1 đề KT giữa HK II

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nguyễn Nga
Người gửi: nguyễn thanh nga
Ngày gửi: 12h:19' 25-03-2026
Dung lượng: 58.8 KB
Số lượt tải: 19
Nguồn: Nguyễn Nga
Người gửi: nguyễn thanh nga
Ngày gửi: 12h:19' 25-03-2026
Dung lượng: 58.8 KB
Số lượt tải: 19
Số lượt thích:
0 người
10 ĐỀ GIỮA HỌC KÌ II- LỚP 5
ĐỀ 1
I – Kiểm tra đọc: (10 điểm )
1. Kiểm tra đọc thành tiếng: (3điểm)
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng việt: (7điểm)
Đọc bài văn sau:
TRIỀN ĐÊ TUỔI THƠ
Tuổi thơ tôi với con đê sông Hồng gắn liền như hình với bóng, tựa hai người
bạn thân thiết suốt ngày quấn quýt bên nhau. Từ lúc chập chững biết đi, mẹ đã dắt
tôi men theo bờ cỏ chân đê. Con đê thân thuộc đã nâng bước, dìu dắt và tôi luyện
cho những bước chân của tôi ngày một chắc chắn để tự tin lớn lên, tự tin bước vào
đời.
Chẳng riêng gì tôi, mà hầu hết những đứa nhỏ sinh ra ở trong làng đều coi
con đê là bạn. Chúng cùng nô đùa, chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan trên đê mỗi
khi bố mẹ vắng nhà ra đồng, ra bãi làm việc. Tuổi học trò, cứ sáng cắp sách đến
rường, chiều về lại lùa tất cả trâu, bò lên đê cho chúng gặm cỏ và tha hồ vui chơi
đợi khi hoàng hôn xuống trở về làng. Những đêm trăng thanh gió mát lên đê trải
chiếu nằm đếm sao trời mới tuyệt và thú làm sao. Tôi nhớ nhất là những đêm
Trung thu, người lớn trong làng tổ chức bày cỗ cho thiếu nhi trên mặt đê rất vui và
không khí của lễ hội trẻ em kéo dài tưởng như bất tận...
Năm tháng qua đi, những lối mòn chạy xéo ngoằn ngoèo từ chân lên tới mặt
đê đã in dấu biết bao bàn chân của các thế hệ sớm hôm đi về. Đời người ai cũng có
nhiều đổi thay qua thời gian, song con đê vẫn gần như nguyên vẹn, vẫn sừng sững
chở che bao bọc lấy dân làng tôi cũng như cả một vùng rộng lớn. Những trận lũ
lớn đỏ ngầu phù sa hung dữ, con đê lại gồng mình lên để không chỉ bảo vệ cho tính
mạng con người, gia súc mà còn bảo vệ cả mùa màng...
Theo NGUYỄN HOÀNG ĐẠI
Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng:
Câu 1: (0,5 đ) Hình ảnh nào ở làng quê gắn bó thân thiết với tác giả như hình với bóng?
A. Con đê
B. Đêm trăng thanh gió mát
C. Tết Trung thu.
Câu 2(0,5 đ): Tại sao tác giả coi con đê là bạn?
A.Vì trên con đê này, trẻ em trong làng nô đùa, đuổi bắt, chơi ô ăn quan, chăn trâu,
nằm đếm sao trời, bày cỗ Trung thu.
B. Vì con đê đã ngăn nước lũ cho dân làng.
C. Vì ai vào làng cũng phải đi qua con đê.
Câu 3(0,5 đ): Tại sao tác giả cho rằng con đê “che chở, bao bọc lấy dân làng tôi
cũng như cả một vùng rộng lớn”?
A. Vì con đê đã nâng bước, dìu dắt, tôi luyện cho những bước chân của tác giả
ngày một chắc chắn để tự tin lớn lên, tự tin bước vào đời.
B. Vì những đêm tết Trung thu, người lớn trong làng tổ chức bày cỗ cho thiếu nhi
trên mặt đê rất vui.
C. Vì trong những trận lũ lớn đỏ ngầu phù sa hung đữ, con đê đã bảo vệ tính mạng
con người, gia súc, mùa màng
Câu 4(0,5 đ): Nội dung bài văn này là gì?
A. Kể về sự đổi mới của quê hương.
B. Tả con đê và kể về những kỉ niệm gắn bó với con đê, gắn bó với quê hương.
C. Kể về kỉ niệm của những ngày đến trường.
Câu 5(0,5 đ): Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong câu: “Những trận lũ
lớn đỏ ngầu phù sa hung dữ, con đê lại gồng mình lên để không chỉ bảo vệ cho
tính mạng con người, gia súc mà còn bảo vệ cả mùa màng...”?
A. So sánh
B. Nhân hoá
C. So sánh và nhân hoa
Câu 6(0,5 đ) : Từ “chúng” trong câu “Chúng cũng nô đùa, chơi trò đuổi bất, chơi
ô ăn quan trên đê mỗi khi bố mẹ vắng nhà ra đồng, ra bãi làm việc.” chỉ những ai?
A. Trẻ em trong làng
B. Tác giả
C. Trẻ em trong làng và tác giả
Câu 7(0,5 đ) : Từ nào dưới đây đồng nghĩa với từ “tuổi thơ”?
A. Trẻ em
B. Thời thơ ấu
C. Trẻ con.
Câu 8 (0,5 đ): Từ “gồng ” thuộc từ loại nào (danh từ, động từ hay tính từ)?
……………………………………………………………………..
Câu 9(1 đ) : Xác định các thành phần trạng ngữ, chủ ngữ trong câu sau:
a)Trên đê, trẻ em trong làng nô đùa, chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan.
b) Con bìm bịp, bằng cái giọng trầm và ấm báo hiệu mùa xuân đã tới.
Câu 10 (0,5 đ): Các câu trong đoạn văn sau được liên kết với nhau bằng cách nào?
"Có một người đánh mất dấu phẩy. Anh ta trở nên sợ những câu phức tạp và chỉ
tìm những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩ đơn giản."
A. Lặp từ ngữ
B. Thay thế từ ngữ
C. Từ nối
Câu 11(0,5 đ): Câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép?
A. Mấy con chim chào mào từ gốc cây nào đó bay ra hót râm ran.
B. Mưa rào rào trên sân gạch, mưa đồm độp trên phên nứa.
C. Những tia nắng mặt trời nhảy nhót trên cành cây, ngọn cỏ
................................................................................................................................
Câu 12 (1 đ): Viết một câu ghép có sử dụng cặp quan hệ từ “Vì – nên”?
II - Phần viết:
2 . Tập làm văn: (8 điểm) Chọn một trong hai đề sau:
2.1/ Em hãy tả một cây hoa mà em thích.
2.2/ Em hãy tả cái đồng hồ báo thức.
ĐÁP ÁN ĐỀ GIỮA KÌ II
ĐỀ 1
I – Kiểm tra đọc: (10 điểm )
1. Kiểm tra đọc thành tiếng: (3điểm)
- Đọc đúng tiếng, đúng từ: 1,5 điểm.
(Đọc sai từ 2-4 tiếng: 1 điểm; đọc sai quá 5 tiếng: 0,5 điểm.)
- Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa: 0,5 điểm.
(Ngắt nghỉ hơi không đúng từ 2-3 chỗ: 0,25 điểm; ngắt nghỉ hơi không đúng ở 4
chỗ trở lên: 0 điểm.)
- Giọng đọc bước đầu có biểu cảm: 0,5 điểm.
(Giọng đọc chưa thể hiện rõ tính biểu cảm: 0,25 điểm; Giọng đọc không thể hiện
tính biểu cảm: 0 điểm.)
- Tốc độ đọc đạt yêu cầu (không quá: 1 phút ): 0,5 điểm. (Đọc trên 1-2 phút: 0,5
điểm.)
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng việt: (7điểm)
CÂU
ĐÁP ÁN
SỐ ĐIỂM
1
2
3
4
5
6
7
A
A
C
B
B
A
B
0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ
Câu 8 (0,5 đ): Từ “gồng ” thuộc từ loại: động từ
Câu 9 (1 đ) : Xác định các thành phần trạng ngữ, chủ ngữ trong câu sau:
a)Trên đê, trẻ em trong làng/ nô đùa, chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan.
TN
CN
VN
b) Con bìm bịp, bằng cái giọng trầm và ấm báo hiệu mùa xuân đã tới.
CN
TN
VN
Câu 10 (0,5 đ): Lặp từ ngữ, thay thế từ ngữ
Câu 11(0,5 đ): Câu đơn: A, C; Câu ghép: B
Câu 12: (1,0đ) Viết một câu ghép có sử dụng cặp quan hệ từ “Vì – nên”?
Viết câu của em:
VD: Vì xe bị hỏng nên em đi học muộn.
II - Phần viết (10 điểm)
1. Viết chính tả: (2đ)
Bài viết: (2 điểm)
- Bài viết không mắc lỗi chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng bài văn: 2,0
điểm.
- Mỗi lỗi chính tả sai về phụ âm đầu; vần thanh; không viết hoa đúng quy định
trừ: 0,25 điểm.
* Lưu ý: Nếu viết chữ hoa không rõ ràng, sai về độ cao, khoảng cách, kiểu chữ,
trình bày không sạch đẹp,... trừ 0,25 điểm toàn bài.
2. Tập làm văn: (8đ)
2.1/ Em hãy tả một cây hoa mà em thích.
2.2/ Em hãy tả cái đồng hồ báo thức.
- Viết được một bài văn tả cây hoa hoặc tả cái đồng hồ báo thức có đủ 3 phần,
đúng yêu cầu thể loại văn tả cây cối hoặc tả đồ vật đã học, độ dài bài viết từ 15 câu
trở lên.
- Viết đúng ngữ pháp, dùng từ đúng, không mắc lỗi chính tả.
- Chữ viết rõ ràng, trình bày bài viết sạch đẹp.
- Tuỳ theo bài viết sai sót về ý, về diễn đạt và chữ viết có thể cho các mức
điểm: 7,5 – 7; 6,5 – 6; 5,5 - 5; 4,5 – 4; 3,5 - 3 – 2,5 – 2 – 1,5 – 1 .
BÀI TẬP LÀM VĂN THAM KHẢO THAM KHẢO
Trong căn phòng nhỏ bé của tôi có rất nhiều đồ vật gắn với những kỉ niệm
đáng nhớ nhưng thứ mà tôi trân trọng nhât là chiếc đồng hồ báo thức xinh xắn luôn
được đặt trên bàn học của tôi, đó là phần thưởng mà tôi đã được nhận trong học kì
II của lớp 4 từ người mẹ thân yêu của tôi.
Chiếc đồng hồ này được làm bằng nhựa cứng, chi to bằng bàn tay của người lớn.
Thân hình nó là một chú thỏ khoác chiếc áo màu xanh lá cây, trông rất đáng yêu và
ngộ nghĩnh. Mặt đồng hồ hình trái tim, chính là cái bụng tròn xoe của chú thỏ.
Trên mặt đồng hồ hiện lên một bức tranh đẹp tuyệt vời dưới một lớp kính trong
veo, đó là căn nhà gỗ ba gian cổ kính với ống khói nghi ngút. Các bạn có biết đó là
nhà của ai không? Chính là gia đình nhà kim đấy! Ở đó có bác kim giờ béo và thấp
nhất. Từng bước đi của bác chậm chạp và vững chãi. Đỏm dáng trong bộ áo hồng
đậm đó chính là chị kim phút. Chị đi những bước ngắn. Tuy đi chậm nhưng những
bước đi ấy rất uyển chuyển và điệu đà. Có lẽ chị sợ nếu đi nhanh sẽ bị ngã và gẫy
gót của chiếc guốc. Còn người nghịch nhất trong nhà đó là bé kim giây. Cu cậu
chẳng chịu ngồi yên một chỗ bao giờ cả, lúc nào cũng chạy tung tăng khắp nhà làm
cho chị kim phút không thể đuổi kịp được, vẫn còn một thành viên không thể thiếu
dược trong gia đình nữa đó là anh kim báo thức. Anh ta luôn mặc cái áo màu vàng
mơ. Nhiều người tưởng anh rất “lười ”, chẳng bao giờ chạy cả. Nhưng anh có ích
lắm đấy. Nếu không có anh, chắc sáng nào tôi cũng bị đi học muộn. Tuy mỗi người
có một tính cách khác nhau nhưng gia đình nhà kim hết mực yêu thương nhau.
Ngày nào cả gia đình cũng xum họp một lần.
Mặt sau của đồng hồ có ba nút. Một nút là để chỉnh kim đồng hồ nếu giờ sai, một
nút là để vặn báo thức, nút còn lại là để bật báo thức. Ngày nào cũng vậy, tôi
thường vặn kim báo thức lên 6 giờ rồi mới bật báo thức. Để rồi mỗi buổi sáng khi
bác kim giờ chạy gần đến anh kim phút thì khúc nhạc quen thuộc lại reo lên, đồng
thời đôi mắt của chú thỏ cũng nhấp nháy như thúc giục tôi dạy mau đế chuẩn bị tới
trường. Ngày qua ngày, chiếc đồng hồ bây giờ trở thành một thành viên không thể
thiếu trong gia đình nhà tôi.
Tôi rất yêu quý chiếc đồng hồ ấy. Nó luôn luôn và mãi mãi là người bạn chăm chỉ
và cần mẫn cùa tôi. Tôi sẽ luôn trân trọng và nâng niu từng phút giây cùa mình vì
tôi biết thời gian đã trôi qua thì không bao giờ trở lại.
ĐỀ 1
I – Kiểm tra đọc: (10 điểm )
1. Kiểm tra đọc thành tiếng: (3điểm)
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng việt: (7điểm)
Đọc bài văn sau:
TRIỀN ĐÊ TUỔI THƠ
Tuổi thơ tôi với con đê sông Hồng gắn liền như hình với bóng, tựa hai người
bạn thân thiết suốt ngày quấn quýt bên nhau. Từ lúc chập chững biết đi, mẹ đã dắt
tôi men theo bờ cỏ chân đê. Con đê thân thuộc đã nâng bước, dìu dắt và tôi luyện
cho những bước chân của tôi ngày một chắc chắn để tự tin lớn lên, tự tin bước vào
đời.
Chẳng riêng gì tôi, mà hầu hết những đứa nhỏ sinh ra ở trong làng đều coi
con đê là bạn. Chúng cùng nô đùa, chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan trên đê mỗi
khi bố mẹ vắng nhà ra đồng, ra bãi làm việc. Tuổi học trò, cứ sáng cắp sách đến
rường, chiều về lại lùa tất cả trâu, bò lên đê cho chúng gặm cỏ và tha hồ vui chơi
đợi khi hoàng hôn xuống trở về làng. Những đêm trăng thanh gió mát lên đê trải
chiếu nằm đếm sao trời mới tuyệt và thú làm sao. Tôi nhớ nhất là những đêm
Trung thu, người lớn trong làng tổ chức bày cỗ cho thiếu nhi trên mặt đê rất vui và
không khí của lễ hội trẻ em kéo dài tưởng như bất tận...
Năm tháng qua đi, những lối mòn chạy xéo ngoằn ngoèo từ chân lên tới mặt
đê đã in dấu biết bao bàn chân của các thế hệ sớm hôm đi về. Đời người ai cũng có
nhiều đổi thay qua thời gian, song con đê vẫn gần như nguyên vẹn, vẫn sừng sững
chở che bao bọc lấy dân làng tôi cũng như cả một vùng rộng lớn. Những trận lũ
lớn đỏ ngầu phù sa hung dữ, con đê lại gồng mình lên để không chỉ bảo vệ cho tính
mạng con người, gia súc mà còn bảo vệ cả mùa màng...
Theo NGUYỄN HOÀNG ĐẠI
Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng:
Câu 1: (0,5 đ) Hình ảnh nào ở làng quê gắn bó thân thiết với tác giả như hình với bóng?
A. Con đê
B. Đêm trăng thanh gió mát
C. Tết Trung thu.
Câu 2(0,5 đ): Tại sao tác giả coi con đê là bạn?
A.Vì trên con đê này, trẻ em trong làng nô đùa, đuổi bắt, chơi ô ăn quan, chăn trâu,
nằm đếm sao trời, bày cỗ Trung thu.
B. Vì con đê đã ngăn nước lũ cho dân làng.
C. Vì ai vào làng cũng phải đi qua con đê.
Câu 3(0,5 đ): Tại sao tác giả cho rằng con đê “che chở, bao bọc lấy dân làng tôi
cũng như cả một vùng rộng lớn”?
A. Vì con đê đã nâng bước, dìu dắt, tôi luyện cho những bước chân của tác giả
ngày một chắc chắn để tự tin lớn lên, tự tin bước vào đời.
B. Vì những đêm tết Trung thu, người lớn trong làng tổ chức bày cỗ cho thiếu nhi
trên mặt đê rất vui.
C. Vì trong những trận lũ lớn đỏ ngầu phù sa hung đữ, con đê đã bảo vệ tính mạng
con người, gia súc, mùa màng
Câu 4(0,5 đ): Nội dung bài văn này là gì?
A. Kể về sự đổi mới của quê hương.
B. Tả con đê và kể về những kỉ niệm gắn bó với con đê, gắn bó với quê hương.
C. Kể về kỉ niệm của những ngày đến trường.
Câu 5(0,5 đ): Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong câu: “Những trận lũ
lớn đỏ ngầu phù sa hung dữ, con đê lại gồng mình lên để không chỉ bảo vệ cho
tính mạng con người, gia súc mà còn bảo vệ cả mùa màng...”?
A. So sánh
B. Nhân hoá
C. So sánh và nhân hoa
Câu 6(0,5 đ) : Từ “chúng” trong câu “Chúng cũng nô đùa, chơi trò đuổi bất, chơi
ô ăn quan trên đê mỗi khi bố mẹ vắng nhà ra đồng, ra bãi làm việc.” chỉ những ai?
A. Trẻ em trong làng
B. Tác giả
C. Trẻ em trong làng và tác giả
Câu 7(0,5 đ) : Từ nào dưới đây đồng nghĩa với từ “tuổi thơ”?
A. Trẻ em
B. Thời thơ ấu
C. Trẻ con.
Câu 8 (0,5 đ): Từ “gồng ” thuộc từ loại nào (danh từ, động từ hay tính từ)?
……………………………………………………………………..
Câu 9(1 đ) : Xác định các thành phần trạng ngữ, chủ ngữ trong câu sau:
a)Trên đê, trẻ em trong làng nô đùa, chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan.
b) Con bìm bịp, bằng cái giọng trầm và ấm báo hiệu mùa xuân đã tới.
Câu 10 (0,5 đ): Các câu trong đoạn văn sau được liên kết với nhau bằng cách nào?
"Có một người đánh mất dấu phẩy. Anh ta trở nên sợ những câu phức tạp và chỉ
tìm những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩ đơn giản."
A. Lặp từ ngữ
B. Thay thế từ ngữ
C. Từ nối
Câu 11(0,5 đ): Câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép?
A. Mấy con chim chào mào từ gốc cây nào đó bay ra hót râm ran.
B. Mưa rào rào trên sân gạch, mưa đồm độp trên phên nứa.
C. Những tia nắng mặt trời nhảy nhót trên cành cây, ngọn cỏ
................................................................................................................................
Câu 12 (1 đ): Viết một câu ghép có sử dụng cặp quan hệ từ “Vì – nên”?
II - Phần viết:
2 . Tập làm văn: (8 điểm) Chọn một trong hai đề sau:
2.1/ Em hãy tả một cây hoa mà em thích.
2.2/ Em hãy tả cái đồng hồ báo thức.
ĐÁP ÁN ĐỀ GIỮA KÌ II
ĐỀ 1
I – Kiểm tra đọc: (10 điểm )
1. Kiểm tra đọc thành tiếng: (3điểm)
- Đọc đúng tiếng, đúng từ: 1,5 điểm.
(Đọc sai từ 2-4 tiếng: 1 điểm; đọc sai quá 5 tiếng: 0,5 điểm.)
- Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa: 0,5 điểm.
(Ngắt nghỉ hơi không đúng từ 2-3 chỗ: 0,25 điểm; ngắt nghỉ hơi không đúng ở 4
chỗ trở lên: 0 điểm.)
- Giọng đọc bước đầu có biểu cảm: 0,5 điểm.
(Giọng đọc chưa thể hiện rõ tính biểu cảm: 0,25 điểm; Giọng đọc không thể hiện
tính biểu cảm: 0 điểm.)
- Tốc độ đọc đạt yêu cầu (không quá: 1 phút ): 0,5 điểm. (Đọc trên 1-2 phút: 0,5
điểm.)
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng việt: (7điểm)
CÂU
ĐÁP ÁN
SỐ ĐIỂM
1
2
3
4
5
6
7
A
A
C
B
B
A
B
0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ 0,5 đ
Câu 8 (0,5 đ): Từ “gồng ” thuộc từ loại: động từ
Câu 9 (1 đ) : Xác định các thành phần trạng ngữ, chủ ngữ trong câu sau:
a)Trên đê, trẻ em trong làng/ nô đùa, chơi trò đuổi bắt, chơi ô ăn quan.
TN
CN
VN
b) Con bìm bịp, bằng cái giọng trầm và ấm báo hiệu mùa xuân đã tới.
CN
TN
VN
Câu 10 (0,5 đ): Lặp từ ngữ, thay thế từ ngữ
Câu 11(0,5 đ): Câu đơn: A, C; Câu ghép: B
Câu 12: (1,0đ) Viết một câu ghép có sử dụng cặp quan hệ từ “Vì – nên”?
Viết câu của em:
VD: Vì xe bị hỏng nên em đi học muộn.
II - Phần viết (10 điểm)
1. Viết chính tả: (2đ)
Bài viết: (2 điểm)
- Bài viết không mắc lỗi chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng bài văn: 2,0
điểm.
- Mỗi lỗi chính tả sai về phụ âm đầu; vần thanh; không viết hoa đúng quy định
trừ: 0,25 điểm.
* Lưu ý: Nếu viết chữ hoa không rõ ràng, sai về độ cao, khoảng cách, kiểu chữ,
trình bày không sạch đẹp,... trừ 0,25 điểm toàn bài.
2. Tập làm văn: (8đ)
2.1/ Em hãy tả một cây hoa mà em thích.
2.2/ Em hãy tả cái đồng hồ báo thức.
- Viết được một bài văn tả cây hoa hoặc tả cái đồng hồ báo thức có đủ 3 phần,
đúng yêu cầu thể loại văn tả cây cối hoặc tả đồ vật đã học, độ dài bài viết từ 15 câu
trở lên.
- Viết đúng ngữ pháp, dùng từ đúng, không mắc lỗi chính tả.
- Chữ viết rõ ràng, trình bày bài viết sạch đẹp.
- Tuỳ theo bài viết sai sót về ý, về diễn đạt và chữ viết có thể cho các mức
điểm: 7,5 – 7; 6,5 – 6; 5,5 - 5; 4,5 – 4; 3,5 - 3 – 2,5 – 2 – 1,5 – 1 .
BÀI TẬP LÀM VĂN THAM KHẢO THAM KHẢO
Trong căn phòng nhỏ bé của tôi có rất nhiều đồ vật gắn với những kỉ niệm
đáng nhớ nhưng thứ mà tôi trân trọng nhât là chiếc đồng hồ báo thức xinh xắn luôn
được đặt trên bàn học của tôi, đó là phần thưởng mà tôi đã được nhận trong học kì
II của lớp 4 từ người mẹ thân yêu của tôi.
Chiếc đồng hồ này được làm bằng nhựa cứng, chi to bằng bàn tay của người lớn.
Thân hình nó là một chú thỏ khoác chiếc áo màu xanh lá cây, trông rất đáng yêu và
ngộ nghĩnh. Mặt đồng hồ hình trái tim, chính là cái bụng tròn xoe của chú thỏ.
Trên mặt đồng hồ hiện lên một bức tranh đẹp tuyệt vời dưới một lớp kính trong
veo, đó là căn nhà gỗ ba gian cổ kính với ống khói nghi ngút. Các bạn có biết đó là
nhà của ai không? Chính là gia đình nhà kim đấy! Ở đó có bác kim giờ béo và thấp
nhất. Từng bước đi của bác chậm chạp và vững chãi. Đỏm dáng trong bộ áo hồng
đậm đó chính là chị kim phút. Chị đi những bước ngắn. Tuy đi chậm nhưng những
bước đi ấy rất uyển chuyển và điệu đà. Có lẽ chị sợ nếu đi nhanh sẽ bị ngã và gẫy
gót của chiếc guốc. Còn người nghịch nhất trong nhà đó là bé kim giây. Cu cậu
chẳng chịu ngồi yên một chỗ bao giờ cả, lúc nào cũng chạy tung tăng khắp nhà làm
cho chị kim phút không thể đuổi kịp được, vẫn còn một thành viên không thể thiếu
dược trong gia đình nữa đó là anh kim báo thức. Anh ta luôn mặc cái áo màu vàng
mơ. Nhiều người tưởng anh rất “lười ”, chẳng bao giờ chạy cả. Nhưng anh có ích
lắm đấy. Nếu không có anh, chắc sáng nào tôi cũng bị đi học muộn. Tuy mỗi người
có một tính cách khác nhau nhưng gia đình nhà kim hết mực yêu thương nhau.
Ngày nào cả gia đình cũng xum họp một lần.
Mặt sau của đồng hồ có ba nút. Một nút là để chỉnh kim đồng hồ nếu giờ sai, một
nút là để vặn báo thức, nút còn lại là để bật báo thức. Ngày nào cũng vậy, tôi
thường vặn kim báo thức lên 6 giờ rồi mới bật báo thức. Để rồi mỗi buổi sáng khi
bác kim giờ chạy gần đến anh kim phút thì khúc nhạc quen thuộc lại reo lên, đồng
thời đôi mắt của chú thỏ cũng nhấp nháy như thúc giục tôi dạy mau đế chuẩn bị tới
trường. Ngày qua ngày, chiếc đồng hồ bây giờ trở thành một thành viên không thể
thiếu trong gia đình nhà tôi.
Tôi rất yêu quý chiếc đồng hồ ấy. Nó luôn luôn và mãi mãi là người bạn chăm chỉ
và cần mẫn cùa tôi. Tôi sẽ luôn trân trọng và nâng niu từng phút giây cùa mình vì
tôi biết thời gian đã trôi qua thì không bao giờ trở lại.
 









Các ý kiến mới nhất