Đề thi vào 10

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Xa Thị Thủy
Ngày gửi: 12h:32' 29-06-2026
Dung lượng: 36.5 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn: ST
Người gửi: Xa Thị Thủy
Ngày gửi: 12h:32' 29-06-2026
Dung lượng: 36.5 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
UBND …
TRƯỜNGTH&THCS …
(Đề thi có 02 trang)
ĐỀ MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
(không kể thời gian phát đề)
I. ĐỌC – HIỂU (4.0 điểm)
Đọc câu chuyện sau và thực hiện các yêu cầu:
BỐ TÔI
Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ nơi núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi.
Bao giờ cũng vậy, ông mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất, xuống núi vào cuối mỗi
tuần. Ông rẽ vào bưu điện để nhận những lá thư tôi gửi. Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông
xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ
như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư. Ông ngồi trầm ngâm một lúc, khẽ mỉm cười
rồi đi về núi.
Về đến nhà, ông nói với mẹ tôi: “Con mình vừa gửi thư về”. Ông trao thư cho bà. Bà
lại cẩn thận mở nó ra, khen: “Con mình viết chữ đẹp quá! Những chữ tròn, thật tròn, những
cái móc thật bén. Chỉ tiếc rằng không biết nó viết gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc
giùm?”. Ông nói: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong
tủ cùng với những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào,
không thiếu một lá, ngay cả những lá đầu tiên nét chữ còn non nớt…
Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường đại học. Một ngày khai trường đầu
tiên không có bố. Bố tôi đã mất. Nhưng tôi biết bố sẽ đi cùng tôi trên những con đường mà tôi
sẽ đi, suốt cả hành trình cuộc đời.
(Theo Bố tôi - Nguyễn Ngọc Thuần, NXB Hội nhà văn, 1992)
* Chú thích: Nguyễn Ngọc Thuần (1972), quê ỏ Tân Thiện, Hàm Tân, Bình Thuận, là cây
bút đầy triển vọng trong nền văn xuôi đương đại, thành viên Hội nhà văn Việt Nam. Những
trang viết của ông trong trẻo, ấm áp, khơi sâu vào thế giới nội cảm của con người, văn phong
cảm xúc, giàu chất thơ. Truyện ngắn “Bố tôi” của Nguyễn Ngọc Thuần in trong Tuyển tập
truyện ngắn hay viết cho thiếu nhi.
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của truyện.
Câu 2 (0,5 điểm). Xác định và chỉ ra dấu hiệu lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn sau:
“Ông nói: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong tủ cùng
với những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không
thiếu một lá, ngay cả những lá đầu tiên nét chữ còn non nớt…”
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong những câu văn sau:
Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn
mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư.
Câu 4 (1,0 điểm). Chi tiết mỗi khi xuống núi để nhận thư con, người bố lại “mặc chiếc
áo kẻ ô phẳng phiu nhất” có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1,0 điểm). Hãy trình bày thông điệp sâu sắc nhất mà em nhận được từ văn bản
“Bố tôi” và lí giải ngắn gọn ý nghĩa thông điệp đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ), nêu cảm nhận về tình cảm của nhân vật
người bố dành cho con trong ngữ liệu phần Đọc - hiểu.
Câu 2 (4 điểm)
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến: Kì vọng của cha
mẹ có phải là bệ phóng cho sự thành công của giới trẻ.
-HẾT-
HƯỚNG DẪN CHẤM
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Đáp án - Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
quát bài làm của học sinh, tránh việc chỉ quan tâm ý mà cho điểm một cách đơn thuần. Do đặc
trưng của môn Ngữ văn, tính chất của đề thi, đặc điểm của kì thi Tuyển sinh vào lớp 10 THPT;
trên cơ sở bám sát đáp án – hướng dẫn chấm và bài làm cụ thể của học sinh, giám khảo chủ
động, linh hoạt trong vận dụng tiêu chí cho điểm.
Trong quá trình chấm, giám khảo không áp đặt ý kiến chủ quan của người chấm vào
việc cho điểm bài thi. Tôn trọng và khuyến khích những bài làm sáng tạo, giàu cảm xúc.
B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
Phần Câu
Đáp án
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
1
2
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất
- Lời dẫn trực tiếp: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”
- Dấu hiệu nhận biết: Trích lại nguyên văn lời nói của nhân vật người
bố, lời trích để trong dấu ngoặc kép
3 - Dấu hiệu của BPTT: Lần lượt liệt kê những hành động của người cha:
Mở - xem - chạm - ép - xếp - nhét
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, giúp những câu văn hay
hơn, sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Nhấn mạnh tình cảm của người cha bằng những hành động thể hiện
sự nâng niu, trân trọng với những lá thư như hiện thân của đứa con. qua
đó cho thấy tình yêu thương của cha dành cho con.
+ Qua đó, tác giả gửi gắm đến người đọc thông điệp về tình cảm gia
đình, nhắc nhở mỗi người phải biết nâng niu, trân trọng những yêu
thương, kì vọng của cha mẹ.
4
- Với bố, việc nhận thư của con là một sự kiện quan trọng.
- Hãnh diện về đứa con
6
Thông điệp từ tác phẩm:
-Tình phụ tử.
-Yêu thương, kính trọng, hiếu thảo với bố mẹ.
-Trân trọng tình cảm gia đình và sự kết nối giữa các thế hệ.
-Có ý thức xây dựng giá trị sống từ những điều bình dị.
-Gia đình là điểm tựa vững chắc của mỗi người, ...
(Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau,tôn trọng các giá
trị đạo đúc và pháp luật, đảm bảo nổi bật thông điệp)
II
VIẾT
4,0
0,5
0,5
0,25
0,25
0,25
0,25
0,5
0.5
1,0
6,0
1
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em
về tình cảm của nhân vật người bố dành cho con ở văn bản phần
Đọc – hiểu.
a. Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng của bài viết: Hình thức:
Đoạn văn. Dung lượng: khoảng 200 chữ. Thí sinh có thể trình bày đoạn
văn theo các hình thức khác nhau: Diễn dịch, quy nạp, móc xích, song
hành, tổng - phân - hợp.
b. Xác định vấn đề nghị luận: Tình cảm của người bố dành cho con.
c. Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
- Nội dung
+ Giới thiệu tác giả Nguyễn Ngọc Thuần và nêu cảm nhận chung về tác
phẩm.
1. + Người bố nghèo, quanh năm làm lụng vất vả trên vùng núi cao: Bố ở
vùng núi đồi hiểm trở, mỗi cuối tuần “đi chân đất xuống núi” để nhận
thư con, dõi theo mỗi bước trưởng thành của con. Người bố nâng niu
từng lá thư của con, chạm vào lá thư mà xúc động như chạm vào chính
đứa con của mình nhưng bố không biết chữ. “Chỉ tiếc rằng không biết
nó viết gì”. Cuộc đời người bố vất vả như bao người dân nghèo ở vùng
núi cao.
2. + Người bố có tình cảm mộc mạc, yêu thương con vô điều kiện: Mỗi khi
đi nhận thư con, bố “mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất” cho thấy ông
coi trọng tất cả những gì thuộc về đứa con. Nhận thư con ông “trầm
ngâm”, “khẽ mỉm cười” hạnh phúc. Ông thấu hiểu và tin tưởng tuyệt
đối vào con. Dù ông không biết đọc, chỉ có thể nhìn ngắm những bức
thư ấy nhưng ông gìn giữ nó như báu vật “những lá thư được bóc ra
nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không thiếu một lá”. Ông nói với vợ:
“Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”. Một người bố nghèo luôn yêu
thương, tin tưởng con, tình cảm bình dị mà sâu nặng.
3. - Nghệ thuật: Xây dựng nhân vật và tình huống gần gũi, đời thường.
Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, sự kết hợp giữa kể, tả, biểu cảm tạo giọng
điệu gần gũi, ấm áp phù hợp chuyển tải thông điệp về tình cảm gia đình,
...
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn
đạt mới mẻ.
2
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến:
Kì vọng của cha mẹ có phải là bệ phóng cho sự thành công của giới trẻ.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng bài văn
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (600 chữ) của bài văn.
2.0
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
4.0
0.25
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Kì vọng của cha mẹ có phải là bệ 0.5
phóng cho sự thành công của giới trẻ?
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:
2.5
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ
và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của
bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
- Giải thích:
+ Kì vọng là hy vọng hoặc mong đợi về một điều gì đó sẽ xảy ra trong
tương lai. Nó thường đi kèm với một mức độ hi vọng và mong muốn kết
quả tốt đẹp hoặc đáp ứng mong đợi.
+ Bệ phóng là một nền tảng, cơ hội hoặc nguồn lực giúp thúc đẩy sự phát
triển và tiến bộ nhanh chóng.
+ Sự kì vọng của cha mẹ chính là bệ phóng cho sự thành công của giới
trẻ: Sự mong đợi những điều tốt đẹp đến với con cái của cha mẹ chính là
nền tảng, cơ hội, nguồn lực giúp giới trẻ vươn tới sự thành công. Đây là
một quan điểm rất đúng đắn, chính xác bàn về vai trò của cha mẹ và sự
thành công của giới trẻ.
- Bàn luận:
+ Cha mẹ luôn yêu thương, lo lắng, tạo mọi điều kiện tốt nhất về thời
gian, kinh tế cho sự phát triển của con cái.
+ Cha mẹ luôn hi vọng con có tương lai, cuộc sống tốt đẹp hơn
+ Cha mẹ thường xuyên định hướng, khuyến khích, đặt ra mục tiêu lớn và
mong muốn con cái thực hiện được
- Mở rộng vấn đề: trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.
- Bài học: Tuổi trẻ cần nỗ lực học tập trau dồi tri thức, rèn luyện phẩm
chất để không phụ sự kì vọng và chăm sóc của cha mẹ. Luôn yêu thương,
biết ơn cha mẹ và xây dựng cho mình một lí tưởng sống cao đẹp.
3. Kết bài: khẳng định vấn đề nghị luận.
* Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng của mình
nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật
d. Diễn đạt
0.25
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính
tả, ngữ pháp.
đ. Sáng tạo
0.5
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ
Hướng dẫn chấm:
I + II
- HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về
vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
- Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm.
TỔNG ĐIỂM
10.0
- HẾT-
TRƯỜNGTH&THCS …
(Đề thi có 02 trang)
ĐỀ MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
(không kể thời gian phát đề)
I. ĐỌC – HIỂU (4.0 điểm)
Đọc câu chuyện sau và thực hiện các yêu cầu:
BỐ TÔI
Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ nơi núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi.
Bao giờ cũng vậy, ông mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất, xuống núi vào cuối mỗi
tuần. Ông rẽ vào bưu điện để nhận những lá thư tôi gửi. Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông
xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ
như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư. Ông ngồi trầm ngâm một lúc, khẽ mỉm cười
rồi đi về núi.
Về đến nhà, ông nói với mẹ tôi: “Con mình vừa gửi thư về”. Ông trao thư cho bà. Bà
lại cẩn thận mở nó ra, khen: “Con mình viết chữ đẹp quá! Những chữ tròn, thật tròn, những
cái móc thật bén. Chỉ tiếc rằng không biết nó viết gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc
giùm?”. Ông nói: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong
tủ cùng với những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào,
không thiếu một lá, ngay cả những lá đầu tiên nét chữ còn non nớt…
Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường đại học. Một ngày khai trường đầu
tiên không có bố. Bố tôi đã mất. Nhưng tôi biết bố sẽ đi cùng tôi trên những con đường mà tôi
sẽ đi, suốt cả hành trình cuộc đời.
(Theo Bố tôi - Nguyễn Ngọc Thuần, NXB Hội nhà văn, 1992)
* Chú thích: Nguyễn Ngọc Thuần (1972), quê ỏ Tân Thiện, Hàm Tân, Bình Thuận, là cây
bút đầy triển vọng trong nền văn xuôi đương đại, thành viên Hội nhà văn Việt Nam. Những
trang viết của ông trong trẻo, ấm áp, khơi sâu vào thế giới nội cảm của con người, văn phong
cảm xúc, giàu chất thơ. Truyện ngắn “Bố tôi” của Nguyễn Ngọc Thuần in trong Tuyển tập
truyện ngắn hay viết cho thiếu nhi.
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của truyện.
Câu 2 (0,5 điểm). Xác định và chỉ ra dấu hiệu lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn sau:
“Ông nói: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong tủ cùng
với những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không
thiếu một lá, ngay cả những lá đầu tiên nét chữ còn non nớt…”
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong những câu văn sau:
Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn
mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư.
Câu 4 (1,0 điểm). Chi tiết mỗi khi xuống núi để nhận thư con, người bố lại “mặc chiếc
áo kẻ ô phẳng phiu nhất” có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1,0 điểm). Hãy trình bày thông điệp sâu sắc nhất mà em nhận được từ văn bản
“Bố tôi” và lí giải ngắn gọn ý nghĩa thông điệp đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ), nêu cảm nhận về tình cảm của nhân vật
người bố dành cho con trong ngữ liệu phần Đọc - hiểu.
Câu 2 (4 điểm)
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến: Kì vọng của cha
mẹ có phải là bệ phóng cho sự thành công của giới trẻ.
-HẾT-
HƯỚNG DẪN CHẤM
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Đáp án - Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
quát bài làm của học sinh, tránh việc chỉ quan tâm ý mà cho điểm một cách đơn thuần. Do đặc
trưng của môn Ngữ văn, tính chất của đề thi, đặc điểm của kì thi Tuyển sinh vào lớp 10 THPT;
trên cơ sở bám sát đáp án – hướng dẫn chấm và bài làm cụ thể của học sinh, giám khảo chủ
động, linh hoạt trong vận dụng tiêu chí cho điểm.
Trong quá trình chấm, giám khảo không áp đặt ý kiến chủ quan của người chấm vào
việc cho điểm bài thi. Tôn trọng và khuyến khích những bài làm sáng tạo, giàu cảm xúc.
B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
Phần Câu
Đáp án
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
1
2
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất
- Lời dẫn trực tiếp: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”
- Dấu hiệu nhận biết: Trích lại nguyên văn lời nói của nhân vật người
bố, lời trích để trong dấu ngoặc kép
3 - Dấu hiệu của BPTT: Lần lượt liệt kê những hành động của người cha:
Mở - xem - chạm - ép - xếp - nhét
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, giúp những câu văn hay
hơn, sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Nhấn mạnh tình cảm của người cha bằng những hành động thể hiện
sự nâng niu, trân trọng với những lá thư như hiện thân của đứa con. qua
đó cho thấy tình yêu thương của cha dành cho con.
+ Qua đó, tác giả gửi gắm đến người đọc thông điệp về tình cảm gia
đình, nhắc nhở mỗi người phải biết nâng niu, trân trọng những yêu
thương, kì vọng của cha mẹ.
4
- Với bố, việc nhận thư của con là một sự kiện quan trọng.
- Hãnh diện về đứa con
6
Thông điệp từ tác phẩm:
-Tình phụ tử.
-Yêu thương, kính trọng, hiếu thảo với bố mẹ.
-Trân trọng tình cảm gia đình và sự kết nối giữa các thế hệ.
-Có ý thức xây dựng giá trị sống từ những điều bình dị.
-Gia đình là điểm tựa vững chắc của mỗi người, ...
(Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau,tôn trọng các giá
trị đạo đúc và pháp luật, đảm bảo nổi bật thông điệp)
II
VIẾT
4,0
0,5
0,5
0,25
0,25
0,25
0,25
0,5
0.5
1,0
6,0
1
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em
về tình cảm của nhân vật người bố dành cho con ở văn bản phần
Đọc – hiểu.
a. Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng của bài viết: Hình thức:
Đoạn văn. Dung lượng: khoảng 200 chữ. Thí sinh có thể trình bày đoạn
văn theo các hình thức khác nhau: Diễn dịch, quy nạp, móc xích, song
hành, tổng - phân - hợp.
b. Xác định vấn đề nghị luận: Tình cảm của người bố dành cho con.
c. Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
- Nội dung
+ Giới thiệu tác giả Nguyễn Ngọc Thuần và nêu cảm nhận chung về tác
phẩm.
1. + Người bố nghèo, quanh năm làm lụng vất vả trên vùng núi cao: Bố ở
vùng núi đồi hiểm trở, mỗi cuối tuần “đi chân đất xuống núi” để nhận
thư con, dõi theo mỗi bước trưởng thành của con. Người bố nâng niu
từng lá thư của con, chạm vào lá thư mà xúc động như chạm vào chính
đứa con của mình nhưng bố không biết chữ. “Chỉ tiếc rằng không biết
nó viết gì”. Cuộc đời người bố vất vả như bao người dân nghèo ở vùng
núi cao.
2. + Người bố có tình cảm mộc mạc, yêu thương con vô điều kiện: Mỗi khi
đi nhận thư con, bố “mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất” cho thấy ông
coi trọng tất cả những gì thuộc về đứa con. Nhận thư con ông “trầm
ngâm”, “khẽ mỉm cười” hạnh phúc. Ông thấu hiểu và tin tưởng tuyệt
đối vào con. Dù ông không biết đọc, chỉ có thể nhìn ngắm những bức
thư ấy nhưng ông gìn giữ nó như báu vật “những lá thư được bóc ra
nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không thiếu một lá”. Ông nói với vợ:
“Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”. Một người bố nghèo luôn yêu
thương, tin tưởng con, tình cảm bình dị mà sâu nặng.
3. - Nghệ thuật: Xây dựng nhân vật và tình huống gần gũi, đời thường.
Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, sự kết hợp giữa kể, tả, biểu cảm tạo giọng
điệu gần gũi, ấm áp phù hợp chuyển tải thông điệp về tình cảm gia đình,
...
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn
đạt mới mẻ.
2
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến:
Kì vọng của cha mẹ có phải là bệ phóng cho sự thành công của giới trẻ.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng bài văn
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (600 chữ) của bài văn.
2.0
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
4.0
0.25
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Kì vọng của cha mẹ có phải là bệ 0.5
phóng cho sự thành công của giới trẻ?
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:
2.5
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ
và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của
bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
- Giải thích:
+ Kì vọng là hy vọng hoặc mong đợi về một điều gì đó sẽ xảy ra trong
tương lai. Nó thường đi kèm với một mức độ hi vọng và mong muốn kết
quả tốt đẹp hoặc đáp ứng mong đợi.
+ Bệ phóng là một nền tảng, cơ hội hoặc nguồn lực giúp thúc đẩy sự phát
triển và tiến bộ nhanh chóng.
+ Sự kì vọng của cha mẹ chính là bệ phóng cho sự thành công của giới
trẻ: Sự mong đợi những điều tốt đẹp đến với con cái của cha mẹ chính là
nền tảng, cơ hội, nguồn lực giúp giới trẻ vươn tới sự thành công. Đây là
một quan điểm rất đúng đắn, chính xác bàn về vai trò của cha mẹ và sự
thành công của giới trẻ.
- Bàn luận:
+ Cha mẹ luôn yêu thương, lo lắng, tạo mọi điều kiện tốt nhất về thời
gian, kinh tế cho sự phát triển của con cái.
+ Cha mẹ luôn hi vọng con có tương lai, cuộc sống tốt đẹp hơn
+ Cha mẹ thường xuyên định hướng, khuyến khích, đặt ra mục tiêu lớn và
mong muốn con cái thực hiện được
- Mở rộng vấn đề: trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.
- Bài học: Tuổi trẻ cần nỗ lực học tập trau dồi tri thức, rèn luyện phẩm
chất để không phụ sự kì vọng và chăm sóc của cha mẹ. Luôn yêu thương,
biết ơn cha mẹ và xây dựng cho mình một lí tưởng sống cao đẹp.
3. Kết bài: khẳng định vấn đề nghị luận.
* Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng của mình
nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật
d. Diễn đạt
0.25
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính
tả, ngữ pháp.
đ. Sáng tạo
0.5
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ
Hướng dẫn chấm:
I + II
- HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về
vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
- Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm.
TỔNG ĐIỂM
10.0
- HẾT-
 









Các ý kiến mới nhất