
- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thu Thảo
Ngày gửi: 12h:34' 01-04-2026
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Thu Thảo
Ngày gửi: 12h:34' 01-04-2026
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BÁC HỒ Ở TÂN TRÀO
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của
Việt Nam - đã suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội và giải phóng con người. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của
Người gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX.
Cùng với những sự kiện đó là những tên đất, tên người mãi mãi là niềm tự hào của
đất nước.
Tân Trào là vùng đất lịch sử gắn liền với những sự kiện trọng đại của dân tộc, là
nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng và nhân dân ta chuẩn bị
đứng lên lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành độc lập dân tộc.
Các sự kiện lịch sử diễn ra ở Tân Trào trước Cách mạng Tháng Tám tuy chỉ trong
một thời gian ngắn (từ tháng 5 đến tháng 8 - 1945), nhưng có ý nghĩa quyết định
cho thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, trong đó
có vai trò đặc biệt quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhân dịp kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 19/5/2015), thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về
tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản lần thứ mười một cuốn sách Bác Hồ
ở Tân Trào do đồng chí Ngô Quân Lập, nguyên Giám đốc Ban quản lý khu di tích
lịch sử văn hóa và sinh thái Tân Trào sưu tầm, tuyển chọn.
Cuốn sách là tập hợp những hồi ký của một số nhà lãnh đạo, tướng lĩnh, cán bộ và
đồng bào đã từng ở bên Bác trong những ngày Người cùng Trung ương Đảng
chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.
Thông qua nội dung cuốn sách, chúng ta càng hiểu rõ hơn về ý chí, nghị lực phi
thường và phong thái giản dị của Bác trong những ngày đầy khó khăn, gian khổ
của cách mạng; những quyết sách sáng tạo mà Bác đã đề ra trong cuộc Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, qua đó nhằm giáo dục truyền thống cách mạng và nêu cao
tấm gương đạo đức của Bác Hồ cho các thế hệ của quê hương Tân Trào và cả nước
học tập.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 1 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
2
LỜI NÓI ĐẦU
Tân Trào là một xã của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tân Trào trước kia
có tên là Kim Long. Tên Tân Trào được đặt vào lúc cao trào kháng Nhật dâng lên
mạnh mẽ. Do điều kiện địa lý thuận lợi, có núi Hồng, sông Phó Đáy che chở, có
đường liên lạc đi nhiều ngả thuận lợi. Đặc biệt, Tân Trào lại nằm trong vùng cơ sở
cách mạng phát triển sớm, nên rất thuận lợi cho một trung tâm lãnh đạo Tổng khởi
nghĩa.
Tháng 5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Tân Trào (Tuyên
Quang). Tại đây, dưới sự lãnh đạo của Người và Trung ương Đảng đã diễn ra
những sự kiện trọng đại liên quan đến vận mệnh dân tộc trước Cách mạng Tháng
Tám: Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa, Quốc dân
Đại hội thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, bầu ra Chính phủ
lâm thời chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám lịch sử. Sách Bác Hồ ở Tân
Trào tập hợp những bài viết, hồi ký của một số nhà lãnh đạo, tướng lĩnh, cán bộ,
đồng bào từng ở bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh những ngày Người ở Tân Trào
nước Tổng khởi nghĩa.
Năm 1997, cuốn sách đã được xuất bản và được đông đảo bạn đọc trong cả nước
đón nhận, hoan nghênh. Đến nay, do yêu cầu ngày càng tăng của bạn đọc, nhất là
bạn đọc trẻ, chúng tôi phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất
bản lần thứ mười một cuốn sách trên.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tân Trào, tháng 1 năm 2015
BAN QUẢN LÝ KHU DU LỊCH LỊCH SỨ VĂN HÓA VÀ SINH THÁI TÂN
TRÀO
3
GẶP BÁC Ở TÂN TRÀO
NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
... Mùa hè năm 1945, chúng tôi lên Tân Trào. Tôi cùng đi với anh Trường Chinh,
anh Hà Huy Giáp, và một số đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận. Đi trong Khu giải
phóng, thở hít không khí tự do, người thấy nhẹ nhàng. Liên lạc dẫn chúng tôi tới
một cơ quan. Chúng tôi thấy lố nhố những anh chị em du kích, tự vệ, mang gươm,
mang súng. Người thì đang làm nhiệm vụ canh gác, người đang họp bàn công tác .
Từ người dân mất nước, trong tay không có một tấc vũ khí, nay đứng trước quang
cảnh ấy, cả đoàn đại biểu đều cảm động, có người rưng rưng nước mắt. Tôi được
tin ông Cụ đã ở Tân Trào, nên quên cả mỏi mệt, định tiếp tục đi ngay, vì từ cơ
quan này vào trong ấy cũng gần thôi. Nhưng một trận mưa to sập đến. Suối dềnh
lên, đường bị nghẽn. Chúng tôi đành phải nghỉ lại đây. Suốt đêm tôi thao thức. Hết
nghĩ đến ông Cụ, lại ngắm nhìn những đồng chí du kích bố trí bảo vệ đoàn đại
biểu. Lắng nghe thấy mấy đồng chí nói tiếng Tày Cao Bằng, tôi nghĩ ngày mai vào
gặp ông Cụ, chỗ ở chắc là còn nghiêm mật hơn thế này.
Sớm hôm sau, cơm nước xong, chúng tôi vào Tân Trào. Tới nơi, anh Võ Nguyên
Giáp cho chúng tôi biết ông Cụ đang chờ, nhưng ốm lắm. Mấy hôm trước, bệnh
tình có vẻ nguy kịch, tưởng chết. Ông Cụ đã một lần cho gọi anh Phạm Văn Đồng
và anh Võ Nguyên Giáp vào bàn các công tác như có ý giối giăng. Rồi anh Giáp
dẫn chúng tôi đến chỗ Bác ngay. Qua cây đa Tân Trào, lội một con suối, tới chân
đèo De, đi sâu vào chừng vài trăm thước. Tôi tiến vào một nhà sàn thấp, ngạc
nhiên vì thấy việc bảo vệ gần như không có. Trong nhà sàn bên cạnh, chỉ có mấy
đồng chí phụ trách máy vô tuyến điện.
Bước vào cái lều Bác ở, tôi rất cảm động. Nhà trống hơ trống hác, bốn phía không
có phên che. Ngoài chiếc máy đánh chữ và một ít giấy, không có một thứ đồ đạc gì
khác. Bấy giờ đã vào thu, lại sau những trận mưa liên miên, khí trời lành lạnh, ông
Cụ ngồi xổm một mình trên sàn.
Tôi nhận ra ngay ông Cụ, nhưng ông Cụ hom hem quá, khác hẳn đồng chí Vương
hồi trước. Ông Cụ đã để râu, tóc lốm đốm bạc, hai má hóp lại. Đầu đội miếng vải
túm lại như mũ nồi. Mình mặc áo cộc chàm, hai chán gầy khẳng khiu làm cho hai
ống quần soóc càng rộng. Chỉ có đôi mắt là vẫn sáng như xưa.
Chúng tôi hỏi thăm sức khỏe, hỏi về thuốc men, Bác nói:
-Có một bà con thiểu số ở đây vào rừng lấy thuốc lá về cho mình uống. Uống mấy
hôm nay đã đỡ.
Bác bảo mọi người ngồi. Giọng nói không có gì đổi khác, vẫn từ tốn, đầm ấm như
trước. Sau bao nhiêu năm bây giờ mới gặp lại Bác, tôi ngồi nghĩ liên miên, nghĩ
chuyện ngày xưa, nhớ những lời Bác dặn dò, rồi tin Bác bị bắt, ho lao chết, rồi bây
giờ không ngờ lại trở về đây. Hôm ấy tôi không nói được chuyện riêng với Bác.
Chúng tôi vào thăm Bác, và để bàn với Bác về công việc chuẩn bị Hội nghị Trung
ương. Khi bàn công việc, Bác vẫn minh mẫn, khẩn trương. Tôi nhớ khi ấy Thường
4
vụ chưa ấn định dứt khoát ngày họp của Hội nghị Trung ương mở rộng. Bác nói:
Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng
giây, từng phút, tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội.
Một mặt Thường vụ họp, một mặt Bác đề nghị một số đồng chí đi dự Hội nghị
Trung ương phải về ngay địa phương, nắm lấy những ý kiến của Ban Thường vụ
đem về mà thi hành. Ngày ấy, Nhật chưa đầu hàng Đồng minh . Bác nói: "Chỉ vài
ngày nữa là nó hàng, và hàng không điều kiện".
Vài hôm nay, trong khi Hội nghị Trung ương đang họp, chúng tôi được tin phátxít
Nhật đầu hàng.
Bác tuy ốm yếu, nhưng dự họp suốt từ đầu tới cuối với Ban Thường vụ. Ngày 13,
14, 15-8-1945, Hội nghị Trung ương lần thứ chín họp. Những quyết định của Hội
nghị này có một tầm quan trọng rất lớn đối với vận mệnh của dân tộc ta.
Cuộc thảo luận ở Hội nghị Trung ương thật là sôi nổi và hào hứng. Bàn nhiều nhất
là hai khả năng của cách mạng. Khả năng thứ nhất là ta lấy lại được nước, nắm
được chính quyền, tức là có cương vị nói chuyện với Đồng minh . Khả năng thứ
hai là lực lượng chủ quan của ta yếu, không thừa được thời cơ thuận lợi mà giành
lấy chính quyền trước khi Đồng minh kéo vào mà Đồng minh là có Pháp ở trong,
thì tức là phải đặt vấn đề đàm phán với Pháp, đòi quyền tự do, dân chủ, nắm lấy
đấy mà tuyên truyền, giác ngộ quần chúng nhân dân, đẩy mạnh phong trào cách
mạng hơn nữa để tiếp tục đấu tranh với Pháp cho đến thắng lợi cuối cùng.
Tôi nhớ khi bàn đến khả năng Pháp có thể trở lại, có đồng chí uất quá nói: nó vào
thì cứ đánh, dù lực lượng nhỏ đến đâu cũng đánh. Đấy là những lời tâm huyết, biểu
lộ một tấm lòng nhiệt tình yêu nước.
Nhưng khách quan mà nhìn nhận vấn đề, thì đánh Pháp lúc ấy phức tạp là vì nó
núp sau danh nghĩa Đồng minh.
Vì điều kiện sức khỏe, Bác không dự Hội nghị Trung ương được suốt. Nhưng Bác
góp rất nhiều ý kiến. Bác rất sáng suốt và bình tĩnh. Bác phân tích tình hình một
cách rõ ràng và khoa học. Bác nhận định cách mạng là một cuộc đấu tranh lâu dài,
làm cách mạng phải chiến đấu hết keo này đến keo khác. Trước mắt là phải nỗ lực
phát động một cao trào khởi nghĩa, đã có Khu giải phóng rồi phải mở rộng Khu
giải phóng ra khắp nơi trong nước, dù lực lượng còn nhỏ cũng lập Khu giải phóng,
trước khi Đồng minh vào. Tích cực thì nắm được thời cơ. Không tích cực thì thời
cơ không chờ mình...
Hội nghị quyết định phát động một cao trào khởi nghĩa suốt từ Bắc chí Nam. Ai
nấy đều bừng bừng phấn khởi. Ngày nay ta đã có một khối nhân dân đoàn kết, giác
ngộ và lớn mạnh, có một chính quyền vững chắc, có một quân đội chiến thắng,
nhưng ngày nay nghĩ lại những ngày trứng nước của cách mạng, ta mới càng thấy
hết những khó khăn của thời bấy giờ, mới càng thấy thắng lợi ngày ấy thật là to tát.
Nhân dân ta khi ấy chưa thạo bắn súng. Lực lượng vũ trang có vỏn vẹn vài nghìn
khẩu súng gồm rất nhiều kiểu Pháp, Anh, Đức, Nhật, và súng kíp, súng hỏa mai
của ta, mà lực lượng địch thì hùng hậu, vũ khí thì hiện đại, Liên Xô thắng Đức,
5
Nhật là một viện trợ tinh thần rất lớn, nhưng Liên Xô xa lăng lắc. Quyết định thắng
lợi của Cách mạng Tháng Tám vẫn là do sự lãnh đạo khôn khéo, kiên quyết của
Đảng và do lòng yêu nước và tinh thần quật khởi của nhân dân ta. Càng thấy dân
tộc mình anh dũng thật.
...
* *
*
Sáng 16-8-1945, Quốc dân Đại hội khai mạc ở đình Tân Trào, Bác được bầu vào
trong Đoàn Chủ tịch. Từ khi trở về nước, đây là lần đầu tiên Bác tiếp xúc với một
đại hội đại biểu nhân dân. Hôm ấy, Ban tổ chức giới thiệu Bác là Cụ Hồ Chí Minh,
một nhà lão thành cách mạng. Nhiều đại biểu không khỏi ngạc nhiên vì chưa nghe
thấy tên Hồ Chí Minh bao giờ. Nhưng một số người cũng đã thì thầm bàn tán về
Bác mà người ta gọi là ông Ké Tân Trào. Mấy đại biểu kháo nhau: Cụ Nguyễn Ái
Quốc đấy. Hồi ấy, chưa có tục vỗ tay. Nhưng khi nghe giới thiệu Bác, các đại biểu
đều rất hân hoan. Bác hỏi thăm sức khỏe mọi người, niềm nở mời các đại biểu vào
làm việc. Các đại biểu vừa phấn khởi vừa bồi hồi. Đại hội họp ở một gian bên.
Gian chính giữa triển lãm những vũ khí lấy được của Nhật. Gian bên kia là chỗ ăn
uống của đại biểu. Suốt ngày hôm ấy, Bác điều khiển Hội nghị. Đại biểu nào cũng
chú ý lắng nghe những ý kiến của Bác. Anh Trường Chinh đọc báo cáo trước Đại
hội, nêu ra hai vấn đề lớn để Đại hội thảo luận: Tổng khởi nghĩa và bầu ủy ban
Giải phóng dân tộc. Ngoài ra, còn có các bản báo cáo về phong trào công nhân của
anh Hoàng Quốc Việt, về tình hình Nông hội của anh Trần Đức Thịnh, về văn hóa
của anh Nguyễn Đình Thi. Đoàn đại biểu nhân dân Tân Trào đem gạo, đem bò,
đem gà đến mừng Đại hội, một ông già người Tày dắt một con bò đến tặng. Đồng
bào ta đã bị chiến tranh bòn mót đến xương tủy, ai nấy đều tiều tụy rách rưới.
Đáng thương nhất là các em bé thiểu số gầy gò, vàng vọt. Chúng nó ở truồng tồng
ngồng, theo người lớn đến chào Quốc dân Đại hội. Bác đến gần các cháu, chỉ vào
chúng và nói với các đại biểu:
-Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm sao cho các em bé có cơm no, có áo ấm, được
đi học, không lam lũ mãi thế này.
Chúng tôi đều cảm động. Câu nói ấy, về sau này Bác thường nhắc nhở luôn luôn.
Quốc dân Đại hội quyết định lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu ra ủy ban Giải phóng
dân tộc mà Bác làm Chủ tịch. Bác tổng kết Đại hội lịch sử này, động viên các đại
biểu trở về địa phương nỗ lực phấn đấu, giành lấy thời cơ thuận lợi có một không
hai để đưa cách mạng đến thành công.
Sáng ngày 17, ủy ban Giải phóng dân tộc ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ. Tôi
được cử đi đón Bác. Mấy hôm ấy trời mưa, đường lội. Bác đi chân đất. Gần tới
đình Tân Trào, Bác xuống suối rửa chân. Suối sâu đường trơn và dốc. Thấy Bác
chưa được khỏe, tôi chạy lại đỡ, Bác gạt đi và bảo: "Không sao, chú cứ đi". Khi
Bác từ dưới suối lên, các vị trong ủy ban đã đứng ở trước đình chờ sẵn. Bác bước
tới và đứng vào giữa. Bác thay mặt ủy ban, hướng lên lá cờ đỏ sao vàng dựng
6
trước đình, đọc lời tuyên thệ. Lời thề rất ngắn, nhưng rất súc tích, như mọi câu nói,
mọi bài viết của Bác. Tôi không nhớ được lời văn, chỉ nhớ đại ý như sau: "Chúng
tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào ủy ban Giải phóng dân tộc để
lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc,
chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống
quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng,
quyết không lùi bước. Xin thề!".
Giọng Bác trang nghiêm, lời thề dõng dạc, biểu lộ cái khí phách kiên cường, dũng
cảm, quật khởi của dân tộc ta. Chúng tôi thấy rạo rực trong người, và giơ tay theo
kiểu chào bình dân, hô một cách mạnh mẽ: "Xin thề!".
Du kích bắn mấy loạt súng chào mừng Ủy ban Giải phóng dân tộc...
NGUYỄN HUY TƯỞNG ghi
* Trích trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr.46-51, 54-56.
7
TỪ PÁC BÓ ĐẾN TÂN TRÀO
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tôi cùng anh Vũ Anh lên Pác Bó. Những ngày qua đã được tin chắc chắn Bác
thoát khỏi tù ngục của bọn Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch, và đã trở về nước.
Nhưng trên đường đi vẫn hồi hộp. Khi được nhìn thấy Bác ở trong căn lán nhỏ trên
sườn một quả đồi, mới thực tin là sự thực.
Bác vẫn như xưa với bộ quần áo chàm của đồng bào Nùng. Nhìn lâu, thấy Bác có
gầy và già hơn trước. Không biết lấy gì so sánh với nỗi mừng khi được gặp lại
Bác.
Hai năm trước đây, Bác lấy danh nghĩa là người đại diện của Việt Nam Độc lập
Đồng minh sang Trung Hoa để gặp nhà đương cục Quốc dân Đảng, nhưng thật ra
là Bác đi gặp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Dọc đường, bọn Quốc dân
Đảng khám xét, thấy đồng chí Trung Quốc đi cùng Bác không có giấy tờ, chúng
bắt cả hai người. Chúng buộc cho Bác tội Hán gian. Trong hơn một năm trời rơi
vào tay bọn Tưởng, chúng đã chuyển Bác qua hàng chục nhà giam, bắt Bác phải
chịu đựng mọi sự hà khắc của chế độ nhà tù Quốc dân Đảng. Có thời gian mắt Bác
mờ đi chân bước không vững. Sau nhờ những kinh nghiệm đấu tranh dày dạn của
Bác, kết hợp với phong trào đấu tranh của các đoàn thể trong nước và của Việt
kiều. bọn Tưởng cũng không tìm được chứng cớ gì để buộc tội, đành phải trả lại tự
do cho Bác. Từ Liễu Châu, Bác tìm cách trở về nước. Những chuyện về thời kỳ
Bác bị bắt, sau này chúng tôi mới biết nhiều, lúc đó Bác chỉ kể qua rồi hỏi ngay về
tình hình cách mạng ở trong nước.
Anh Vũ Anh báo cáo về phong trào trong liên tỉnh, nói rõ những khó khăn rất lớn
trong việc liên lạc với cung ương ở miền xuôi, và ngay cả với khu căn cứ Bắc Sơn
- Võ Nhai, sau đó báo cáo về nghị quyết vũ trang khởi nghĩa của Liên tỉnh Cao Bắc - Lạng. Tôi cũng báo cáo tình hình con đường Nam tiến bị gián đoạn, rồi trình
bày về tình hình đấu tranh chống khủng bố trong thời gian qua, cơ sở đảng, cơ sở
quần chúng, cơ sở vũ trang lúc đó.
Chúng tôi báo cáo mong, Bác nói: "Phong trào lên, địch khủng bố là chuyện tất
nhiên, nhưng có phần vì ta bộc lộ lực lượng". Bác nhắc lại những cuộc duyệt binh
huy động đến hàng ngàn người.
Sau đó Bác nhận xét nghị quyết của Liên tỉnh: "Chủ trương phát động chiến tranh
du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa
căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn
cục. Trong điều kiện bây giờ, nếu phát động ngay nhân dân nhất tề nổi lên đánh du
kích theo quy mô và phương thức đã định trong nghị quyết, thì sẽ gặp nhiều khó
khăn, có thể còn khó khăn hơn thời kỳ bị khủng bố vừa rồi. Bởi vì, các địa phương
khác trong toàn quốc tuy phong trào cách mạng đang lên cao nhưng hiện chưa nơi
nào có điều kiện vũ trang chiến đấu để sẵn sàng hưởng ứng: tình hình khu căn cứ
Bắc Sơn - Võ Nhai ra sao, cũng chưa nắm được. Quân khỏi nghĩa Cao - Bắc -
8
Lạng đơn độc dấy lên, nhất định đế quốc sẽ mau chóng tập trung lực lượng đàn áp.
Riêng về mặt quân sự, thì cũng không theo đúng nguyên tấc tập trung lực lượng;
cán bộ, vũ khí đều phân tán, thiếu hẳn một lực lượng nòng cốt".
Những nhận xét của Bác đã giúp chúng tôi nhìn rõ vấn đề. Thực ra, trong những
ngày qua, tiến hành chuẩn bị phát động chiến tranh du kích, tuy mọi người đều
phấn khởi, nô nức, nhưng cũng đã thấy xuất hiện khá nhiều câu hỏi quan trọng
chưa giải đáp được. Cho đến nay, cuộc đàn áp của binh lính địch vẫn nhằm chủ
yếu vào những người hoạt động cách mạng và những người chúng nghi có liên
quan với cách mạng; nói chung, trong khi chúng khủng bố, nhân dân vẫn ở lại làng
bản làm ăn. Nhưng nếu phát động chiến tranh du kích toàn dân, chúng sẽ tiến công
vào từng làng, từng bản, từng địa phương, khi đó sẽ giải quyết vấn đề bảo vệ nhân
dân, tản cư nhân dân ra sao? Nếu đưa nhân dân vào rừng thì tổ chức cuộc sống mới
tại đây như thế nào? Làm cách nào để nhân dân có thể tiếp tục tăng gia sản xuất
nếu cuộc khủng bố kéo dài ngày?... Những vấn đề này tại Hội nghị Lên tỉnh đều
chưa được bàn bạc kỹ lưỡng và chưa đề ra những giải pháp cụ thể.
Bác nhận định: "Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển để qua, nhưng thời
kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng
hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động
vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây
giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị
còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy
phong trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà mỗi khi địch đến, nhân dân lại
phải tản cư vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Phải làm sao, cứ hoạt động
vũ trang mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất, chỉ cần tăng cường canh gác đề phòng
không để địch bắt, hại những người hoạt động..." .
Rồi Bác đề ra một cách giải quyết: "Lực lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại
phân tán quá. Bây giờ nên tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ
khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng
hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác
chiến nhằm gây được ảnh hưởng tết về chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở, phát
triển lực lượng vũ trang. Chúng ta sẽ lặp Đội quân Giải phóng...".
Ngay trong buổi họp đó, tôi được chỉ định đảm nhiệm công tác này.
Rồi Bác hỏi:
-Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn có thể làm được không?
Tôi đáp:
-Có thể được.
T ôi trình bày cơ sở chính trị và vũ trang tại vùng giáp giới hai tỉnh Cao Bằng Bắc Kạn,, từ Nguyên Bình đến Ngân Sơn, Chợ Rã, từ Tĩnh Túc, Phia Uắc đến Phia
Bioóc.
9
Cơ sở quần chúng tại vùng này rất tốt, qua suốt thời khủng bố của địch vẫn vững
vàng, cơ sở lực lượng vũ trang cũng tốt. Trước khi quyết định, Bác hỏi:
-Có thể tìm được một căn cứ "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ", mình còn yếu,
địch mạnh, nhưng nhất định không để địch tiêu diệt, có thể như thế được không?
Tôi đáp:
-Có thể. Nhất định quân địch không thể tiêu diệt ta được.
Khi trả lời Bác như vậy, tôi đã nghĩ đến sức mạnh vô cùng to lớn của đồng bào,
nghĩ đến lòng yêu nước tha thiết, có thể hy sinh tất cả vì Tổ quốc, của những người
dân đã được Đảng giác ngộ. Lòng yêu nước và tinh thần hy sinh đó, tôi càng thấy
rõ hơn sau những ngày khủng bố đẫm máu của quân thù.
Đêm hôm ấy, chúng tôi nằm nghe Bác nói chuyện rất khuya. Trên núi cao, cái rét
của mùa đông đến sớm hơn. Trong căn lều lạnh giá, không đèn đóm, Bác và chúng
tôi, mỗi người gối đầu lên một khúc gỗ cứng. Bác phác ra những nét chính về Đội
Việt Nam Giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động, và vấn đề
cung cấp lương thực, đạn dược. Bác hướng dẫn cho tôi làm một bản kế hoạch. Bác
dặn đi dặn lại nhiều lần: "Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể
nào tiêu diệt được. Tổ chức của Đội phải lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo".
Chuyện trò hào hứng đến hai, ba giờ sáng.
Sáng hôm sau, tôi cùng anh Lê Quảng Ba lên mỏm núi sau cơ quan trao đổi kế
hoạch. Chúng tôi thấy lúc đầu nên tổ chức một trung đội gồm ba tiểu đội. Lực
lượng sẽ rút ra từ các đội vũ trang các châu Hà Quặng, Hòa An, Nguyên Bình.
Chúng tôi trao đổi từng tên các chiến sĩ. Phần lớn các học sinh quân ở Trung Quốc
sắp về cũng sẽ được đưa vào Đội. Cán bộ phụ trách thì chọn trong các đội vũ trang
châu và học sinh quân. Những hoạt động đầu tiên của Đội sẽ nhằm đánh vào một
vài đồn địch, cướp súng đạn của giặc, phải đánh thắng thật giòn giã để khuếch
trương thanh thế. Nguồn cung cấp sẽ dựa vào nhân dân. Buổi chiều, cuộc họp lại
tiếp tục. Chúng tôi báo cáo lại kế hoạch đã dự thảo. Nghe xong, Bác nói:
-Được. Tình hình quốc tế đang có nhiều điều kiện thuận lợi, trong vòng một tháng
phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi.
Đúng vào dịp này, anh chị Tống Minh Phương và bà con Việt kiều ở Côn Minh lại
mới gửi về một số vũ khí: một khẩu tiểu liên Mỹ Sub machine gần và 150 viên
đạn, sáu quả bom lửa, một hộp bom nổ chậm. Cùng với số vũ khí này, chúng tôi
còn được nhận thêm 500 đồng để chi phí về quân nhu.
Sau khi suy nghĩ, Bác đề nghị thêm hai chữ "tuyên truyền" vào tên Đội quân Giải
phóng cho đúng với nhiệm vụ hiện tại của nó.
Chúng tôi được giao trách nhiệm điều động tất cả 34 đội viên và cán bộ trong các
đội vũ trang địa phương, hai khẩu súng thập, 17 khẩu súng trường vừa giáp năm,
giáp ba, vừa khai hậu và súng Tàu chế tạo, 14 khẩu súng kíp.
Thế là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Như vậy, trong toàn
khu Cao - Bắc - Lạng sẽ có ba hình thức tổ chức của lực lượng vũ trang: Đội Việt
10
Nam tuyên truyền Giải phóng quân là đội chủ lực, các châu có đội vũ trang của
châu, tại xã có những đội tự vệ nửa vũ trang. Chúng tôi có hỏi Bác: "Đội tuyên
truyền hoạt động theo kế hoạch của Liên tỉnh, khi tới một địa phương thì quan hệ
giữa đội chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương ra sao?".
Bác nói: "Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết
phối hợp chặt chẽ với nhau. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt, giúp đỡ các độc địa
phương trưởng thành". Điều Bác nói đó, chính là phương châm xây dựng lực
lượng vũ trang của Đảng, chúng ta đã thực hiện trong suốt cuộc kháng chiến lâu
dài, gian khổ của toàn dân và đã thấy được những hiệu lực vô cùng mạnh mẽ.
Anh em trong cơ quan mấy ngày trước đã nghe ngóng thấy Bác không đồng ý với
nghị quyết phát động chiến tranh du kích của Liên tỉnh ủy, kém phần phấn khởi,
lúc này được biết quyết định mới của Bác, vui hẳn lên.
Một buổi sớm đầu tháng chạp, chúng tôi từ giã Bác, trở về. Bác căn dặn chúng
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của
Việt Nam - đã suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội và giải phóng con người. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của
Người gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX.
Cùng với những sự kiện đó là những tên đất, tên người mãi mãi là niềm tự hào của
đất nước.
Tân Trào là vùng đất lịch sử gắn liền với những sự kiện trọng đại của dân tộc, là
nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng và nhân dân ta chuẩn bị
đứng lên lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành độc lập dân tộc.
Các sự kiện lịch sử diễn ra ở Tân Trào trước Cách mạng Tháng Tám tuy chỉ trong
một thời gian ngắn (từ tháng 5 đến tháng 8 - 1945), nhưng có ý nghĩa quyết định
cho thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, trong đó
có vai trò đặc biệt quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhân dịp kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 19/5/2015), thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về
tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản lần thứ mười một cuốn sách Bác Hồ
ở Tân Trào do đồng chí Ngô Quân Lập, nguyên Giám đốc Ban quản lý khu di tích
lịch sử văn hóa và sinh thái Tân Trào sưu tầm, tuyển chọn.
Cuốn sách là tập hợp những hồi ký của một số nhà lãnh đạo, tướng lĩnh, cán bộ và
đồng bào đã từng ở bên Bác trong những ngày Người cùng Trung ương Đảng
chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.
Thông qua nội dung cuốn sách, chúng ta càng hiểu rõ hơn về ý chí, nghị lực phi
thường và phong thái giản dị của Bác trong những ngày đầy khó khăn, gian khổ
của cách mạng; những quyết sách sáng tạo mà Bác đã đề ra trong cuộc Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, qua đó nhằm giáo dục truyền thống cách mạng và nêu cao
tấm gương đạo đức của Bác Hồ cho các thế hệ của quê hương Tân Trào và cả nước
học tập.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 1 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
2
LỜI NÓI ĐẦU
Tân Trào là một xã của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tân Trào trước kia
có tên là Kim Long. Tên Tân Trào được đặt vào lúc cao trào kháng Nhật dâng lên
mạnh mẽ. Do điều kiện địa lý thuận lợi, có núi Hồng, sông Phó Đáy che chở, có
đường liên lạc đi nhiều ngả thuận lợi. Đặc biệt, Tân Trào lại nằm trong vùng cơ sở
cách mạng phát triển sớm, nên rất thuận lợi cho một trung tâm lãnh đạo Tổng khởi
nghĩa.
Tháng 5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Tân Trào (Tuyên
Quang). Tại đây, dưới sự lãnh đạo của Người và Trung ương Đảng đã diễn ra
những sự kiện trọng đại liên quan đến vận mệnh dân tộc trước Cách mạng Tháng
Tám: Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa, Quốc dân
Đại hội thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, bầu ra Chính phủ
lâm thời chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám lịch sử. Sách Bác Hồ ở Tân
Trào tập hợp những bài viết, hồi ký của một số nhà lãnh đạo, tướng lĩnh, cán bộ,
đồng bào từng ở bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh những ngày Người ở Tân Trào
nước Tổng khởi nghĩa.
Năm 1997, cuốn sách đã được xuất bản và được đông đảo bạn đọc trong cả nước
đón nhận, hoan nghênh. Đến nay, do yêu cầu ngày càng tăng của bạn đọc, nhất là
bạn đọc trẻ, chúng tôi phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất
bản lần thứ mười một cuốn sách trên.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tân Trào, tháng 1 năm 2015
BAN QUẢN LÝ KHU DU LỊCH LỊCH SỨ VĂN HÓA VÀ SINH THÁI TÂN
TRÀO
3
GẶP BÁC Ở TÂN TRÀO
NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
... Mùa hè năm 1945, chúng tôi lên Tân Trào. Tôi cùng đi với anh Trường Chinh,
anh Hà Huy Giáp, và một số đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận. Đi trong Khu giải
phóng, thở hít không khí tự do, người thấy nhẹ nhàng. Liên lạc dẫn chúng tôi tới
một cơ quan. Chúng tôi thấy lố nhố những anh chị em du kích, tự vệ, mang gươm,
mang súng. Người thì đang làm nhiệm vụ canh gác, người đang họp bàn công tác .
Từ người dân mất nước, trong tay không có một tấc vũ khí, nay đứng trước quang
cảnh ấy, cả đoàn đại biểu đều cảm động, có người rưng rưng nước mắt. Tôi được
tin ông Cụ đã ở Tân Trào, nên quên cả mỏi mệt, định tiếp tục đi ngay, vì từ cơ
quan này vào trong ấy cũng gần thôi. Nhưng một trận mưa to sập đến. Suối dềnh
lên, đường bị nghẽn. Chúng tôi đành phải nghỉ lại đây. Suốt đêm tôi thao thức. Hết
nghĩ đến ông Cụ, lại ngắm nhìn những đồng chí du kích bố trí bảo vệ đoàn đại
biểu. Lắng nghe thấy mấy đồng chí nói tiếng Tày Cao Bằng, tôi nghĩ ngày mai vào
gặp ông Cụ, chỗ ở chắc là còn nghiêm mật hơn thế này.
Sớm hôm sau, cơm nước xong, chúng tôi vào Tân Trào. Tới nơi, anh Võ Nguyên
Giáp cho chúng tôi biết ông Cụ đang chờ, nhưng ốm lắm. Mấy hôm trước, bệnh
tình có vẻ nguy kịch, tưởng chết. Ông Cụ đã một lần cho gọi anh Phạm Văn Đồng
và anh Võ Nguyên Giáp vào bàn các công tác như có ý giối giăng. Rồi anh Giáp
dẫn chúng tôi đến chỗ Bác ngay. Qua cây đa Tân Trào, lội một con suối, tới chân
đèo De, đi sâu vào chừng vài trăm thước. Tôi tiến vào một nhà sàn thấp, ngạc
nhiên vì thấy việc bảo vệ gần như không có. Trong nhà sàn bên cạnh, chỉ có mấy
đồng chí phụ trách máy vô tuyến điện.
Bước vào cái lều Bác ở, tôi rất cảm động. Nhà trống hơ trống hác, bốn phía không
có phên che. Ngoài chiếc máy đánh chữ và một ít giấy, không có một thứ đồ đạc gì
khác. Bấy giờ đã vào thu, lại sau những trận mưa liên miên, khí trời lành lạnh, ông
Cụ ngồi xổm một mình trên sàn.
Tôi nhận ra ngay ông Cụ, nhưng ông Cụ hom hem quá, khác hẳn đồng chí Vương
hồi trước. Ông Cụ đã để râu, tóc lốm đốm bạc, hai má hóp lại. Đầu đội miếng vải
túm lại như mũ nồi. Mình mặc áo cộc chàm, hai chán gầy khẳng khiu làm cho hai
ống quần soóc càng rộng. Chỉ có đôi mắt là vẫn sáng như xưa.
Chúng tôi hỏi thăm sức khỏe, hỏi về thuốc men, Bác nói:
-Có một bà con thiểu số ở đây vào rừng lấy thuốc lá về cho mình uống. Uống mấy
hôm nay đã đỡ.
Bác bảo mọi người ngồi. Giọng nói không có gì đổi khác, vẫn từ tốn, đầm ấm như
trước. Sau bao nhiêu năm bây giờ mới gặp lại Bác, tôi ngồi nghĩ liên miên, nghĩ
chuyện ngày xưa, nhớ những lời Bác dặn dò, rồi tin Bác bị bắt, ho lao chết, rồi bây
giờ không ngờ lại trở về đây. Hôm ấy tôi không nói được chuyện riêng với Bác.
Chúng tôi vào thăm Bác, và để bàn với Bác về công việc chuẩn bị Hội nghị Trung
ương. Khi bàn công việc, Bác vẫn minh mẫn, khẩn trương. Tôi nhớ khi ấy Thường
4
vụ chưa ấn định dứt khoát ngày họp của Hội nghị Trung ương mở rộng. Bác nói:
Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng
giây, từng phút, tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội.
Một mặt Thường vụ họp, một mặt Bác đề nghị một số đồng chí đi dự Hội nghị
Trung ương phải về ngay địa phương, nắm lấy những ý kiến của Ban Thường vụ
đem về mà thi hành. Ngày ấy, Nhật chưa đầu hàng Đồng minh . Bác nói: "Chỉ vài
ngày nữa là nó hàng, và hàng không điều kiện".
Vài hôm nay, trong khi Hội nghị Trung ương đang họp, chúng tôi được tin phátxít
Nhật đầu hàng.
Bác tuy ốm yếu, nhưng dự họp suốt từ đầu tới cuối với Ban Thường vụ. Ngày 13,
14, 15-8-1945, Hội nghị Trung ương lần thứ chín họp. Những quyết định của Hội
nghị này có một tầm quan trọng rất lớn đối với vận mệnh của dân tộc ta.
Cuộc thảo luận ở Hội nghị Trung ương thật là sôi nổi và hào hứng. Bàn nhiều nhất
là hai khả năng của cách mạng. Khả năng thứ nhất là ta lấy lại được nước, nắm
được chính quyền, tức là có cương vị nói chuyện với Đồng minh . Khả năng thứ
hai là lực lượng chủ quan của ta yếu, không thừa được thời cơ thuận lợi mà giành
lấy chính quyền trước khi Đồng minh kéo vào mà Đồng minh là có Pháp ở trong,
thì tức là phải đặt vấn đề đàm phán với Pháp, đòi quyền tự do, dân chủ, nắm lấy
đấy mà tuyên truyền, giác ngộ quần chúng nhân dân, đẩy mạnh phong trào cách
mạng hơn nữa để tiếp tục đấu tranh với Pháp cho đến thắng lợi cuối cùng.
Tôi nhớ khi bàn đến khả năng Pháp có thể trở lại, có đồng chí uất quá nói: nó vào
thì cứ đánh, dù lực lượng nhỏ đến đâu cũng đánh. Đấy là những lời tâm huyết, biểu
lộ một tấm lòng nhiệt tình yêu nước.
Nhưng khách quan mà nhìn nhận vấn đề, thì đánh Pháp lúc ấy phức tạp là vì nó
núp sau danh nghĩa Đồng minh.
Vì điều kiện sức khỏe, Bác không dự Hội nghị Trung ương được suốt. Nhưng Bác
góp rất nhiều ý kiến. Bác rất sáng suốt và bình tĩnh. Bác phân tích tình hình một
cách rõ ràng và khoa học. Bác nhận định cách mạng là một cuộc đấu tranh lâu dài,
làm cách mạng phải chiến đấu hết keo này đến keo khác. Trước mắt là phải nỗ lực
phát động một cao trào khởi nghĩa, đã có Khu giải phóng rồi phải mở rộng Khu
giải phóng ra khắp nơi trong nước, dù lực lượng còn nhỏ cũng lập Khu giải phóng,
trước khi Đồng minh vào. Tích cực thì nắm được thời cơ. Không tích cực thì thời
cơ không chờ mình...
Hội nghị quyết định phát động một cao trào khởi nghĩa suốt từ Bắc chí Nam. Ai
nấy đều bừng bừng phấn khởi. Ngày nay ta đã có một khối nhân dân đoàn kết, giác
ngộ và lớn mạnh, có một chính quyền vững chắc, có một quân đội chiến thắng,
nhưng ngày nay nghĩ lại những ngày trứng nước của cách mạng, ta mới càng thấy
hết những khó khăn của thời bấy giờ, mới càng thấy thắng lợi ngày ấy thật là to tát.
Nhân dân ta khi ấy chưa thạo bắn súng. Lực lượng vũ trang có vỏn vẹn vài nghìn
khẩu súng gồm rất nhiều kiểu Pháp, Anh, Đức, Nhật, và súng kíp, súng hỏa mai
của ta, mà lực lượng địch thì hùng hậu, vũ khí thì hiện đại, Liên Xô thắng Đức,
5
Nhật là một viện trợ tinh thần rất lớn, nhưng Liên Xô xa lăng lắc. Quyết định thắng
lợi của Cách mạng Tháng Tám vẫn là do sự lãnh đạo khôn khéo, kiên quyết của
Đảng và do lòng yêu nước và tinh thần quật khởi của nhân dân ta. Càng thấy dân
tộc mình anh dũng thật.
...
* *
*
Sáng 16-8-1945, Quốc dân Đại hội khai mạc ở đình Tân Trào, Bác được bầu vào
trong Đoàn Chủ tịch. Từ khi trở về nước, đây là lần đầu tiên Bác tiếp xúc với một
đại hội đại biểu nhân dân. Hôm ấy, Ban tổ chức giới thiệu Bác là Cụ Hồ Chí Minh,
một nhà lão thành cách mạng. Nhiều đại biểu không khỏi ngạc nhiên vì chưa nghe
thấy tên Hồ Chí Minh bao giờ. Nhưng một số người cũng đã thì thầm bàn tán về
Bác mà người ta gọi là ông Ké Tân Trào. Mấy đại biểu kháo nhau: Cụ Nguyễn Ái
Quốc đấy. Hồi ấy, chưa có tục vỗ tay. Nhưng khi nghe giới thiệu Bác, các đại biểu
đều rất hân hoan. Bác hỏi thăm sức khỏe mọi người, niềm nở mời các đại biểu vào
làm việc. Các đại biểu vừa phấn khởi vừa bồi hồi. Đại hội họp ở một gian bên.
Gian chính giữa triển lãm những vũ khí lấy được của Nhật. Gian bên kia là chỗ ăn
uống của đại biểu. Suốt ngày hôm ấy, Bác điều khiển Hội nghị. Đại biểu nào cũng
chú ý lắng nghe những ý kiến của Bác. Anh Trường Chinh đọc báo cáo trước Đại
hội, nêu ra hai vấn đề lớn để Đại hội thảo luận: Tổng khởi nghĩa và bầu ủy ban
Giải phóng dân tộc. Ngoài ra, còn có các bản báo cáo về phong trào công nhân của
anh Hoàng Quốc Việt, về tình hình Nông hội của anh Trần Đức Thịnh, về văn hóa
của anh Nguyễn Đình Thi. Đoàn đại biểu nhân dân Tân Trào đem gạo, đem bò,
đem gà đến mừng Đại hội, một ông già người Tày dắt một con bò đến tặng. Đồng
bào ta đã bị chiến tranh bòn mót đến xương tủy, ai nấy đều tiều tụy rách rưới.
Đáng thương nhất là các em bé thiểu số gầy gò, vàng vọt. Chúng nó ở truồng tồng
ngồng, theo người lớn đến chào Quốc dân Đại hội. Bác đến gần các cháu, chỉ vào
chúng và nói với các đại biểu:
-Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm sao cho các em bé có cơm no, có áo ấm, được
đi học, không lam lũ mãi thế này.
Chúng tôi đều cảm động. Câu nói ấy, về sau này Bác thường nhắc nhở luôn luôn.
Quốc dân Đại hội quyết định lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu ra ủy ban Giải phóng
dân tộc mà Bác làm Chủ tịch. Bác tổng kết Đại hội lịch sử này, động viên các đại
biểu trở về địa phương nỗ lực phấn đấu, giành lấy thời cơ thuận lợi có một không
hai để đưa cách mạng đến thành công.
Sáng ngày 17, ủy ban Giải phóng dân tộc ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ. Tôi
được cử đi đón Bác. Mấy hôm ấy trời mưa, đường lội. Bác đi chân đất. Gần tới
đình Tân Trào, Bác xuống suối rửa chân. Suối sâu đường trơn và dốc. Thấy Bác
chưa được khỏe, tôi chạy lại đỡ, Bác gạt đi và bảo: "Không sao, chú cứ đi". Khi
Bác từ dưới suối lên, các vị trong ủy ban đã đứng ở trước đình chờ sẵn. Bác bước
tới và đứng vào giữa. Bác thay mặt ủy ban, hướng lên lá cờ đỏ sao vàng dựng
6
trước đình, đọc lời tuyên thệ. Lời thề rất ngắn, nhưng rất súc tích, như mọi câu nói,
mọi bài viết của Bác. Tôi không nhớ được lời văn, chỉ nhớ đại ý như sau: "Chúng
tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào ủy ban Giải phóng dân tộc để
lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc,
chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống
quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng,
quyết không lùi bước. Xin thề!".
Giọng Bác trang nghiêm, lời thề dõng dạc, biểu lộ cái khí phách kiên cường, dũng
cảm, quật khởi của dân tộc ta. Chúng tôi thấy rạo rực trong người, và giơ tay theo
kiểu chào bình dân, hô một cách mạnh mẽ: "Xin thề!".
Du kích bắn mấy loạt súng chào mừng Ủy ban Giải phóng dân tộc...
NGUYỄN HUY TƯỞNG ghi
* Trích trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr.46-51, 54-56.
7
TỪ PÁC BÓ ĐẾN TÂN TRÀO
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tôi cùng anh Vũ Anh lên Pác Bó. Những ngày qua đã được tin chắc chắn Bác
thoát khỏi tù ngục của bọn Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch, và đã trở về nước.
Nhưng trên đường đi vẫn hồi hộp. Khi được nhìn thấy Bác ở trong căn lán nhỏ trên
sườn một quả đồi, mới thực tin là sự thực.
Bác vẫn như xưa với bộ quần áo chàm của đồng bào Nùng. Nhìn lâu, thấy Bác có
gầy và già hơn trước. Không biết lấy gì so sánh với nỗi mừng khi được gặp lại
Bác.
Hai năm trước đây, Bác lấy danh nghĩa là người đại diện của Việt Nam Độc lập
Đồng minh sang Trung Hoa để gặp nhà đương cục Quốc dân Đảng, nhưng thật ra
là Bác đi gặp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Dọc đường, bọn Quốc dân
Đảng khám xét, thấy đồng chí Trung Quốc đi cùng Bác không có giấy tờ, chúng
bắt cả hai người. Chúng buộc cho Bác tội Hán gian. Trong hơn một năm trời rơi
vào tay bọn Tưởng, chúng đã chuyển Bác qua hàng chục nhà giam, bắt Bác phải
chịu đựng mọi sự hà khắc của chế độ nhà tù Quốc dân Đảng. Có thời gian mắt Bác
mờ đi chân bước không vững. Sau nhờ những kinh nghiệm đấu tranh dày dạn của
Bác, kết hợp với phong trào đấu tranh của các đoàn thể trong nước và của Việt
kiều. bọn Tưởng cũng không tìm được chứng cớ gì để buộc tội, đành phải trả lại tự
do cho Bác. Từ Liễu Châu, Bác tìm cách trở về nước. Những chuyện về thời kỳ
Bác bị bắt, sau này chúng tôi mới biết nhiều, lúc đó Bác chỉ kể qua rồi hỏi ngay về
tình hình cách mạng ở trong nước.
Anh Vũ Anh báo cáo về phong trào trong liên tỉnh, nói rõ những khó khăn rất lớn
trong việc liên lạc với cung ương ở miền xuôi, và ngay cả với khu căn cứ Bắc Sơn
- Võ Nhai, sau đó báo cáo về nghị quyết vũ trang khởi nghĩa của Liên tỉnh Cao Bắc - Lạng. Tôi cũng báo cáo tình hình con đường Nam tiến bị gián đoạn, rồi trình
bày về tình hình đấu tranh chống khủng bố trong thời gian qua, cơ sở đảng, cơ sở
quần chúng, cơ sở vũ trang lúc đó.
Chúng tôi báo cáo mong, Bác nói: "Phong trào lên, địch khủng bố là chuyện tất
nhiên, nhưng có phần vì ta bộc lộ lực lượng". Bác nhắc lại những cuộc duyệt binh
huy động đến hàng ngàn người.
Sau đó Bác nhận xét nghị quyết của Liên tỉnh: "Chủ trương phát động chiến tranh
du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa
căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn
cục. Trong điều kiện bây giờ, nếu phát động ngay nhân dân nhất tề nổi lên đánh du
kích theo quy mô và phương thức đã định trong nghị quyết, thì sẽ gặp nhiều khó
khăn, có thể còn khó khăn hơn thời kỳ bị khủng bố vừa rồi. Bởi vì, các địa phương
khác trong toàn quốc tuy phong trào cách mạng đang lên cao nhưng hiện chưa nơi
nào có điều kiện vũ trang chiến đấu để sẵn sàng hưởng ứng: tình hình khu căn cứ
Bắc Sơn - Võ Nhai ra sao, cũng chưa nắm được. Quân khỏi nghĩa Cao - Bắc -
8
Lạng đơn độc dấy lên, nhất định đế quốc sẽ mau chóng tập trung lực lượng đàn áp.
Riêng về mặt quân sự, thì cũng không theo đúng nguyên tấc tập trung lực lượng;
cán bộ, vũ khí đều phân tán, thiếu hẳn một lực lượng nòng cốt".
Những nhận xét của Bác đã giúp chúng tôi nhìn rõ vấn đề. Thực ra, trong những
ngày qua, tiến hành chuẩn bị phát động chiến tranh du kích, tuy mọi người đều
phấn khởi, nô nức, nhưng cũng đã thấy xuất hiện khá nhiều câu hỏi quan trọng
chưa giải đáp được. Cho đến nay, cuộc đàn áp của binh lính địch vẫn nhằm chủ
yếu vào những người hoạt động cách mạng và những người chúng nghi có liên
quan với cách mạng; nói chung, trong khi chúng khủng bố, nhân dân vẫn ở lại làng
bản làm ăn. Nhưng nếu phát động chiến tranh du kích toàn dân, chúng sẽ tiến công
vào từng làng, từng bản, từng địa phương, khi đó sẽ giải quyết vấn đề bảo vệ nhân
dân, tản cư nhân dân ra sao? Nếu đưa nhân dân vào rừng thì tổ chức cuộc sống mới
tại đây như thế nào? Làm cách nào để nhân dân có thể tiếp tục tăng gia sản xuất
nếu cuộc khủng bố kéo dài ngày?... Những vấn đề này tại Hội nghị Lên tỉnh đều
chưa được bàn bạc kỹ lưỡng và chưa đề ra những giải pháp cụ thể.
Bác nhận định: "Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển để qua, nhưng thời
kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng
hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động
vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây
giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị
còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy
phong trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà mỗi khi địch đến, nhân dân lại
phải tản cư vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Phải làm sao, cứ hoạt động
vũ trang mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất, chỉ cần tăng cường canh gác đề phòng
không để địch bắt, hại những người hoạt động..." .
Rồi Bác đề ra một cách giải quyết: "Lực lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại
phân tán quá. Bây giờ nên tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ
khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng
hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác
chiến nhằm gây được ảnh hưởng tết về chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở, phát
triển lực lượng vũ trang. Chúng ta sẽ lặp Đội quân Giải phóng...".
Ngay trong buổi họp đó, tôi được chỉ định đảm nhiệm công tác này.
Rồi Bác hỏi:
-Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn có thể làm được không?
Tôi đáp:
-Có thể được.
T ôi trình bày cơ sở chính trị và vũ trang tại vùng giáp giới hai tỉnh Cao Bằng Bắc Kạn,, từ Nguyên Bình đến Ngân Sơn, Chợ Rã, từ Tĩnh Túc, Phia Uắc đến Phia
Bioóc.
9
Cơ sở quần chúng tại vùng này rất tốt, qua suốt thời khủng bố của địch vẫn vững
vàng, cơ sở lực lượng vũ trang cũng tốt. Trước khi quyết định, Bác hỏi:
-Có thể tìm được một căn cứ "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ", mình còn yếu,
địch mạnh, nhưng nhất định không để địch tiêu diệt, có thể như thế được không?
Tôi đáp:
-Có thể. Nhất định quân địch không thể tiêu diệt ta được.
Khi trả lời Bác như vậy, tôi đã nghĩ đến sức mạnh vô cùng to lớn của đồng bào,
nghĩ đến lòng yêu nước tha thiết, có thể hy sinh tất cả vì Tổ quốc, của những người
dân đã được Đảng giác ngộ. Lòng yêu nước và tinh thần hy sinh đó, tôi càng thấy
rõ hơn sau những ngày khủng bố đẫm máu của quân thù.
Đêm hôm ấy, chúng tôi nằm nghe Bác nói chuyện rất khuya. Trên núi cao, cái rét
của mùa đông đến sớm hơn. Trong căn lều lạnh giá, không đèn đóm, Bác và chúng
tôi, mỗi người gối đầu lên một khúc gỗ cứng. Bác phác ra những nét chính về Đội
Việt Nam Giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động, và vấn đề
cung cấp lương thực, đạn dược. Bác hướng dẫn cho tôi làm một bản kế hoạch. Bác
dặn đi dặn lại nhiều lần: "Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể
nào tiêu diệt được. Tổ chức của Đội phải lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo".
Chuyện trò hào hứng đến hai, ba giờ sáng.
Sáng hôm sau, tôi cùng anh Lê Quảng Ba lên mỏm núi sau cơ quan trao đổi kế
hoạch. Chúng tôi thấy lúc đầu nên tổ chức một trung đội gồm ba tiểu đội. Lực
lượng sẽ rút ra từ các đội vũ trang các châu Hà Quặng, Hòa An, Nguyên Bình.
Chúng tôi trao đổi từng tên các chiến sĩ. Phần lớn các học sinh quân ở Trung Quốc
sắp về cũng sẽ được đưa vào Đội. Cán bộ phụ trách thì chọn trong các đội vũ trang
châu và học sinh quân. Những hoạt động đầu tiên của Đội sẽ nhằm đánh vào một
vài đồn địch, cướp súng đạn của giặc, phải đánh thắng thật giòn giã để khuếch
trương thanh thế. Nguồn cung cấp sẽ dựa vào nhân dân. Buổi chiều, cuộc họp lại
tiếp tục. Chúng tôi báo cáo lại kế hoạch đã dự thảo. Nghe xong, Bác nói:
-Được. Tình hình quốc tế đang có nhiều điều kiện thuận lợi, trong vòng một tháng
phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi.
Đúng vào dịp này, anh chị Tống Minh Phương và bà con Việt kiều ở Côn Minh lại
mới gửi về một số vũ khí: một khẩu tiểu liên Mỹ Sub machine gần và 150 viên
đạn, sáu quả bom lửa, một hộp bom nổ chậm. Cùng với số vũ khí này, chúng tôi
còn được nhận thêm 500 đồng để chi phí về quân nhu.
Sau khi suy nghĩ, Bác đề nghị thêm hai chữ "tuyên truyền" vào tên Đội quân Giải
phóng cho đúng với nhiệm vụ hiện tại của nó.
Chúng tôi được giao trách nhiệm điều động tất cả 34 đội viên và cán bộ trong các
đội vũ trang địa phương, hai khẩu súng thập, 17 khẩu súng trường vừa giáp năm,
giáp ba, vừa khai hậu và súng Tàu chế tạo, 14 khẩu súng kíp.
Thế là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Như vậy, trong toàn
khu Cao - Bắc - Lạng sẽ có ba hình thức tổ chức của lực lượng vũ trang: Đội Việt
10
Nam tuyên truyền Giải phóng quân là đội chủ lực, các châu có đội vũ trang của
châu, tại xã có những đội tự vệ nửa vũ trang. Chúng tôi có hỏi Bác: "Đội tuyên
truyền hoạt động theo kế hoạch của Liên tỉnh, khi tới một địa phương thì quan hệ
giữa đội chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương ra sao?".
Bác nói: "Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết
phối hợp chặt chẽ với nhau. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt, giúp đỡ các độc địa
phương trưởng thành". Điều Bác nói đó, chính là phương châm xây dựng lực
lượng vũ trang của Đảng, chúng ta đã thực hiện trong suốt cuộc kháng chiến lâu
dài, gian khổ của toàn dân và đã thấy được những hiệu lực vô cùng mạnh mẽ.
Anh em trong cơ quan mấy ngày trước đã nghe ngóng thấy Bác không đồng ý với
nghị quyết phát động chiến tranh du kích của Liên tỉnh ủy, kém phần phấn khởi,
lúc này được biết quyết định mới của Bác, vui hẳn lên.
Một buổi sớm đầu tháng chạp, chúng tôi từ giã Bác, trở về. Bác căn dặn chúng
 








Các ý kiến mới nhất