý lẽ: Khoan dung không chỉ mang lại lợi ích cho xã hội
mà còn giúp cá nhân trưởng thành và phát triển về mặt tinh
thần. Khi một người biết khoan dung, họ học được cách tha
thứ và buông bỏ thù hận, điều này giúp giải tỏa căng thẳng và
nâng cao chất lượng cuộc sống. Khoan dung cũng giúp tăng
cường sự tự nhận thức và đồng cảm, từ đó cải thiện mối quan
hệ giữa con người với nhau.
+Lý lẽ: Khi một người biết khoan dung và tha thứ, họ sẽ bớt
đi những gánh nặng tinh thần, giảm căng thẳng và lo âu. Sự
oán giận và thù hận thường gây ra căng thẳng, ảnh hưởng tiêu
cực đến sức khỏe tinh thần và thể chất của con người. Khoan
dung giúp con người giữ được sự bình an trong tâm hồn và
cải thiện sức khỏe tổng thể.
+Dẫn chứng : Nhờ vào lòng khoan dung, Vua Trần Nhân
Tông đã giúp củng cố sự đoàn kết của dân tộc sau chiến
tranh, duy trì hòa bình với các quốc gia láng giềng, và để lại
di sản tinh thần lớn lao cho văn hóa Việt Nam. Chính nhờ sự
khoan dung này mà thời kỳ nhà Trần được xem là một trong
những giai đoạn thịnh vượng và ổn định nhất trong lịch sử
Đại Việt.
- Phê phán – bàn luận : Bên cạnh những người sống có lòng
khoan dung thì vẫn còn một số người cố chấp ích kỉ, cố ý
chia rẽ gây mất đoàn kết , có những người thiếu lòng khoan
dung dẫn đến cuộc sống bị cô lập. Cho nên, lòng khoan dung
là một đức tính cần thiết để xây dựng một xã hội hòa bình,
đoàn kết và phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn một số người thiếu
sự khoan dung, dẫn đến nhiều vấn đề như xung đột cá nhân,
cô lập xã hội, và phân biệt đối xử. Điều này chứng minh rằng,
bên cạnh việc đề cao lòng khoan dung, chúng ta cũng cần có
những nỗ lực giáo dục và khuyến khích thực hành khoan
dung trong cuộc sống hàng ngày để hướng tới một xã hội tốt
đẹp hơn.
- Bài học nhận thức và hành động
+ Lòng khoan dung là một giá trị đạo đức quan trọng, giúp
con người biết chấp nhận, tha thứ và tôn trọng những khác
biệt hoặc lỗi lầm của người khác. Khoan dung không chỉ
giúp giải quyết xung đột, duy trì sự hòa bình, mà còn thúc
đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội. Nó là nền tảng để xây
dựng các mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết trong gia đình, cộng
đồng và môi trường làm việc. Những tấm gương lịch sử như
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vua Trần Nhân Tông hay Nelson
Mandela đã chứng minh rằng lòng khoan dung không chỉ
mang lại hòa bình mà còn giúp tạo nên những bước phát
triển vượt bậc cho đất nước và xã hội.
+ Rèn luyện lòng khoan dung: Đối với bản thân, tôi cần
nhận thức rằng khoan dung không phải là sự yếu đuối mà là
sự mạnh mẽ, khi biết tha thứ và cảm thông với người khác.
+ Lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác: Trong
cuộc sống hàng ngày, việc lắng nghe và tôn trọng ý kiến,
quan điểm khác biệt của người khác là một phần của sự
khoan dung.
+Học cách tha thứ: Tha thứ không có nghĩa là quên đi hay
bỏ qua những sai lầm, mà là học cách chấp nhận và để lại
những điều tiêu cực phía sau, tạo cơ hội cho mọi người sửa
chữa lỗi lầm.
C. Kết luận
- Khái quát lại vấn đề lòng khoan dung: Nhấn mạnh lại lợi
ích và tầm quan trọng của lòng khoan dung trong cuộc sống.
- Bài học nhận thức: Mỗi cá nhân cần hiểu rõ tầm quan
trọng của lòng khoan dung.
- Lời kêu gọi hành động: Kêu gọi mỗi người hãy sống khoan
dung để tạo nên một cộng đồng và xã hội tốt đẹp hơn. Hướng
đến việc xây dựng một môi trường sống hòa bình, nơi mọi
người biết tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau.
*Minh họa :
Tóm lại, lòng khoan dung không chỉ là một giá trị đạo đức
cao đẹp mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng
một xã hội hòa bình và phát triển. Từ đó, mỗi cá nhân cần
nhận thức rõ lợi ích và tầm quan trọng của lòng khoan dung.
Hãy để lòng khoan dung trở thành kim chỉ nam cho hành
động của mỗi người để mọi người cùng nhau hướng đến việc
xây dựng một môi trường sống hòa bình, nơi mỗi người đều
được tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau.
d.Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm:
Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ
pháp.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn
đạt mới mẻ.
0,5
0,5
SỞ GD-ĐT BẾN TRE
TRƯỜNG THPT
Tổ Ngữ văn
(Đề gồm 02 trang)
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I. Đề 3
Môn: Ngữ văn - Lớp: 10
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU(6,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
Thần núi Tản Viên
Xưa kia, vua Lạc Long khi chia con cùng nàng Âu Cơ, đem năm mươi trai về biển, trong
số đó có Hương Lang. Một hôm, Hương Lang dời hải quốc vào cửa biển Thần Phù (bây giờ
thuộc Nam Định), lòng những muốn tìm một nơi cao ráo thanh u, dân chúng thuần hậu mà ở.
Thần chèo thuyền từ sông Cái đến làng Long Đậu, thành Long Biên, rồi lại chèo từ sông Linh
Giang đến bến Phiên Tân thuộc huyện Phúc Lộc.
Tới đây, thần trông thấy núi Tản Viên mỹ lệ, ba tầng cao chót vót, hình như cái tán, dân ở
dưới núi tục chuộng tố phác, thần bèn từ phía Nam núi hóa phép mở một con đường thẳng như
dây đàn từ bến Phiên Tân thẳng đến Tản Viên, đường qua cánh đồng làng Vệ Đỗng và làng
Nham Toàn, lại qua cánh đồng Thạch Bạn, Vân Mộng, rồi lên mãi từng núi cao nhất để ở. Mỗi
chặng đường nghỉ ngơi như vậy, thần bèn hóa phép hiện ra lâu đài nguy nga tráng lệ.
Thần từ khi ở núi ấy, thường thường ra chơi sông Liễu Hoàng xem cá. Chỗ nào có phong
cảnh đẹp cũng đến chơi. Hễ cứ dạo gót qua thăm nơi nào lại hóa phép hiện ra đền đài nơi đó để
nghỉ ngơi. Dân làng trông thấy chỗ nào có dấu đền đài, thì lại lập đình miếu để thờ.
Lại có truyền thuyết khác kể rằng thần núi Tản Viên tuy thuộc dòng dõi vua Lạc Long
nhưng thuở lọt lòng bị bỏ rơi trong rừng, được một người tiều phu gặp đem về nuôi, đặt tên là
Kỳ Mạng. Sở dĩ thần có tên này là vì trước khi gặp cha nuôi, đứa bé mới lọt lòng đã được dê
rừng cho bú, chim chóc ấp ủ cho khỏi chết. Kỳ Mạng chóng lớn khôn, theo nghề cha nuôi ngày
ngày vác rìu vào rừng đốn củi.
Một hôm, Kỳ Mạng đốn một cây đại thụ. Cây to lớn quá, chặt từ sáng đến chiều mà vẫn
chưa hạ nổi. Bỏ dở ra về, đến sáng hôm sau trở vào rừng, Kỳ Mạng hết sức ngạc nhiên thấy
những vết chặt đã dính liền lại khắp thân cây. Kỳ Mạng xách rìu lại chặt nữa, suốt ngày ráng hết
sức không xong, đến ngày thứ hai trở lại cũng thấy cây vẫn nguyên vẹn như chưa hề bị động
tới. Không nản chí, Kỳ Mạng ra công cố chặt, quyết hạ cho kỳ được, rồi đến tối ở lại nấp gần
cây rình xem sự thể. Vào khoảng nửa đêm, Kỳ Mạng thấy một bà lão hiện ra, tay cầm gậy chỉ
vào cây, đi một vòng quanh cây, tự nhiên những vết chặt lại liền như cũ. Kỳ Mạng nhảy ra khỏi
chỗ nấp, tức giận hỏi bà lão sao lại phá công việc của mình. Bà lão nói :
– Ta là thần Thái Bạch. Ta không muốn cho cây này bị chặt vì ta vẫn nghỉ ngơi ở trên
cây.
Kỳ Mạng mới phản đối:
– Không chặt cây thì tôi lấy gì mà nuôi sống?
Bà thần đưa cho Kỳ Mạng cái gậy và dặn rằng : “Gậy này có phép cứu được bách bệnh.
Hễ ai ốm đau chỉ cầm gậy gõ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu nhân độ thế”.
Kỳ Mạng nhận gậy thần, từ đấy bỏ nghề kiếm củi, đi chữa bệnh cho người đau. Có một
hôm, đi qua sông thấy lũ trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn trên đầu có chữ vương, Kỳ Mạng
biết là rắn lạ mới cầm gậy thần gõ vào đầu con rắn thì con rắn ấy sống lại, bò xuống sông mà đi
mất.
Được vài hôm, bỗng có một người con trai, đem đồ vàng ngọc, châu báu đến nói rằng :
– Thưa ngài, tôi là Tiểu Long Hầu, con vua Long Vương bể Nam. Bữa trước tôi đi chơi
trên trần, chẳng may bị bọn trẻ con đánh chết. Nhờ có ngài mới được sống, nay mang lễ vật lên
xin được tạ ơn.
Kỳ Mạng nhất định không lấy. Tiểu Long Hầu mới cố mời xuống chơi dưới bể, đưa ra
một cái ống linh tê, để Kỳ Mạng có thể rẽ nước mà đi.
Long Vương thấy ân nhân cứu con mình xuống chơi thì mừng lắm, mở tiệc thết đãi ba
ngày, rồi đưa tặng nhiều của quý lạ, nhưng Kỳ Mạng vẫn một mực chối từ. Sau cùng Long
Vương mới biếu một quyển sách ước. Lần này Kỳ Mạng nhận sách mang về trần. Cuốn sách
ước chỉ gồm có ba tờ bằng da cá, ngoài bọc vỏ rùa. Ba trang sách, mỗi trang chứa một tính
chất : Kim, Mộc, Hỏa… chỉ thiếu một trang Thủy mà Long Vương giữ lại.
Kỳ Mạng mới bắt đầu thử xem linh nghiệm ra sao, mở sách ra đặt tay vào trang Hỏa khấn
khứa thì được nghe thấy sấm sét giữa lúc trời quang mây tạnh, rồi chỉ trong nháy mắt trên trời
vần vũ đầy mây, chớp sáng, sấm sét nổi lên rung chuyển cả bầu trời.
Kỳ Mạng mỉm cười đắc ý, đặt tay vào trang Mộc, ước ao thấy một rừng cây đi. Tức thì
những cây ở trước mặt chàng tự nhiên tiến bước như một đạo quân.
Kỳ Mạng gấp sách lại, thấy mình từ đấy uy quyền, sức mạnh không còn ai sánh kịp. Rồi
bắt đầu lang thang đó đây cứu giúp đời. Khi đã thành thần rồi, nhân một hôm qua cửa Thần
Phù, ngài mới ngược dòng sông lên núi Tản Viên, ở luôn tại đấy. Với cuốn sách ước, ngài dựng
lên những lâu đài cung điện nguy nga giữa chốn rừng núi hoang vu.
Từ đó tiếng đồn đi rằng núi Tản Viên do một vị thần phép thuật thần thông cai quản.
Thần Tản Viên còn có tên gọi là Sơn Tinh nữa.
(Thần núi Tản Viên – Truyện thần thoại Việt Nam)
Câu 1. Tên nhân vật chính trong văn bản là ? ( 0,5 đ)
Câu 2.Nhân vật Kỳ Mạng hội tụ những vẻ đẹp gì ?(0.5 đ)
Câu 3. Từ nội dung câu chuyện, có thể thấy được một đặc điểm nổi bật của thần thoại? (1.5)
Câu 4. Hãy lí giải vì sao truyện Thần núi Tản Viên có chứa yếu tố của thần thoại ? (1,5 đ)
Câu 5. “ Niềm tin thiêng liêng về một thế giới mà ở đó vạn vật đều có linh hồn” là một trong
những vẻ đẹp của thần thoại. Theo anh/chị, niềm tin ấy còn có sức hấp dẫn với con người hiện
đại không? Qua truyện Thần núi Tản Viên, người xưa bày tỏ ước mơ gì? (1.0 đ)
(1,0 đ)
PHẦN II. V...
TRƯỜNG THPT …………
------------------ĐỀ RÈN LUYỆN
(Đề gồm có ... trang)
KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2024 – Đề 1
Môn: NGỮ VĂN - Lớp 10
Ngày kiểm tra: …/…./20
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
I. Phần Đọc (6,0 điểm)
Đọc văn bản và thực hiện những yêu cầu sau
Nữ thần nghề mộc
Sau khi đã sáng tạo ra loài người, lại thấy loài người phải sống chui rúc trong các hang
đá tối tăm lạnh lẽo. Ngọc Hoàng thương tình bèn sai một vị thần bày cho loài người cách làm
nhà cửa và các vật dụng sinh hoạt. Vị thần này xuống trần dưới dạng một người đàn bà đã già
với mái tóc trắng như cước và vẻ mặt bí hiểm. Bà già sống lẩn lộn trong dân gian, cùng làm
cùng ăn với mọi người và ngày càng có uy tín với nhân dân. Bấy giờ loài người chỉ mới biết
đẵn gỗ hoặc tre nứa làm chỗ tránh mưa, tránh nắng tạm thời. Bà già đã tìm cách hướng dẫn
loài người làm cưa, để cưa gỗ cho nhanh chóng hơn. Nhưng cách truyền nghề của bà cụ độc
đáo. Không bao giờ bà nói thẳng cách thức làm mà chỉ hướng dẫn một cách gián tiếp. Chẳng
hạn, bà đưa mọi người ra bờ suối, bên những bụi dứa dại đầy gai. Bà bứt lấy một chiếc lá và
cứa vào chân của từng người. Ai tinh ý thì nghĩ ra cách làm chiếc cưa, tương tự như chiếc lá
dứa.
Trong số những người đi theo bà, có hai anh em nhà nọ tên là Lỗ Ban, Lỗ Bốc tinh ý hơn
cả. Họ suy nghĩ cách hướng dẫn của bà và rèn được một lưỡi cưa. Có lưỡi cưa, mọi người xẻ
gỗ nhanh hơn. Từ đó anh em Lỗ Ban trở thành những người thầy đầu tiên của nghề mộc.
Nữ thần còn dạy cho mọi người cách làm nhà, làm thuyền bằng gỗ. Cách làm nhà được
bà hướng dẫn như sau: bà đứng thẳng trước mọi người, hai tay chống vào hai bên hông, để từ
đó Lỗ Ban, Lỗ Bốc suy diễn. Lỗ Ban cho rằng nữ thần dạy làm kiểu nhà có một cột chính ở
giữa, giao múi với hai đầu kèo, còn Lỗ Bốc thì lại cho rằng có thể làm kiểu hai cột đâm lên vào
khoảng giữa hai kèo, v.v... Hai anh em tranh luận và mỗi người làm một kiểu, kiểu nhà nào
trông cũng chắc chắn, vững chãi. Dân chung quanh từ hai kiểu nhổ nào biến chế được rất
nhiều kiểu khác nữa.
Nữ thần lại còn dạy cho dân cách làm thuyền để đi trên mặt nước. Bà nằm ngửa, hơi co
người, để cho tay và chân gấp lại. Anh em Lỗ Ban, Lỗ Bốc bắt chước kiểu đó nghĩ ngay với việc
lấy một khúc gỗ, đục rỗng lòng và đặt những mái chèo ngắn ở hai đầu.
Sau này họ còn tìm cách trang trí những hình chạm trổ chim, hoa, cá... vào những công
trình bằng lỗ của mình cho thêm đẹp. Nghề làm mộc phát triển từ đấy nhưng nguồn gốc ban sơ
chính là nhờ nữ thần nghề mộc truyền cho từ thuở xưa.
(Nguồn: https://lazi.vn/truyen/d/3416/nu-than-nghe-moc)
Câu 1. Dấu hiệu của câu chuyện thần thoại
Câu 2. Sự kiện chính của câu chuyện
Câu 3 : Những nhân vật chính của câu chuyện?
Câu 4. Văn bản đã giải thích sự ra đời nghề mộc, theo anh/chị sự giải thích đó có còn phù hợp
với con người hiện đại không?
Câu 5. Qua câu chuyện, người xưa muốn gửi gắm thông điệp gì?
II. Phần Viết (4,0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về sức mạnh niềm tin của giới
trẻ hiện nay.
Phần
I
Câu
1
2
Nội dung
ĐỌC HIỂU
- Không gian trong câu chuyện là trần gian nơi con
người sống, với cảnh vật tự nhiên như hang đá, bờ suối,
bụi dứa.
-Thời gian thuộc thời kỳ sơ khai, khi loài người chưa
biết làm nhà hay chế tạo dụng cụ, mang tính phiếm chỉ
và không cụ thể, đặc trưng của các câu chuyện thần
thoại.- -Các nhân vật có năng lực siêu nhiên, chẳng hạn
như nữ thần xuống trần và truyền dạy nghề cho loài
người.
- Câu chuyện giải thích nguồn gốc một nghề nghiệp và
sự phát triển của loài người trong việc sử dụng kỹ thuật
làm nhà, làm thuyền, và chế tác gỗ.
Sự kiện chính của câu chuyện:
Điểm
6,0
1,0
1,0
-Ngọc Hoàng thấy loài người phải sống trong điều kiện
khổ cực nên sai một vị thần dưới hình dáng bà già xuống
dạy loài người làm nhà cửa, đồ dùng.
-Bà già (nữ thần nghề mộc) không truyền dạy trực tiếp
mà hướng dẫn gián tiếp qua các hành động.
-Hai anh em Lỗ Ban và Lỗ Bốc là những người thông
minh nhất, đã học được cách làm cưa, làm nhà, làm
thuyền.
-Nghề mộc được phát triển và từ đó truyền lại cho nhiều
thế hệ sau.
3
Những nhân vật chính của câu chuyện:
1,5
-Nữ thần nghề mộc (bà già) là nhân vật quan trọng,
truyền dạy nghề mộc cho loài người.
-Hai anh em Lỗ Ban và Lỗ Bốc là người tiếp thu và phát
triển nghề mộc, trở thành những người thầy đầu tiên của
nghề này.
4
Văn bản đã giải thích sự ra đời nghề mộc, theo anh/chị
sự giải thích đó có còn phù hợp với con người hiện đại
không?:
1,5
5
II
VIẾT
Sự giải thích này chủ yếu mang tính chất thần thoại,
không phù hợp với những kiến thức khoa học và kỹ
thuật hiện đại. Tuy nhiên, nó vẫn có giá trị văn hóa, giúp
ta hiểu về cách suy nghĩ của người xưa và cách họ giải
thích những hiện tượng tự nhiên, sự ra đời của nghề
nghiệp qua những câu chuyện huyền thoại. Với người
hiện đại, câu chuyện này còn mang giá trị lịch sử và văn
hóa hơn là một lời giải thích khoa học.
Qua câu chuyện, người xưa muốn gửi gắm thông điệp :
- Tôn trọng sự sáng tạo
- Ca ngợi trí tuệ con người
- Học tập sự kiên trì , nỗ lực phấn đấu của con
người
- Ca ngợi sự khéo léo, tinh tế của con người,…….
1,0
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ
quan điểm về sức mạnh niềm tin của giới trẻ hiện nay.
4,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận xã hội
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn
đề, Kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Về sức mạnh
niềm tin của giới trẻ hiện nay.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm.
- Học sinh xác định không đúng vấn đề nghị luận: 0,0
điểm.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận
dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ
và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:
A. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề nghị luận về vai trò quan trọng
của niềm tin trong cuộc sống, đặc biệt là đối với thế hệ
trẻ.
- Dẫn dắt trích dẫn đề: Khẳng định sức mạnh của
niềm tin là một yếu tố quan trọng giúp thanh niên vượt
qua khó khăn và đạt được thành công.
- Nội dung chính (Luận đề )
Minh họa:
Trong hành trình xây dựng cuộc sống và phát triển bản
thân, niềm tin luôn đóng một vai trò vô cùng quan
trọng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ - những người đang
0,25
0,25
2,5
đứng trước nhiều thử thách và cơ hội trong xã hội hiện
đại. Thật vậy, sức mạnh niềm tin của thanh niên không
chỉ giúp thanh niên giữ vững ý chí mà còn là nguồn
động lực mạnh mẽ để vượt qua khó khăn, kiên trì theo
đuổi ước mơ và lý tưởng. Như một kim chỉ nam, sức
mạnh của niềm tin định hướng cho những quyết định
và hành động của thanh niên, dẫn dắt thanh niên đến với
thành công trong cuộc sống.
B.Thân bài
* Giải thích: Sức mạnh của niềm tin của giới trẻ hiện
nay là khả năng thúc đẩy động lực, sự sáng tạo và tinh
thần vượt qua thử thách. Khi giới trẻ tin vào bản thân,
vào giá trị của những mục tiêu, họ sẽ mạnh mẽ và kiên
trì hơn trong việc theo đuổi ước mơ và lý tưởng. Niềm
tin giúp họ không ngại thất bại, luôn tìm kiếm cơ hội
học hỏi và phát triển.
* Phân tích các biểu hiện và dẫn chứng
- Luận điểm 1:Tầm quan trọng của Sức mạnh của
niềm tin của giới trẻ hiện nay vô cùng cần thiết
+ Vì nó là động lực thúc đẩy sự phát triển bản thân
và đổi mới xã hội. Niềm tin giúp giới trẻ kiên trì vượt
qua khó khăn, không sợ thất bại và luôn sáng tạo trong
học tập và công việc.. Sức mạnh này không chỉ thúc
đẩy cá nhân phát triển mà còn góp phần tạo nên
những thay đổi lớn trong cộng đồng.
+ Bên cạnh đó, niềm tin vào công nghệ và khả năng
thay đổi thế giới cũng là cơ sở để họ đóng góp tích cực
vào các lĩnh vực như môi trường, giáo dục, và công
bằng xã hội
+ Minh chứng cho sức mạnh của niềm tin là Võ
Nguyên Giáp. Ông là một trong những vị tướng kiệt
xuất của Việt Nam, người đã lãnh đạo quân đội đánh bại
thực dân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy
năm châu. Niềm tin mãnh liệt vào độc lập dân tộc và
khả năng chiến thắng của quân đội Việt Nam đã giúp Võ
Nguyên Giáp đưa ra những quyết định táo bạo, dẫn đến
chiến thắng vang dội, thay đổi cục diện lịch sử.
- Luận điểm 2 : Sức mạnh của niềm tin ở thanh niên
mang lại lợi ích to lớn có ý nghĩa trong cuộc sống
+ Sức mạnh niềm tin giúp thanh niên vượt qua khó
khăn, thử thách: Khi đối diện với những khó khăn
trong học tập, công việc, hay cuộc sống, niềm tin giúp
thanh niên có động lực để không bỏ cuộc. Họ tin rằng
bằng nỗ lực, họ sẽ đạt được mục tiêu, từ đó trở nên kiên
cường và mạnh mẽ hơn.
+ Sức mạnh niềm tin phát huy tiềm năng cá nhân:
Nhờ có niềm tin, thanh niên tự tin hơn vào năng lực bản
thân, dám mơ ước và thực hiện những điều lớn lao. Họ
tin vào giá trị và khả năng sáng tạo của mình, từ đó
không ngừng học hỏi, phát triển.
+Sức mạnh niềm tin tạo động lực đóng góp cho xã
hội: Thanh niên có niềm tin vào tương lai tốt đẹp sẽ dễ
dàng tham gia vào các hoạt động cộng đồng, tình
nguyện, hay đóng góp tích cực trong các lĩnh vực như
giáo dục, môi trường, và công nghệ. Niềm tin này giúp
họ trở thành những công dân có trách nhiệm, đem lại sự
phát triển cho xã hội.
Dẫn chứng: Nguyễn Ngọc Ký, người dù bị liệt cả hai
tay từ nhỏ nhưng nhờ niềm tin vào bản thân, anh đã học
viết bằng chân và trở thành thầy giáo. Câu chuyện của
anh là một minh chứng rõ ràng về việc niềm tin giúp con
người vượt qua nghịch cảnh và phát huy tiềm năng cá
nhân.
*Bàn luận Phê phán : Bên cạnh những người có sức
mạnh niềm tin sống và làm việc có ích lên thì vẫn còn
một số người có
+ Niềm tin mù quáng hoặc sai lệch có thể gây hậu
quả tiêu cực: Không phải lúc nào niềm tin cũng mang
lại lợi ích, đặc biệt khi niềm tin đặt vào những điều
không có cơ sở hoặc thiếu thực tế. Thanh niên có thể bị
lôi kéo vào các tư tưởng sai lầm, phong trào tiêu cực
hoặc hành động theo niềm tin mù quáng, dẫn đến hậu
quả nguy hiểm cho bản thân và xã hội. Ví dụ, tham gia
các tổ chức cực đoan, hoặc theo đuổi những trào lưu tiêu
cực mà không suy xét kỹ lưỡng.
+Sự cố chấp với niềm tin cá nhân: Đôi khi, quá tin vào
quan điểm cá nhân mà không lắng nghe hoặc chấp nhận
ý kiến khác có thể khiến thanh niên trở nên bảo thủ, hạn
chế sự phát triển của bản thân. Sự cố chấp này khiến họ
khó hợp tác với người khác, không sẵn lòng thay đổi khi
cần thiết, và gây ra xung đột trong cộng đồng hoặc tổ
chức.
Dẫn chứng: Niềm tin mù quáng vào cờ bạc, lô đề:
Nhiều thanh niên có niềm tin sai lầm rằng họ sẽ may
mắn trúng thưởng mà không cần làm việc, dẫn đến hậu
quả là nghiện ngập, nợ nần, thậm chí phá sản cuộc đời.
* Bài học nhận thức và hành động
-Bài học nhận thức và hành động cho sức mạnh của
niềm tin:
+ Nhận thức hiểu đúng giá trị của niềm tin: Niềm tin
có thể mang lại sức mạnh vượt qua khó khăn, tạo động
lực cho những nỗ lực và sáng tạo. Tuy nhiên, niềm tin
cần được xây dựng dựa trên cơ sở thực tế, kiến thức và
sự hiểu biết đúng đắn, tránh rơi vào mù quáng hoặc ảo
tưởng.
+Nhận ra giới hạn của niềm tin: Niềm tin dù mạnh mẽ
đến đâu cũng không thể thay thế cho sự chuẩn bị kỹ
càng và khả năng thực tế. Cần biết kết hợp giữa niềm tin
và nỗ lực, trau dồi kỹ năng, tri thức để đạt được thành
công.
-Hành động:
+Xây dựng niềm tin dựa trên mục tiêu rõ ràng và kế
hoạch hành động: Thanh niên cần đặt ra những mục
tiêu cụ thể, thực tế và lập kế hoạch rõ ràng để đạt được
chúng. Niềm tin sẽ là động lực để kiên trì thực hiện kế
hoạch đó, ngay cả khi gặp khó khăn.
+Kết hợp niềm tin với sự nỗ lực, học hỏi không
ngừng: Niềm tin cần được củng cố bởi kiến thức và kinh
nghiệm. Do đó, hành động cụ thể là luôn học hỏi, cải
thiện bản thân, không ngừng rèn luyện các kỹ năng cần
thiết để biến niềm tin thành hiện thực.
+Cân nhắc và điều chỉnh niềm tin khi cần thiết:
Trong quá trình phát triển, thanh niên cần biết đánh giá
lại niềm tin của mình, lắng nghe ý kiến của người khác
và linh hoạt thay đổi khi cần, để tránh cố chấp vào
những niềm tin sai lầm hay không còn phù hợp.
C.Kết bài :khái quát vấn đề - Rút ra nhận thức – Bài
học
-Sức mạnh của niềm tin là một tài sản quý giá, nhưng
để phát huy tối đa giá trị, nó cần đi kèm với hiểu biết,
nỗ lực và sự linh hoạt.
-Hành động có trách nhiệm dựa trên niềm tin vững chắc
sẽ giúp thanh niên không chỉ vượt qua khó khăn mà còn
tạo nên thành công và đóng góp tích cực cho xã hội.
d.Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm:
Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ
pháp.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách
0,5
0,5
diễn đạt mới mẻ.
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I – ĐỀ 2
Môn thi: Ngữ văn 10
Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
I.
ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
NỮ THẦN MẶT TRỜI VÀ MẶT TRĂNG
Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là hai chị em, con của Trời. Công việc của Trời giao phó
hàng ngày phải thay phiên nhau đi xem xét thế gian. Bọn khiêng kiệu gồm có hai lớp già và trẻ
thay phiên nhau. Gặp phải bọn khiêng kiệu già đi chậm, cô Mặt Trời phải ngồi lâu, ngày ở dưới
trần hóa dài ra. Đến lượt bọn trẻ khiêng kiệu đi mau, cô Mặt Trời được chóng công việc về sớm
thì ngày ngắn lại.
Cô em Mặt Trăng tính tình nóng nảy không kém gì cô chị làm cho thiên hạ ở mặt đất suốt
cả ngày đã phải chịu nóng bức vì cô chị, đến đêm lại cũng phải khó chịu vì cô em. Loài người
than thở đến tai nhà Trời, bà mẹ mới lấy tro trát vào mặt cô Mặt Trăng. Từ đó, cô em đổi tính ra
hết sức dịu dàng, khác hẳn với cô chị, nên được người dưới trần ai cũng thích. Mỗi khi cô
ngoảnh mặt nhìn xuống trần là lúc đó trăng rằm, ngoảnh lưng lại là ba mươi, ngoảnh sang phải,
sang trái là trăng thượng huyền hay hạ huyền. Hôm nào trăng quầng là lúc vết tro trát mặt hiện
ra.
Người ta nghe nói rằng chồng của hai nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là một con gấu. Mỗi
lần gấu đến với vợ là sinh ra nguyệt thực hay nhật thực, lúc đó người dưới trần làm ầm ĩ lên
đánh trống, khua chiêng, gõ mõ, để cho gấu xa ra, vì gấu đi lại với vợ, che lấp Mặt Trời, Mặt
Trăng làm hại cho mùa màng.
(Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng – Truyện thần thoại Việt Nam
TheGioiCoTich.Vn)
Câu 1 Hãy chỉ ra những dấu hiệu giúp em nhận ra Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là một
truyện thần thoại?
Câu 2. Những nhân vật chính nào xuất hiện trong truyện trên?
Câu 3 . Qua nhân vật Mặt Trăng, tác giả dân gian lí giải các hiện tượng tự nhiên nào?
Câu 4. Truyện được xây dựng trên các yếu tố đặc trưng nào?
Câu 5 . Hình tượng nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng phản ánh quan niệm, nhận thức gì của
người xưa về thế giới tự nhiên?
Câu 6 . Thông điệp mà người xưa gửi gắm qua câu chuyện này là gì?
II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận về lòng khoan dung.
Phần Câu
Nội dung
I
ĐỌC HIỂU
1
- Thời gian: Tuần hoàn, gắn với sự thay đổi của ngày, đêm,
trăng tròn, trăng khuyết, nhật thực và nguyệt thực.
- Không gian: Thiên giới (nơi các nữ thần sống) và trần gian
(nơi con người chịu ảnh hưởng từ các hiện tượng tự nhiên).
- Nhân vật: Nữ thần Mặt Trời (cai quản ngày), Nữ thần Mặt
Trăng (cai quản đêm), Trời, bà mẹ và con gấu (gây ra nhật
thực, nguyệt thực).
-Cốt truyện : Câu chuyện kể về hai chị em Nữ thần Mặt Trời
và Nữ thần Mặt Trăng, con của Trời, thay phiên nhau cai
quản ngày và đêm. Nữ thần Mặt Trời khiến ngày dài ngắn
khác nhau tùy vào tốc độ của người khiêng kiệu, còn Nữ thần
Mặt Trăng ban đầu nóng nảy nhưng sau khi bị trát tro lên
mặt, cô trở nên dịu dàng hơn. Chồng của hai nữ thần là gấu,
mỗi lần gấu đến thăm gây ra hiện tượng nhật thực và nguyệt
thực.
2
Những nhân vật chính xuất hiện trong truyện trên:
-Nữ thần Mặt Trời
-Nữ thần Mặt Trăng
-Trời (người giao nhiệm vụ cho hai nữ thần)
-Bà mẹ của các nữ thần
-Con gấu (chồng của hai nữ thần)
Điểm
6,0
0,75
0,75
3
Qua nhân vật Mặt Trăng, tác giả dân gian lí giải các hiện
tượng tự nhiên sau:
-Hiện tượng trăng rằm, ba mươi, trăng thượng huyền và hạ
huyền.
-Hiện tượng trăng quầng xuất hiện khi vết tro trên mặt Mặt
Trăng hiện ra.
-Hiện tượng nguyệt thực, được giải thích là do gấu che lấp
Mặt Trăng.
1,5
4
Truyện được xây dựng trên các yếu tố đặc trưng:
-Nhân vật thần thánh: Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là các
vị thần.
-Yếu tố kỳ ảo: Các sự kiện và hành động vượt qua giới hạn
của đời thường, như việc tro trát lên mặt Mặt Trăng thay đổi
tính cách của cô, hoặc gấu đến với vợ gây ra nguyệt thực,
nhật thực.
-Giải thích hiện tượng tự nhiên: Câu chuyện lý giải cách các
1,5
hiện tượng tự nhiên xảy ra theo quan niệm dân gian.
5
Hình tượng nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng phản ánh quan
niệm, nhận thức của người xưa về thế giới tự nhiên:
-Người xưa coi các hiện tượng tự nhiên như mặt trời, mặt
trăng, nhật thực, nguyệt thực là do các vị thần cai quản, và
các hiện tượng đó là kết quả của hành động của các thần.
-Họ cho rằng sự vận hành của thời gian, ngày đêm, và các
hiện tượng trên trời ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và
mùa màng của con người, và cần phải có các biện pháp để
"can thiệp" như đánh trống khua chiêng khi xảy ra nhật thực
hay nguyệt thực.
6
II
1,0
- Sự tôn trọng đối với các hiện tượng tự nhiên
- Tầm quan trọng của sự hòa hợp giữa con người và thế giới
xung quanh.
VIẾT Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan
điểm về lòng khoan dung
0,5
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận xã hội
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề,
Kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: lòng khoan dung
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm.
- Học sinh xác định không đúng vấn đề nghị luận: 0,0 điểm.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng
tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn
chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:
A. MB
- Giới thiệu vấn đề: Trong cuộc sống hiện đại, con người
ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức trong các mối
quan hệ cá nhân và xã hội. Để giữ gìn hòa bình và duy trì sự
gắn kết, lòng khoan dung trở thành một giá trị đạo đức không
thể thiếu. Khoan dung không chỉ giúp giải quyết xung đột mà
còn giúp xây dựng một môi trường sống chan hòa, yêu
thương.
- Dẫn dắt trích dẫn đề nghị luận: Như Mahatma Gandhi
từng nói: “Khoan dung là điều cần thiết nhất trong cuộc
sống, bởi không ai là hoàn hảo cả”. Điều này nhắc nhở
chúng ta rằng khoan dung là một đức tính cao đẹp, không chỉ
giúp người khác mà còn giúp chính bản thân mỗi người
0,25
4,0
0,25
2,5
trưởng thành và phát triển.
- Nêu nội dung đề (ý chính của đề): Từ câu nói trên, chúng
ta thấy rõ tầm quan trọng của lòng khoan dung trong đời sống
xã hội. Vậy, lợi ích của khoan dung là gì, và làm thế nào để
thực hành khoan dung trong cuộc sống hàng ngày? Đây là
những vấn đề mà chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận và làm rõ
trong bài viết này.
*Minh họa : Trong cuộc sống hiện đại, con người ngày càng
phải đối mặt với nhiều thách thức trong các mối quan hệ cá
nhân và xã hội. Để giữ gìn hòa bình và duy trì sự gắn kết,
lòng khoan dung trở thành một giá trị đạo đức không thể
thiếu. Như Mahatma Gandhi từng nói: “Khoan dung là điều
cần thiết nhất trong cuộc sống, bởi không ai là hoàn hảo cả.
Từ đó, chúng ta nhận thấy rõ rằng lòng khoan dung có vai trò
quan trọng trong việc xây dựng một xã hội đoàn kết và bền
vững.
B. TB
- Giải thích:Lòng khoan dung là gì? Lòng khoan dung là sự
sẵn sàng chấp nhận, tha thứ và tôn trọng những khác biệt, sai
sót hoặc hành vi của người khác mà không phán xét hay chỉ
trích gay gắt. Người có lòng khoan dung thường không dễ
dàng nổi giận hay khó chịu trước những sai lầm nhỏ nhặt, mà
thay vào đó, họ có sự cảm thông và hiểu biết sâu sắc đối với
những tình huống, hoàn cảnh và lỗi lầm của người khác.
- Phân tích và chúng minh
-Luận điểm 1: Tầm quan trọng của lòng khoan dung cần
+Khoan dung giúp xây dựng môi trường xã hội hòa bình,
giúp tạo dựng sự đoàn kết và hòa hợp giữa các cá nhân trong
xã hội, giảm bớt căng thẳng, xung đột và tranh chấp.
+Khoan dung là nền tảng của tình yêu thương và sự tha
thứ. Thật vậy, khoan dung không chỉ là chấp nhận những lỗi
lầm nhỏ nhặt mà còn là sự tha thứ cho những sai lầm của
người khác. Điều này góp phần xây dựng và củng cố các mối
quan hệ giữa cá nhân, gia đình và cộng đồng, giúp duy trì sự
gắn bó và yêu thương.
+ Khoan dung giúp vượt qua những bất đồng và hiểu lầm.
Trong cuộc sống, bất đồng và hiểu lầm là không thể tránh
khỏi. Tuy nhiên, nếu có lòng khoan dung, mọi người sẽ biết
lắng nghe và giải quyết các bất đồng một cách hòa bình, thay
vì biến chúng thành mâu thuẫn không thể cứu vãn.
+Dẫn chứng : Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc
Việt Nam, luôn thể hiện lòng khoan dung đối với cả kẻ thù và
đồng bào. Một ví dụ tiêu biểu là sau khi Cách mạng Tháng
Tám thành công, Hồ Chí Minh đã khoan dung với những
người từng cộng tác với thực dân Pháp và chính quyền tay sai
bằng cách không trả thù họ. Thay vào đó, Người kêu gọi toàn
dân đoàn kết, tha thứ những lỗi lầm trong quá khứ để xây
dựng một đất nước độc lập và hòa bình.
-Luận điểm 2: Lợi ích của khoan dung rất đáng quan tâm
+ Lý lẽ: Khoan dung không chỉ mang lại lợi ích cho xã hội
mà còn giúp cá nhân trưởng thành và phát triển về mặt tinh
thần. Khi một người biết khoan dung, họ học được cách tha
thứ và buông bỏ thù hận, điều này giúp giải tỏa căng thẳng và
nâng cao chất lượng cuộc sống. Khoan dung cũng giúp tăng
cường sự tự nhận thức và đồng cảm, từ đó cải thiện mối quan
hệ giữa con người với nhau.
+Lý lẽ: Khi một người biết khoan dung và tha thứ, họ sẽ bớt
đi những gánh nặng tinh thần, giảm căng thẳng và lo âu. Sự
oán giận và thù hận thường gây ra căng thẳng, ảnh hưởng tiêu
cực đến sức khỏe tinh thần và thể chất của con người. Khoan
dung giúp con người giữ được sự bình an trong tâm hồn và
cải thiện sức khỏe tổng thể.
+Dẫn chứng : Nhờ vào lòng khoan dung, Vua Trần Nhân
Tông đã giúp củng cố sự đoàn kết của dân tộc sau chiến
tranh, duy trì hòa bình với các quốc gia láng giềng, và để lại
di sản tinh thần lớn lao cho văn hóa Việt Nam. Chính nhờ sự
khoan dung này mà thời kỳ nhà Trần được xem là một trong
những giai đoạn thịnh vượng và ổn định nhất trong lịch sử
Đại Việt.
- Phê phán – bàn luận : Bên cạnh những người sống có lòng
khoan dung thì vẫn còn một số người cố chấp ích kỉ, cố ý
chia rẽ gây mất đoàn kết , có những người thiếu lòng khoan
dung dẫn đến cuộc sống bị cô lập. Cho nên, lòng khoan dung
là một đức tính cần thiết để xây dựng một xã hội hòa bình,
đoàn kết và phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn một số người thiếu
sự khoan dung, dẫn đến nhiều vấn đề như xung đột cá nhân,
cô lập xã hội, và phân biệt đối xử. Điều này chứng minh rằng,
bên cạnh việc đề cao lòng khoan dung, chúng ta cũng cần có
những nỗ lực giáo dục và khuyến khích thực hành khoan
dung trong cuộc sống hàng ngày để hướng tới một xã hội tốt
đẹp hơn.
- Bài học nhận thức và hành động
+ Lòng khoan dung là một giá trị đạo đức quan trọng, giúp
con người biết chấp nhận, tha thứ và tôn trọng những khác
biệt hoặc lỗi lầm của người khác. Khoan dung không chỉ
giúp giải quyết xung đột, duy trì sự hòa bình, mà còn thúc
đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội. Nó là nền tảng để xây
dựng các mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết trong gia đình, cộng
đồng và môi trường làm việc. Những tấm gương lịch sử như
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vua Trần Nhân Tông hay Nelson
Mandela đã chứng minh rằng lòng khoan dung không chỉ
mang lại hòa bình mà còn giúp tạo nên những bước phát
triển vượt bậc cho đất nước và xã hội.
+ Rèn luyện lòng khoan dung: Đối với bản thân, tôi cần
nhận thức rằng khoan dung không phải là sự yếu đuối mà là
sự mạnh mẽ, khi biết tha thứ và cảm thông với người khác.
+ Lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác: Trong
cuộc sống hàng ngày, việc lắng nghe và tôn trọng ý kiến,
quan điểm khác biệt của người khác là một phần của sự
khoan dung.
+Học cách tha thứ: Tha thứ không có nghĩa là quên đi hay
bỏ qua những sai lầm, mà là học cách chấp nhận và để lại
những điều tiêu cực phía sau, tạo cơ hội cho mọi người sửa
chữa lỗi lầm.
C. Kết luận
- Khái quát lại vấn đề lòng khoan dung: Nhấn mạnh lại lợi
ích và tầm quan trọng của lòng khoan dung trong cuộc sống.
- Bài học nhận thức: Mỗi cá nhân cần hiểu rõ tầm quan
trọng của lòng khoan dung.
- Lời kêu gọi hành động: Kêu gọi mỗi người hãy sống khoan
dung để tạo nên một cộng đồng và xã hội tốt đẹp hơn. Hướng
đến việc xây dựng một môi trường sống hòa bình, nơi mọi
người biết tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau.
*Minh họa :
Tóm lại, lòng khoan dung không chỉ là một giá trị đạo đức
cao đẹp mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng
một xã hội hòa bình và phát triển. Từ đó, mỗi cá nhân cần
nhận thức rõ lợi ích và tầm quan trọng của lòng khoan dung.
Hãy để lòng khoan dung trở thành kim chỉ nam cho hành
động của mỗi người để mọi người cùng nhau hướng đến việc
xây dựng một môi trường sống hòa bình, nơi mỗi người đều
được tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau.
d.Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm:
Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ
pháp.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn
đạt mới mẻ.
0,5
0,5
SỞ GD-ĐT BẾN TRE
TRƯỜNG THPT
Tổ Ngữ văn
(Đề gồm 02 trang)
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I. Đề 3
Môn: Ngữ văn - Lớp: 10
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU(6,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
Thần núi Tản Viên
Xưa kia, vua Lạc Long khi chia con cùng nàng Âu Cơ, đem năm mươi trai về biển, trong
số đó có Hương Lang. Một hôm, Hương Lang dời hải quốc vào cửa biển Thần Phù (bây giờ
thuộc Nam Định), lòng những muốn tìm một nơi cao ráo thanh u, dân chúng thuần hậu mà ở.
Thần chèo thuyền từ sông Cái đến làng Long Đậu, thành Long Biên, rồi lại chèo từ sông Linh
Giang đến bến Phiên Tân thuộc huyện Phúc Lộc.
Tới đây, thần trông thấy núi Tản Viên mỹ lệ, ba tầng cao chót vót, hình như cái tán, dân ở
dưới núi tục chuộng tố phác, thần bèn từ phía Nam núi hóa phép mở một con đường thẳng như
dây đàn từ bến Phiên Tân thẳng đến Tản Viên, đường qua cánh đồng làng Vệ Đỗng và làng
Nham Toàn, lại qua cánh đồng Thạch Bạn, Vân Mộng, rồi lên mãi từng núi cao nhất để ở. Mỗi
chặng đường nghỉ ngơi như vậy, thần bèn hóa phép hiện ra lâu đài nguy nga tráng lệ.
Thần từ khi ở núi ấy, thường thường ra chơi sông Liễu Hoàng xem cá. Chỗ nào có phong
cảnh đẹp cũng đến chơi. Hễ cứ dạo gót qua thăm nơi nào lại hóa phép hiện ra đền đài nơi đó để
nghỉ ngơi. Dân làng trông thấy chỗ nào có dấu đền đài, thì lại lập đình miếu để thờ.
Lại có truyền thuyết khác kể rằng thần núi Tản Viên tuy thuộc dòng dõi vua Lạc Long
nhưng thuở lọt lòng bị bỏ rơi trong rừng, được một người tiều phu gặp đem về nuôi, đặt tên là
Kỳ Mạng. Sở dĩ thần có tên này là vì trước khi gặp cha nuôi, đứa bé mới lọt lòng đã được dê
rừng cho bú, chim chóc ấp ủ cho khỏi chết. Kỳ Mạng chóng lớn khôn, theo nghề cha nuôi ngày
ngày vác rìu vào rừng đốn củi.
Một hôm, Kỳ Mạng đốn một cây đại thụ. Cây to lớn quá, chặt từ sáng đến chiều mà vẫn
chưa hạ nổi. Bỏ dở ra về, đến sáng hôm sau trở vào rừng, Kỳ Mạng hết sức ngạc nhiên thấy
những vết chặt đã dính liền lại khắp thân cây. Kỳ Mạng xách rìu lại chặt nữa, suốt ngày ráng hết
sức không xong, đến ngày thứ hai trở lại cũng thấy cây vẫn nguyên vẹn như chưa hề bị động
tới. Không nản chí, Kỳ Mạng ra công cố chặt, quyết hạ cho kỳ được, rồi đến tối ở lại nấp gần
cây rình xem sự thể. Vào khoảng nửa đêm, Kỳ Mạng thấy một bà lão hiện ra, tay cầm gậy chỉ
vào cây, đi một vòng quanh cây, tự nhiên những vết chặt lại liền như cũ. Kỳ Mạng nhảy ra khỏi
chỗ nấp, tức giận hỏi bà lão sao lại phá công việc của mình. Bà lão nói :
– Ta là thần Thái Bạch. Ta không muốn cho cây này bị chặt vì ta vẫn nghỉ ngơi ở trên
cây.
Kỳ Mạng mới phản đối:
– Không chặt cây thì tôi lấy gì mà nuôi sống?
Bà thần đưa cho Kỳ Mạng cái gậy và dặn rằng : “Gậy này có phép cứu được bách bệnh.
Hễ ai ốm đau chỉ cầm gậy gõ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu nhân độ thế”.
Kỳ Mạng nhận gậy thần, từ đấy bỏ nghề kiếm củi, đi chữa bệnh cho người đau. Có một
hôm, đi qua sông thấy lũ trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn trên đầu có chữ vương, Kỳ Mạng
biết là rắn lạ mới cầm gậy thần gõ vào đầu con rắn thì con rắn ấy sống lại, bò xuống sông mà đi
mất.
Được vài hôm, bỗng có một người con trai, đem đồ vàng ngọc, châu báu đến nói rằng :
– Thưa ngài, tôi là Tiểu Long Hầu, con vua Long Vương bể Nam. Bữa trước tôi đi chơi
trên trần, chẳng may bị bọn trẻ con đánh chết. Nhờ có ngài mới được sống, nay mang lễ vật lên
xin được tạ ơn.
Kỳ Mạng nhất định không lấy. Tiểu Long Hầu mới cố mời xuống chơi dưới bể, đưa ra
một cái ống linh tê, để Kỳ Mạng có thể rẽ nước mà đi.
Long Vương thấy ân nhân cứu con mình xuống chơi thì mừng lắm, mở tiệc thết đãi ba
ngày, rồi đưa tặng nhiều của quý lạ, nhưng Kỳ Mạng vẫn một mực chối từ. Sau cùng Long
Vương mới biếu một quyển sách ước. Lần này Kỳ Mạng nhận sách mang về trần. Cuốn sách
ước chỉ gồm có ba tờ bằng da cá, ngoài bọc vỏ rùa. Ba trang sách, mỗi trang chứa một tính
chất : Kim, Mộc, Hỏa… chỉ thiếu một trang Thủy mà Long Vương giữ lại.
Kỳ Mạng mới bắt đầu thử xem linh nghiệm ra sao, mở sách ra đặt tay vào trang Hỏa khấn
khứa thì được nghe thấy sấm sét giữa lúc trời quang mây tạnh, rồi chỉ trong nháy mắt trên trời
vần vũ đầy mây, chớp sáng, sấm sét nổi lên rung chuyển cả bầu trời.
Kỳ Mạng mỉm cười đắc ý, đặt tay vào trang Mộc, ước ao thấy một rừng cây đi. Tức thì
những cây ở trước mặt chàng tự nhiên tiến bước như một đạo quân.
Kỳ Mạng gấp sách lại, thấy mình từ đấy uy quyền, sức mạnh không còn ai sánh kịp. Rồi
bắt đầu lang thang đó đây cứu giúp đời. Khi đã thành thần rồi, nhân một hôm qua cửa Thần
Phù, ngài mới ngược dòng sông lên núi Tản Viên, ở luôn tại đấy. Với cuốn sách ước, ngài dựng
lên những lâu đài cung điện nguy nga giữa chốn rừng núi hoang vu.
Từ đó tiếng đồn đi rằng núi Tản Viên do một vị thần phép thuật thần thông cai quản.
Thần Tản Viên còn có tên gọi là Sơn Tinh nữa.
(Thần núi Tản Viên – Truyện thần thoại Việt Nam)
Câu 1. Tên nhân vật chính trong văn bản là ? ( 0,5 đ)
Câu 2.Nhân vật Kỳ Mạng hội tụ những vẻ đẹp gì ?(0.5 đ)
Câu 3. Từ nội dung câu chuyện, có thể thấy được một đặc điểm nổi bật của thần thoại? (1.5)
Câu 4. Hãy lí giải vì sao truyện Thần núi Tản Viên có chứa yếu tố của thần thoại ? (1,5 đ)
Câu 5. “ Niềm tin thiêng liêng về một thế giới mà ở đó vạn vật đều có linh hồn” là một trong
những vẻ đẹp của thần thoại. Theo anh/chị, niềm tin ấy còn có sức hấp dẫn với con người hiện
đại không? Qua truyện Thần núi Tản Viên, người xưa bày tỏ ước mơ gì? (1.0 đ)
(1,0 đ)
PHẦN II. V...
 








Các ý kiến mới nhất