Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

_hoi-ky-winston-spencer-churchill

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:41' 03-02-2026
Dung lượng: 4.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
https://thuviensach.vn

Thông tin

Hồi ký Winston S. Churchill về chiến tranh thế giới thứ II
Tác giả: Winston Spencer Churchill
Dịch giả: Hoàng Tuý - Hoàng Hữu Phấn - Nguyễn Xuân Phương - Hoàng Ngọc
Phát hành: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm xuất bản: 1974
Số hóa: Giangtvx - quansuvn.net
Soát lần 2: machine - tve-4u.org
Nguồn text: https://www.quansuvn.net/index.php/topic,31430.0.html
Chúng ta biết Churchill là một chính trị gia, một Thủ tướng Anh quốc vào thời Chiến tranh Thế giới thứ II, mẫn cán
và ranh ma; thông minh, sắc sảo và quyết đoán. Với bộ Hồi ký Chiến tranh tranh Thế giới thứ II này, chúng ta lại
hiểu ông còn là một nhà văn. Văn ông mượt mà, hàm súc. Dưới ngòi bút ông, mọi vấn đề phức tap, tế nhị đều được
sáng tỏ, khi lung linh huyền ảo, khi trần trụi như chính cuộc đời ở và giao điểm gay cấn nhất. Churchill cố vượt qua
tư tưởng của một nhà chính trị nổi tiếng thù ghét cộng sản, để trở thành một nhà sử học khách quan. Chính điều đó
đã làm cho bộ hồi ký của ông, ngoài giá trị văn chương còn có sức hấp dẫn ở vô vàn tư liệu lịch sử của thời đại, mà
ông là người trong cuộc. Tất cả, tất cả đã đưa Churchill đến với giải Nobel văn chương năm 1953.
E-book này được thực hiện trên tinh thần thiện nguyện, phi lợi nhuận và phục vụ cộng đồng người đọc chưa có
điều kiện mua sách giấy.
TVE-4U
CÙNG ĐỌC - CÙNG CHIA SẺ!

https://thuviensach.vn

Lời nhà xuất bản
Bộ hồi ký 2 tập này được biên dịch từ bộ “Hồi Ký về Chiến tranh Thế giới Thứ hai”
gồm 6 tập của Huân tước W. Churchill. Đây là bộ sách mà các sự kiện chiến tranh được
trình bày một cách sinh động qua lời văn của tác giả, một người đã được trao tặng giải
thưởng Nobel Văn chương năm 1953 với chính tác phẩm này.
Như chúng ta đã biết, thế kỷ XX khép lại với hai cuộc chiến tranh thế giới do bọn đế
quốc gây ra, nhất là cuộc chiến tranh thế giới thứ hai vô cùng khốc liệt, đã làm cho loài
người hao tốn bao nhiêu xương máu và của cải. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai
này, Liên Xô với cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại tuy đã gánh chịu những tổn thất nặng
nề nhất, nhưng đã giáng những đòn chí mạng quyết định vào bọn phát xít Đức và quân
phiệt Nhật, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện, được cả loài người tôn vinh,
khâm phục và biết ơn. Quá trình chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu anh dũng tuyệt vời
như thế nào của quân và dân Liên Xô đều được trình bày rõ ràng, cụ thể, đầy đủ trong
các hồi ký của nguyên soái Giu-côp, nguyên soái Va-xi-lép-xki, của đại tướng Stê-mencô, nhưng đó chỉ mới là những diễn biến chiến sự, những sự kiện chiến tranh, ở mặt
trận phía Đông, ở mặt trận Xô-Đức, còn chúng ta chưa biết hoặc biết rất ít về một mặt
trận khác, mặt trận chống Đức-Ý-Nhật ở phía Tây, lúc đầu giữa Anh-Pháp với Đức-Ý,
sau đó giữa Anh-Mỹ với Đức-Ý-Nhật.
Bộ hồi ký này sẽ giúp chúng ta có thêm tài liệu về mặt trận đó, giúp ta hiểu biết toàn
diện - dù là bước đầu - về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, khi trong tay đã có những
hồi ký của những người trong cuộc từ hai phía viết ra. Dĩ nhiên các tác giả đều xuất
phát từ những quan điểm tư tưởng chính trị khác nhau, trái ngược nhau, với quyền lợi
khác nhau, đối lập nhau. Đó là điều trước hết chúng ta cần nhận rõ. Ai cũng biết Huân
tước Churchill lãnh tụ Đảng Bảo thủ Anh là một chính khách chống Cộng khét tiếng,
khi trình bày sự kiện không tránh khỏi một số lệch lạc thiếu khách quan, thậm chí một
số suy nghĩ đánh giá có tính độc ác, phản động. Nhưng với tư cách một người đã trải
qua hai cuộc chiến tranh thế giới, lại là người trong giai đoạn đầu trước khi Hitler xâm
lược Ba Lan, mở đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, ông chưa tham gia chính trường,
còn là người ngoài cuộc. Sau đó, trong chiến tranh ông mới tham gia Chính phủ, đứng
đầu Chính phủ và là Bộ trưởng Quốc phòng Anh, thì những sự kiện ông trình bày đều
có giá trị nhất định, giúp chúng ta có cơ sở để mở rộng sự hiểu biết, nhận xét và phân
tích. Như ông đánh giá sự nhu nhược, hèn nhát của Chamberlain cũng như đánh giá
thiện chí của Chính phủ Liên Xô trong việc thành lập mặt trận chung chống phát xít
Đức là hoàn toàn đúng đắn, tuy ông chưa nói lên được âm mưu thủ đoạn xấu xa, thâm
độc của Anh-Pháp đối với Liên Xô, muốn đẩy Liên Xô đánh nhau với Đức còn họ thì
đứng ngoài. Và với tư cách một nhân chứng lịch sử, với tư cách một nhà văn, một con
người biết tôn trọng sự thật và chính nghĩa dù là trong chừng mực nhất định, ông
minh họa sự tàn bạo của Hitler, ông xúc động trước việc tự sát của Thủ tướng Hungari,
của Thủ tướng Hy Lạp để bảo toàn khí tiết, ông ca tụng một số sĩ quan yêu nước Nam
Tư, ông khen ngợi tướng De Gaulle mà ông không mấy ưa thích khi De Gaulle rời khỏi
https://thuviensach.vn

nước Pháp bại trận, mang theo danh dự của Tổ quốc để tiếp tục cuộc kháng chiến
chống xâm lược. Đặc biệt, ông dùng nhiều lời lẽ hùng hồn để đánh giá cao, hết sức ca
tụng Staline, ca tụng nhân dân và quân đội Liên Xô, mặc dù có lúc ông đả kích thậm tệ
Staline. Nhưng điều quan trọng là với bộ hồi ký này, ông đã giúp chúng ta khẳng định
rằng nhân loại đã phải trả giá đắt cho chính sách mù quáng, ích kỷ, thiển cận của giới
cầm quyền phương Tây lúc bấy giờ.
Các dịch giả của chúng tôi cố bám sát nguyên văn, dù có những đoạn, những chỗ
không phù hợp với quan điểm, đường lối, tư tưởng của chúng ta, là nhằm làm cho bạn
đọc có thể nhận chân được tư tưởng, quan điểm của tác giả vốn thù ghét chủ nghĩa
Cộng sản đến xương tủy. Đây là lần đầu bộ hồi ký của Churchill được dịch và ra mắt bạn
đọc Việt Nam chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót. Rất mong bạn đọc xa gần thông
cảm và có nhận xét góp ý để khi tái bản, bộ sách được hoàn hảo hơn.
Nhà xuất bản

https://thuviensach.vn

Tóm tắt nội dung
HỒI KÝ WINSTON S. CHURCHILL
Chiến tranh Thế giới Thứ nhất kết thúc, sau khi ký hiệp ước Versailles, những người
cầm đầu các nước thắng trận phương Tây, chủ yếu là Anh, Pháp bị chủ nghĩa hòa bình
một chiều chi phối, hoặc đang bận rộn vào những hoạt động chính trị đối nội đã tỏ ra
bị động, rụt rè, tiêu cực, nhút nhát, chia rẽ lẫn nhau. Mỹ thì xem như phủi tay khỏi mọi
việc ở châu Âu, Hội quốc liên thì không có quyền lực gì đáng kể vào những thời điểm
mà hoạt động và sức mạnh của Hội là hết sức cần thiết.
Trong tình hình đó xuất hiện Hitler với đường lối tôn chỉ chính trị về một nhà nước
cực quyền phải thiết lập ở Đức mà y trình bày trong cuốn Mein Kamph (Cuộc Chiến Đấu
của Tôi). Năm 1933, y nhận chức Thủ tướng Đức. Tham vọng trước mắt của y là xây
dựng một nước Đại Đức hướng vào Áo và Đông Nam châu Âu. Được Anh, Mỹ cho vay,
nước Đức nhanh chóng phục hồi, từ một nước bại trận phải bị giải giáp, nước Đức được
tái vũ trang với đầy đủ các lực lượng hải, lục, không quân hùng mạnh. Ý và Nhật vốn ở
trong phe đồng minh trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, nay lại đứng về phía Đức,
khiến cho bọn Quốc Xã không còn bị cô lập.
Theo Churchill, năm 1936 về căn bản không quân Đức mạnh hơn Anh. Dựa trên chế
độ cưỡng bách quân dịch, số lính được gọi nhập ngũ của Đức từ năm 1934 đến năm
1940 là trên 3 triệu, trong lúc đó Pháp chỉ có trên 1,5 triệu. Năm 1936 Hitler chiếm lại
vùng Rhineland, năm 1938 cưỡng đoạt nước Áo sáp nhập lãnh thổ Áo vào nước Đức
Quốc xã, xây dựng phòng tuyến Siegfried, cũng năm 1938, Anh gạt bỏ cố gắng của
Tổng thống Roosevelt, không đếm xỉa gì đến tuyên bố của Liên Xô muốn cùng các nước
phương Tây bảo vệ Tiệp Khắc, đã cùng Pháp, Đức và Ý buộc Tiệp Khắc nhượng vùng
Sudetes cho nước Đức. Chamberlain, Thủ tướng Anh, đã nhượng bộ Hitler lần lượt hết
việc này đến việc khác, lại còn thiết lập quan hệ thân thiết một cách nhục nhã với
Mussolini. Năm 1938 - 1939, chi phí quân sự mọi mặt của Anh là 304 triệu bảng mà
Đức ít nhất là 1500 triệu bảng. Trước khi chiến tranh bùng nổ, mức sản xuất của Đức
gấp đôi và có thể gấp 3 tổng số vũ khí trang bị của Anh và Pháp cộng lại. Cán cân
nghiêng hẳn về nước Đức.
Đức với chính sách dùng thủ đoạn đe dọa, chia rẽ, mua chuộc, dụ dỗ, lừa gạt các nước,
càng ngày càng vi phạm trắng trợn, nghiêm trọng, và thô bạo Hiệp ước Versailles.
Chính quyền Anh của Thủ tướng Chamberlain không tin khả năng quân sự của Liên
Xô, lại thù ghét và sợ hãi chủ nghĩa Cộng sản đã tỏ ra lạnh nhạt với những đề nghị hợp
lý của Liên Xô như họp sáu cường quốc, thành lập mặt trận thống nhất Anh-Pháp-Liên
Xô nhằm đối phó với Đức. Hội nghị quân sự Anh-Pháp-Liên Xô cũng tan vỡ, khi Ba Lan
và Rumani từ chối không cho Hồng quân đi qua lãnh thổ của họ để chống Đức. Hungari
thì đứng vào phe Đức. Tình thế mới lúc bấy giờ là các phương tiện để tổ chức bất cứ một
sự kháng cự nào chống lại sự xâm lược của Đức ở Đông Âu đều hầu như cạn kiệt. Trong
lúc đó Ý đổ quân vào chiếm Albani, dùng Albani làm bàn đạp tấn công Hy Lạp. Lúc đó
xuất hiện ở Anh hàng nghìn biểu ngữ yêu cầu Churchill trở lại chính trường.
https://thuviensach.vn

Về phía Liên Xô, từ vụ Munich và nhiều vụ việc khác, Chính phủ Liên Xô tin rằng
Anh, Pháp không ai muốn chiến đấu, cơn bão được tích tụ sắp nổ ra, Liên Xô phải lo cho
mình Vào đêm 23/8/1939 Hiệp ước Xô-Đức được ký kết, đây là một thất bại ngoại giao
của Anh-Pháp, một thắng lợi cần thiết cho Liên Xô đẩy Đức về phía Tây, xa bao nhiêu
hay bấy nhiêu để tranh thủ thời gian chuẩn bị.
Sáng ngày 1/9/1939, Đức tấn công Ba Lan, mở đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.
Churchill tham gia Chính phủ làm Bộ trưởng Hải quân và là thành viên Nội các Chiến
tranh. Lúc bấy giờ tình thế của Anh là Ba Lan đang hấp hối, Pháp chỉ còn là cái bóng mờ
nhạt của một thời thiện chiến, Liên Xô không còn là đồng minh. Đế quốc Anh vẫn
nguyên vẹn, thống nhất nhưng chuẩn bị tồi, không sẵn sàng. Anh kém về số lượng
không quân, vẫn kiểm soát được đường biển nhưng vào những ngày đầu chiến tranh,
tàu Anh bị tàu Đức tiêu diệt khá nhiều. Quân Đức chiếm Na Uy, Đan Mạch, và qua BỉHà-Lục tiến vào đất Pháp, ngày 14/6/1940 Paris thất thủ, Thống chế Pétain thuộc phái
thất bại chủ nghĩa thành lập Chính phủ. Tướng De Gaulle rời nước Pháp, tiếp tục cuộc
kháng chiến, quân Anh cùng với vũ khí đạn dược phải di tản khỏi nước Pháp. Nước Anh
lúc này với Churchill làm Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng, bị trơ trọi. Đức và Ý
chiến thắng ở ngay sát nách, toàn bộ châu Âu mở cửa cho quyền lực của Hitler và ở bên
kia quả địa cầu thì Nhật Bản hoành hành. Nước Anh phải lo công việc phòng thủ, bảo vệ
đất nước, tổ chức chống không quân Đức oanh tạc dữ dội Luân Đôn và các vùng khác,
chuẩn bị chống quân Đức đổ bộ.
Mỹ tuy chưa tham chiến, nhưng bắt đầu tích cực giúp Anh, với Tổng thống Roosevelt
được bầu lại, Mỹ đã dành một nửa vũ khí xuất xưởng cho Anh và Canada, đã cung cấp
máy bay cho Anh. Dư luận chính giới Mỹ cho rằng cách phòng thủ Hợp Chủng Quốc tốt
nhất là giúp Anh chiến thắng. Sau khi Pháp đầu hàng, Anh chấm dứt quan hệ với Chính
phủ Vichy của Pétain và giúp đỡ, mở rộng hoạt động với tướng De Gaulle. Hòa nhịp với
quân Đức ngày 13/9/1939, bộ đội chủ lực Ý bắt đầu tiến quân vào biên giới Ai Cập
nhưng đến ngày 15/12 thì toàn bộ quân Ý bị đẩy lùi khỏi Ai Cập, quân Anh chiến thắng
ở sa mạc Libi. Trong lúc đó Hitler chuẩn bị can thiệp trên quy mô lớn vào vùng Balkan
và Địa Trung Hải, Anh muốn hình thành một mặt trận Balkan gồm Nam Tư, Hy Lạp và
Thổ Nhĩ Kỳ chống Đức, nhưng cuối cùng thất bại. Nam Tư, Hy Lạp đầu hàng Đức, mặt
khác sườn sa mạc ở Bắc Phi là chỗ dựa để hình thành một mặt trận cho vùng Balkan, bị
Đức tấn công, phải sụp đổ. Anh phải rút lui khỏi đảo Crête - một hòn đảo có ý nghĩa
chiến lược đối với Anh. Tuy vậy, với các chiến dịch thắng lợi của Anh ở Syrie và Iraq, đã
cải thiện được nhiều vị trí chiến lược của Anh ở Trung Đông, chặn được Đức tìm cách
thâm nhập vào Địa Trung Hải theo hướng Đông. Tuyến phòng thủ kênh Suez được đưa
xa thêm 250 dặm về phía Bắc, giải tỏa mối lo của Thổ Nhĩ Kỳ về biên giới phía Nam của
mình, nhất là việc chiếm đóng Syria đã đáp ứng được nhu cầu tối cần thiết và chấm dứt
vĩnh viễn việc Đức tiến sang vịnh Ba Tư và Ấn Độ. Trong lúc đó, quân Đức vẫn tiếp tục
oanh tạc dữ dội nước Anh mà Churchill cho rằng nhằm che đậy cho việc chuẩn bị tiến
công Liên Xô. Thực sự thì Đức đang chuẩn bị tiến công Liên Xô và sáng ngày 22 tháng 6
năm 1941 quân Đức tràn vào lãnh thổ Liên Xô.
https://thuviensach.vn

Tuy ngờ vực và không bằng lòng Liên Xô, cho rằng Liên Xô đã bị lừa, bị đánh bất ngờ,
và mặc dù quan hệ giữa cá nhân Churchill và Staline không được thoải mái, Churchill
vẫn khâm phục Staline, khen ngợi, ca tụng nhân dân và quân đội Xô Viết, cho rằng cuộc
kháng chiến của Liên Xô đã làm sụp đổ, đã bẻ gẫy quân đội Đức, đã giáng một đòn chí
mạng vào nước Đức Quốc xã, cho rằng chiến dịch tiến đánh vào Liên Xô là sai lầm chết
người. Từ đó, từ chỗ đơn thương độc mã, thì nay có thêm Liên Xô và Mỹ cùng chống
một kẻ thù, quân Anh đã cùng quân Mỹ đánh nhau với quân Đức ở Bắc Phi. Cho đến
tháng 5/1943 thì quân Anh-Mỹ đã giành được quyền kiểm soát toàn bộ bờ biển Bắc Phi
từ Tunis trải dài đến Ai Cập. Nhưng ở Viễn Đông, ở Thái Bình Dương thì quân Nhật
đánh chiếm Philippines, Singapore, Malaysia, tấn công Trân Châu cảng. Anh và Mỹ ra
tuyên bố chống phe Trục, kêu gọi các nước khác cũng tham gia chống phe Trục cho đến
ngày toàn thắng và thành lập ủy ban Tham mưu trưởng hỗn hợp (không có Liên Xô vì ở
xa và đang ở mặt trận riêng rẽ độc lập).
- Năm 1942, Mỹ chiến thắng tại vùng biển San hô và đảo Midway ngăn chặn sự bành
trướng của Nhật ở Thái Bình Dương.
- Tháng 2/1943, Liên Xô chiến thắng ở Stalingrad.
- Tháng 5/1943, toàn bộ lực lượng Đức-Ý ở châu Phi bị quân Đồng minh tiêu diệt hoặc
bị bắt làm tù binh.
- Tháng 8/1943, quân Đức bị đánh bật khỏi đảo Sicily.
Năm 1943 chiến tranh Xô-Đức ác liệt, 3 trận đánh lớn ở Kursk, Orel và Kharkov trong
2 tháng, đánh dấu sự sụp đổ của quân Đức tại mặt trận phía Đông. Trong lúc đó các
chiến dịch của Anh-Mỹ ở Địa Trung Hải và việc nỗ lực oanh tạc của đồng minh từ Anh
có tác dụng chia lửa với Liên Xô ở mặt trận phía Đông, Đức phải tăng cường chống đỡ
một cách bị động. Cùng thời kỳ này Anh-Mỹ chuẩn bị mở mặt trận thứ hai. Tháng 9
quân Đức phải rút lui trên toàn bộ mặt trận phía Nam, từ vị trí đối diện với Moscow đến
Biển Đen. Đến tháng 12, sau 3 tháng bị quân Liên Xô truy kích, các đạo quân Đức ở miền
Trung và miền Nam nước Nga bị đánh bật trở lại hơn hai trăm dặm, quân Đức thất bại
trong việc giữ phòng tuyến Dnieper, đã phơi lưng cho cuộc tấn công của quân Liên Xô
vô cùng lợi hại.
Trong khi chiến tranh ngày càng gần đến lúc kết thúc, trong những cuộc gặp gỡ giữa
Churchill, Roosevelt và Staline bàn về mặt trận thứ hai, về công việc sau chiến tranh
thường có những ý kiến khác nhau, những quan điểm, ý đồ khác nhau và cả những ngờ
vực nhất là xung quanh vấn đề sau khi nước Đức đầu hàng, trong cuộc gặp gỡ ở
Téhéran.
Tuy vậy, cuối cùng phe Đồng minh đã toàn thắng, còn phe Trục Đức-Ý-Nhật bị thất
bại thảm hại. Riêng phát xít Ý thất bại từ tháng 10/1943. Hitler tự sát, Mussolini bị bắt
và bị xử bắn. Đối với trường hợp đầu hàng của Nhật, Churchill cho rằng Nhật thất bại,
đầu hàng không phải vì bom nguyên tử của Mỹ mà trước khi bị bom nguyên tử, rõ ràng
sức mạnh hàng hải, tàu bè của Nhật đã bị phá hủy với hơn tám triệu rưỡi tấn tàu Nhật
bị đánh chìm.
https://thuviensach.vn
Và một khi nước Đức Quốc xã bị đánh bại, thì Churchill tỏ ý nghi ngờ, lo
ngại sự bành

trướng của Liên Xô khi sức mạnh vũ trang của Anh-Mỹ và một số nước phương Tây
không thể tồn tại như trước. Từ hội nghị Yalta, ông nghĩ Liên Xô có những hành động
khó hiểu, do đó trong lời bạt viết cho bộ hồi ký rút gọn này vào năm 1957, Churchill
cho rằng dường như châu Âu chỉ thay đổi từ một kẻ độc tài này sang một kẻ độc tài
khác và nếu Anh-Mỹ duy trì được vị trí đứng đầu thì Liên Xô sẽ thấy rằng hòa bình và
phát triển cần được bảo vệ hơn là chiến tranh hủy diệt.

https://thuviensach.vn

Lời nói đầu
Tôi cần phải xem những tập này như là một sự tiếp tục lịch sử của cuộc chiến tranh
thế giới lần thứ nhất mà tôi trình bày trong các tác phẩm “Sự khủng hoảng thế giới”,
“Mặt trận phía đông” và “Hậu quả”. Những tác phẩm này đều bao hàm sự đánh giá,
cách giải thích, về cuộc chiến tranh sau đó 30 năm.
Nhưng trong các tập nói trên, trong chừng mực có thể, tôi đi theo phương pháp của
nhà văn Defoe viết “Hồi ức của một kỵ sĩ”, trong đó tác giả chép sử biên niên và tranh
luận về những sự kiện quân sự chính trị vĩ đại theo dòng kinh nghiệm riêng của một cá
nhân. Có lẽ tôi là người duy nhất giữ chức vụ cao trong chính phủ, đã trải qua cả hai
cuộc biến động lớn quan trọng nhất của lịch sử được ghi chép. Nhưng dẫu sao trong
chiến tranh thế giới thứ nhất, tôi giữ những chức vụ quan trọng nhưng lệ thuộc, còn
trong cuộc chiến đấu lần thứ hai với nước Đức, tôi đã hơn năm năm là người đứng đầu
Chính phủ Hoàng gia. Vì vậy tôi viết từ một quan điểm khác và với nhiều căn cứ hơn so
với những sách viết ban đầu. Tôi không mô tả cuộc chiến đấu này như là khoa sử học,
vì điều này thuộc thế hệ khác. Nhưng tôi quả quyết rằng đây sẽ là một đóng góp hữu
ích cho lịch sử. Ba mươi năm hành động và chủ trương của tôi thể hiện sự cố gắng suốt
đời tôi, và tôi sẵn sàng chấp nhận sự phán xét về những chủ trương, hành động đó. Tôi
giữ vững nguyên tắc của mình là không bao giờ phê phán biện pháp chiến tranh nào
hoặc chính sách nào sau sự kiện quan trọng này, trừ phi trước đó tôi phát biểu công
khai những ý kiến của tôi hoặc có lời cảnh báo về những vấn đề đó. Thực vậy, trong
những sự việc mà về sau mới sáng tỏ, tôi đã làm dịu đi nhiều tính ác liệt của cuộc tranh
luận đương thời. Điều này khiến tôi đau khổ khi ghi lại những bất đồng với nhiều
người mà tôi yêu mến hay kính trọng. Nhưng sẽ sai lầm nếu không đặt những bài học
của quá khứ trước tương lai. Không cho phép ai đánh giá thấp những con người đáng
kính có thiện chí kia mà hành động của họ được ghi vào những trang này mà không
suy nghĩ kỹ, tự xem xét lại việc hoàn thành công vụ của mình và áp dụng những bài
học của quá khứ vào cách xử sự sau này của họ.
Không nên nghĩ rằng tôi mong đợi mọi người đồng tình với điều tôi nói, lại càng
không nên nghĩ rằng tôi chỉ viết điều sẽ được mọi người ưa thích. Tôi đưa ra bằng
chứng của tôi theo chân lý mà tôi theo đuổi. Nhằm xác minh các sự kiện, mọi sự thận
trọng đều có thể chấp nhận được, nhưng phần nhiều được đưa ra ánh sáng do sự phát
hiện những tài liệu bắt được, hoặc do những sự tiết lộ khác có thể biểu thị một khía
cạnh mới đối với những kết luận tôi nêu ra.
Một hôm Tổng thống Roosevelt nói với tôi rằng ông ta đang công khai hỏi ý kiến về
cuộc chiến tranh này lẽ ra nên gọi là gì. Tôi nói ngay đó là “cuộc chiến tranh không cần
thiết”. Không bao giờ lại xảy ra một cuộc chiến tranh nếu người ta có thể ngăn chặn
được nhất là khi nó tàn phá những gì còn lại của thế giới, từ sau cuộc chiến tranh trước
đó. Bi kịch của loài người đạt tới điểm cao nhất bằng sự thật là sau tất cả các nỗ lực và
hy sinh của hàng trăm triệu con người và những chiến thắng của chính nghĩa, chúng
ta vẫn chưa tìm thấy hòa bình và an ninh, và chúng ta đang ở trong sự
kìm kẹp của
https://thuviensach.vn

ngay những hiểm họa tệ hại hơn những hiểm họa mà chúng ta đã vượt qua. Hy vọng
tha thiết của tôi là những suy nghĩ về quá khứ có thể dẫn đường cho tương lai, cho phép
thế hệ mới sửa chữa một số sai lầm của những năm xưa và như thế mới chế ngự được
cái cảnh tượng khủng khiếp trong tương lai đang lộ ra, phù hợp với nhu cầu cơ bản và
niềm tự hào của loài người.
Winston Spencer Churchill
Chartwell Kent Tháng 3-1948

https://thuviensach.vn

Phần 1

Các cột mốc trên đường đi tới thảm họa 1919 -1940

https://thuviensach.vn

1

Sự điên rồ của những kẻ chiến thắng 1919 - 1929
Sau khi Chiến tranh Thế giới 1914 kết thúc, có một lòng tin vững chắc sâu sắc và hy
vọng hầu như phổ biến, rằng hòa bình nhất định ngự trị trên thế giới. Sự mong muốn
cuồng nhiệt của tất cả các dân tộc có thể dễ dàng đạt tới do sự tin chắc kiên định chính
đáng, do lẽ thông thường phù hợp với lý trí và sự khôn ngoan. Câu nói “Chiến tranh để
kết thúc chiến tranh” ở trên môi của miệng, và các phương sách được thi hành để biến
nó thành hiện thực. Điều được nghĩ tới là tổng thống Wilson nắm quyền hành ở Hoa Kỳ
đã chuẩn bị cho quan niệm về sự hình thành một Hội Quốc Liên nổi bật nhất trong mọi
ký ức.
Quân đồng minh đóng dọc sông Rhine, còn các đầu cầu của họ nằm sâu vào trong
nước Đức bại trận, bị tước vũ khí và đói khát. Những người đứng đầu các cường quốc
thắng trận, thảo luận tranh cãi về tương lai ở Paris. Trước mặt họ là bản đồ châu Âu sẽ
được vẽ lại gần như do chính họ có thể quyết định.
Sau năm mươi hai tháng đau khổ và rủi ro, liên minh các dân tộc Teuton (gồm người
Anglo-saxon, người Hà Lan, người Đức và người Scandinave) đành phó mặc số phận
cho họ, và không một ai trong bốn thành viên của liên minh này có thể đưa ra sự kháng
cự yếu ớt nhất đối với ý muốn của họ. Nước Đức, đương đầu với sự xúc phạm, bị tất cả
mọi người xem như là nguyên nhân chủ yếu của thảm họa mà thế giới phải gánh chịu,
đã phó mặc cho những kẻ chiến thắng quyết định, hoặc là phải theo ý muốn của họ, và
chính họ cũng lảo đảo vì nỗi thống khổ phải chịu đựng. Hơn nữa, đó là một cuộc chiến
tranh không phải của các chính phủ mà là của các dân tộc. Toàn bộ tiềm năng sinh lực
của những quốc gia vĩ đại nhất đều tuôn ra biến thành những phẫn nộ và tàn sát.
Những người lãnh đạo chiến tranh họp nhau tại Paris mùa hè năm 1919 đều chịu sự tác
động của những trào lưu mạnh mẽ nhất, dữ dội nhất, đã từng dâng lên trong lịch sử
nhân loại. Đã qua rồi thời buổi của các hiệp ước Utrecht và Vienna, khi các chính khách
quý tộc và các nhà ngoại giao, kẻ thắng cũng như người bại, gặp nhau bàn cãi lịch sự,
nhã nhặn, không phải chịu sự ồn ào hỗn độn của những tiếng nói khác nhau của nền
dân chủ, có thể nặn ra những chế độ mà tất cả họ đã đồng ý về những nguyên tắc cơ
bản. Các dân tộc hết sức xúc động vì đau khổ, vì phải nghe những lời phê phán của đại
chúng, hàng triệu người đòi hỏi sự trừng phạt cao nhất. Sẽ rắc rối cho các lãnh tụ bây
giờ ngồi trên đỉnh cao ngất của chiến thắng, nếu tại bàn hội nghị họ bỏ quên những
người lính đã đấu tranh trên hàng trăm chiến trường đẫm máu.
Nước Pháp cũng vậy, do những nỗ lực và tổn thất của họ, họ giữ vị trí lãnh đạo, gần
một triệu rưỡi người Pháp bỏ mình, những người đã đứng vững trên đất Pháp chống kẻ
xâm lược, bảo vệ lãnh thổ. Năm lần trong vòng một trăm năm, vào những năm 1814,
1815, 1870, 1914 và 1918, các ngọn tháp của nhà thờ Đức Bà đã chứng kiến quân Phổ
phô trương súng ống và nghe được âm vang của những loạt đại bác của chúng. Lúc này,
trong bốn năm khủng khiếp, mười ba tỉnh của nước Pháp nằm dưới sự thống trị kìm
kẹp khắc nghiệt của quân Phổ. Nhiều vùng rộng lớn bị quân thù tàn phá
có hệ thống,
https://thuviensach.vn

hoặc bị nát vụn như cám trong các cuộc đụng độ của các đạo quân. Hầu như không có
một túp nhà tranh hay một gia đình nào từ Verdun đến Toulon mà không khóc người
thân đã mất, hay lo buồn cho những người què quặt của mình. Đối với những người
Pháp này - có nhiều trong các nhà chức trách cao cấp - đã c
 
Gửi ý kiến