Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

tro-chuyen-triet-hoc

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:18' 09-02-2026
Dung lượng: 4.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Tên sách: Trò Chuyện Triết Học
Tác giả: Bùi Văn Nam Sơn
Thực hiện ebook: tamchec
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Mục Lục
Chỉ bán phở mới là quán phở?
Socrates và nghệ thuật đối thoại
Gai nhọn hay hoa hồng?
Platon và việc thực hiện ý tưởng
Khung cửa hẹp hay con đường vương giả?
Protagoras và khai minh Hy Lạp
Hãy dám biết! (hay tư duy nguyên tắc)
Aristoteles và sự quản trị tri thức
Kẻ đại náo cũng cần một trật tự
Cổ thụ ngàn năm hay chậu kiểng một mùa?
Tư duy và tự do: quả trứng và con gà?
Sáng như tơ mà chiều đã như sương
Đâu nhất thiết… có ghế mới ngồi được!
Hệ thống: coi chừng đứt tay!
Sáng mai xoã tóc thả thuyền ta chơi!
Bất hoại như những vì sao…
Thước đo của tự do
Cần có anh hùng?
“Xã hội nguy cơ”: sống trong sợ hãi
Chỉ có thể hy vọng khi biết sợ!
Người phụ nữ thách thức bạo quyền
Đừng tin vào ngẫu tượng!
Con cóc trong hang…
Lưỡi không xương…
Bịt mắt bắt dê
“Trọng lực của tinh thần”
Từ tiếng hát nhân ngư
Chiếc kính vạn hoa
Cái thuở ban đầu…

Như ong ăn mật
Thiên nga đen
Khoa học phát triển như thế nào?
Cách mạng trong khoa học
Đội bóng Anh và… tôi
Khoa học: chân lý hay công cụ?
Lý tưởng khoa học
Khoa học có khách quan không?
“Hiểu” và “giải thích”: hai phương trời cách biệt?
2 + 2 = ?
“Sự nghiêm chỉnh của lý tưởng”
“Dao sắc mới cắt được mọi thứ”(*)
Chung quanh di sản của Humboldt (*)
Bóng mát của một vĩ nhân (*)
Con người tự nhiên văn hoá
Con người: quen mà lạ
Luận về biếu tặng : ẩn ngữ của những món quà
Con người: sinh vật biết hành động!
Con người: giữa hai thế giới
Phục hưng: trỗi dậy như phượng hoàng
Các danh tác thời Phục hưng
Deus in terra: ông trời con trên mặt đất!
Khai minh và trưởng thành
Bước vào thời cận đại
Bức tranh văn hoá thời cận đại
Con người và chính trị tiền – hiện đại
“Giao lưu trực tuyến” với Hobbes, Locke và Rousseau – 3
Một nền nhân học dấn thân
Giữ tự nhiên và văn hoá
Văn hoá như là... tha hoá
Khai minh về... khai minh
Tha hoá như là... văn hoá

Văn hoá và văn minh
Các thước đo của văn hoá
Có hai văn hoá?
Văn hoá và đời sống?
Nghịch lý của văn hoá
Văn hoá hiện đại
Văn hoá phản tỉnh
Triết học và hiện đại hoá
Kant và văn hoá hiện đại
Kant và Hegel: hai mô hình tư duy
Chữ trinh còn một chút này...
Tiến bộ kỹ thuật: phúc hay hoạ?
Từ kỹ thuật đến công nghệ
Những chặng đường công nghệ
Kỹ thuật hiện đại: kỳ diệu và đáng sợ
Kỹ thuật và nghệ thuật, phương tiện và mục đích
Kỹ thuật chỉ là khoa học ứng dụng?
“Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”
“Tri thức là sức mạnh”

Cần biết và cần nghĩ
SGTT - Môn gì cũng cần giải lao huống hồ triết học! Xin bạn đọc tham dự
giờ ra chơi của “người kể chuyện” Bùi Văn Nam Sơn, nhân tiện ông sẽ có
đôi lời trao đổi cùng “người hâm mộ” về những ý kiến đã nhận được.

Minh hoạ: Hoàng Tường
Thưa bạn đọc quý mến,
Mục Chuyện xưa chuyện nay mới chập chững đã được khá nhiều bạn đọc
quan tâm, khuyến khích, góp ý, trao đổi. Một sự an ủi cho người viết, nhưng
cũng buộc người viết có trách nhiệm thưa rõ hơn nữa mục đích để không lạm
dụng thì giờ và sự rộng lượng của bạn đọc.
Thật thích thú và biết ơn bạn Nguyễn Văn Hà đã làm hộ cho điều ấy: “Tôi
nghĩ đây là một mục hay một “món nhậu” mới (…) Công chúng bây giờ đâu
chỉ cần “biết” mà họ cần “nghĩ” nữa”. Vâng, “biết” thì không cùng, và không
rõ ta phải sống bao nhiêu kiếp nữa để học hết chữ nghĩa trong thiên hạ?
“Biết” là bữa cơm hằng ngày. Nhưng, “nhậu” làm đời vui hơn! Ta không
sống để triết lý mà triết lý để sống, hay ít ra, để sống vui hơn, có hương vị
hơn. Bữa cơm và món nhậu, đời sống và triết học đều là… những phần tất
yếu của cuộc sống: làm sao để triết học vui sống với cuộc đời, và cuộc đời
cũng ngẫm nghĩ, ưu tư cùng với triết học?

“Nghĩ” để nhận ra rằng mọi việc không đơn giản như mới thoạt nhìn. Và
“nghĩ” sẽ buộc ta tìm ra con đường mới, cách đặt vấn đề khác, hy vọng đến
gần cái “biết” hơn chăng. Ở phương Tây, bài học vỡ lòng triết học là mấy
“Đối thoại” của Platon, được viết theo phong cách của Socrates mà ta mới
làm quen. Toàn những câu hỏi tưởng như giản dị: Dũng cảm là gì? Tình bạn
là gì? v.v.. Những câu hỏi “là gì” này càng “nghĩ”, càng rối!
Laches, một tướng quân (vì thế, đối thoại mang tên ông), trả lời: dũng cảm là
xông lên trong chiến trận. Hẹp quá! Rút lui có khi cũng dũng cảm chứ? Thử
nhớ đến cuộc “hồi binh Tam Điệp” của Ngô Thì Nhậm và “kéo pháo ra” ở
trận Điện Biên Phủ! Vả lại, đâu phải chỉ trong chiến trận mới có sự dũng
cảm?
Vậy, vấn đề không phải là kể ra những hình thức biểu hiện của nó mà phải
định nghĩa bản thân sự dũng cảm! Thử xem nào: dũng cảm là sự kiên định
trong tinh thần chăng? Chưa chắc, vì hay ho gì sự kiên định trong mê muội
và bảo thủ! Là kiên định trong sự sáng suốt chăng? Ít ai gọi một thầy thuốc
tuân theo phác đồ điều trị là “dũng cảm” cả! Là sự sáng suốt khi lường trước
được nguy cơ chăng? Nguy cơ là chuyện nhất thời, trong khi cái biết đích
thực phải vượt thời gian chứ? Vậy nó là sự tường minh về điều thiện và điều
ác?
Nếu thế, lấy gì để phân biệt nó với những đức tính khác? Cuộc đối thoại lâm
vào bế tắc. Hoạ chăng, phải tìm cho được một cách đặt vấn đề kiểu khác:
không thể hiểu được sự dũng cảm nếu xét nó như một đức tính cô lập, và
trước khi đặt được câu hỏi mới, rắc rối hơn nữa: đức hạnh là gì?
Đối thoại Lysis cũng thú vị không kém. Trong một giai thoại, cụ Khổng từng
phải than “hậu sinh khả uý!” khi bị cậu bé Hạng Thác bắt bẻ. Ở đây, Socrates
lại chịu khó đối thoại rất dài và rất sòng phẳng với hai bạn trẻ mới mười hai
tuổi: Menesenos và Lysis. Ba ông cháu xoay quanh câu hỏi: “Làm sao để gọi
ai đó là một người bạn?”.
Theo định nghĩa, Socrates chỉ thấy có ba khả năng: thứ nhất, “bạn” là kẻ yêu
thích một ai hay một điều gì đó (ví dụ: yêu bóng đá thì gọi là bạn của bóng
đá). Thứ hai, “bạn” là người yêu và được yêu, ta gọi đó là tình bạn hay tình
yêu giữa hai con người. Thứ ba, “bạn” là kẻ được yêu. Nhưng rồi Socrates
tìm mọi cách chứng minh rằng cả ba trường hợp đều không ổn.
Rút cục, Menesenos đành đồng ý với kết luận của Socrates: không thể có cái
gì được gọi là “người bạn” hay “tình bạn” cả! Bấy giờ Lysis mới can thiệp

vào cuộc đối thoại. Cậu phản đối: Làm sao có thể vô lý thế được khi bảo
rằng không có tình bạn? Rõ ràng có sai lầm gì đây ở trong lập luận. Socrates
khen ngợi Lysis có năng khiếu triết học và biểu đồng tình với Lysis.
Nhưng, đối thoại kết thúc ở đó, và ông lẫn Lysis không cho ta biết sai lầm
nằm ở đâu. Vui nhất là khi ông bảo: Thôi, tụi mình bàn chuyện khác chơi đi,
làm việc ấy mệt quá! Ông đùn công việc ấy lại cho người đọc chúng ta: phân
tích lập luận và phát hiện sai lầm không phải dễ, nhưng ai đảm nhận việc ấy
là tự mình thực sự làm triết học!
Chính sự bế tắc và nan đề khiêu khích và thách thức người đọc để tự họ đi
tìm giải pháp. Bạn TT Nha (Hà Nội) “bực mình” trước sự lằng nhằng của
“cha con ông chủ quán phở” (SGTT, 2.6.2010) và lại thấy người tường thuật
cứ bỏ lửng, không đưa ra “một kết luận rốt ráo và rõ nghĩa” nào cả, bạn đã tự
đặt lại vấn đề để thử tìm lấy một cách giải quyết cho mình. Thưa bạn, bạn đã
“triết lý” đúng theo tinh thần và sự chờ đợi của Socrates!
“Một kết luận rốt ráo và rõ nghĩa” là lý do tồn tại của triết học. Nhưng, nó
cũng là một chân trời, càng đến gần, càng lùi xa. Thần thánh thì không thế.
Họ không làm nghệ thuật, vì họ đâu biết cái xấu là gì để thấy cần thiết tạo
nên cái đẹp? Họ càng không cần đến triết học, vì bản thân họ không thấy “có
vấn đề” gì cả! Chỉ có chúng ta, con người hữu hạn và bất toàn, mới làm triết
học, đúng theo nghĩa… yêu sự minh triết (philo-sophia). Yêu, vì ta không có
sẵn nó nơi mình.
Thưa bạn thân mến,
Loạt bài này sẽ lần lượt xoay quanh mấy vấn đề thiết thực đã nêu lần trước:
hiểu hậu cảnh, quyết định có cơ sở, hành động có trách nhiệm, truyền thông
rõ ràng, sống thanh thản, hạnh phúc. Trong khả năng và khuôn khổ cho
phép, chúng ta cũng sẽ chỉ cố tiếp cận chúng như một… người yêu, hơn là
một kẻ biết. Tại sao yêu? Yêu thế nào? Xin dành cho mấy bài kế tiếp, vào
tuần sau.
Còn về khuyết điểm trong cách trình bày, đôi khi “có phần cứng nhắc và
nhồi nhét” như bạn Lê Thanh Toàn lưu ý, thì quả là một cố tật khó sửa, bởi
“quen mất nết đi rồi”. Chỉ xin bắt chước cô Kiều và hứa:
Lời vàng vâng lĩnh ý cao
Hoạ dần dần bớt chút nào được không!
Xin cảm tạ các bạn.

Bùi Văn Nam Sơn

Chỉ bán phở mới là quán phở?
SGTT - Hai cha con ông chủ một quán phở gia truyền nổi tiếng không đồng
ý với nhau: người cha muốn chỉ tiếp tục bán phở thôi; người con, có óc năng
động, muốn bổ sung thêm mấy món điểm tâm nữa. Nhưng, “bổ sung” tới
mức độ nào thì quán phở vẫn còn là quán phở?

Hai cha con vô hình trung đụng đến một trong những câu hỏi quan trọng
nhất và cũng nhức đầu nhất của triết học: cái gì khả biến, cái gì bất biến? Cái
gì làm nên bản chất của một sự vật? Triết học, từ thời cổ đại, cũng xuất phát
từ kinh nghiệm đời thường: cái cây vẫn là cái cây dù mùa thu làm rụng lá.
Chặt cái cây tới mức nào thì nó vẫn có thể hồi sinh? Cưa tận gốc thì tuy vẫn
còn bộ rễ nhưng không còn là cái cây nữa. Cái cây đã bị phá huỷ tận “bản
thể” của nó.
Con người cũng vậy. Xem lại tấm ảnh lúc tuổi thơ, ta nhận ra đó là “tuổi thơ
của mình” chứ không phải của một đứa trẻ khác. Chừng nào mình còn xưng
“tôi” là còn muốn nói đến cái gì không thay đổi, không thể lẫn lộn, dù tóc đã
phai màu! Lập tức, ta vấp ngay một khó khăn: cái thực sự tạo nên sự vật thì
không thể dùng mắt để nhìn mà phải dùng đầu để suy nghĩ. Nhưng, suy nghĩ
từ cái gì? Cũng phải từ những gì mắt thấy tai nghe! Những gì mắt thấy tai
nghe đều là khả biến, vô thường, vậy có thể xem những gì khả biến, vô
thường là bản chất của sự vật? Nói thế cũng có nghĩa là sự vật không hề có
bản chất! Song, thực tế cãi lại: khi mua một món hàng, ta muốn mua một
món hàng thật, dù “cái thật” ấy ẩn sâu trong món hàng, khó nhận thấy. Gia

đình, xã hội cũng thế. Sống trong một gia đình, một tổ chức, một xã hội, đâu
phải ai lo phận nấy mà còn có một mục tiêu chung. Khi mục tiêu này mất đi,
gia đình, tổ chức, xã hội không còn là chính nó nữa. Vậy, ta phải có ý thức
về một cái bản thể thường tồn thì mới có thể nhận ra lúc nào nó bị đe doạ
chứ? Hai cách đặt vấn đề tương phản như thế làm các triết gia điên đầu trong
hơn hai ngàn năm nay!
Ở phương Tây, Aristoteles là người nỗ lực giải quyết vấn đề này. Ông khẳng
định: bản chất của sự vật là bản thể của nó. Vậy bản thể là gì? Là cái gì
“nằm bên dưới” sự vật, là cái gì bền vững mà nếu không có nó, không còn sự
vật nữa. Hãy thử đọc hai cặp lục bát sau đây trong Truyện Kiều theo kiểu…
triết học:
(1) Thuý Kiều sắc sảo, khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành
(2) Thịt da ai cũng là người
Lẽ nào hồng rụng thắm rời chẳng đau!
Câu (1) cho biết cô Kiều là như thế nào. Nhưng, các đặc điểm ấy không ổn
định (cô Kiều có khi cũng… dại dột!) và nhất là, không thể tồn tại độc lập
mà không gắn với cô Kiều. Chúng có thể thay đổi, nghĩa là, không nhất thiết
cứ như thế mãi (hậu vận cô Kiều đâu có… vô duyên!). Vì thế, Aristoteles
bảo: Thuý Kiều (như là cái gì cá biệt) là bản thể, còn “sắc sảo, khôn ngoan,
vô duyên…” là những tuỳ thể (accidents, từ nghĩa gốc là ngẫu nhiên, tình
cờ). Nhưng câu (2) thì khác, con người không thể lúc thì có “thịt da”, lúc thì
không. Vậy nó nói lên con người là gì. Cái không thể thay đổi ấy được gọi là
những thuộc tính. Thuộc tính thì tất nhiên không tồn tại độc lập, nhưng
những thuộc tính nào thuộc về bản chất của sự vật thì cũng là bản thể, thậm
chí còn là bản thể theo nghĩa cao hơn cả những sự vật cá biệt. Vậy, theo
Aristoteles, ta có hai loại bản thể: cái cá biệt (Thuý Kiều) và cái phổ biến
(“thịt da”, “người”…) Ông gọi cái trước là bản thể số một, cái sau là bản thể
số hai. Tưởng xong, nhưng rồi lại thấy không ổn! Việc phân biệt ấy chẳng rõ
ràng chút nào. Khi Thuý Kiều khen Từ Hải: “Rằng: Từ là đấng anh hùng!”,
thì nếu rút bỏ thuộc tính “anh hùng” đi, có còn là Từ Hải hay chỉ là một
người trùng tên?
Platon, thầy của Aristoteles, làm ngược lại; ông chỉ quan tâm đến một
phương diện thôi. Chỉ có cái phổ biến (“người”, “thịt da”, “sắc sảo”, “khôn
ngoan”…) mới là những cái duy nhất có thật. Ông là tổ sư của thuyết duy
tâm khách quan, vì theo ông, những cái phổ biến ấy là thuần tuý, hoàn hảo,

mẫu mực chứ không nhếch nhác khi trở thành những thuộc tính ở trần gian,
vì thế, chúng ở một thế giới khác, trong khi những sự vật cá biệt trên thế gian
này chỉ là những bản sao tồi tàn, mờ nhạt của chúng.
Thomas Aquino, đại triết gia Kitô giáo thời Trung cổ, đồng ý với Aristoteles
là phải xuất phát từ những sự vật và bản thể trên trần gian này, nhưng cần
tìm cho chúng một nền tảng sâu hơn. Theo ông, không phải ngẫu nhiên khi
sự vật có một bản chất, tức có bản thể bền vững. Đó là nhờ có thượng đế.
Nếu không có thượng đế và ý chí bền vững của Ngài để sáng tạo và duy trì
thế giới này, tất cả đều tan rã hết.
René Descartes, cha đẻ của triết học cận đại, cũng dành cho thượng đế một
chỗ đứng đặc biệt, nhưng có chỗ khác với Aquino. Theo ông, chỉ duy nhất
thượng đế mới có bản thể vĩnh hằng theo nghĩa tuyệt đối, còn toàn bộ thực
tại chia làm hai loại bản thể: bản thể có quảng tính (vật chất) và bản thể có tư
duy (tinh thần). Nơi con người cũng thế: ngày nay, ta đi đến bác sĩ để khám
bệnh và đi đến trường để học, chứ không đến cùng một nơi là nhờ có…
Descartes!
Sống trong một gia đình, một tổ chức, một xã hội, đâu phải ai lo phận
nấy mà còn có một mục tiêu chung. Khi mục tiêu chung này mất đi, gia
đình, tổ chức, xã hội không còn là chính nó nữa
Descartes gặp một đối thủ có hạng: Gottfried Wilhelm Leibniz. Leibniz bảo
rằng chính những “đơn tử” (monad) mới tạo nên bản chất của sự vật. Nó
“không có cửa sổ”, nghĩa là không thể nhìn vào bên trong nó, nó tự tồn và
không có gì bên ngoài làm thay đổi nó được. Quan trọng hơn, đơn tử có lực!
Lực khổng lồ nữa là khác. Không cần phải là nhà vật lý nguyên tử, ta cũng
tin vào sức mạnh của năng lượng nằm bên trong lòng sự vật. Chỉ cần nhìn
một đội bóng đang vùng lên là đủ nhận ra cái gì thúc đẩy nó, đồng thời đó
cũng là nguồn năng lượng của nó.
Immanuel Kant thấy các khẳng định của Descartes, Leibniz nghe thì hay
nhưng không thể kiểm chứng được, nên cho rằng bản thể là cái gì chỉ hiện
hữu trong đầu óc con người như một phạm trù để suy nghĩ về sự vật thôi,
còn bản chất của sự vật là điều không thể nhận biết được.
G. W. F. Hegel nghĩ đến quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng:
hiện tượng là gì nếu nó thiếu đi cái bản chất; bản chất là gì nếu nó không
trình hiện ra?

Edmund Husserl cho rằng, đối với con người, không có cái bản chất nào ẩn
giấu đằng sau sự vật cả, tất cả đều là những gì trình hiện cho ta, nên triết học
của ông được gọi là hiện tượng học. Từ đó, Jean Paul Sartre, một trong
những ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh, cho rằng hiện hữu của con người có
trước bản chất. Xác định trước một bản chất, là hạn chế sự tự do chọn lựa
của con người! Đối với các triết gia Anh, nhất là David Hume, John Locke,
chỉ có những gì tri giác được, đo đếm được mới có thực. Một tư tưởng được
thời đại bấy giờ hoan nghênh, vì nó hoàn toàn tương hợp với phương pháp
của khoa học tự nhiên thời cận đại.
Ở thế kỷ 20, triết học và khoa học luận tìm cách thay thế khái niệm bản
thể/bản chất quá trừu tượng bằng khái niệm chức năng. Lý thuyết hệ thống
cũng vậy: sự vật được xác định không phải từ bản chất của nó, mà từ chức
năng của nó trong một hệ thống nhất định.
Nhưng, nhiều người vẫn chưa trọn tin vào lý thuyết ấy. Họ vẫn cứ thành tâm
hướng đến một cái gì siêu việt hơn đời thường, và… cha con ông chủ quán
phở vẫn cứ tiếp tục tranh luận.
Bùi Văn Nam Sơn

Socrates và nghệ thuật đối thoại
Ông là người thầy của phương pháp làm triết học và khoa học. Hơn thế, ông
là tượng đài lẫm liệt của nhân cách: nhân cách của người trí thức đích thực.
Vậy là, ngay từ buổi bình minh của triết học, phương Tây đã được thừa
hưởng hai bảo vật vô giá: cách làm triết học và cách sống triết học.

Ba trong một: trí thức, nhà nhân quyền, triết gia
Socrates (khoảng 470 – 399 trước Công nguyên) con nhà nghèo: cha làm đồ
gốm, mẹ là bà mụ. Nghề của mẹ (và chắc cũng của cha nữa) thường được ví
với phong cách sống của ông: làm người “đỡ đẻ” và hun đúc cho việc đi tìm
chân lý. Học vấn uyên bác và đã từng là một chiến binh dũng cảm, nhưng rút
cục ông thấy công việc “hộ sinh tinh thần” mới thực là sứ mệnh đáng cho
ông dâng hiến trọn đời. Socrates không triết lý trong tháp ngà. Ông lang
thang giữa chợ Athens (Hy Lạp) để bàn thảo, tranh luận với thanh niên, với
những người “học thật” và “học… giả”.
Tới 50 tuổi mới cưới vợ: bà Xanthippe, nổi danh (và đồng nghĩa) với hình
ảnh một bà vợ hung dữ, khó tính. Không phải không có lỗi của ông: chẳng
mang được đồng xu nào về nhà! Khác với những biện sĩ đương thời bán trí
khôn kiếm tiền, ông dứt khoát dạy miễn phí. Không rõ bà hay cãi cọ có phải
vì ông cương quyết không chịu… thương mại hoá giáo dục hay không,
nhưng “chân lý” sáng giá được ông khám phá là: “Nên lấy vợ! Gặp vợ hiền,
bạn được hạnh phúc; gặp vợ dữ, bạn thành… triết gia; đàng nào cũng có

lợi!”
Thử thách thực sự đến với Socrates vào năm 399 trước Công nguyên. Ông bị
tố cáo tội “dụ dỗ thanh niên” và “báng bổ thánh thần”, bị kết án tử hình bằng
cách uống thuốc độc. Người như ông mà không bị chụp mũ, tố cáo, lên án
mới là chuyện lạ, nhưng thật ra, thời đó, án tử hình cũng hiếm và ông có thể
dễ dàng thoát chết bằng hai cách: xin chừa hoặc bỏ trốn. Không thể được!
Xin chừa là phản bội sứ mệnh bảo vệ chân lý. Bỏ trốn là phản bội trách
nhiệm công dân. Vậy, chỉ có con đường chết: ung dung uống thuốc độc
trước mặt bạn hữu và môn đệ, sau khi cùng họ… đàm luận triết học!
Platon, cao đồ của Socrates, đã tường thuật quang cảnh bi tráng này một
cách thật cảm động và nhất là đã ghi lại lời tự biện hộ bất hủ của Socrates
trước toà mà hậu thế xem “là bản tuyên ngôn đầu tiên của tri thức” (Socrates
tự biện, Nguyễn Văn Khoa dịch, NXB Tri Thức, 2006). Hãy nghe tóm tắt vài
lời giới thiệu của dịch giả:
Tại sao lại bắt đầu với Socrates, người chưa từng tự tay viết một chữ
nào để lại hậu thế? Vì tuy không viết chữ nào, nhưng như đức Phật, đức
Khổng ở phương Đông, Socrates là triết gia gây ảnh hưởng sâu đậm
nhất lên lịch sử tư tưởng Tây phương.
– Socrate là triết gia đầu tiên, vì “sống” đồng nghĩa với “triết lý”: “Thưa quý
đồng hương,… khi nào còn chút hơi sức, tôi sẽ không ngừng sống đời triết
gia, khuyên nhủ và khuyến cáo quý vị rằng phải tự xét mình và xét người,
bởi vì sống mà không suy xét không đáng gọi là sống”.
– Socrates là nhà nhân quyền đầu tiên, vì ông xác lập tự do tư duy, tự do phát
biểu, tự do sống cuộc đời mình chọn lựa, như một thứ quyền con người, cao
hơn bất kỳ bộ luật của một cộng đồng người đặc thù nào: “Trước sự thể này,
tôi chỉ cần thưa với quý vị: có trả tự do cho tôi hay không, không thành vấn
đề; Socrates này sẽ chẳng bao giờ làm chuyện gì khác, dù phải bỏ mạng
ngàn lần”.
– Socrates là người trí thức đầu tiên theo nghĩa hiện đại, vì dám tin vào một
thứ chức năng thiên phú: phê phán không nhân nhượng xã hội ông đang
sống: “Thật là sai lầm nếu quý vị nghĩ rằng chỉ cần giết người là trốn thoát
lời chê trách sống không suy xét. Cách loại bỏ sự kiểm tra ấy vừa bất chính
vừa bất khả thi, còn cách vừa chính đáng vừa dễ dàng là: thay vì tìm cách bịt
miệng kẻ khác, hãy tự tu thân sửa tính” (sđd, tr. 35-36).
Người đỡ đẻ tinh thần

Ta thường biết đến câu nói nổi tiếng của Socrates: “Tôi biết rằng tôi không
biết gì cả” và câu châm ngôn ông theo đuổi suốt đời – “Hãy biết chính
mình!” Nhưng, cống hiến lớn nhất của ông là đã mang triết học từ trời xuống
đất. Thay vì bàn chuyện vũ trụ cao xa như các bậc tiền bối, ông quan tâm
đến những vấn đề của cuộc sống con người. Vì ông tin rằng mọi người ai ai
cũng biết lẽ phải, sẵn sàng làm theo lẽ phải nếu được thức tỉnh.
Do đó, nhiệm vụ của ông không phải là rao giảng, thuyết phục, trái lại, bằng
phương pháp và kỹ thuật đặt câu hỏi, giúp mọi người tự tìm thấy lẽ phải,
chân lý vốn còn bị che phủ bởi sự mê muội. Dựa theo phương pháp hộ sinh
của bà mẹ, Socrates tiến hành nghệ thuật đối thoại bằng bốn bước:
– Giả vờ không biết để nhờ người đối thoại giảng cho. Rồi bằng những câu
hỏi trúng đích (có khi châm biếm, mỉa mai) chứng minh rằng người đối thoại
thật ra chẳng biết gì!
Khôn ngoan là kẻ biết điều mình không biết!
Không biết không đáng trách, đáng trách là không chịu học
Ông quan tâm đến những vấn đề của cuộc sống con người. Vì ông tin
rằng mọi người ai ai cũng biết lẽ phải, sẵn sàng làm theo lẽ phải nếu
được thức tỉnh.
– Tiếp theo là dùng phương pháp quy nạp để xây dựng từng bước cái biết
vững chắc. Đó là phân tích chính xác những ví dụ cụ thể trong đời thường, từ
đó rút ra những kết luận và định nghĩa tạm thời.
– Bằng phương pháp định nghĩa, làm cho những khẳng định tạm thời ấy
ngày càng tinh vi và chính xác hơn.
– Sau cùng, có được những định nghĩa rõ ràng, phổ quát về vấn đề đang bàn.
Phương pháp đối thoại ấy trở thành cơ sở cho sự phát triển triết học và khoa
học của bao thế hệ về sau.
Ta học được gì từ Socrates? Bên cạnh tấm gương chính trực và dũng cảm mà
mỗi khi nản lòng, ta hãy nhớ đến để còn vững tin vào giá trị của con người,
còn có thể rút ra mấy kinh nghiệm hay:
– Biết nghe và biết hỏi là yếu tố cơ bản để thành công. Nhưng, hỏi không
phải để truy bức, để bắt bí mà để người được hỏi có dịp suy nghĩ và tự trả

lời: câu trả lời và giải pháp là do chính họ tìm ra.
– Kiểm tra có phê phán sự hiểu biết của chính mình.
– Nền móng của đối thoại là sự trung thực và minh bạch, là sự tin cậy lẫn
nhau: “Quan toà phải có bốn đức tính: lắng nghe một cách lễ độ, trả lời một
cách rõ ràng, cân nhắc một cách hợp lý, và quyết định một cách vô tư”.
– Tránh mọi sự cực đoan: “Sự cực đoan bao giờ cũng tạo ra sự cực đoan
ngược lại. Thời tiết cũng thế, thân thể ta cũng thế, nhà nước, quốc gia đều
thế cả”.
– Không cần sống khổ hạnh (“ăn và uống mới làm cho xác và hồn gặp
nhau!”), nhưng nên bớt dục vọng và đừng thở than quá mức: “Dồn hết mọi
nỗi bất hạnh trên đời này lại rồi chia đều cho mỗi người, chắc ai cũng xin rút
phần của mình lại và vui vẻ bỏ đi”.
Socrates từ biệt chúng ta nhẹ nhàng: “Thôi, bây giờ đến lúc chia tay. Tôi
chết đây, còn các bạn cứ sống. Nhưng ai sướng, ai khổ, chưa biết đâu đấy!”
Socrates yêu quê hương, sẵn sàng chết chứ không nỡ bỏ đi, nhưng luôn giữ
cái nhìn “toàn cầu”: “Tôi không phải là ng
 
Gửi ý kiến