Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NHỮNG MẨU CHUYỆN BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG TRONG LỊCH SỬ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:59' 30-01-2026
Dung lượng: 993.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
NHỮNG MẨU CHUYỆN
BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG
TRONG LỊCH SỬ

HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịch Hội đồng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO

TS. NGUYỄN HỮU TÂM

NHỮNG MẨU CHUYỆN
BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG
TRONG LỊCH SỬ

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2016

LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã
vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức đấu tranh,
được tiến hành bằng nhiều biện pháp, phong phú, linh
hoạt, khéo léo, đạt hiệu quả cao nhằm tạo sức mạnh
tổng hợp, giữ vững nền độc lập, bảo vệ toàn vẹn chủ
quyền lãnh thổ quốc gia. Ngày nay, trong bối cảnh tình
hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến rất phức tạp,
đòi hỏi chúng ta phải tập trung phát huy sức mạnh
tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị,
tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng
quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc.
Như vậy, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ và trách
nhiệm thiêng liêng của mỗi người dân nước Việt, nhằm
giữ gìn tài sản vô giá mà lớp lớp các thế hệ người Việt
Nam đã đổ bao mồ hôi và xương máu để xây dựng nên.
Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Sự thật xuất bản cuốn sách Những mẩu chuyện bảo vệ
biên cương trong lịch sử do TS. Nguyễn Hữu Tâm biên
soạn. Thông qua những tư liệu được nhắc đến qua các

5

bộ sử trong và ngoài nước, nội dung cuốn sách là một
số câu chuyện về việc bảo vệ biên cương, biển đảo thời
kỳ phong kiến của ông cha ta, từ những vấn đề như
chính sách, xây dựng lực lượng quân sự, sự đãi ngộ
đối với đội ngũ quan lại trực tiếp xử lý công việc tại
cửa ải đến các tấm gương trong việc bảo vệ chủ quyền
đất nước...
Xin giới thiệu cuốn sách và mong nhận được ý kiến
đóng góp của bạn đọc.
Tháng 7 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

6

LỜI NÓI ĐẦU
Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ
nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, nhất
là từ khi bước vào kỷ nguyên phong kiến độc lập,
tự chủ đầu thế kỷ X, thì vấn đề chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia, luôn được chính quyền các
triều đại quan tâm. Lê Thánh Tông - một vị quân
vương hùng tài đại lược, trong thời gian cầm
quyền trị nước (1460-1497) đã xây dựng Đại Việt
trở thành một quốc gia phát triển thịnh trị toàn
diện “phú quốc, cường binh” (nước giàu, quân
mạnh), từng minh định quan điểm của mình về
chủ quyền quốc gia trong lời răn dụ cho một vị đại
quan trước khi đi giải quyết vấn đề biên giới: “Một
thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ?
Phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần.
Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang
phương Bắc trình bày điều ngay lẽ gian. Nếu
ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái
Tổ (Lê Lợi) làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”.
Câu nói bất hủ của Lê Thánh Tông đã trở thành
Tuyên ngôn bất di bất dịch cho công cuộc bảo vệ
7

lãnh thổ quốc gia lâu dài, gian khổ, không khoan
nhượng của mọi triều đại phong kiến Việt Nam.
Cuốn sách Những mẩu chuyện bảo vệ biên
cương trong lịch sử nhằm ôn lại truyền thống anh
dũng của tổ tiên cha ông ta trong sự nghiệp gìn
giữ biên cương, biển đảo của đất nước. Nội dung
cuốn sách đề cập những vấn đề mang tính chất
quản lý quốc gia như chính sách biên cương, biển
đảo, xây dựng lực lượng quân sự Trung ương cũng
như địa phương, chính sách đãi ngộ đối với đội
ngũ quan lại, thổ tù trực tiếp xử lý công việc tại
cửa ải trên bộ cũng như ngoài biển...; đồng thời,
sách cũng nêu một số tấm gương tiêu biểu, tiết
liệt trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh đất
nước, hay những cuộc đấu trí sắc sảo của các sứ
thần Đại Việt, buộc kẻ địch phải hoàn trả vùng
đất đã chiếm. Từ bậc quân vương có vị thế cao
nhất nước, các tướng lĩnh, trọng thần quốc gia cho
đến những người dân bình thường ở biển khơi hay
vùng núi cao cũng đều tích cực đem tài năng, sức
lực của mình để bảo vệ từng tấc đất biên cương
của Tổ quốc.
Cuốn sách còn cung cấp cho người đọc về
truyền thống quản lý biển đảo có hệ thống từ
nhiều thế kỷ trước của các triều đại quân chủ Việt
Nam. Việc khai thác tài nguyên biển hay chính
sách quản lý biển đảo, xây dựng lực lượng thủy
quân của các chúa Nguyễn, của triều Lê - Trịnh,
8

nhất là của triều Tây Sơn và sau này là của triều
Nguyễn với các vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu
Trị, Tự Đức đều chứng tỏ chủ quyền lãnh thổ
vùng biển đảo, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa cùng quá trình khai thác nguồn lợi
kinh tế ở vùng Biển Đông, từ nhiều thế kỷ trước
đã thuộc về Việt Nam.
Hy vọng thông qua những câu chuyện từ
trong lịch sử nhằm giúp người đọc hiểu sâu hơn ý
thức toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên cương của Tổ
tiên, từ đó nâng cao nhận thức để bảo vệ biên giới
quốc gia, đồng thời mong muốn tri ân những cống
hiến hết mình của các con dân Việt Nam từ xa
xưa cho đến ngày nay trong công cuộc gìn giữ chủ
quyền biên cương, biển đảo.
Nội dung cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót,
tác giả rất mong nhận được sự phê bình, góp ý của
độc giả.
Hà Nội, sau ngày Hạ chí, Bính Thân (6-2016)

9

10

VUA LÊ ĐẠI HÀNH
VỚI VIỆC BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC
Nhắc đến vua Lê Đại Hành, mọi người luôn
nhớ tới hình ảnh một vị tướng tài ba, đã được
Thái hậu họ Dương cùng tập thể tướng lĩnh tiến
bộ triều Đinh sáng suốt, trao cho áo bào lên ngôi
báu, để lãnh đạo quân dân cả nước kháng chiến
“chống thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ Nhà nước
Đại Cồ Việt non trẻ. Cũng từ những chiến công
phá Tống phía Bắc, dẹp yên quân Chiêm Thành
phía Nam mà Thập đạo tướng quân Lê Hoàn,
sau là vua Lê Đại Hành, đã được xếp vào hàng
những vị vua tài giỏi trong tiến trình lịch sử
dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt
Nam. Sử thần Lê Tung đánh giá: “Lê Đại Hành
cầm quyền [tướng quân] mười đạo, giữ chức
Nhiếp chính, vua bé nước nguy, nhân thời chịu
mệnh, giết vua Chiêm Thành để rửa cái nhục sứ
thần bị bắt, phá quân Tống làm nhụt cái mưu tất
thắng của chúng... Cày ruộng tịch điền ở Long Đội,
mời người xử sĩ ở Tượng Sơn, kén dùng hiền tài,
11

dựng mở trường học, có mưu lược to lớn của bậc
đế vương”1.
Sau những chiến công vang dội, vua Lê Đại
Hành bắt tay vào công cuộc kiến thiết và xây
dựng đất nước. Nhà vua nổi tiếng là người “bình
dị cận dân”, “đi chân đất, câu cá”, rất chăm lo đến
phát triển thủy lợi và nông nghiệp. Ông là vị vua
đầu tiên trong lịch sử nước ta đã tổ chức lễ cày
tịch điền, nhằm khuyến khích sản xuất nông
nghiệp. Hằng năm vào đầu xuân, vùng quê Long
Đọi sơn (núi Đọi) của Hà Nam, Nhà nước vẫn
thường xuyên tổ chức trọng thể tái hiện lễ tịch
điền của vua Lê Đại Hành diễn ra cách nay hơn
10 thế kỷ.
Cũng như các triều đại khác, dưới triều Tiền
Lê có những vụ việc tranh chấp vùng khe động
biên giới giữa cư dân hai nước Việt - Trung. Theo
báo cáo của các biên thần nhà Tống vào năm 995:
phía Việt Nam đã cho hơn 100 thuyền chiến sang
đánh cướp trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu
(Quảng Đông), rồi lại đem hơn 5.000 hương binh
đánh vào Ung Châu (Quảng Tây). Chính sử của
Việt Nam cũng chép: “Bấy giờ nhà Tống ngại việc
chinh chiến, vua (Lê Hoàn) cậy có núi biển hiểm
trở, hơi buông thả cho dân biên giới lấn cướp vào
_____________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1998, t.I, tr.122.

12

cõi của đất Tống”1. Tống Thái Tông đang trị vì
không muốn gây ra mối bất hòa với Đại Cồ Việt,
nên đã lờ đi và không nhắc đến những sự kiện đó.
Sau khi phát giác biên thần của mình tâu sai,
Tống Thái Tông đã cho trị tội và cử Lý Nhược
Chuyết cầm đầu đoàn sứ đem chiếu thư và đai
ngọc tặng vua Lê Đại Hành.
Khi nhà vua Lê Đại Hành ra tiếp đón sứ ở
ngoài thành, đã chủ động không làm lễ lạy chiếu
thư với lý do “vừa ngã ngựa, chân đau, không
quỳ lạy được”. Hơn nữa, thái độ khinh mạn sứ
Tống của nhà vua, được Lê Tắc chép lại trong
sách An Nam chí lược viết vào đầu thế kỷ XIV:
“Thoạt mới đến, Lê Hoàn ra ngoài thành đón
tiếp, chào hỏi rất khinh rẻ”2 (nguyên âm Hán
Việt: Thủy chí, Hoàn xuất giao nghênh, từ khí
phả mạn), đồng thời, còn cảnh báo phía Tống:
''Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở
cõi ngoài... Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu
tiên đánh vào Phiên Ngung (Quảng Đông), thứ
đến đánh vào Mân Việt (Phúc Kiến), há chỉ dừng
ở trấn Như Hồng mà thôi”3. Lời khẳng định như
trên của một vị quân vương nước Việt nói với đế
chế phương Bắc, vốn vẫn được coi là “Thiên triều”,
_____________
1, 3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.228, 229.
2. Lê Tắc: An Nam chí lược, Nxb. Thuận Hóa - Trung tâm
Ngôn ngữ văn hóa Đông Tây, Hà Nội, 2002, tr.230.

13

chứng tỏ sức mạnh quân sự tiềm tàng của triều
Tiền Lê vào cuối thế kỷ X.
Theo thống kê qua các thư tịch cổ, đích thân
vua Lê Đại Hành đã nhiều lần cầm quân đi đánh
dẹp các cuộc nổi loạn ở vùng biên trong cả nước:
Năm 981, 997 đánh dẹp Chiêm Thành ở phương
Nam, năm 989, 996, 997, 999, 1000, 1001 dẹp nội
loạn tại vùng Hoan Ái, Triều Dương, Đỗ Động
Giang, Phong Châu... Ngoài ra, ông còn thường
xuyên cử các tướng lĩnh đi tuần tra, kiểm soát các
vùng đất liền, cũng như ven biển để nắm vững an
ninh biên giới.
Sau 10 năm giao hảo dưới hình thức trao đổi
sứ giả, biếu phương vật, phong tặng, năm 993,
triều Tống sai Vương Thế Tắc và Lý Cư Giản
chính thức thừa nhận việc Lê Hoàn nắm quyền
quản lý nước Đại Cồ Việt thay thế nhà Đinh,
phong cho Lê Hoàn làm Giao Chỉ Quận vương,
năm 997 gia phong Nam Bình vương. Từ đó đến
khi Lê Hoàn mất năm 1005, hầu như chỉ vài lần
đoàn sứ của Tiền Lê sang Tống, chứ tuyệt nhiên
không có đoàn sứ giả của Tống sang ta nữa. Đây
là một thắng lợi trong đối ngoại thời xưa, quan hệ
hữu hảo giữa Lê - Tống vẫn luôn được bảo đảm và
duy trì, nhưng quan trọng hơn là chấm dứt hoàn
toàn mọi hành động hạch sách, nhũng nhiễu của
các viên sứ Tống đối với triều đình và dân chúng
Đại Cồ Việt ở nơi biên giới và trong nước.
14

Thắng lợi trên mặt trận ngoại giao trong quá
trình ở ngôi của Lê Hoàn, tạo một ảnh hưởng tốt
ngay cả sau khi ông đã qua đời. Vào cuối năm
1005, con trai của Lê Hoàn là Lê Long Đĩnh kế
tục sự nghiệp quản lý đất nước, lập tức phía Tống
đã dấy lên một kế hoạch tìm hiểu và đưa ra dự
định xâm lược nước ta. Sau hơn một năm dò xét
nội tình triều Lê, định liệu phương lược, tháng 6
năm 1006, viên Tri châu Quảng Châu dâng tâu
xâm lược nước ta: ''Nếu triều đình chuẩn y, xin
lấy binh và cho thêm 5000 quân mạnh ở Kinh Hồ,
thủy bộ cùng tiến có thể bình định được ngay”1.
Vua Tống Chân Tông không dám quyết định, thác
cớ rằng: “Họ Lê thường sai con vào chầu, góc biển
yên tĩnh, không mất trung thuận, nay nghe tin
mới chết (chỉ vua Lê Hoàn), chưa có lễ thăm
viếng, đã vội đánh kẻ có tang, há phải là việc làm
của bậc vương giả”2. Sau đó, Chân Tông còn nêu
lên lý do về khí hậu, dịch bệnh, nhắc nhở các biên
thần cần chú trọng việc bảo vệ biên cương: “Giao
châu nhiều lam chướng dịch lệ, nếu đem quân
sang đánh thì chết hại tất nhiều, nên cẩn thận
giữ gìn cõi đất của tổ tông mà thôi”3.
Với khả năng quân sự và ngoại giao tài giỏi
của mình, vua Lê Đại Hành sinh thời đã khiến
cho kẻ thù khiếp sợ mỗi khi tiếp kiến và đối đầu.
_____________
1, 2, 3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.234.

15

Tống Nhân Tông là vua đã bị quân đội Tiền Lê
đánh bại ý đồ thôn tính Đại Cồ Việt vào cuối thế
kỷ X, sau đó cũng từng phải công nhận Lê Hoàn
là người “Nghĩa dũng gồm đủ, trung hậu quả cảm,
được lòng mọi người trong nước”. Uy tín và ảnh
hưởng của nhà vua cùng với nỗ lực xây dựng quốc
gia vững mạnh ở cuối thế kỷ X đầu thế kỷ XI,
khiến cho triều đình Tiền Lê kéo dài trong gần
30 năm (980-1009), tạo được nền tảng vững chắc
cho chính sách bảo vệ hiệu quả biên cương của
quốc gia Đại Cồ Việt. Trong đó, an ninh biên giới
phía Bắc được giữ vững không thể tách rời công
lao to lớn trong xây dựng và củng cố nền quốc
phòng, ngoại giao Nhà nước Đại Cồ Việt của vua
Lê Đại Hành.

16

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ AN NINH BIÊN GIỚI
TRIỀU LÝ
Sau khi đã định kinh đô mới tại Thăng Long
năm 1010, Lý Công Uẩn và các ông vua Lý kế
ngôi nhanh chóng xây dựng Thăng Long trở
thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa
của cả nước. Triều Lý đã chú ý phát triển toàn
diện các mặt để củng cố và giữ vững vương triều
của mình.
Đặc biệt, triều Lý quan tâm đến việc củng cố
quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Triều Lý đã thực
thi nhiều biện pháp để gìn giữ biên cương, mà
trong đó đáng kể nhất là việc đưa các hoàng tử đi
trấn trị tại các địa phương xa xôi. Bộ máy hành
chính tại các vùng này vẫn do đội ngũ thống trị
người địa phương gồm các tù trưởng, châu mục
được lựa chọn theo phương thức cha truyền con
nối nắm giữ. Các vua Lý đã thực thi chính sách
“ki mi” (ràng buộc lỏng lẻo) và đôi khi cũng phải
sử dụng lực lượng quân sự để trấn áp nhằm bảo
vệ sự toàn vẹn đất nước. Triều Lý thường áp dụng
chính sách hôn nhân để lôi kéo và ràng buộc các
17

châu mục, tù trưởng có thế lực tại các vùng biên
cương phía Bắc. Từ vua Lý Thái Tổ, qua vua Lý
Thái Tông, đến vua Lý Thánh Tông và sau này là
vua Lý Nhân Tông đều đem con gái hoặc con gái
nuôi gả cho các châu mục Lạng Châu, Hưng Hóa,
Châu Phong, Thượng Oai... Thậm chí có ông vua
như Lý Thái Tông còn lấy con gái của Đào Đại Di
ở châu Chân Đăng làm phi. Chính nhờ chính sách
mềm dẻo, khéo léo của các vua triều Lý mà các
thủ lĩnh miền núi đã thần phục và đóng góp công
lao đáng kể vào công cuộc giữ gìn biên cương của
triều Lý.
Triều Lý chú trọng kết hợp ngoại giao với quản
lý biên giới. Sau khi chiến thắng quân Tống xâm
lược Đại Việt những năm 1075 - 1077, triều Lý
càng đẩy mạnh hơn việc bang giao với Tống. Chỉ
trong vòng 53 năm (1073-1126) của đời vua Lý
Nhân Tông trị vì, triều Lý đã cử tới 18 đoàn sứ
thần tới triều Tống, có sứ đoàn năm 1081 số lượng
lên tới 156 người. Theo dõi nội dung của 18 lần đi
sứ này, nhận thấy triều Lý tăng cường hơn việc
giành giật vùng đất biên cương thông qua các đoàn
sứ thần. Vào các năm 1078, 1081, triều Lý đặt vấn
đề xin lại các vùng đất như Quảng Nguyên, Vật
Ác, Vật Dương...; vào những năm 1083, 1084 đề
nghị phân chia địa giới. Đồng thời, triều Lý còn
thường xuyên tiến hành việc tiễu trừ nạn xâm lấn
đất đai vùng biên vào các năm 1014, 1022, 1028,
18

1036, 1055, 1059, 1060, 1072... Chính do thái độ
kiên quyết trong việc giải quyết đất biên cương mà
lãnh thổ Đại Việt triều Lý được tương đối toàn vẹn,
an ninh biên giới được duy trì, ổn định. Triều Tống
nhiều lần phải nhường đất cho triều Lý, đã được sử
sách của hai nước ghi lại khá đầy đủ. Năm 1084,
vua Tống Nhân Tông phải lệnh cho triều thần trao
trả vùng đất Quảng Nguyên, được người thời đó
chế nhạo bằng câu thơ:
Nhân tham Giao Chỉ tượng,
Khước thất Quảng Nguyên kim1.
Nghĩa là: Vì tham voi của Giao Chỉ, nên đã
mất đi vàng ở Quảng Nguyên (chỉ việc triều Tống
trả lại vùng Quảng Nguyên, Cao Bằng, nơi có mỏ
vàng của Việt Nam - NHT).
Song song với việc triều cống, đấu tranh giành
đất, vương triều Lý còn đẩy mạnh việc trao đổi
buôn bán, đáng chú ý là quan hệ thông thương
biên giới giữa triều Lý và triều Tống cũng được
tăng cường và phát triển. Các vua triều Lý đã quy
định một số địa điểm giao lưu nhất định, có sự
khống chế của nhà nước nhằm hạn chế thương
nhân nước ngoài vào sâu nội địa để buôn bán, lại
kiêm cả việc do thám tình hình chính trị. Cảng
Vân Đồn, vùng quần đảo phía đông bắc nước ta có
một vị trí địa lý rất thuận lợi cho tàu thuyền qua
_____________
1. Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.281.

19

lại và neo trú, lại nằm trên tuyến hàng hải từ
Trung Quốc thông xuống các nước vùng Đông
Nam Á được triều Lý chọn làm nơi tập trung
thông thương với nước ngoài. Ngoài các nước vùng
Đông Nam Á như Xiêm La (Thái Lan), Trảo Oa
(Gia Va)... còn có nhiều nước khác xa xôi hơn tới
Vân Đồn trao đổi hàng hóa.
Không những chỉ triều Lý sợ sự xâm nhập
quá sâu nội địa, dò la tình hình của các thương
nhân, mà cả triều Tống cũng có tâm trạng như
vậy. Vua Lý Thái Tổ khi mới lên ngôi được 2 năm,
vào tháng 6-1012 cũng đã từng yêu cầu triều
Tống cho mở thị trường buôn bán tại Ung Châu
(Nam Ninh ngày nay). Nhưng phía triều Tống cho
rằng triều Lý thường hay xâm lấn biên cương
phía Nam của Tống, nên không đồng ý. Chính
sách của vương triều Tống vào thế kỷ XI-XIII
cũng chỉ cho phép thương nhân nước ngoài, đặc
biệt là thương nhân Đại Việt được trao đổi hàng
hóa tại những địa điểm do triều đình Tống chỉ
định và chịu sự kiểm soát của các cấp chính quyền
địa phương. Theo các thư tịch cổ của Việt Nam và
Trung Quốc ghi chép: Đương thời (thế kỷ XI đến
thế kỷ XIII), đã xuất hiện những trung tâm buôn
bán lớn với tên gọi là “bác dịch trường”1 dọc biên
_____________
1. Nơi trao đổi hàng hóa, trên bộ hoặc trên biển.
Cũng có sách viết là bạc dịch trường.

20

giới Lý - Tống. Có tới 4 “bác dịch trường” được lập
ra tại trại Vĩnh Bình, châu Tô Mậu, trại Hoành
Sơn, trại Như Hồng ở Khâm Châu. Cho tới những
năm cuối thuộc niên hiệu Chính Hoà (1111-1117)
của Tống Huy Tông, triều Tống lại mở thêm một
thị trường buôn bán tại Ung Châu. Khi đó chính
quyền triều Tống cho rằng: Giao Chỉ (triều Lý) từ
niên hiệu Hi Ninh Tống Thần Tông (1068-1077)
không có sinh sự, tha bỏ lệnh cấm buôn bán. Như
vậy vào đầu thế kỷ XII, vùng biên giới Việt Trung đương thời từ ven biển đến đất liền có tới 5
trung tâm trao đổi buôn bán giữa hai nước. Khi
đó trại Vĩnh Bình là một “bác dịch trường” quan
trọng nhất của cả hai nước. Sách Lĩnh ngoại đại
đáp của Chu Khứ Phi đời Tống chép như sau: Trại
Vĩnh Bình ở sông Tả Giang thuộc Ung Châu tiếp
giáp với biên giới Giao Chỉ, chỉ cách một con suối
mà thôi. Phía Bắc có trạm Giao Chỉ, phía Nam có
đình Tuyên Hòa làm “bác dịch trường”... Sách
Lĩnh ngoại đại đáp còn chép: dân biên giới Giao
Chỉ đem cá, trai hến đổi lấy gạo, vải tấm.
Thương lái của nước đó (chỉ Đại Việt) đến bác
dịch trường, nhất thiết phải từ châu Vĩnh An
(Yên) nơi biên giới đưa giấy (xin phép) tới Khâm
Châu, gọi là thương nhân buôn nhỏ. Nếu những
người do nhà nước sai sứ đến Khâm Châu thì gọi
là thương lái lớn. Bên phía Tống, những nhà
buôn lớn thường từ vùng Tứ Xuyên buôn gấm
21

đến bán tại Khâm Châu và buôn hương từ Khâm
Châu tới Tứ Xuyên, mỗi năm đi về một lần, lượng
hàng hóa lên tới vài nghìn mân tiền1.
Có thể nói ngoài những thành công trong việc
gìn giữ biên cương, dẹp yên nội loạn và ngoại xâm
thì chủ trương cùng biện pháp cụ thể được các vua
triều Lý thực thi nhằm ổn định an ninh và phát
triển kinh tế thông thương vùng biên giới (biên
mậu) phía Bắc, là một bài học lịch sử đáng để các
triều đại sau và cả trong công cuộc đổi mới hiện
nay của chúng ta rút kinh nghiệm và học tập.

_____________
1. Xem Chu Khứ Phi: Lĩnh ngoại đại đáp, quyển 5:
Khâm Châu bác dịch trường (chữ Hán).

22

CHỦ TRƯƠNG “TIÊN PHÁT CHẾ NHÂN”
CỦA LÝ THƯỜNG KIỆT VỚI CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG TRIỀU LÝ

Vào thế kỷ XI, triều Tống là một đế chế lớn
mạnh ở phương Đông, nhưng đang bị đe dọa bởi
sự bành trướng của hai nước Liêu và Hạ ở phía
Bắc Trung Quốc. Cho nên trong thời kỳ đầu, vua
quan triều Tống phải tập trung lực lượng lo đối
phó với nguy cơ bị xâm lấn từ phía Bắc. Tuy rất
muốn triển khai việc mở mang lãnh thổ xuống
phía Nam, nhưng khi đó “lực bất tòng tâm”, hơn
nữa thất bại ê chề của cuộc xâm lược năm 981
trước quân dân triều Tiền Lê khiến cho triều
Tống và biên thần e dè, đành phải áp dụng chính
sách hòa hoãn với Đại Việt.
Nhưng từ năm 1068, Vương An Thạch lên
nắm giữ chức Tể tướng, liền thực hiện một số cải
cách về chính trị, kinh tế, quốc phòng, tăng cường
sức mạnh toàn diện của triều Tống. Mặt khác,
chính sách đối ngoại của vương triều này cũng
23

được điều chỉnh theo hướng “Tiên Nam, hậu Bắc”
tức là chủ động tạm thời hòa hiếu với hai nước
Liêu, Hạ ở phía Bắc, dồn sức để tấn công xuống
Đại Việt ở phía Nam.
Năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất, Lý Nhân
Tông lên ngôi lúc mới có 7 tuổi, nội bộ triều Lý
xuất hiện nhiều mối bất hòa. Các triều thần cùng
vua Tống lợi dụng thời cơ này liền phát động một
cuộc chiến tranh, nhằm thực hiện việc khoa
trương thanh thế quân sự, đồng thời chinh phạt
triều Lý ở phía Nam. Để chuẩn bị lực lượng và địa
bàn cho lần tấn công này, triều Tống đã tiến hành
xây dựng hệ thống căn cứ quân sự và dự trữ hậu
cần tại thành Ung Châu (Nam Ninh hiện nay)
cùng các cảng tại Khâm Châu (Quảng Tây), Liêm
Châu (Quảng Tây), chú trọng tới các trại vùng
giáp biên hai nước Đại Việt và Tống. Đặc biệt,
triều Tống thực hiện một thủ đoạn nguy hiểm là
lôi kéo vua Champa nhằm tạo thành một gọng
kìm phía Nam đánh vào Đại Việt, mặt khác lại
tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc các tù trưởng
thiểu số vùng biên cương phía Bắc.
Triều Lý với các vua Lý Thánh Tông, Lý
Nhân Tông và chủ tướng quân sự Thái úy Lý
Thường Kiệt đã chủ động đối phó và thực thi
những kế sách nhằm ngăn chặn trước để làm
thất bại ý đồ của kẻ địch. Chủ trương “Tiên phát
24

chế nhân” (hành động trước, để khắc chế đối
phương) hay như cách nói của Lý Thường Kiệt:
Ngồi đợi giặc không bằng đem quân ra trước để
bẻ gãy mũi nhọn của giặc đã được triều đình và
quân dân Đại Việt thống nhất hành động. Ngay
từ năm 1069, đích thân vua Lý Thánh Tông cùng
Lý Thường Kiệt chỉ huy quân đánh thắng xâm
lược Champa, ngăn ngừa được hiểm họa rình rập
ở phía Nam.
Đồng thời, triều Lý thực thi chủ trương tranh
thủ các tù trưởng thiểu số và chính sách biên
cương tích cực đã tăng cường sức mạnh cho khối
đoàn kết dân tộc.
Cuối năm 1075, sau thời gian chuẩn bị lực
lượng cùng hậu cần đầy đủ, triều Lý bất ngờ tấn
công vào hệ thống căn cứ quân sự dọc biên giới với
mục tiêu chính là thành Ung Châu. Chỉ huy cuộc
chiến là Thái úy Lý Thường Kiệt với đội quân chủ
lực là thủy quân, kết hợp với đội quân bộ do Tông
Đản dẫn đầu. Toàn bộ số quân tham chiến
khoảng 10 vạn người, quân thủy vượt biển đánh
chiếm châu Khâm, châu Liêm và bao vây thành
Ung Châu. Sau 42 ngày vây hãm và công phá,
ngày 1-3-1076 quân triều Lý chiếm được thành
Ung Châu, tiến hành phá hủy thành lũy cùng
toàn bộ hệ thống căn cứ chuẩn bị xâm lược Đại
Việt. Sau đó, Lý Thường Kiệt nhanh chóng dẫn
25

quân về nước, gấp rút lo ứng phó với cuộc xâm
lược của triều Tống.
Như vậy, quân Tống đã bị đẩy vào tình thế
thất trận ngay khi chuẩn bị tấn công xâm lược
Đại Việt. Chủ trương “Tiên phát chế nhân” của Lý
Thường Kiệt không chỉ mang dấu ấn của chiến
công vang dội trong trang sử hào hùng của dân
tộc mà còn trở thành nét nghệ thuật độc đáo trong
chiến tranh giữ nước của dân tộc ta.

26

CÁC PHÒ MÃ HỌ THÂN
TRONG THẮNG LỢI CHỐNG TỐNG
(1075-1077)
Vùng đất phía Bắc Đại Việt từ trước thế kỷ XI,
luôn là nơi mà các triều đại phong kiến phương
Bắc cùng các biên thần của họ thường xuyên tìm
mọi cách quấy nhiễu và xâm chiếm. Trong thời kỳ
triều Tiền Lê (980-1009), vùng biên cương nơi đây
có lúc đã tạm lắng những cuộc tranh chấp đất đai,
song nguy cơ nổ ra lấn chiếm vẫn thường trực.
Trước nhu cầu xây dựng và củng cố chính quyền
cả ở trung ương lẫn các địa phương, triều Lý đã
tập trung chú ý tới việc phòng thủ và bảo vệ biên
giới, mà vùng rừng núi phía Bắc, nơi có nhiều dân
tộc sinh sống với chiều dài đường biên, địa
 
Gửi ý kiến