Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

su-khung-hoang-cua-hoi-giao

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:07' 05-02-2026
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Sự Khủng Hoảng Của Hồi Giáo © Bernard Lewis | Võ Văn Lượng
dịch
Nguyên tác tiếng Anh: The Crisis of Islam
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Hoàn thành ngày: 05.03.2018
Nguồn: tve-4u.org
Chỉnh sửa lần ba: tna
Bìa: @Ebolic

Thời đại các Caliphs

Trung Đông ngày nay

Mục Lục
Dẫn nhập
Chương 1: Định nghĩa Hồi giáo
Chương 2: Nhà chiến tranh
Chương 3: Từ quân Thập tự chinh đến quân Đế quốc chủ nghĩa
Chương 4: Phát Hiện Nước Mỹ
Chương 5: Satan Và Liên Xô
Chương 6: Tiêu Chuẩn Nước Đôi
Chương 7: Sự thất bại của phong trào Cách tân
Chương 8: Cuộc hôn nhân giữa quyền lực nhà Saudi và lời giảng của
Wahhabi
Chương 9: Sự ra đời của chính sách khủng bố
Lời bạt

DẪN NHẬP

Tổng thống Bush và các chính khách phương Tây đã khá chật vật để
chỉ ra rằng cuộc chiến mà nước Mỹ đang tham gia là cuộc chiến chống lại
chủ nghĩa khủng bố − chứ không phải là chống người Ả Rập, hoặc nói rộng
hơn là chống lại người Hồi giáo, là những người được khuyến khích cùng
chung sức với chúng ta trong cuộc chiến chống kẻ thù chung. Nhưng thông
điệp của Usama bin Ladin thì khác hẳn. Đối với bin Ladin và những người
theo ông ta đây là một cuộc chiến tôn giáo, một cuộc chiến của người Hồi
giáo chống lại những kẻ vô đạo, và vì thế đương nhiên là chống lại nước Mỹ,
cường quốc lớn nhất trong thế giới của những kẻ vô đạo.
Trong các tuyên bố của mình, bin Ladin luôn luôn dẫn chứng lịch sử.
Một trong những dẫn chứng gây ấn tượng nhất được nêu trong cuốn băng
video ngày 7 tháng Mười năm 2001, về “sự ô nhục và tủi hổ mà đạo Hồi đã
phải gánh chịu trong hơn 80 năm qua”. Đối với bối cảnh Trung Đông, đa số
các nhà quan sát người Mỹ − và đương nhiên, có người Âu − bối rối bắt đầu
tìm hiểu cái gì đã xảy ra “trong hơn 80 năm trước” và cuối cùng đưa ra nhiều
câu trả lời khác nhau. Chúng ta có thể tin phần nào là những đối tượng của
bin Ladin hiểu rõ ngay ý nghĩa những lời nói bóng gió này.
Vào năm 1918, đế quốc Ottoman, là đế quốc cuối cùng của các đế quốc
Hồi giáo hùng mạnh bị đánh bại − thủ đô Constantinople bị chiếm đóng,
quốc vương bị bắt giữ và phần lớn lãnh thổ bị các đế quốc thắng trận (Anh
và Pháp) xâu xé. Các tỉnh nói tiếng Ả Rập thuộc đế quốc Ottoman trước kia
ở vùng Lưỡi liềm phì nhiêu bị phân chia ra thành các thực thể mới, với tên
gọi và biên giới mới. Hai trong số những tỉnh này, Iraq và Palestine, được
đặt dưới quyền ủy trị của Anh, còn tỉnh thứ ba − Syria, thì giao cho Pháp.
Sau này, nước Pháp lại chia nhỏ Syria ra làm hai phần, một phần gọi là
Liban, còn phần kia vẫn giữ tên Syria. Người Anh cũng chia Palestine ra làm
hai vùng nằm vắt hai bên bờ sông Jordan; bờ tây thì vẫn giữ lại tên Palestine,
còn phần bên kia mang tên Cisjordan.
Bán đảo Ả Rập, chủ yếu toàn núi và các vùng sa mạc khô cằn và hiểm

trở, lúc đó được coi như chẳng bỏ công chiếm đóng, cho nên được phép giữ
lại nền độc lập bấp bênh và chẳng nhiều nhặn gì. Người Thổ (Turkey) cuối
cùng cũng giải phóng được quê hương của họ tại cao nguyên Anatolia,
không phải bằng ảnh hưởng Hồi giáo mà do phong trào quốc gia thế tục do
Mustafa Kemal, một tướng lãnh Ottoman được biết nhiều hơn dưới tên
Kemal Atatürk. Ngay cả khi viên tướng này chiến đấu thành công để giải
phóng Thổ Nhĩ Kỳ khỏi sự thống trị của phương Tây, ông ta cũng bước đầu
chấp nhận các đường lối Tây phương, hoặc theo đường lối cách tân của ông
ta. Một trong những đạo luật đầu tiên ông ban hành vào tháng Mười một
năm 1922, là bãi bỏ nhà nước Sultan.
Quốc vương Ottoman không những chỉ là một Sultan, người cai trị của
một đất nước cụ thể, mà còn được rộng rãi thừa nhận là Caliph, tức là người
đứng đầu của tất cả người Hồi giáo Sunni, và là người cuối cùng của một
dòng dõi quân vương được hình thành sau khi Tiên tri Muhammad chết vào
năm 632, và việc bổ nhiệm người kế vị Ngài, không những chỉ là người
đứng đầu về tinh thần mà còn là người đứng đầu về tôn giáo và chính trị của
một nhà nước và của cộng đồng Hồi giáo. Sau một thời gian ngắn thực hiện
việc chế độ Caliph tách biệt với nhà nước, cuối cùng vào tháng Ba năm 1924
người Thổ bãi bỏ hẳn chế độ Caliph.
Trong suốt 13 thế kỷ, chế độ Caliph đã trải qua nhiều thăng trầm, nhưng
nó vẫn còn là một biểu tượng mạnh mẽ cho sự thống nhất, thậm chí là một
bản sắc Hồi giáo; toàn thể thế giới Hồi giáo cảm nhận sự biến mất của nó
dưới hai mặt tấn công của đế quốc ngoại bang cùng với những kẻ cách tân
trong nước. Nhiều quốc vương và lãnh đạo Hồi giáo có đưa ra một số cố
gắng cầm chừng để giành cái tước hiệu bỏ trống đó, nhưng chẳng được ủng
hộ bao nhiêu. Nhiều người Hồi giáo vẫn còn trăn trở về sự thiếu vắng này,
và có người cho rằng chính Usama bin Ladin − đã − hoặc đang − có ước
vọng muốn giành chức Caliph.
Danh từ Caliph đi từ tiếng Ả Rập khalifa, có ý nghĩa vừa là “người thừa
kế” vừa là “người phụ tá”. Lúc đầu, người đứng đầu cộng đồng Hồi giáo là
“khalifa của Đấng Tiên Tri của Thượng đế”. Một số người có nhiều tham
vọng hơn, đã rút ngắn tên gọi thành “Khalifa của Thượng đế”. Luận điệu đòi

uy quyền tinh thần này đã bị chỉ trích nhiều và dần dần bị bỏ đi, và các nhà
lãnh đạo Hồi giáo lại sử dụng rộng rãi một danh xưng tuy vẫn như cũ nhưng
ý nghĩa có phần nhẹ hơn là “Cái bóng của Thượng đế trên mặt đất”. Trong
phần lớn lịch sử của định chế này, những người nắm quyền Caliph thỏa mãn
với một danh xưng khiêm tốn hơn, Almir al-Mu'mmin, thường được dịch là
“Đấng Thống lãnh của các tín đồ”.
Những ẩn dụ lịch sử do bin Ladin nêu ra, có thể là khó hiểu đối với nhiều
người Mỹ, lại khá phổ biến đối với người Hồi giáo, và chỉ có thể hiểu đúng
trong khuôn khổ các nhận thức về bản sắc (identity) của vùng Trung Đông,
và đặt trong khung cảnh lịch sử của vùng Trung Đông. Ngay cả cái quan
niệm về lịch sử và bản sắc cũng cần phải được định nghĩa lại để cho người
phương Tây muốn hiểu rõ vùng Trung Đông hiện tại. Theo kiểu nói tiếng
Mỹ hiện nay, thì câu “đó là lịch sử” được sử dụng rộng rãi để gạt bỏ những
cái gì không quan trọng, không liên quan đến những điều quan tâm hiện tại,
và trong tình hình hiện nay, mặc dù việc dạy sử và viết sử đã được đầu tư
khá nhiều, nhưng mức kiến thức chung về lịch sử của xã hội Mỹ phải nói là
cực kỳ thấp. Trong khi đó, các dân tộc Hồi giáo, cũng giống như mọi người
khác trên thế giới, đều được lịch sử nhào nặn, nhưng không như những
người khác, họ lại có ý thức sắc sảo về lịch sử. Tuy nhiên, ý thức của họ bắt
nguồn từ lúc đạo Hồi mới khởi phát, có lẽ có chút ít liên quan đến các thời
kỳ trước Hồi giáo, cần thiết để giải thích những ẩn dụ lịch sử trong kinh
Qu'ran và trong các truyền thuyết và biên niên Hồi giáo sơ kỳ. Đối với
người Hồi giáo, thì lịch sử Hồi giáo có ý nghĩa quan trọng về mặt tôn giáo và
về luật pháp nữa, bởi vì nó phản ánh ý đồ của Thượng đế cho cộng đồng của
Người − là những ai chấp nhận lời giáo huấn Hồi giáo và tuân thủ các luật lệ
của đạo này. Lịch sử của các nước và các dân tộc không phải − Hồi giáo
không có nội dung này và vì thế đối với người Hồi giáo, không hề có chút
giá trị hoặc điều gì đáng chú ý gì cả. Ngay cả đến các quốc gia có những nền
văn minh cổ đại giống như thế tại vùng Trung Đông, sự hiểu biết về lịch sử
của kẻ khác đạo (pagan history) − về tổ tiên của họ những người đã lưu
truyền đền đài và chữ viết khắp nơi − cũng chỉ là phần rất nhỏ. Các ngôn ngữ
và chữ viết cổ đại đều bị quên lãng, các tài liệu cổ xưa bị chôn vùi cho tới
khi chúng được các nhà khảo cổ và ngữ học phương Tây có óc tìm tòi phát

hiện và giải mã gần đây. Nhưng từ khi Hồi giáo xuất hiện, các dân tộc Hồi
giáo đã hình thành một nền văn chương lịch sử phong phú và dồi dào − thật
vậy, tại nhiều nơi, ngay cả tại các quốc gia có nền văn minh cổ đại như Ấn
Độ, thì những trang lịch sử nghiêm túc chỉ ra đời sau khi đạo Hồi du nhập.
Nhưng lịch sử về cái gì? Trong thế giới phương Tây, đơn vị cơ bản của
một tổ chức con người là quốc gia (nation), mà theo thông lệ ở Mỹ chứ
không phải theo châu Âu, thì hầu như đồng nghĩa với một đất nước
(country). Quốc gia sau đó được chia nhỏ ra theo nhiều kiểu, trong đó có
kiểu chia nhỏ theo tôn giáo. Tuy nhiên, theo tín đồ Hồi giáo, lại cho rằng
không phải từ một quốc gia chia nhỏ ra theo từng nhóm tôn giáo mà chính là
một tôn giáo chia nhỏ ra thành nhiều quốc gia. Điều này hiển nhiên một phần
là do phần lớn các quốc gia-nhà nước (nation-states) hình thành tại miền
trung đông hiện nay là những nước được thành lập tương đối mới, dư vị của
thời đại thống trị đế quốc Anh-Mỹ tiếp sau sự thất bại của đế quốc Ottoman,
và những quốc gia-nhà nước này vẫn duy trì cái khung nhà nước (statebuilding) và đường biên giới do những ông chủ đế quốc cũ vạch ra. Ngay cả
tên gọi cũng phản ánh tính giả tạo này: Iraq là một tỉnh thời trung cổ với biên
giới khác rất nhiều so với biên giới của nước cộng hòa hiện nay (bỏ đi vùng
Lưỡng hà ở phía bắc và lấy thêm một mảnh đất nhỏ của miền tây Iran); tên
các nước Syria, Palestine và Libya có từ cổ đại nhưng lại không được sử
dụng tại vùng này trong một ngàn năm hay nhiều hơn nữa trước khi được đế
quốc châu Âu vào thế kỷ 20 phục hồi và gán cho những đường biên giới mới
và thường là khác hẳn, Algeria và Tunisia thậm chí chưa hề có trong ngôn
ngữ Ả Rập − cùng một từ để chỉ một thành phố và một đất nước. Điều đáng
chú ý nhất là trong ngôn ngữ Ả Rập không có từ để chỉ Arabia và đất nước
Saudia Arabia được gọi là “vương quốc Ả Rập Saudi” hoặc “bán đảo của
người Ả Rập” tùy theo tình huống. Thực ra không phải do tiếng Ả Rập là
một ngôn ngữ nghèo nàn − mà ngược lại mới đúng − nhưng bởi vì người Ả
Rập không hề nghĩ đến việc kết hợp giữa bản sắc dân tộc và lãnh thổ. Thật
vậy, trích lời Caliph 'Umar nói với người Ả Rập: “Hãy nghiên cứu dòng dõi
của mình, và đừng có giống như mấy kẻ nông phu khi được hỏi đến nguồn
gốc thì lại trả lời: 'Tôi là người từ nơi này nơi nọ'”.
Vào những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Hồi giáo, cộng đồng Hồi giáo là

một đất nước dưới quyền cai trị của một người. Ngay cả khi cộng đồng này
tách ra làm nhiều nước, thì lý tưởng một thể chế nhà nước duy nhất vẫn tồn
tại. Các nhà nước hầu như chỉ có tính triều đại, với biên giới có dịch chuyển,
và nắm chắc một điều là, trong việc ghi chép lịch sử cực kỳ phong phú của
thế giới Hồi giáo bằng tiếng Ả Rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, lịch sử của các triều
đại, các thành phố chủ yếu chỉ là lịch sử của nhà nước và cộng đồng Hồi
giáo chứ không hề là lịch sử của nước Ba Tư hay Thổ Nhĩ Kỳ. Những tên
gọi này, không giống như Syria hoặc Palestine hoặc Iraq, dành cho những
thực thể chính trị cũ hoàn toàn đã có độc lập chủ quyền nhiều thế kỷ chứ
không phải là quốc gia mới thành lập. Nhưng mãi cho tới thời hiện đại,
những tên gọi này không hề có trong tiếng Ả Rập, Ba Tư hay Thổ.
Cái tên Thổ Nhĩ Kỳ, để chỉ một quốc gia có người Thổ sinh sống và nói
một ngôn ngữ là tiếng Thổ, dường như phù hợp với kiểu thức châu Âu bình
thường khi gọi tên một đất nước theo tên sắc dân. Nhưng cái tên này, thông
dụng tại châu Âu từ thời trung cổ, chỉ mới được chấp nhận tại Thổ Nhĩ Kỳ
khi tuyên cáo thành lập nước cộng hòa vào năm 1923.
Ba Tư (Persia) vốn có gốc châu Âu, đầu tiên là do người Hy Lạp phỏng
theo từ Pars, sau đó là Fars, là tên một tỉnh thuộc miền tây Iran. Sau khi bị
người Ả Rập chinh phục, do tiếng Ả Rập không có chữ P nên mới trở thành
Fars. Giống như tiếng Castillian trở thành tiếng Tây ban nha và tiếng Tuscan
trở thành tiếng Ý, cho nên Fars, vốn là phương ngữ của Fars, trở thành ngôn
ngữ chính thức của quốc gia, nhưng trong tiếng Ba Tư, tên của một tỉnh
không bao giờ được dùng chung cho cả một đất nước.
Cả người Ả Rập lẫn người Thổ đều sản sinh ra một nền văn học phong
phú mô tả những cố gắng của họ chống lại châu Âu Cơ Đốc, kể từ những đợt
thâm nhập đầu tiên của người Ả Rập vào thế kỷ thứ 8 cho đến cuộc thoái
trận cuối cùng của người Thổ vào thế kỷ 20. Nhưng cho tới giai đoạn cận
đại, khi các khái niệm và phạm trù châu Âu trở nên nổi trội, thì các chiến
binh, viên chức và sử gia Hồi giáo hầu như lúc nào cũng đề cập đến kẻ đối
nghịch với mình không theo các thuật ngữ về quốc gia và lãnh thổ mà vỏn
vẹn chỉ là những kẻ vô đạo (infidels = kafir), hoặc đôi khi bằng những từ mơ
hồ như người Franks hoặc người Romans. Tương tự như thế, họ không bao

giờ gọi những người thuộc phe mình là người Ả Rập, người Ba Tư hoặc
người Thổ; họ chỉ xem mình là người Hồi giáo. Viễn cảnh này giúp ta hiểu
được vì sao Pakistan quan tâm đến Taliban và những người kế tục của phe
này tại Afghanistan. Cái tên Pakistan, là một sáng chế của thế kỷ 20, để chỉ
một đất nước được hình thành trên cơ sở tôn giáo và bổn phận đối với Hồi
giáo. Còn về mặt khác, đất nước và con người Pakistan − như đã từng có
hàng ngàn năm qua − là một phần của Ấn Độ. Một nước Afghanistan có bản
sắc Hồi giáo sẽ là một đồng minh tự nhiên, thậm chí là một chư hầu, của
Pakistan. Một Afghanistan dưới bản sắc chủng tộc, ngược lại, sẽ là một nước
láng giềng nguy hiểm, sẽ nung nấu chủ trương đòi lại vùng đất nằm phía tây
bắc Pakistan có nhóm người nói tiếng Pashto và có lẽ còn liên kết với Ấn Độ
nữa.
Việc tham khảo những tài liệu lịch sử sơ kỳ, thậm chí thời cổ đại là điều
thường gặp trong các phát biểu trước công chúng. Lấy ví dụ, vào những năm
1980, trong chiến tranh Iran − Iraq, cả hai bên đều phát động những chiến
dịch tuyên truyền rầm rộ thường xuyên nhắc tới các biến cố và nhân vật xa
xưa ở thế kỷ thứ 7, nhắc tới các trận đánh tại Qadisiyya (637 C.E.) và
Karbala (689 C.E.). Trận Qadisiyya là do người Hồi giáo Ả Rập tấn công và
đánh thắng quân đội của vua Ba Tư, lúc đó chưa theo Hồi giáo và như thế,
dưới mắt người Hồi giáo vẫn là kẻ vô đạo và tà giáo. Cả hai bên đều cho
mình là thắng trận − đối với Saddam Hussein, là người Ả Rập thắng người
Ba Tư, còn với Ayatollah Khomeini, là người Hồi giáo thắng kẻ không tín
ngưỡng. Việc đề cập đến các trận đánh không được mô tả hoặc kể ra chi tiết,
nhưng chỉ là những lời bóng gió ngắn gọn, không đầy đủ, mà cả hai phe sử
dụng để sao cho người nghe hai bên chộp lấy, hiểu lấy, dù rằng phần lớn
những người nghe của cả hai phía đều mù chữ. Thật khó mà tưởng tượng
rằng bộ máy tuyên truyền cho quần chúng ở châu Âu lại đưa ra những ẩn dụ
có từ thời xa lắc xa lơ như thế, từ thời có chế độ thất hùng (heptarchy) cai trị
tại nước Anh hoặc vua chúa dòng Carolingien tại Pháp. Cũng theo luận điệu
ấy, Usama bin Ladin lăng mạ khi ví Tổng thống Bush với Pharaoh, và tố cáo
Phó Tổng thống Cheney và Bộ trưởng Powell là đã gây nhiều tang tóc cho
Iraq trong chiến tranh vùng vịnh năm 1991 và những năm sau đó còn nhiều
hơn so với thời các Hãn Mông cổ chinh phục Baghdad và phá nát vương

triều Abbasid vào giữa thế kỷ 13. Nhận thức về lịch sử của người dân Trung
Đông được nuôi dưỡng từ những lời giảng kinh sách, từ nhà trường và từ các
phương tiện truyền thông, và dù rằng những nhận thức này lắm khi thiên
lệch và thiếu chính xác, nhưng lại đầy sinh động và gây cộng hưởng lớn.
Vào ngày 23 tháng Hai năm 1998, tờ báo tiếng Ả Rập Al-Quds al-'Arabi,
xuất bản tại London, có in toàn văn “Tuyên bố của Mặt trận Hồi giáo thế
giới kêu gọi thánh chiến chống lại bọn Do Thái và Thập tự chinh”. Theo như
tờ báo cho biết, thì tuyên bố này được gởi đến bằng fax, có chữ ký của
Usama bin Ladin và các nhà lãnh đạo các nhóm thánh chiến (Jihad) ở Ai
Cập, Pakistan và Bangladesh. Bảng tuyên bố bằng tiếng Ả Rập − với lời văn
hùng hồn, có chỗ giống như thơ − đưa ra một lối giải thích lịch sử khác mà
đa số người châu Âu chưa gặp bao giờ. Những bất bình của bin Ladin được
nêu trong tuyên bố không hề giống với những gì mà nhiều người mong đợi.
Tuyên bố mở đầu bằng những đoạn văn trích dẫn sặc mùi hiếu chiến trong
kinh Qur'an kèm theo những lời dạy của Tiên tri Muhammad, và tiếp đến là:
“Kể từ khi Thượng đế dựng nên bán đảo Ả Rập, có sa mạc, có biển bao
quanh, thì chưa hề có tai họa nào giáng xuống cho đến khi bọn Thập tự chinh
ào đến như châu chấu, nhung nhúc trên mặt đất, ăn sạch hoa màu, phá hủy
màu xanh; và đây là lúc mà các nước chống lại người Hồi giáo như bọn đói
ăn xâu xé giành nhau một bát cơm”.

Từ điểm này tuyên bố kêu gọi cần phải hiểu rõ để chấn chỉnh tình hình.
Theo tuyên bố này, các thực trạng mà ai cũng rõ được xếp theo ba đề mục:
Một là − từ bảy năm qua, nước Mỹ đã xâm chiếm phần đất đai linh thiêng nhất của
người Hồi giáo, đó là Arabia, đã tước đoạt của cải khống chế các nhà cầm quyền
lăng nhục nhân dân, uy hiếp các nước láng giềng và sử dụng những căn cứ trên bán
đảo Ả Rập làm đầu cầu để chống lại nhân dân Hồi giáo các nước lân cận.
Mặc dù trong quá khứ đã có nhiều tranh cãi về bản chất thực sự của sự chiếm đóng
này, nhưng toàn thể nhân dân Arabia giờ đây đều đã biết rõ.
Bằng chứng hiển nhiên là nước Mỹ lấy Arabia làm căn cứ để tiếp tục xâm lược
chống nhân dân Iraq, dù rằng các nhà lãnh đạo Arabia có phản đối nhưng đều bị
khống chế để cho Mỹ sử dụng lãnh thổ của mình vào mục đích xâm lược.
Hai là − mặc dù liên minh Thập tự chinh-Do Thái gây ra sự tàn phá to lớn cho người
dân Iraq, và mặc dù con số người chết đã lên đến mức kinh hoàng vượt quá một triệu
người, bọn Mỹ tuy thế vẫn còn cố lập lại hành động đồ tể đáng kinh sợ đó. Dường
như đối với chúng sau một cuộc chiến khốc liệt, việc phong tỏa kéo dài, sự băm xé
và hủy diệt vẫn còn chưa đủ. Bây giờ chúng lại tiến công để hủy diệt những gì còn
sót lại của dân tộc này và để hạ nhục các nước Hồi giáo láng giềng.
Ba là − Trong khi bọn Mỹ nhắm vào các mục đích tôn giáo và kinh tế trong các cuộc
chiến này, bọn chúng cũng đồng thời phục vụ cho miếng đất cỏn con của bọn Do
Thái, nhằm đánh lạc hướng việc chiếm đóng Jerusalem và giết chóc tín đồ Hồi giáo
tại đó.
Không có bằng chứng nào rõ hơn về vấn đề này là ý muốn tiêu diệt nước Iraq của
bọn chúng, là nước mạnh nhất trong các nước láng giềng Ả Rập, và ý đồ của chúng
là băm nát tất cả các quốc gia trong vùng như Iraq và Saudi Arabia, Ai Cập và Sudan
thành các nước cỏn con, để làm suy yếu các nước này, để cho nước Israel tồn tại và
tiếp tục giúp cho bọn Thập tự chinh chiếm đóng và gây ra nhiều tai họa trên bán đảo
Ả Rập.

Những tội ác này, bản tuyên bố tiếp tục, đã trở thành một lời “tuyên
chiến rành rành của bọn Mỹ chống lại Thượng đế, chống lại Đấng Tiên Tri
của người và tín đồ Hồi giáo. Về mặt này, ý kiến thống nhất của các bậc trí
giả (ulema) qua bao thế kỷ là khi có kẻ thù tấn công đất đai của người Hồi
giáo, thì thánh chiến là bổn phận của mỗi tín đồ.
Những người ra tuyên cáo trích dẫn nhiều căn cứ trong kinh sách Hồi

giáo và sau đó đi đến phần chót và quan trọng nhất của tuyên bố, phần sắc
lệnh (fatwa), tóm gọn như sau: “giết bọn Mỹ và đồng minh của chúng, dân
sự và quân sự, là nhiệm vụ của mọi tín đồ Hồi giáo còn khỏe mạnh, ở mọi
nơi mọi chốn, cho tới khi nào giải phóng được đền Aqsa [tại Jerusalem] và
đền Haram [tại Mecca] ra khỏi ách kìm kẹp của chúng và cho tới khi quân
đội của chúng bị đánh tơi tả và gảy cánh, rút lui khỏi mọi phần đất của người
Hồi giáo, không còn đủ sức đe dọa bất cứ tín đồ nào”.
Sau khi nêu thêm một vài đoạn có liên quan trong kinh Qur'an, tài liệu
viết tiếp: “Được phép của Thượng đế, chúng tôi kêu gọi mọi tín đồ Hồi giáo
những ai tin vào Thượng đế và mong được tưởng thưởng vì vâng lời Thượng
đế đi giết bọn Mỹ và tước đoạt tài sản của chúng bất cứ khi nào nơi nào có
thể làm được. Vì thế chúng tôi kêu gọi mọi thầy cả ulema và các nhà lãnh
đạo Hồi giáo, các thanh niên và chiến sĩ nhất tề tấn công chống lại quân đội
của bọn quỷ Mỹ và chống lại những ai là đồng minh của chúng trong hàng
ngũ của bọn tiếp tay cho quỷ Satan”. Tuyên bố và sắc chỉ kết thúc bằng một
số lời trích trong kinh sách Hồi giáo.
Theo nhận thức thông thường của phương Tây, chiến tranh vùng vịnh
năm 1991, là do Mỹ, liên minh Ả Rập và các đồng minh khác phát động để
giải phóng Kuwait khỏi sự xâm lược của Iraq và nhằm bảo vệ Saudi Arabia
chống lại sự tiến công của Iraq. Cho rằng cuộc chiến này là một sự tiến công
của Mỹ chống lại Iraq xem ra có vẻ hơi kỳ cục nhưng viễn cảnh này được
thế giới Hồi giáo chấp nhận rộng rãi. Khi vụ việc Saddam Hussein tấn công
Kuwait đi vào quên lãng, thì người ta lại quan tâm đến việc Iraq bị cấm vận,
máy bay của Anh và Mỹ từ các căn cứ ở Arabia tuần tra không phận Iraq,
nỗi thống khổ của nhân dân Iraq và sự thiên vị của Mỹ đối với Israel được
cảm nhận càng ngày càng tăng.
Ba khu vực gây bất bình được nêu trong tuyên bố − đó là Arabia, Iraq và
Israel − tất cả đều quen thuộc đối với những ai quan sát tình hình vùng
Trung Đông. Cái có lẽ ít quen thuộc là trình tự và tầm quan trọng khi trình
bày ba khu vực này. Điều này sẽ không gây ngạc nhiên cho bất cứ ai thông
thạo lịch sử và văn học Hồi giáo. Đối với người Hồi giáo, do chúng ta ở
phương Tây thường hay quên, đất thánh đúng nghĩa là ở Arabia và đặc biệt

là Hijaz và hai thành phố thánh − Mecca, nơi Đấng Tiên Tri chào đời, và
Medina, nơi ngài thiết lập đất nước Hồi giáo đầu tiên; đất nước mà dân
chúng là người đầu tiên tập hợp quanh một đức tin mới và là những người
tiên phong. Đấng Tiên Tri sống và tạ thế tại Arabia cũng như những người
kế nhiệm trực tiếp, là các Caliph, những người đứng đầu của cộng đồng.
Tiếp sau đó, trừ một thời gian ngắn ở Syria, trung tâm thế giới Hồi giáo và
nơi đạt được những thành tựu chính của Hồi giáo là Iraq, có thủ đô là
Baghdad, là nơi các Caliph đóng đô trong nửa thiên niên kỷ. Đối với người
Hồi giáo, không có mảnh đất nào một khi đã nhập vào cương vực Hồi giáo
lại vuột ra được, cũng như không có nơi nào có thể sánh được với Arabia và
Iraq.
Và trong hai địa danh đó, Arabia có tầm quan trọng vượt xa hơn nhiều.
Các sử gia Ả Rập kinh điển cho ta biết rằng vào năm 20 kỷ Hồi giáo, tương
ứng với năm 641 CE., Caliph 'Umar ra sắc lệnh đuổi người Do Thái và Cơ
Đốc ra khỏi các vùng biên phía nam và phía đông của Arabia, theo đúng
huấn thị của Đấng Tiên Tri thốt ra khi lâm chung: “hai đạo đó không được
có mặt tại Arabia”.
Dân tộc đang đề cập là những người Do Thái tại ốc đảo Khaybar, ở phía
bắc và người Cơ Đốc Najran, ở phía nam. Cả hai đều là những cộng đồng đã
có mặt ở đây từ xa xưa, tiếng nói, văn hóa và cách sống đều rặc Ả Rập, chỉ
khác với người láng giềng ở phần đức tin.
Một số kinh sách Hồi giáo sơ kỳ đặt
 
Gửi ý kiến