Trạng Trình Sấm và Ký

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:40' 19-01-2026
Dung lượng: 229.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:40' 19-01-2026
Dung lượng: 229.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Trạng trình
Thư viện Ebook Sách Mới www.sachmoi.net
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại
làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải
Phòng. Thân phụ ông là nho sinh Nguyễn Văn Định (sau do con có công được vua truy phong Thái bảo
Nghiêm Quận công). Thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục (sau được phong Từ Thục phu nhân), con gái quan
Thượng thư Nhữ Văn Lan, bà là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số.
Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương. Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất
khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ
văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.
Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá).
Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.
Thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu, lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Năm Đại
Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua
Mạc cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ Trạng nguyên và được phong tước Trình
Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.
Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo
quan năm 1542.
Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Tuyết,
do đó học trò gọi ông là "Tuyết giang Phu tử". Bạn của ông là những tài danh lỗi lạc một thời như
Bảng nhãn Bùi Doãn Đốc, Thám hoa Nguyễn Thừa Hưu, Thư Quốc công Thương thư Trạng nguyên
Nguyễn Thiến. Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Dữ- tác giả Truyền kỳ mạn lục,
Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh,Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện,
Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn
Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính ...
Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng
vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về viếng. Việc vua Mạc cử người được vua coi
như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang
ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân,
gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán (còn lưu lại) và hai tập Trình Quốc công Bạch vân thi tập và Trình
Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi, (với hàng trăm bài thơ
chữ Nôm) hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập
Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy
đức bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời.
Khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh từ đó ông tinh
thông về lý học, tướng số... Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến
Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề
cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa.
Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình quốc công. Nhờ học tính theo Thái Ất,
ông tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau này. Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm là "An Nam lý số hữu Trình Tuyền". Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và
suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu
thế mà người đời gọi là: Sấm Trạng Trình" (*)
Sấm Trạng Trình
Ban biên tập: "Sấm Trạng Trình" hiện nay có nhiều bản khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu bạn đọc,
chúng tôi đăng lại toàn bộ bản (bản A) do Nguyễn Nghiệp sưu tầm, giới thiệu trong sách "Trạng Trình
- Sấm và Ký" NXB Văn hóa - Thông tin.
BẢN A - SẤM KÝ TRẠNG TRÌNH
Đây là bản trích ở “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) của Trịnh Văn Thanh. Bản này
ngoài 14 câu "Cảm đề" có 248 câu “Sấm ký” cộng 262 câu.
Để tiện việc nghiên cứu, chúng tôi chia 248 câu trong phần “Sấm ký" thành 58 khổ thơ. với 8 khổ 6
câu còn lại 50 khổ thơ 4 câu và đánh sớm 1 đến 58. Tám khổ thơ 6 câu là các khổ thứ 1 , 6, 1 0, 1 9,
23, 31, 34 và 44
CẢM ĐỀ
Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruỗi thuyền buông chơi(1)
Cơ tạo hoá,
Phép đổi dời,
Đầu non mây khói toả,
Mặt nước cánh buồm trôi,
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi,
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời.
Tuổi già thưa kém bạn(2)
Văn chương gởi lại đời.
Dở hay nên tự lòng người cả,
Bút nghiên soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu.
Dành hậu thế xem chơi.
(1) Phạm Lãi sau khi lập kế cho Việt Vương Câu Tiễn diệt Ngô Phù Sai rồi chán dường danh lợi đổi
tên là Đào Chu cùng với Tây Thi đi chu du trên Ngũ Hồ.
(2) Thua kém bạn ở đây có nghĩa là ít bạn (cách nói cổ).
Sấm ký
1.
Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước,
Đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ thư một quyển xem nay mới rành.
Chú thích: (1) Khổ mở đầu. Đồ thư là bản đồ và sách.
2.
Hoà đao mộc lạc
Thập bát tử thành.
Đông A nhật xuất,
Dị mộc tái sinh.
Chú thích: (2) Hoà, đao, mộc là chữ Lê, lạc là rơi, ý nói nhà Lê hết, Thập, Bát, Từ là chữ Lý ám chỉ
nhà Lý nối tiếp. Đông A là chữ Trần. Dị mộc tái sinh là cây khác sống lại, ý nói nhà Hậu Lê.
3
Chấn cung xuất nhật
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Đế phế vi đinh.
(đọc bình luận)
Chú thích: (3) Nói nhà Nguyễn Tây Sơn xuất hiện
4.
Thập niên dư chiếm,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.
Chú thích: (4) Hơn mười năm chinh chiến, thiên hạ mới được lâu dài yên ổn.
5
Hoà đao mộc hồi dương sống lại.
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương
Hà thời biện - lại vi vương
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.
(đọc bình luận)
Chú thích: (5) Thời Trịnh - Nguyễn đánh nhau, Nam Bắc phân tranh, nhà Lê Trung Hưng, Nguyễn
Nhạc lên làm vua.
6.
Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.
(đọc bình luận)
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
(Hà thời thạch mã độ giang
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu) (Đọc bình luận)
Chú thích: (6) Nói về quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh Dân Vĩnh Lại cả làng được làm quận công
7
Chim bằng cất cánh về đâu ?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công
Bao giờ trúc mọc qua sông
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây. (đọc bình luận)
Chú thích: (7) Về Nguyễn Hữu Chỉnh (bằng quận công) và chiến thắng Đống Đa lịch sử
8
Đoài cung một sớm đổi thay,
Chân cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Dầu cha lộn xuống chân con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi. (đọc bình luận)
Chú thích: (8) Vua Quang Trung truyền đến đời vua Cảnh Thinh, hai đời được mười bốn năm
9
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chinh chích u mê
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.
(đọc bình luận)
Chú thích: (9) Nhà Nguyễn mắc mồi Tây Dương, mất chủ quyền về tay người Pháp và cái chết của vua
Dục Đức
10
Để loài bạch quỷ Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly.
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy.
Gia đình một ở ba đi dần dần,
Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này. (đọc bình luận)
Chú thích: (10) Nhà Nguyễn đưa dân ta vào vòng nô lệ và ba vị vua yêu nước bị đi đày ở Châu Phi
11
Kia kìa gió thổi lá rung cây.
Rung Bắc rung Nam Đông tới Tây.
Tan tác KIẾN kiều AN đất nước
Xác xơ Cổ thụ sạch AM mây.
(đọc bình luận)
12
LÂM giang nổi sóng mù THAO cát,
HUNG địa tràn dâng Hoá nước đầy.
Một ngựa một yên ai sùng bái ?
Nhắn con nhà VĨNH BẢO cho hay.
Chú thích: (11,12) Cuộc khởi nghĩa Yên Bái bất thành năm 1930.
13
Tiền ma bạc quỷ trao tay,
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua.
Giữa năm hai bẩy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây. (đọc bình luận)
Chú thích: (13) Các cuộc khơi nghĩa đầu thế ký 20 và cái chết của viên toàn quyền Pierre Pasquier
14
Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay.
Ngựa đã gác yên không người cưỡi,
Dê không ăn lộc ngảnh về Tây.
15
Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa,
Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày.
Chú thích: (14, 15) Những biến cố trong tám năm liên tiếp : Thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.
16
Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hào biết đấy mới ngoan,
Chữ rằng lục, thất nguyệt gian,
Ai mà giữ được mới nên anh tài.
17
Ra tay điều đỉnh hộ mai,
Bây giờ mới rõ là người an dân.
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.
18
Phá điền than đến đàn dê,
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng.
Dê đi dê lại tuồn luồn,
Đàn đi nó cũng một môn phụ trì.
19
Thương những kẻ nam nhi chí cả,
Chờ vội sang tất tả chạy rong.
Học cho biết chữ cát hung,
Biết phương hướng đứng chớ dừng lầm chi,
Hễ trời sinh xuống phải thì,
Bất kỳ nhi ngọ tưởng gì đợi mong.
20
Kìa những kẻ vội lòng phú quý,
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông,
Lưới đăng đâu dễ nên công mà hòng.
21
Khuyên những đứng thời trung quân tử,
Lòng trung nghi nên giữ cho mình.
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh,
Thái Nhâm, Thái ất trong mình cho hay.
22,23
Chờ vật vờ quen loài ong kiến,
Hư vô bàn miệng tiếng nói không .
“Ô hô thế sự tự bình bồng,
Nam, Bắc hà thời thiết lộ thông.
Hồ ẩn sơn trung Mao tận bạch, (đọc bình luận)
Kinh cư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê mình ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông.
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong”
Chú thích: (22,23) Tám câu cuối, ông Ngư Phố giác đã dịch nôm như sau :
Than đi thế sự thật bình bồng !
Nam, Bắc chừng nào thiết lộ thông ?
Hồ ẩn trong non, mao thấy trắng,
Kình ngoi ngoài biển huyết loang hồng.
Gà kêu cây ngọc trơi nghiêng Bắc,
Trâu tới Lam điền bóng rạng Đông
Tới lúc ưng về sư tứ dậy,
Thái bình mớn toả khắp non sông
24
Ngõ mây gặp hội mây rồng,
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài.
Nước Nam thường có Thánh tài.
Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường?
25
So mấy lề để tàng kim qũy,
Kể sau này ngu bỉ được coi.
Đôi phen đất lở cát bồi,
Đó đây ông kiến dậy trời quỷ ma.
26
Ba con đổi lấy một cha,
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền .
Mão, Thìn, Tý, Ngọ bất yên,
Đợi tam tứ ngũ lai niên cũng gần. (đọc bình luận)
Chú thích: (26) Việc thay dần đồng tiền Khải Định bằng đồng Bảo Đại
27
Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân,
(đọc bình luận)
Đến thời thiên hạ vô quân,
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành. (đọc bình luận)
Chú thích: (27) Chúa Nguyễn vào Nam cũng có thế lực
28
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung,
Thiên sinh hữu nhất anh hùng,
Cửu dân độ thế trừ hung diệt tà.
Chú thích: (28) Nhà Nguyễn cáo chung
29
Thái Nguyên cận Bắc đường xa,
Ai mà tìm thấy mới là thần minh,
Uỷ nghi dung mạo khác hình,
Thác cư một góc kim tinh phương Đoài.
30
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi,
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân,
Binh thư mây quyển kinh luân
Thiên văn, địa lý, nhân dân, phép mầu.
31
Xem ý trời ngõ hầu khải thánh,
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai.
Song thiên nhật nguyệt sáng soi,
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường
Thông minh kim cổ khác thường,
Thuấn, Nghiêu là trí, Cao Quang là tài.
Chú thích: (29-31) Một vị thành nhân sáng suốt mở đường cho dân tộc, đức độ nhân trí như vua
Nghiêu, vua Thuấn, tài giỏi như vua Hán Cao tổ và vua Quang Vũ đế.
32
Đấng hiên ngang nào ai biết trước,
Tài thao lược yêm bác vu văn.
Ai còn khoe trí khoe năng,
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.
33
Chưa từng thấy nay đời sự lạ,
Chốc lại mòng gá vạ cho dân.
Muốn bình sao chẳng lấy nhân,
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình.
34
Dã ngu dại Hoàn,
Linh đời Hán Lại đua nhau quần thán đồ lê.
Chức này quyền nọ say mê,
Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương.
Kẻ thì phải thuở hung hoang,
Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình.
Chú thích: (32-34) Chưa thấy tài liêu nào giải thích xem ứng với sự kiện gì. Hoàn Đế và Linh Đế và
hai vi hôn quân ở cuối đời Đông Hán.
35
Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thời tiết hoa tàn,
Trực đảodương đầu mã vĩ,
Hồ binh bát vạn nhập Trường An. (đọc bình luận)
Chú thích: (35) Tám vạn bộ đội cụ Hồ vào giải phóng Thủ đô
36
Nực cười những kẻ bàng quan,
Cờ tan lại muốn toan đường chống xe.
Lại còn áo mũ xum xoe
Còn ra xe ngựa mầu mè khoe khoang.
37
Ghê thay thau lẫn với vàng,
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng.
Thánh ra tuyết tán mây tan,
Bấy giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.
38
Can qua, việc nước bời bời,
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân,
Oai phong khấp quỷ kinh thần.
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca.
39
Rừng xanh núi đỏ bao la,
Dông tàn Tây bại sang gà mới yên,
Sửu Dần thiên hạ đảo điên,
Ngày nay thiên số vận niên rành rành.
40
Long vĩ sà đầu khởi chiến tranh,
Can qua xứ xứ khổ đao binh.
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân, dậu niên lai kiến Thái bình. (đọc bình luận)
Chú thích: (40) Bốn câu này được ông Ngự Phù giáo dịch như sau: Đuôi rồng đầu rắn nổi chiến tranh/
Khắp hòa thiên hạ khố đao binh/ Móng dê chân ngựa anh hùng hết/ Thân dậu rồi ra mới thái bình./ nói
về cuộc Đại chiến.thế giời thứ hai.
41
Sự đời tính đã phân minh,
Thanh nhàn mới kể chuyện mình trước sau:
Đầu thu gà gáy xôn xao,
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long (đọc bình luận)
Chú thích: (41) Cách mạng tháng tám - 1945
42
Chó kêu ầm ĩ mùa đông,
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi,
Lợn kêu tình thế lâm nguy,
Qủy Vương chết giữa đường đi trên giời.
Chú thích: (42) Nhà Nguyễn cáo chung. Hay câu sau có người cho ám chỉ Đại tướng Pháp Leclerc ngộ
nạn máy bay chết cháy
43
Chuột xa chính gạo nằm chơi,
Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra.
Hùm gầm khắp nẻo gần xa,
Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời.
44
Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng.
Ngựa hồng quỉ mới nhăn răng,
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời,
Chín con rồng lộn khắp nơi,
Nhện dăng lưới gạch dại thời mắc mưu.
Chú thích: (43,44) Giặc Pháp bại trận
45
Lời truyền để lại bấy nhiêu,
Phương Đoài giặc đã đến chiều bại vong.
Hậu sinh thuộc lấy làm lòng,
Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.
46
Đầu can Võ tướng ra binh,
Ắt là trăm họ thái bình âu ca.
Thần Kinh Thái ất suy ra,
Đễ dành con cháu đem ra nghiệm bàn.
47
Ngày thường xem thấy quyển vàng
Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi.
Bởi Thái Ất thấy lạ đời,
Ấy thuở sâm trời vô giá thập phân.
48
Kể từ Lạc Long Quân,
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian.
Mỗi đời có một tôi ngoan,
Giúp chung nhà nước dân an thái bình.
Chú thích: (45-48) Nói vì sự ra đời của bài Sấm và dần dần trăm họ thái bình, quốc thái dân an.
49
Phú quý hồng trần mộng,
Bần cùng bạch phát sinh.
Hoa thôn dã khuyển phệ,
Mục giã giục nhân canh.
50
Bắc hữu Kim thành tráng,
Nam hữu Ngọc bích thành.
Phân phân tùng bách khởi,
Nhiễu nhiễu xuất Dông chính.
51
Bảo giang thiên tử xuất.
Bất chấp tự nhiên thành,
Rồi ra mới biết thánh minh.,
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
Chú thích: (49-51) Cuộc sống dần tới ấm no. Mấy khổ này dịch như sau: Giầu sang mộng bụi hồng/
Khốn cùng sinh tóc bạc/ Hoa Thôn chó sủa nhiều/ Trẻ trâu gìục người gác/ Bắc có Kim Thành vững/
Nam có Ngọc Bích Thành/ Tuyến rơí tùng bách xanh/ Bối rối thủa đông chinh/ Bảo giang vua xuất
hiện/ Chẳng đánh tự nhiên thành/ Rồi ra mới biết thánh minh/ Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
52
Nhị Hà một dải quanh co,
Chính thực chốn ấy đê đô hoàng bào.
Khắp hoà thiên hạ nao nao,
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?
Chú thích: (52) Chính Hà Nội (có sông Nhị Hà chảy qua) mới là kinh đô.
53
Nói đến độ thầy tăng ra mở nước,
Dám quỷ kia xuôi người đến đâu.
Bấy lâu những cậy phép mầu,
Bây giờ phép ấy đề lâu không hào.
Chú thích: (53) Nói về thực dân Pháp vẫn tự nhận là báo hộ khai hoá nhưng do hà hiếp dân ta lại vẫn
cậy vào văn minh cơ khí nay đã hết thời, dân tộc ta đã trưởng thành, các thứ ấy không còn hiệu nghiệm
nữa.
54
Cũng có kẻ non trèo biển lội,
Lánh mình vào Ở nội Ngô, Tề.
Có thầy Nhân Thập đi về,
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh.
55
Những người phụ giúp thánh minh,
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai.
Phùng thời nay hội thái lai,
Can qua chiến trận để người thưởng công.
56
Trẻ già được biết sự lòng,
Ghi là một bản để hòng giở xem.
Đời này những thánh cùng tiên.
Sinh những người hiền trị nước an dân.
Chú thích: (54 - 56) Thấy nhân Thập (danh từ riêng) chưa rõ chỉ ai. Hai bên phải trái có người hỗ trợ,
cây cỏ cũng thành binh lính. Gặp thời nay tới hội tốt lành rạng rỡ, nhưng chiến công thắng giác đều
được khen thưởng, nhân dân vui sướng.
57
Này những lúc thánh nhân chưa lại,
Chó còn nằm đầu khải cuối thu.
Khuyên ai sớm biết khuông phù,
Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngõ hầu.
58
Cơ Tạo Hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.
GIAI THOẠI VỀ TRẠNG LÚC SINH THỜI:
1. Bà thân mẫu Từ THỤC PHU NHÂN
Thân phụ của Trạng là Văn Định sau. được nhà Mạc truy tặng chức Thải Bảo, Nghiêm Quận Công.
Thân mẫu là con gái quan Hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lan, sau được nhà Mạc truy tặng Từ Thục phu
nhân. Tục truyền Từ Thục phu nhân là người đàn bà giỏi về văn chương và đặc biệt sở trường về khoa
Lý số. Bà tự xem tướng biết mình sau sinh quý tử, nên kén chồng khá lâu. Mãi đến năm ngoài 30 tuổi,
mới gặp ông Văn Định là người có tướng hợp, bà mới chịu cùng kết hôn.
Cái mộng lớn của bà là sẽ sinh con làm Thiên tử, chứ không chịu công hầu khanh tướng. Vì thế, hôm
động phòng hoa chúc, bà cắm một chiếc đũa ở trước sân và dặn ông Văn Định: Khi bóng trăng đến
chiếc đũa, ông mới được nhập phòng. Đợi lâu quá, nóng ruột, ông Văn Định bước vào. Bà trách rằng:
- Ông vội vàng như thế thì con cái sau này chỉ làm đến Tứ trụ hay đỗ đến Trạng Nguyên là cùng, chứ
không thể làm được Hoàng đế.
Hai vợ chống ăn ở được ít lâu, một hôm bà đi đò gặp một thanh niên vạm vỡ làm nghề đánh cá, bà
xem tướng thấy rõ người này mới thật là đại quý, nhưng tiếc việc hôn nhân đã lỡ cùng ông Văn Định
rồi. Người thanh niên ấy tức là Mạc Đăng Dung, sau này là Thái Tổ nhà Mạc. Tuy thế, những bà vẫn
tin ở các phép nhân định thắng thiên của mình.
Tương truyền, một hôm bà đưa con về quê, dọc đường gặp một thày tướng Trung Hoa. Sau khi liếc
qua dung mạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thầy Tàu buột miệng khen: "Tướng mạo của thằng bé này
không phải tầm thường. Nhưng vì nước da hơi thô nên chỉ làm được Trạng Nguyên mà thôi". Bà nghe
lời nói của thầy tướng không được vui lòng. Nguyễn Bỉnh Khiêm là con trai đầu lòng của bà. Bà nuôi
hy vọng rất lớn nên cầu mong ân trạch của tiền nhân và quyết sau này con bà phải ở ngôi Thiên Tử.
Nguyễn Bình Khiêm thông minh lạ lùng. Năm đầy tuổi thôi nôi đã biết nói. Năm con lên 4 tuổi, bà đã
dạy cho học thuộc lòng các bài chính nghĩa của Kinh, Truyện cùng với mươi bài thơ Nôm. Có một
hôm bà mẹ đi vắng, ông Văn Định nhân lúc rảnh rang, bồng con dạo chơi thơ thẩn trước sân. Nhìn thấy
ánh trăng, cao hứng ông ngâm lên: Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Bỉnh Khiêm đã ứng khẩu đọc:
Vén tay tiên, hốt hốt rung. Ngạc nhiên vì tài ứng đối giỏi của cậu con trai, ông Văn Định cho rằng con
mình là "thần đồng xuất thế". Khi bà vợ về ông Văn Định liền đem câu chuyện thuật lại. Bà mẹ của
Bỉnh Khiêm đã không mừng thì chớ, lại trách chồng sao ưng mặt trăng là một khí tượng nhỏ, tượng
trưng cho phận bầy tôi, sao sánh được với mặt trời, biểu hiện cho đấng Thiên tử. Cách ít lâu sau bà
chán nản bỏ đi. Có thuyết cho rằng bà đã bước thêm một bước nữa và sinh hạ được ông Phùng Khắc
Khoan, tác là ông Trạng Bùng, tác giả "Ngư Phủ nhập Đào Nguyên truyện" và "Nghị trai thi tập", cũng
gọi là "Phùng Công thi tập".
2. Quan Bảng nhãn LƯƠNG ĐẮC BẰNG
16.12.2010 10:10
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Nghiệp
Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên theo học quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Trào, huyện
Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hoá, Nguyễn Bỉnh Khiêm học rất giỏi và nổi tiếng về văn thơ.
Một hôm cụ Lương Đắc Bằng ốm, biết mình không saosống lâu được nữa bèn gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm
lại, chỉ cho ông một cái tráp để trên đầu giường, bảo giở ra mà lấy một bộ sách gói kín trong nhiều lần
gấm quý. Cụ Bằng bảo:
- “Đây: thầy cho quyển sách này và chỉ có con mới có thể hiểu được. Giờ này, thầy cũng nên nhắc lại
một việc ly kỳ cho con nghe: Lúc thầy đi sứ qua Tàu, sứ mạng xong thầy sắp về thì có một cụ khách
già cầm trao cho thầy một quyển sách, thầy tưởng cho thầy. Ông ấy lại nói:
- “Không, ta không phải cho nhà ngươi, ta nhờ người đem về giao cho một người An Nam”.
Thầy ngạc nhiên hỏi:
- “Cụ cho ai mà không nói tên?”.
Ông đáp: - “Không cần, chừng nào trong tâm linh nhà ngươi muốn cho ai là người ấy được phần”.
“Thầy mới hiểu lại ông ấy là một dị nhân. Ngày nay thầy cho con là con có phần”.
Mở ra đọc cảm thấy không lãnh hội được gì mấy, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cất quyến sách ấy lại một
bên. Thỉnh thoảng ông lại đem ra đọc, rồi lại cất, cứ như thế mãi…
Đến một hôm, có ông khách Tàu đem cho ông Bỉnh Khiêm một bài thơ. ông giở ra xem thì thấy ngu ý
của bài thơ có phần liên lạc với những câu trong bộ sách của thầy ông trao cho mà ông đã thường
ngẫm đọc nhiều lần song chưa hề vơ nghĩa. Bộ sách ấy chính là bộ Thái ất Thần Kinh vậy. Nhiều
người cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ nghiên cứu những điều bí ẩn trong bộ sách Thái ất Thần Kinh
này mà thông suốt được mọi việc quá khứ vị lai.
3. Với vợ : Lấy số tử vi cho cái quạt
Một hôm trời mùa hạ, bà Trạng đi chợ mua về cho Cụ một cây quạt giấy. Cụ tính ngày giờ, rồi lấy cho
cây quạt một lá số tử vi. Cụ đoán ra cái ngày chết của nó. Tất cả những việc làm ấy, Cụ đều bí mật
không cho một ai hay. Cụ phân vân nghĩ:.
"Nếu để dùng, lâu ngày nó sẽ rách hoặc thất lạc đi, cái đó là sự thường. Nếu đúng như số thật, và quả
có như vậy mọi việc đều do nơi tiền định, không ai có thể ngăn cản được, thì ta hãy cất đi xem nó ra
thế nào. Đúng đến ngày ấy, nó có chết thật không?".
Nghĩ vậy, Cụ niêm phong cây quạt và treo ngay lên chỗ đầu giường.
Tới ngày, cây quạt vẫn còn nguyên. Bữa đó từ sáng đến chiều. Cụ Ở nhà, quanh quẩn ở nơi giường cả
ngày để xem cây quạt chết ra sao. Thỉnh thoảng Cụ lại ngắm nghía và lấy phất trần phủi những hạt bụi
bám xung quanh.
Trưa hôm ấy, người cháu gọi bà Trạng bằng cô, có việc cần, đến mấy lượt thỉnh Cụ lại chơi, Cụ cũng
từ chối không đi. Anh ta nghĩ cho Cụ giận mình về việc gì mà không nói, đến than thở, nói với bà
Trạng để nhờ bà đốc Cụ đi dùm cho, không có, công việc anh không thành.
Bà Trạng từ sáng đã ngứa mắt thấy Cụ cứ chốc chốc lại phủi bụi cho quạt. Bà lên đốc Cụ đi sang cho
nhà cháu. Cụ không đi. Bực mình, bà Trạng liền la lối om xòm:
- Ông ở nhà làm gì, con cháu nó mời mấy lần , mà ông không chịu sang. Tôi mua quạt về dùng, đâu
phải để ông cất đi làm đày tớ mà phủi bụi cho nó.Vừa la lối bà Trạng vừa nhẩy lên với lấy cây quạt xé
tan ra từng mảnh. Này quạt, này quạt, không dùng thì xé nó đi để làm
Thấy vậy, cụ Trạng cả cười nói:
- Đúng thật, ta tưởng nó chết thế nào, thì ra như vậy đó.
Bà Trạng cũng không biết ý Cụ nói thế là làm sao. Lúc đó Cụ mới chỉnh tề khăn áo đi sang nhà người
cháu, và kể lại đầu đuôi câu chuyện với mọi người. Ai nấy cũng đều phục Cụ là tiên tri.
4. Với môn sinh : Sắt ngắn, gỗ dài ?
Tối ba mươi Tết một năm nọ, Cụ đang ngồi đàm luận về lý số với một người học trò ở xa đến thăm và
biếu Cụ lễ vật. Bỗng ngoài cổng có tiếng người gọi mở.
Cụ sai gia nhân ra bảo hãy chờ một chút. Rồi trong khi đó. Cụ và người học trò bấm qu
Thư viện Ebook Sách Mới www.sachmoi.net
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại
làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải
Phòng. Thân phụ ông là nho sinh Nguyễn Văn Định (sau do con có công được vua truy phong Thái bảo
Nghiêm Quận công). Thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục (sau được phong Từ Thục phu nhân), con gái quan
Thượng thư Nhữ Văn Lan, bà là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số.
Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương. Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất
khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ
văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.
Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá).
Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.
Thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu, lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Năm Đại
Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua
Mạc cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ Trạng nguyên và được phong tước Trình
Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.
Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo
quan năm 1542.
Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Tuyết,
do đó học trò gọi ông là "Tuyết giang Phu tử". Bạn của ông là những tài danh lỗi lạc một thời như
Bảng nhãn Bùi Doãn Đốc, Thám hoa Nguyễn Thừa Hưu, Thư Quốc công Thương thư Trạng nguyên
Nguyễn Thiến. Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Dữ- tác giả Truyền kỳ mạn lục,
Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh,Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện,
Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn
Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính ...
Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng
vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về viếng. Việc vua Mạc cử người được vua coi
như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang
ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân,
gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán (còn lưu lại) và hai tập Trình Quốc công Bạch vân thi tập và Trình
Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi, (với hàng trăm bài thơ
chữ Nôm) hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập
Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy
đức bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời.
Khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh từ đó ông tinh
thông về lý học, tướng số... Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến
Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề
cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa.
Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình quốc công. Nhờ học tính theo Thái Ất,
ông tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau này. Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm là "An Nam lý số hữu Trình Tuyền". Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và
suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu
thế mà người đời gọi là: Sấm Trạng Trình" (*)
Sấm Trạng Trình
Ban biên tập: "Sấm Trạng Trình" hiện nay có nhiều bản khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu bạn đọc,
chúng tôi đăng lại toàn bộ bản (bản A) do Nguyễn Nghiệp sưu tầm, giới thiệu trong sách "Trạng Trình
- Sấm và Ký" NXB Văn hóa - Thông tin.
BẢN A - SẤM KÝ TRẠNG TRÌNH
Đây là bản trích ở “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) của Trịnh Văn Thanh. Bản này
ngoài 14 câu "Cảm đề" có 248 câu “Sấm ký” cộng 262 câu.
Để tiện việc nghiên cứu, chúng tôi chia 248 câu trong phần “Sấm ký" thành 58 khổ thơ. với 8 khổ 6
câu còn lại 50 khổ thơ 4 câu và đánh sớm 1 đến 58. Tám khổ thơ 6 câu là các khổ thứ 1 , 6, 1 0, 1 9,
23, 31, 34 và 44
CẢM ĐỀ
Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruỗi thuyền buông chơi(1)
Cơ tạo hoá,
Phép đổi dời,
Đầu non mây khói toả,
Mặt nước cánh buồm trôi,
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi,
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời.
Tuổi già thưa kém bạn(2)
Văn chương gởi lại đời.
Dở hay nên tự lòng người cả,
Bút nghiên soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu.
Dành hậu thế xem chơi.
(1) Phạm Lãi sau khi lập kế cho Việt Vương Câu Tiễn diệt Ngô Phù Sai rồi chán dường danh lợi đổi
tên là Đào Chu cùng với Tây Thi đi chu du trên Ngũ Hồ.
(2) Thua kém bạn ở đây có nghĩa là ít bạn (cách nói cổ).
Sấm ký
1.
Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước,
Đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ thư một quyển xem nay mới rành.
Chú thích: (1) Khổ mở đầu. Đồ thư là bản đồ và sách.
2.
Hoà đao mộc lạc
Thập bát tử thành.
Đông A nhật xuất,
Dị mộc tái sinh.
Chú thích: (2) Hoà, đao, mộc là chữ Lê, lạc là rơi, ý nói nhà Lê hết, Thập, Bát, Từ là chữ Lý ám chỉ
nhà Lý nối tiếp. Đông A là chữ Trần. Dị mộc tái sinh là cây khác sống lại, ý nói nhà Hậu Lê.
3
Chấn cung xuất nhật
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Đế phế vi đinh.
(đọc bình luận)
Chú thích: (3) Nói nhà Nguyễn Tây Sơn xuất hiện
4.
Thập niên dư chiếm,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.
Chú thích: (4) Hơn mười năm chinh chiến, thiên hạ mới được lâu dài yên ổn.
5
Hoà đao mộc hồi dương sống lại.
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương
Hà thời biện - lại vi vương
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.
(đọc bình luận)
Chú thích: (5) Thời Trịnh - Nguyễn đánh nhau, Nam Bắc phân tranh, nhà Lê Trung Hưng, Nguyễn
Nhạc lên làm vua.
6.
Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.
(đọc bình luận)
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
(Hà thời thạch mã độ giang
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu) (Đọc bình luận)
Chú thích: (6) Nói về quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh Dân Vĩnh Lại cả làng được làm quận công
7
Chim bằng cất cánh về đâu ?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công
Bao giờ trúc mọc qua sông
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây. (đọc bình luận)
Chú thích: (7) Về Nguyễn Hữu Chỉnh (bằng quận công) và chiến thắng Đống Đa lịch sử
8
Đoài cung một sớm đổi thay,
Chân cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Dầu cha lộn xuống chân con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi. (đọc bình luận)
Chú thích: (8) Vua Quang Trung truyền đến đời vua Cảnh Thinh, hai đời được mười bốn năm
9
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chinh chích u mê
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.
(đọc bình luận)
Chú thích: (9) Nhà Nguyễn mắc mồi Tây Dương, mất chủ quyền về tay người Pháp và cái chết của vua
Dục Đức
10
Để loài bạch quỷ Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly.
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy.
Gia đình một ở ba đi dần dần,
Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này. (đọc bình luận)
Chú thích: (10) Nhà Nguyễn đưa dân ta vào vòng nô lệ và ba vị vua yêu nước bị đi đày ở Châu Phi
11
Kia kìa gió thổi lá rung cây.
Rung Bắc rung Nam Đông tới Tây.
Tan tác KIẾN kiều AN đất nước
Xác xơ Cổ thụ sạch AM mây.
(đọc bình luận)
12
LÂM giang nổi sóng mù THAO cát,
HUNG địa tràn dâng Hoá nước đầy.
Một ngựa một yên ai sùng bái ?
Nhắn con nhà VĨNH BẢO cho hay.
Chú thích: (11,12) Cuộc khởi nghĩa Yên Bái bất thành năm 1930.
13
Tiền ma bạc quỷ trao tay,
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua.
Giữa năm hai bẩy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây. (đọc bình luận)
Chú thích: (13) Các cuộc khơi nghĩa đầu thế ký 20 và cái chết của viên toàn quyền Pierre Pasquier
14
Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay.
Ngựa đã gác yên không người cưỡi,
Dê không ăn lộc ngảnh về Tây.
15
Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa,
Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày.
Chú thích: (14, 15) Những biến cố trong tám năm liên tiếp : Thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.
16
Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hào biết đấy mới ngoan,
Chữ rằng lục, thất nguyệt gian,
Ai mà giữ được mới nên anh tài.
17
Ra tay điều đỉnh hộ mai,
Bây giờ mới rõ là người an dân.
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.
18
Phá điền than đến đàn dê,
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng.
Dê đi dê lại tuồn luồn,
Đàn đi nó cũng một môn phụ trì.
19
Thương những kẻ nam nhi chí cả,
Chờ vội sang tất tả chạy rong.
Học cho biết chữ cát hung,
Biết phương hướng đứng chớ dừng lầm chi,
Hễ trời sinh xuống phải thì,
Bất kỳ nhi ngọ tưởng gì đợi mong.
20
Kìa những kẻ vội lòng phú quý,
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông,
Lưới đăng đâu dễ nên công mà hòng.
21
Khuyên những đứng thời trung quân tử,
Lòng trung nghi nên giữ cho mình.
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh,
Thái Nhâm, Thái ất trong mình cho hay.
22,23
Chờ vật vờ quen loài ong kiến,
Hư vô bàn miệng tiếng nói không .
“Ô hô thế sự tự bình bồng,
Nam, Bắc hà thời thiết lộ thông.
Hồ ẩn sơn trung Mao tận bạch, (đọc bình luận)
Kinh cư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê mình ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông.
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
Tứ phương thiên hạ thái bình phong”
Chú thích: (22,23) Tám câu cuối, ông Ngư Phố giác đã dịch nôm như sau :
Than đi thế sự thật bình bồng !
Nam, Bắc chừng nào thiết lộ thông ?
Hồ ẩn trong non, mao thấy trắng,
Kình ngoi ngoài biển huyết loang hồng.
Gà kêu cây ngọc trơi nghiêng Bắc,
Trâu tới Lam điền bóng rạng Đông
Tới lúc ưng về sư tứ dậy,
Thái bình mớn toả khắp non sông
24
Ngõ mây gặp hội mây rồng,
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài.
Nước Nam thường có Thánh tài.
Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường?
25
So mấy lề để tàng kim qũy,
Kể sau này ngu bỉ được coi.
Đôi phen đất lở cát bồi,
Đó đây ông kiến dậy trời quỷ ma.
26
Ba con đổi lấy một cha,
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền .
Mão, Thìn, Tý, Ngọ bất yên,
Đợi tam tứ ngũ lai niên cũng gần. (đọc bình luận)
Chú thích: (26) Việc thay dần đồng tiền Khải Định bằng đồng Bảo Đại
27
Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân,
(đọc bình luận)
Đến thời thiên hạ vô quân,
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành. (đọc bình luận)
Chú thích: (27) Chúa Nguyễn vào Nam cũng có thế lực
28
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung,
Thiên sinh hữu nhất anh hùng,
Cửu dân độ thế trừ hung diệt tà.
Chú thích: (28) Nhà Nguyễn cáo chung
29
Thái Nguyên cận Bắc đường xa,
Ai mà tìm thấy mới là thần minh,
Uỷ nghi dung mạo khác hình,
Thác cư một góc kim tinh phương Đoài.
30
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi,
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân,
Binh thư mây quyển kinh luân
Thiên văn, địa lý, nhân dân, phép mầu.
31
Xem ý trời ngõ hầu khải thánh,
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai.
Song thiên nhật nguyệt sáng soi,
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường
Thông minh kim cổ khác thường,
Thuấn, Nghiêu là trí, Cao Quang là tài.
Chú thích: (29-31) Một vị thành nhân sáng suốt mở đường cho dân tộc, đức độ nhân trí như vua
Nghiêu, vua Thuấn, tài giỏi như vua Hán Cao tổ và vua Quang Vũ đế.
32
Đấng hiên ngang nào ai biết trước,
Tài thao lược yêm bác vu văn.
Ai còn khoe trí khoe năng,
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.
33
Chưa từng thấy nay đời sự lạ,
Chốc lại mòng gá vạ cho dân.
Muốn bình sao chẳng lấy nhân,
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình.
34
Dã ngu dại Hoàn,
Linh đời Hán Lại đua nhau quần thán đồ lê.
Chức này quyền nọ say mê,
Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương.
Kẻ thì phải thuở hung hoang,
Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình.
Chú thích: (32-34) Chưa thấy tài liêu nào giải thích xem ứng với sự kiện gì. Hoàn Đế và Linh Đế và
hai vi hôn quân ở cuối đời Đông Hán.
35
Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thời tiết hoa tàn,
Trực đảodương đầu mã vĩ,
Hồ binh bát vạn nhập Trường An. (đọc bình luận)
Chú thích: (35) Tám vạn bộ đội cụ Hồ vào giải phóng Thủ đô
36
Nực cười những kẻ bàng quan,
Cờ tan lại muốn toan đường chống xe.
Lại còn áo mũ xum xoe
Còn ra xe ngựa mầu mè khoe khoang.
37
Ghê thay thau lẫn với vàng,
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng.
Thánh ra tuyết tán mây tan,
Bấy giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.
38
Can qua, việc nước bời bời,
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân,
Oai phong khấp quỷ kinh thần.
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca.
39
Rừng xanh núi đỏ bao la,
Dông tàn Tây bại sang gà mới yên,
Sửu Dần thiên hạ đảo điên,
Ngày nay thiên số vận niên rành rành.
40
Long vĩ sà đầu khởi chiến tranh,
Can qua xứ xứ khổ đao binh.
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân, dậu niên lai kiến Thái bình. (đọc bình luận)
Chú thích: (40) Bốn câu này được ông Ngự Phù giáo dịch như sau: Đuôi rồng đầu rắn nổi chiến tranh/
Khắp hòa thiên hạ khố đao binh/ Móng dê chân ngựa anh hùng hết/ Thân dậu rồi ra mới thái bình./ nói
về cuộc Đại chiến.thế giời thứ hai.
41
Sự đời tính đã phân minh,
Thanh nhàn mới kể chuyện mình trước sau:
Đầu thu gà gáy xôn xao,
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long (đọc bình luận)
Chú thích: (41) Cách mạng tháng tám - 1945
42
Chó kêu ầm ĩ mùa đông,
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi,
Lợn kêu tình thế lâm nguy,
Qủy Vương chết giữa đường đi trên giời.
Chú thích: (42) Nhà Nguyễn cáo chung. Hay câu sau có người cho ám chỉ Đại tướng Pháp Leclerc ngộ
nạn máy bay chết cháy
43
Chuột xa chính gạo nằm chơi,
Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra.
Hùm gầm khắp nẻo gần xa,
Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời.
44
Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng.
Ngựa hồng quỉ mới nhăn răng,
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời,
Chín con rồng lộn khắp nơi,
Nhện dăng lưới gạch dại thời mắc mưu.
Chú thích: (43,44) Giặc Pháp bại trận
45
Lời truyền để lại bấy nhiêu,
Phương Đoài giặc đã đến chiều bại vong.
Hậu sinh thuộc lấy làm lòng,
Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.
46
Đầu can Võ tướng ra binh,
Ắt là trăm họ thái bình âu ca.
Thần Kinh Thái ất suy ra,
Đễ dành con cháu đem ra nghiệm bàn.
47
Ngày thường xem thấy quyển vàng
Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi.
Bởi Thái Ất thấy lạ đời,
Ấy thuở sâm trời vô giá thập phân.
48
Kể từ Lạc Long Quân,
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian.
Mỗi đời có một tôi ngoan,
Giúp chung nhà nước dân an thái bình.
Chú thích: (45-48) Nói vì sự ra đời của bài Sấm và dần dần trăm họ thái bình, quốc thái dân an.
49
Phú quý hồng trần mộng,
Bần cùng bạch phát sinh.
Hoa thôn dã khuyển phệ,
Mục giã giục nhân canh.
50
Bắc hữu Kim thành tráng,
Nam hữu Ngọc bích thành.
Phân phân tùng bách khởi,
Nhiễu nhiễu xuất Dông chính.
51
Bảo giang thiên tử xuất.
Bất chấp tự nhiên thành,
Rồi ra mới biết thánh minh.,
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
Chú thích: (49-51) Cuộc sống dần tới ấm no. Mấy khổ này dịch như sau: Giầu sang mộng bụi hồng/
Khốn cùng sinh tóc bạc/ Hoa Thôn chó sủa nhiều/ Trẻ trâu gìục người gác/ Bắc có Kim Thành vững/
Nam có Ngọc Bích Thành/ Tuyến rơí tùng bách xanh/ Bối rối thủa đông chinh/ Bảo giang vua xuất
hiện/ Chẳng đánh tự nhiên thành/ Rồi ra mới biết thánh minh/ Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
52
Nhị Hà một dải quanh co,
Chính thực chốn ấy đê đô hoàng bào.
Khắp hoà thiên hạ nao nao,
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?
Chú thích: (52) Chính Hà Nội (có sông Nhị Hà chảy qua) mới là kinh đô.
53
Nói đến độ thầy tăng ra mở nước,
Dám quỷ kia xuôi người đến đâu.
Bấy lâu những cậy phép mầu,
Bây giờ phép ấy đề lâu không hào.
Chú thích: (53) Nói về thực dân Pháp vẫn tự nhận là báo hộ khai hoá nhưng do hà hiếp dân ta lại vẫn
cậy vào văn minh cơ khí nay đã hết thời, dân tộc ta đã trưởng thành, các thứ ấy không còn hiệu nghiệm
nữa.
54
Cũng có kẻ non trèo biển lội,
Lánh mình vào Ở nội Ngô, Tề.
Có thầy Nhân Thập đi về,
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh.
55
Những người phụ giúp thánh minh,
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai.
Phùng thời nay hội thái lai,
Can qua chiến trận để người thưởng công.
56
Trẻ già được biết sự lòng,
Ghi là một bản để hòng giở xem.
Đời này những thánh cùng tiên.
Sinh những người hiền trị nước an dân.
Chú thích: (54 - 56) Thấy nhân Thập (danh từ riêng) chưa rõ chỉ ai. Hai bên phải trái có người hỗ trợ,
cây cỏ cũng thành binh lính. Gặp thời nay tới hội tốt lành rạng rỡ, nhưng chiến công thắng giác đều
được khen thưởng, nhân dân vui sướng.
57
Này những lúc thánh nhân chưa lại,
Chó còn nằm đầu khải cuối thu.
Khuyên ai sớm biết khuông phù,
Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngõ hầu.
58
Cơ Tạo Hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào,
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.
GIAI THOẠI VỀ TRẠNG LÚC SINH THỜI:
1. Bà thân mẫu Từ THỤC PHU NHÂN
Thân phụ của Trạng là Văn Định sau. được nhà Mạc truy tặng chức Thải Bảo, Nghiêm Quận Công.
Thân mẫu là con gái quan Hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lan, sau được nhà Mạc truy tặng Từ Thục phu
nhân. Tục truyền Từ Thục phu nhân là người đàn bà giỏi về văn chương và đặc biệt sở trường về khoa
Lý số. Bà tự xem tướng biết mình sau sinh quý tử, nên kén chồng khá lâu. Mãi đến năm ngoài 30 tuổi,
mới gặp ông Văn Định là người có tướng hợp, bà mới chịu cùng kết hôn.
Cái mộng lớn của bà là sẽ sinh con làm Thiên tử, chứ không chịu công hầu khanh tướng. Vì thế, hôm
động phòng hoa chúc, bà cắm một chiếc đũa ở trước sân và dặn ông Văn Định: Khi bóng trăng đến
chiếc đũa, ông mới được nhập phòng. Đợi lâu quá, nóng ruột, ông Văn Định bước vào. Bà trách rằng:
- Ông vội vàng như thế thì con cái sau này chỉ làm đến Tứ trụ hay đỗ đến Trạng Nguyên là cùng, chứ
không thể làm được Hoàng đế.
Hai vợ chống ăn ở được ít lâu, một hôm bà đi đò gặp một thanh niên vạm vỡ làm nghề đánh cá, bà
xem tướng thấy rõ người này mới thật là đại quý, nhưng tiếc việc hôn nhân đã lỡ cùng ông Văn Định
rồi. Người thanh niên ấy tức là Mạc Đăng Dung, sau này là Thái Tổ nhà Mạc. Tuy thế, những bà vẫn
tin ở các phép nhân định thắng thiên của mình.
Tương truyền, một hôm bà đưa con về quê, dọc đường gặp một thày tướng Trung Hoa. Sau khi liếc
qua dung mạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thầy Tàu buột miệng khen: "Tướng mạo của thằng bé này
không phải tầm thường. Nhưng vì nước da hơi thô nên chỉ làm được Trạng Nguyên mà thôi". Bà nghe
lời nói của thầy tướng không được vui lòng. Nguyễn Bỉnh Khiêm là con trai đầu lòng của bà. Bà nuôi
hy vọng rất lớn nên cầu mong ân trạch của tiền nhân và quyết sau này con bà phải ở ngôi Thiên Tử.
Nguyễn Bình Khiêm thông minh lạ lùng. Năm đầy tuổi thôi nôi đã biết nói. Năm con lên 4 tuổi, bà đã
dạy cho học thuộc lòng các bài chính nghĩa của Kinh, Truyện cùng với mươi bài thơ Nôm. Có một
hôm bà mẹ đi vắng, ông Văn Định nhân lúc rảnh rang, bồng con dạo chơi thơ thẩn trước sân. Nhìn thấy
ánh trăng, cao hứng ông ngâm lên: Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Bỉnh Khiêm đã ứng khẩu đọc:
Vén tay tiên, hốt hốt rung. Ngạc nhiên vì tài ứng đối giỏi của cậu con trai, ông Văn Định cho rằng con
mình là "thần đồng xuất thế". Khi bà vợ về ông Văn Định liền đem câu chuyện thuật lại. Bà mẹ của
Bỉnh Khiêm đã không mừng thì chớ, lại trách chồng sao ưng mặt trăng là một khí tượng nhỏ, tượng
trưng cho phận bầy tôi, sao sánh được với mặt trời, biểu hiện cho đấng Thiên tử. Cách ít lâu sau bà
chán nản bỏ đi. Có thuyết cho rằng bà đã bước thêm một bước nữa và sinh hạ được ông Phùng Khắc
Khoan, tác là ông Trạng Bùng, tác giả "Ngư Phủ nhập Đào Nguyên truyện" và "Nghị trai thi tập", cũng
gọi là "Phùng Công thi tập".
2. Quan Bảng nhãn LƯƠNG ĐẮC BẰNG
16.12.2010 10:10
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Nghiệp
Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên theo học quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Trào, huyện
Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hoá, Nguyễn Bỉnh Khiêm học rất giỏi và nổi tiếng về văn thơ.
Một hôm cụ Lương Đắc Bằng ốm, biết mình không saosống lâu được nữa bèn gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm
lại, chỉ cho ông một cái tráp để trên đầu giường, bảo giở ra mà lấy một bộ sách gói kín trong nhiều lần
gấm quý. Cụ Bằng bảo:
- “Đây: thầy cho quyển sách này và chỉ có con mới có thể hiểu được. Giờ này, thầy cũng nên nhắc lại
một việc ly kỳ cho con nghe: Lúc thầy đi sứ qua Tàu, sứ mạng xong thầy sắp về thì có một cụ khách
già cầm trao cho thầy một quyển sách, thầy tưởng cho thầy. Ông ấy lại nói:
- “Không, ta không phải cho nhà ngươi, ta nhờ người đem về giao cho một người An Nam”.
Thầy ngạc nhiên hỏi:
- “Cụ cho ai mà không nói tên?”.
Ông đáp: - “Không cần, chừng nào trong tâm linh nhà ngươi muốn cho ai là người ấy được phần”.
“Thầy mới hiểu lại ông ấy là một dị nhân. Ngày nay thầy cho con là con có phần”.
Mở ra đọc cảm thấy không lãnh hội được gì mấy, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cất quyến sách ấy lại một
bên. Thỉnh thoảng ông lại đem ra đọc, rồi lại cất, cứ như thế mãi…
Đến một hôm, có ông khách Tàu đem cho ông Bỉnh Khiêm một bài thơ. ông giở ra xem thì thấy ngu ý
của bài thơ có phần liên lạc với những câu trong bộ sách của thầy ông trao cho mà ông đã thường
ngẫm đọc nhiều lần song chưa hề vơ nghĩa. Bộ sách ấy chính là bộ Thái ất Thần Kinh vậy. Nhiều
người cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ nghiên cứu những điều bí ẩn trong bộ sách Thái ất Thần Kinh
này mà thông suốt được mọi việc quá khứ vị lai.
3. Với vợ : Lấy số tử vi cho cái quạt
Một hôm trời mùa hạ, bà Trạng đi chợ mua về cho Cụ một cây quạt giấy. Cụ tính ngày giờ, rồi lấy cho
cây quạt một lá số tử vi. Cụ đoán ra cái ngày chết của nó. Tất cả những việc làm ấy, Cụ đều bí mật
không cho một ai hay. Cụ phân vân nghĩ:.
"Nếu để dùng, lâu ngày nó sẽ rách hoặc thất lạc đi, cái đó là sự thường. Nếu đúng như số thật, và quả
có như vậy mọi việc đều do nơi tiền định, không ai có thể ngăn cản được, thì ta hãy cất đi xem nó ra
thế nào. Đúng đến ngày ấy, nó có chết thật không?".
Nghĩ vậy, Cụ niêm phong cây quạt và treo ngay lên chỗ đầu giường.
Tới ngày, cây quạt vẫn còn nguyên. Bữa đó từ sáng đến chiều. Cụ Ở nhà, quanh quẩn ở nơi giường cả
ngày để xem cây quạt chết ra sao. Thỉnh thoảng Cụ lại ngắm nghía và lấy phất trần phủi những hạt bụi
bám xung quanh.
Trưa hôm ấy, người cháu gọi bà Trạng bằng cô, có việc cần, đến mấy lượt thỉnh Cụ lại chơi, Cụ cũng
từ chối không đi. Anh ta nghĩ cho Cụ giận mình về việc gì mà không nói, đến than thở, nói với bà
Trạng để nhờ bà đốc Cụ đi dùm cho, không có, công việc anh không thành.
Bà Trạng từ sáng đã ngứa mắt thấy Cụ cứ chốc chốc lại phủi bụi cho quạt. Bà lên đốc Cụ đi sang cho
nhà cháu. Cụ không đi. Bực mình, bà Trạng liền la lối om xòm:
- Ông ở nhà làm gì, con cháu nó mời mấy lần , mà ông không chịu sang. Tôi mua quạt về dùng, đâu
phải để ông cất đi làm đày tớ mà phủi bụi cho nó.Vừa la lối bà Trạng vừa nhẩy lên với lấy cây quạt xé
tan ra từng mảnh. Này quạt, này quạt, không dùng thì xé nó đi để làm
Thấy vậy, cụ Trạng cả cười nói:
- Đúng thật, ta tưởng nó chết thế nào, thì ra như vậy đó.
Bà Trạng cũng không biết ý Cụ nói thế là làm sao. Lúc đó Cụ mới chỉnh tề khăn áo đi sang nhà người
cháu, và kể lại đầu đuôi câu chuyện với mọi người. Ai nấy cũng đều phục Cụ là tiên tri.
4. Với môn sinh : Sắt ngắn, gỗ dài ?
Tối ba mươi Tết một năm nọ, Cụ đang ngồi đàm luận về lý số với một người học trò ở xa đến thăm và
biếu Cụ lễ vật. Bỗng ngoài cổng có tiếng người gọi mở.
Cụ sai gia nhân ra bảo hãy chờ một chút. Rồi trong khi đó. Cụ và người học trò bấm qu
 








Các ý kiến mới nhất