_am-phu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:36' 02-02-2026
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:36' 02-02-2026
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
AÂm Phuû
[Tunnel 1]
Tác Giả: Roderick Gordon, Brian Williams
Thể Loại: Giả Tưởng, Thám Hiểm, Kỳ Dị
Dịch Giả: Lý Lan
Nhà xuất bản: Trẻ
Nguồn: e-thuvien.com
Chụp hình và quản lý dự án: Hoàng Liêm
Đánh máy: voxuanlanh1990, oh_bon, astrologic, Đặng Luân, fujuko,
haduyen, thanhtam921992, cockroach, trinhnguyen123, Hoàng Liêm
Soát lỗi chính tả: Hoàng Liêm
Ebook: daotieuvu.blogspot.com
Ebook được blog Đào Tiểu Vũ hoàn thành với mục đích phi thương
mại, nhằm chia sẻ với những bạn ở xa hoặc không có điều kiện mua
sách, khi sao lưu xin ghi rõ nguồn.
Trong điều kiện có thể bạn hãy mua sách để ủng hộ nhà xuất bản và tác
giả.
Giới Thiệu:
Có bao giờ bạn tưởng tượng rằng:
… Cha của bạn đột ngột mất tích
Và… Chính bạn phải tìm cách giải cứu cha ra khỏi thế giới tăm tối, đầy
rẫy những điều hắc ám đang diễn ra?
Nhưng
Bạn phát hiện bạn thuộc về thế giới đó…
Nhân vâ ̣t chı́nh của truyê ̣n, Will Burrows là một đứa trẻ 14 tuổi sống cùng
gia đình ở London. Cậu bé có rấ t ı́t điể m chung với mọi người trong nhà
trừ niềm đam mê đào bới khảo cổ với cha mình – một tiến sĩ cổ vật không
gặp thời.
Khi người cha đột nhiên biến mất, Will cùng người ba ̣n là Chester quyết
định lần theo mô ̣t đường hầ m bı́ mâ ̣t để tı̀m tung tı́ch cha mı̀nh, đồ ng thời
cuñ g là thỏa mañ thú đam mê đào bới để lý giải những điề u chưa từng
đươc̣ ai biế t đế n. Ngay khi chúng tìm thấy một thế giới kỳ dị dưới lòng đất,
hai đứa trẻ cũng phát hiện ra một sự thật kỳ bí và kinh hoàng – một sự thật
mà có thể lấy đi cả mạng sống của chúng…
Những người dưới lòng đất rất căm ghét người Trần-gian, tức dân trên mặt
đất. Xã hội dưới lòng đấ t cũng phân chia giai cấp nặng nề và nhiều định
kiến dã man. Dưới lòng đất, có các vùng đất khác nhau như Thuộc địa, Âm
Phủ, Địa Ngục, Thành phố Vĩnh viễn, trong đó Âm Phủ và Địa Ngục là nơi
lưu đầy những người phạm tội trong điều kiện sống khủng khiếp…
Âm Phủ, tập đầu tiên trong series Tunnels, series truyện thám hiểm hấp
dẫn và kỳ thú mới nhất được đánh giá có thể tiếp nối thành công công của
Harry Potter
Một thế giới thù hận đang phục sẵn đâu đó bên cạnh thế giới ta đang sống?
Hay đó thật ra là nơi ta đang sống mà chính ta, một lần ngẫu nhiên trong
đời, bàng hoàng nhận ra mình đang sống đầy bất trắc. Cậu bé 14 tuổi Will
Burrows và người bạn Chester trong cuốn Âm phủ tìm kiếm gì dưới lòng
đất nếu như nơi đó không mở ra một thế giới mênh mông chưa biết điểm
dừng, nơi “ngày xưa đó là nhà của tất cả chúng ta”.
Cái cội nguồn vẫy gọi đứa trẻ bạch tạng hóa ra có thật, với một gia đình
gốc đợi nó dưới một nơi chốn kỳ dị, với những cái tên cổ xưa và tiện nghi
lùi lại cả thế kỷ.
Bằng những giả định rất có lý, Âm phủ mặc dù được so sánh với Harry
Potter, nhưng lại tràn ngập nỗi bâng khuâng của con người trước các dấu
hiệu lịch sử bí ẩn như kiểu Mật mã Da Vinci. Cuốn sách ăn khách của hai
tác giả R. Gordon và B. Williams lại mở ra một nước Anh khác, có những
kết nối bí hiểm với thế giới lòng đất làm người đọc ngạc nhiên vì trí tưởng
tượng mở ra vô tận như những mê cung ngầm có những cái tên vừa rùng
rợn, vừa gây tò mò: Âm phủ, Cõi sâu, Thành phố Vĩnh Viễn.
Khác lạ mà giống như cuộc đời nào đó đã có, lũ trẻ gặp những nguy hiểm
bất lường, những kẻ ác hiểm độc, những người tốt thô nhám. Lòng đất tăm
tối nhưng lại sáng rực nhờ những ngọn đèn bí ẩn, và lũ trẻ có đến đích
được hay không là nhờ vào thứ ánh sáng của lòng tin mãnh liệt.
"Âm Phủ" là tập đầu tiên trong series Tunnels của 2 tác giả Roderick
Gordon và Brian Williams.
"Âm phủ" tập đầu tiên được xuất bản ngày 3/7/2007, bản dịch tiếng Việt
được phát hành trên toàn quốc ngày 24/8 vừa qua. Phần 2 và phần 3 của
seri truyện lần lượt là "Deeper" xuất bản ngày 22/5/2008, "Freefall" xuất
bản ngày 18/5/2009.
Âm Phủ (Tunnels) là tập đầu của bộ sách nổi tiếng của hai tác giả người
Anh Rodorick Gordon và Brian Williams, các tâ ̣p còn la ̣i có tên (Deeper
– ta ̣m dich:
̣ Cõi Sâu; Freefall- ta ̣m dich
̣ : Rơi tự do). Âm Phủ là điểm đến
của những đứa trẻ ưa mạo hiểm, dũng cảm và sống chết vì nhau.
Từ khi ra đời, Tunnels (Âm phủ) đã liên tiếp giành giải thưởng và lọt vào
top những cuốn sách hay nhất và bán chạy nhất ở Mỹ, Séc, Rumani, Bồ
Đào Nha, Litva, Pháp... và được phát hành thành manga ở Nhật (cuốn 1
vào tháng 6.2009). Thử so sánh một chút giữa Âm Phủ và Harry Potter, ta
thấy, Hary Potter tập 1 ra ngày 30.6.1997, đến tháng 3.1999, thì bán được
300.000 bản sau 21 tháng. Âm Phủ tập 1 ra ngày 3.7.2007, đến tháng
2.2008, bán được 100.000 bản sau 7 tháng. Như vậy, Âm Phủ mất 7 tháng
để thu về 100.000 bản, trong khi để có 300.000 bản, Harry Potter tập 1
cũng đã mất 21 tháng, 1 tỉ lệ tương đương. Chắc chắn, Âm Phủ phải chứa
đựng những điều kỳ thú đặc biệt mới có thể lôi cuốn độc giả với một lượng
bán ra “khủng” như thế!
Về tác giả Roderick Gordon (trái) & Brian Williams:
RoderickGordon sinh ra, lớn lên và học đại học
ở Luân Đôn – nơi ông đọc những cuốn sách sinh
vật và dành nhiều thời gian cho các hoạt động
phong phú của giới sinh viên cũng với người bạn
viết văn của mình sau này – Brrian Williams.
Ông làm trong một công ty tài chính của thành
phố cho đến năm 2001. Hiện nay, Roderick và
gia đình của mình đã chuyển từ London đến phía
bắc Norfolk.
Brian Williams lớn lên ở Zambia và cùng gia đình chuyển đến Liverfool
những năm 70. Thời sinh viên, ông học trong một trường về nghệ thuật và
sau khi tốt nghiệp, ông tiếp tục vẽ, viết văn và làm phim. Ông hiện sống ở
Harley.
ĐỂ TƯỞNG NHỚ
ELIZABETH OKE GORDON
1837-1919
Cái gì không biết thì đáng ngờ.
Vô danh
Phần Một:Vỡ Đất
Chương Một
PHẬP! Lưỡi cuốc chim bổ vào những mảng tường đất, chạm phải vật rắn
vô hình nào đó, nháng lửa, rồi cắm sâu và lớp đất sét. Cái cuốc vang lên
một tiếng phập ngán ngẩm, rồi dừng lại.
- Chắc là nó đấy, Will à.
Tiến sĩ Burrows bò tới trước trong đường hầm chật cứng. Trong không
gian tù túng, ông vã mồ hôi, thở hồng hộc, bắt đầu cào xới lớp đất một
cách nóng nảy, hơi thở thoát ra đặc quánh trong không khí ẩm ướt.
Dưới quầng sáng kết hợp từ hai ngọn đèn pha gắn trên mũ bảo hộ của hai
cha con, mỗi bụm đất được cào xới ra để lộ rõ hơn sàn ván gỗ cũ kỹ bên
dưới, bày ra bề mặt nứt nẻ với các vân gỗ được tráng hắc ín.
- Đưa cho ba cái xà beng.
Will lục lọi trong cái túi đeo lưng, tìm được một cây xà beng cùn ngắn
củn, đưa cho ba nó. Ông đang chăm chú nhìn vào mảng gỗ trước mặt. Cố
chèn đầu dẹt của cây xà beng vào giữa hai mảnh ván, tiến sĩ Burrows
nghiến răng khi đè hết trọng lượng của cơ thể mình lên cái cán xà beng để
tạo lực đòn bẩy. Rồi ông bắt đầu nạy từ mép này đến mép kia. Mấy mảnh
ván kêu kèn kẹt, rên rỉ kháng cự lại những khớp lắp ghép gỉ sét, cho tới khi
mảnh ván hết chịu nổi, vồng lên, rồi bục ra trong một tiếng kêu rắc rõ to.
Will hơi lùi lại khi một luồng gió nhẹ ẩm lạnh thoát ra từ lỗ hổng mà tiến
sĩ Burrows vừa tạo nên.
Hai cha con hối hả rút thêm mấy mảnh ván nữa ra khỏi sàn, để lộ một lỗ hở
rộng bằng bề ngang vai người, rồi dừng tay một lát trong im lặng. Cha và
con quay đầu nhìn nhau, trao đổi một nụ cười thoáng qua đầy bí ẩn. Gương
mặt của người này lờ mờ trong ánh sáng rọi ra từ chiếc đèn pha trên mũ
của người kia, bê bết dấu vết cuộc vật lộn với bùn đất.
Hai người quay lại cái lỗ chăm chú nhìn những hạt bụi lơ lửng như những
hạt kim cương tí ti, tựu rồi tan rồi tựu lại thành những chòm sao không tên
trên nền tối như đêm của lỗ hổng.
Tiến sĩ Burrows thận trọng chồm qua khoảng trống. Will ép người bên
cạnh cha để nhìn ké qua vai ông. Khi ánh sáng đèn pha rọi vào hố, một bức
tường lát gạch hiện ra rất rõ. Đèn pha của họ rọi xuống sâu hơn, quét qua
mấy tấm áp phích cũ đã long hồ ở góc, sút ra và phất phơ nhè nhẹ, như tua
rong biển bị kẹt giữa những dòng chảy mạnh dưới đáy đại dương. Will hơi
ngẩng đầu lên một chút, để ánh sáng đèn pha quyets xa hơn, cho tới khi nó
bắt gặp một biểu tượng tráng men. Tiến sĩ Burrows dõi theo ánh đèn của
con trai cho đến khi ánh sáng hai ngọn đèn pha của họ trùng nhau để soi tỏ
cái tên trên biểu tượng.
- Highfield & Crossly North! Đúng là nó rồi, Will, đúng là nó! Chúng ta
đã phát hiện ra nó!
Tiếng nói hồ hởi của tiến sĩ Burrows vang vọng trong khoảng không giới
hạn ẩm ướt của ga xe lửa bỏ hoang. Hai cha con cảm thấy một làn gió nhẹ
thoảng qua mặt họ như thể có cái gì đó thổi dọc sân ga, xuôi xuống đường
ray, như thể cái đó bị kinh hoảng bấn loạn vì sự đột nhập thô bạo vào hầm
mộ bị đóng kín và lãng quên sau hàng bao nhiêu năm trời này.
Will đá loạn xị vào mấy sớ gỗ chân đế của chỗ thủng, làm những mảnh vụ
gỗ ván mục bắn tung toé, cho tới khi cái sàn dưới chân nó bỗng dưng trượt
đi và banh ra thành một cái hang. Nó bò qua khoảng trống, vớ theo cái
xẻng. Tiến sĩ lập tức đuổi theo sau. Hai cha con gây ra mấy tiếng răng rắc
khi vượt được mấy bước trên bề mặt rắn chắc của sân ga, tiếng chân họ
vang vọng, ngọn đèn pha trên mũ họ soi những luồng sáng vào cõi mù mờ
chung quanh.
Mạng nhện giăng chằng chịt trên nóc và tiến sĩ Burrows thổi phù phù khi
một cái mạng nhện báo vào mặt. Khi ông nhìn quanh, ánh đèn pha của ông
chiếu qua đứa con trai, một hình ảnh kỳ lạ của một mớ tóc trắng như rơm
bị tẩy màu xù ra dưới cái mũ thợ mỏ đã cũ kỹ bầm dập, hai con mắt xanh
nhạt của nó nhấp nhá sáng niềm say mê khi nó chớp mắt nhìn vào bóng tối.
Khó miêu tả được áo quần của Will, đại khái quần áo của nó có vẻ nhoè
nhoẹt với đất sét bết vào khắp người nó, lên đến tận cổ, khiến nó giống như
một bức tượng của một nhà điêu khắc được phả cho sự sống một cách
huyền bí.
Còn tiến sĩ Burrows là một người đàn ông dẻo dai có chiều cao trung bình
– người ta không thể miêu tả là ông cao, mà cũng không thể nói là ông lùn,
đại khái là tầm thước. Mặt ông tròn trịa, đôi mắt nâu sáng trông càng sắc
sảo nhờ đôi kính có tròng thạch anh và gọng vàng.
- Nhìn lên kia kìa, Will, nhìn cái đó!
Ông nói, đồng thời ánh đèn của ông soi vào một biển hiệu gắn trên cái lỗ
trống mà hai cha con vừa chui vào. Cái biển ghi bằng chữ đen to đùng:
LỐI RA. Hai cha con bật đèn soi cầm tay, và chùm ánh sáng kết hợp với
ánh đèn yếu hơn gắn trên mũ cối xuyên thủng bóng tối để lộ nguyên ra một
sân ga đầy đủ. Rễ cây lòng thòng dưới nóc, tường thì loang lổ từng mảng
và vằn vện những sọc vôi bạc phếu ở những nơi kẽ nứt ngấm hơi ẩm. Hai
cha con còn nghe thấy tiếng nước chảy ở đâu đó xa xa.
Với vẻ đắc thắng tự thưởng, Tiến sĩ Burrows nói :
- Con thấy phát hiện này sao? Thử nghĩ coi, chưa từng một người nào từng
đặt chân xuống đây kể từ khi tuyến đường Highfield được làm vào năm
1895.
Hai cha con đã đi tới đoạn cuối sân ga, tiến sĩ Burrows lúc này đang chiếu
đèn soi vào khoảng trống của đường hầm xe lửa ở bên cạnh. Một đống
gạch và đất đá vụn đã bít miệng đường hầm. Tiến sĩ Burrows nói:
- Đầu kia cũng sẽ giống như vậy thôi - ắt là người ta đã bít cả hai đường
hầm.
Khi hai cha con vạch đường đi dài theo sân ga chăm chú nhìn mấy bức
tường, họ chỉ có thể nhận ra mấy mảnh gạch lát màu kem có cạnh màu xanh
đen bị rạn nứt lung tung. Cứ cách khoảng ba thước thì nhô cao lên một
ngọn đèn khí, trên chụp đèn bằng kính vẫn còn những con số.
Will kêu lên:
- Ba! Ba ơi, lại đây! Ba thấy mấy áp phích này chưa? Còn đọc được đó.
Con đoán mấy tấm áp-phích này quảng cáo về đất đai hay gì đó. Tấm này
còn rõ nè…Gánh xiếc của Wilkinson…sẽ diễn ra tại sân Cộng Đồng…
ngày 10 tháng 2 năm 1895. Có một tấm hình kìa.
Nó nói hụt hơi trong lúc ba nó đến đứng bên cạnh cùng xem. Tấm áp-phích
được nước chừa ra không bị làm hỏng, và hai cha con có thể nhận ra màu
sắc nguyên thuỷ của con quay to màu đỏ và người đàn ông mặc đồ xanh đội
mũ ống cao đứng phía trước. Will nói:
- Coi cái này nữa nè. Quá mập ư? Hãy dùng thuốc viên thanh lịch của bác
sĩ Gordon!
Một nét vẽ thô kệch miêu tả một ông béo tốt phục phịch có bộ râu quai nón
đang cầm một chai thuốc nhỏ.
Hai cha con đi thêm một đoạn nữa, bước vòng qua một núi xà bần đổ
xuống sàn từ cái cổng tò vò. Tiến sĩ Burrows bảo con trai:
- Lối đó ắt là dẫn tới một sân ga khác.
Cả hai ngừng bước để ngắm một cái băng ghế bằng sắt có chậm trổ trang
trí.
- Cái này mà để trong vườn thì đẹp lắm. Nó chỉ cần chà sạch và sơn vài
nước lên cho láng lẩy.
Tiến sĩ Burrows lẩm bẩm trong lúc Will rọi đèn soi vào một của gỗ khuất
trong bóng tối. Nó nhìn đăm đăm cánh cửa hỏi:
- Ba à, trong bản thiết kế của ba có một văn phòng hay cái gì như vậy
không?
- Một văn phòng hả?
Tiến sĩ Burrows đáp, vừa lục lọi các túi áo cho đến khi lấy được ra tấm
giấy mà ông tìm.
- Để ba coi lại.
Will không đợi câu trả lời, đẩy vào cánh cửa. Cửa đóng chặt. Tiến sĩ
nhanh chóng mất hết hứng thú với bản thiết kế, đi tới giúp con trai, cả hai
hè nhau kề vai đẩy cánh cửa mở ra.
Cửa bị kẹt cứng trong khung, nhưng hai cha con nỗ lực lần thứ ba thì cánh
cửa chịu thua. Nó bật mở, hai cha con té lăn kềnh vô phòng, liền sau đó bị
một trận xà bần vụn trút xuống đầu và vai.
Vừa ho vừa dụi bụi trong mắt, hai cha con vạch lối đi qua một rừng mạng
nhện. Will khẽ la lên:
- Oái!
Ngay giữa văn phòng nho nhỏ, hai cha con nhận ra một cái bàn giấy và một
cái ghế phủ đầy bụi. Will cẩn thận đi tới đằng sau cái ghế, và dùng bàn tay
đi găng phủ lớp bụi bám nhện giăng trên tường để lộ ra tấm bản đồ to đã
mờ của hệ thống đường xe lửa.
- Có thể là văn phòng của trưởng trạm.
Tiến sĩ Burrows vừa nói vừa lau bụi trên mặt bàn giấy bằng cánh tay, một
tấm giấy thấm lộ ra, bên cạnh đó là một vật thể nhỏ, xỉn màu vì thời gian, rỉ
chất gì xanh xanh trên mặt bàn.
- Tuyệt vời! Máy điện báo đường sắt, được chế tạo hết sức tinh xảo – ba
dám chắc nó làm bằng đồng.
Hai bức tường của căn phòng được kê kín những kệ hồ sơ chất đầy những
hộp bìa cứng đã mục. Will chọn một hộp ngẫu nhiên, bưng ra bàn thật
nhanh, như thể sợ cái hột vụn nát ngay trong tay nó. Nó nhấc lên một nắp
hộp méo mó, tò mò nhìn những tập vé cũ ở bên trong. Nó cầm một tập lên,
nhưng sợi dây thun cột bị bục đứt, khiến những mẩu vé vụn rơi lả ta khắp
mặt bàn.
Tiến sĩ Burrows nói :
- Vé trắng – người ta chưa in chúng.
- Đúng như ba nói!
Will xác nhận. Trong lúc nghiên cứu những tấm vé, nó không ngừng kinh
ngạc về kiến thức của ba mình. Nhưng tiến sĩ Burrows không còn để tai
nghe nó nữa. Ông đang quỳ xuống, kéo một vật gì đó nặng nề trên một cái
kệ thấp hơn. Vật đó được gói trong một miếng vải mục, khi ông chạm ta
vào thì nó đã rời ra. Khi Will ngoái lại để nhìn cái vật giống như một cái
máy đánh chữ cũ có một tay quay khổng lồ ở bên cạnh, Tiến sĩ Burrows
long trọng nói:
- Còn đây là một mẫu máy in cổ xưa. Hơi bị mòn, nhưng chúng ta có thể
đánh bóng lại nó.
- Để cho vô viện bảo tàng à?
- Không, cho vô bộ sưu tập của ba.
Tiến sĩ Burrows đáp. Ông ngập ngừng một chút, gương mặt ông lộ rõ vẻ
nghiêm chỉnh.
- Thế này, Will nhé: cha con mình không hé lộ cho bất cứ ai biết một lời
về chuyện này, không một lời nào cho bất cứ ai, con hiểu không?
- Dạ?
Will xoay hẳn người lại, hơi nhướng chân mày lên. Đâu có vẻ gì là cha nó
sẽ đi rao khắp nơi cái chuyện cha con nó chúi mũi đào bới mấy món đồ
linh tinh dưới lòng đất lúc rỗi hơi – mà chắc gì sẽ có ai thèm quan tâm tới.
Niềm say mê của hai cha con nó đối với những thứ bị chôn vùi và những
thứ chưa được khám phá ra là một điều cha con nó không chia sẻ với ai
hết, một kiểu khế ước khiến hai cha con nó gắn bó khăng khít với nhau.
Cả hai đứng trong văn phòng, ngọn đèn trên mũ người này soi tỏ ngương
mặt người kia. Bởi vì người con trai chưa đáp lời cha, tiến sĩ Burrows bèn
nhìn thẳng vào mắt con và nói tiếp:
- Ba có cần nhắc con nhớ chuyện gì xảy ra hồi năm ngoái về vụ biệt thự La
Mã không? Tay giáo sư lừng lẫy ấy xuất hiện, cướp công đào xới và chiếm
hết vinh quang. Chính ba là người đã khám phá ra chỗ đó, vậy mà ba được
gì? Một dòng ghi nhận tí ti bị vùi lấp bởi nỗ lực lớn lao chẳng phải của
hắn trong bài luận văn.
- Dạ, con nhớ.
Will đáp, nhớ lại cơn uất phẫn của cha nó và trận lôi đình bùng phát từ lần
đó.
- Muốn chuyện đó xảy ra lần nữa sao?
- Không, dĩ nhiên là không.
- Ừ lần này ba nhất định không chịu thân phận một ghi chú cuối trang sách
đâu. Ba không muốn ai biết về nơi này. Lần này không ai được phỗng tay
trên của ba vụ này. Con đồng ý không?
Will gập đầu đồng ý, khiến cho ánh đèn trên cái mũ của nó vọt lên vọt
xuống trên tường.
Tiến sĩ Burrows liếc nhìn đồng hồ đeo tay.
- Cha con mình phải trở về thôi.
- Dạ.
Will đáp giọng miễn cưỡng. cha nó nhận ra ngay cái giọng đó.
- Không có gì thực sự gấp gáp lắm, đúng không? Tối mai chúng ta sẽ dành
thời gian thám hiểm phần còn lại.
- Dạ, con thấy cũng được.
Will đáp vẻ không nhiệt tình lắm trong lúc đi về phía cửa.
Tiến sĩ Burrows thân mật vỗ vỗ lên cái mũ bảo hộ của con trai khi hai cha
con ra khỏi văn phòng.
- Will à, ba phải nói đây là một phát hiện đáng đồng tiền. Suốt mấy tháng
trời đào xới cũng bõ công, đúng không?
Hai cha con đã tới lỗ trống, và sau khi nhìn lại lần cuối sân ga, cả hai trèo
trở lại đường hầm. Được khoảng sáu thước thì đường hầm mở ra đủ rộng
để hai cha con sóng bước cạnh nhau. Nếu tiến sĩ Burrows cúi xuống một tí
thì đường hầm đủ cao cho ông đứng người lên. Ông xem xét những súc gỗ
trên đầu và tuyên bố:
- Chúng ta cần phải tăng cường gấp đôi các thanh giằng và trụ chống. Thay
vì cách mỗi mét một, thì như chúng ta vừa bàn, sẽ phải hai cho mỗi mét.
- Dạ, không thành vấn đề đâu ba.
Will cam đoan với cha nó, giọng không thuyết phục lắm. Tiến sĩ Burrows
dùng giầy ống đá hất đống đất sét nằm trên sàn của đường hầm, nói tiếp:
- Và chúng ta cần vận chuyển đống này đi chỗ khác. Ta đâu có muốn bị
dính nhèm nhẹp dưới này, đúng không nào?
- Dạ, không.
Will đáp yếu ớt, không thực tâm nó có ý định làm gì hết. Nỗi hào hứng
khám phá thuần tuý của nó thường đưa tới kết quả là coi thường những
nguyên tắc an toàn mà cha nó đề ra. Niềm say mê của nó là đào, và đầu óc
của nó chẳng bận tâm chút gì cho cái chuyện mất thì giờ là “dọn dẹp” như
tiến sĩ Burrows đang đặt ra. Với lại đằng nào đi nữa thì hiếm hoi lắm cha
nó mới xung phong giúp nó cuốc với đào, ông thường xuất hiện khi nó đã
bày xong mâm cỗ.
Tiến sĩ Burrows lơ đãng huýt sáo qua kẽ răng trong lúc chậm bước lại để
xem xét một đống ván gỗ và một tháp xô chậu chất chồng lên nhau gọn ghẽ.
Hai cha con đi tiếp đường hầm theo đà lên dốc, tiến sĩ Burrows dừng
bước nhiều lần nữa để kiểm tra những trụ chống bằng gỗ ở hai bên vách.
Ông dùng bàn tay vỗ lên chúng, khi ông làm vậy, tiếng huýt sáo vu vơ của
ông cất lên cao tông thành một thứ tiếng ré eng éc không ai khác phát ra
được.
Cuối cùng lối đi trở nên bằng phẳng và rộng ra thành một căn phòng lớn
hơn, trong phòng có một cái bàn thô và hai cái ghế bành ngó thấy thảm
thương. Hai cha con liệng một mớ dụng cụ của mình lên bàn, rồi trèo nốt
đoạn cuối con đường hầm để tới lối ra vào.
Đúng kíp khi đồng hồ thành phố gõ xong bảy tiếng, ở một góc trong bãi đậu
xe quảng trường Temperance, một miếng tôn lắp ghép trên mặt đất được
nhấc lên vài xăng-ti-mét. Trời lúc đó chớm thu, mặt trời vừa chạm đường
chân trời, hai cha con yên chí bên ngoài vắng vẻ an toàn, bèn đẩy tấm tôn
ra, để lộ một cái lỗ to trên mặt đất, miệng lỗ viền khung gỗ. Hai người nhô
đầu lên một tí, nhìn quanh quất, kiểm tra lần nữa để yên chí là không có ai
trong bãi đậu xe, rồi mới trèo ra khỏi lỗ. Sau khi đậy lại tấm tôn che kín
lối ra vào, Will gạt bụi đất lên tấm tôn để nguỵ trang.
Một làn gió nhẹ thổi xào xạc qua hàng rào quanh bãi đậu xe. Một tờ báo bị
gió cuốn tròn trên mặt đất, được đà tung những ruột báo xung quanh như
những trái lông chông. Mặt trời dần khuất, trải bóng hoàng hôn lên khắp
khu nhà kho xung quanh và hắt lên bề mặt lát gạch đỏ của khu cư xá
Peabody. Hai cha con nhà Burrows ung dung rời khỏi bãi đậu xe, dáng vẻ
y chang hai kẻ truy tìm kho báu đã để lại kho tàng dưới chân đồi mà về
thành phố.
Chương Hai
Phía bên kia Highfield, ông Terry Watkins, hay còn được đồng nghiệp gọi
là “Tel xe ben”, đang mặc quần ngủ đứng đánh răng trước tấm gương trong
buồng tắm. Ông đã oải lắm rồi và chỉ mong ngủ một giấc thiệt ngon, nhưng
đầu óc ông sao cứ quay cuồng vì những điều ông đã thấy hồi chiều.
Hôm nay đúng là một ngày dài vất vả. Ông và đội dọn quang đã ủi sập
xưởng chì trắng cổ lỗ sĩ để lấy chỗ xây khu nhà văn phòng cho ban ngành
sở nhà nước hay gì đó. Ông chẳng mong gì hơn được về nhà, nhưng ông lại
đã hứa với sếp là sẽ lấy lên vài mẫu gạch dưới tầng hầm để thử làm một
bản đánh giá tầm cỡ của các nền tầng ở đó. Công ty của ông không thể
kham nổi mức quá lố của hợp đồng, mà mấy tòa nhà cổ như vầy thường có
nguy cơ đẻ lố công việc.
Trong lúc ngọn đèn pha xách tay rọi sáng từ sau lưng, ông đã vung búa đập
bể những viên gạch xưa chế tạo thủ công, gạch bể lòi ra phần bên trong đỏ
au không khác gì những con vật bị moi ruột. Ông vung búa lên lần nữa,
mảnh vụn văng tứ tán và rớt xuống sàn tầm hầm đen thui bồ hóng. Ông lầu
bầu chửi thầm vì cả cái tầng hầm này được xây dựng quá ư kiên cố.
Sau vài trận lôi phong, ông dừng tay chờ cho đám bụi gạch mờ mịt lắng
xuống. Ông ngạc nhiên hết sức khi nhận ra nguyên mảnh tường ông đục phá
nãy giờ chỉ mới là một lớp gạch mặt ngoài mà thôi. Lẽ ra bên trong là lớp
gạch thứ hai, thứ ba, thì lại là một tấm sắt thô cũ kỹ. Ông đập cho tấm sắt
vài búa, mỗi búa dội lại một tiếng vang rền chắc nịch. Tấm sắt không dễ gì
bị bung ra. Ông thở hồng hộc, dập vụn nát mớ gạch viền quanh mép tấm
kim loại vừa bị phát hiện, ngạc nhiên cực độ khi thấy tấm kim loại ấy có
bản lề, thậm chí có cả nắm đấm cửa chìm trên bề mặt.
Một cánh cửa.
Ông ngừng lại, thở hổn hển một lát trong lúc cố nghĩ ra xem tại sao ai đó
lại gắn cửa vào một nơi lẽ ra chỉ là móng nhà.
Tiếp theo ông phạm một sai lầm lớn nhất đời ông.
Ông dùng cái tua-vít để tháo nắm đấm cửa ra. Một vòng sắt chế tạo công
phu, xoay được dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên, không cần cố gắng chút
nào. Ông đá một cú nhẹ bằng mũi giày bảo hộ lao động và cánh cửa bung
mở về hướng trong, áp vào mặt tường bên kia, gây ra một âm thanh ngân
vang tưởng như không bao giờ dứt. Ông lấy cây đèn pin ra và rọi vào bóng
tối như hũ nút bên trong căn phòng. Ông có thể thấy nó rộng ít nhất cỡ sáu
thước, và thực ra thì căn phòng hình tròn.
Ông đi qua cửa, đặt chân lên nền đá bên trong. Nhưng ông vừa đi bước thứ
hai thì sàn đá biến mất và bàn chân của ông chạm được cái gì ngoài không
khí. Một cú rơi! Ông chới với ngay trên mép, hai cánh tay ông quơ quào
loạn xạ cho đến khi ông giữ được thăng bằng và lùi ra khỏi miệng vực.
Ông ngã tựa vào thanh dọc khung cửa và bám vào đó, hít lấy mấy hơi thở
thật sâu để thần kinh ổn định lại, và tự nguyền rủa cái thói ẩu tả của mình.
Ông nói lớn, buộc mình tỉnh táo lại:
- Thôi nghe, vụ này không xong đâu!
Ông quay lại, từ từ nhích tới trước, ngọn đèn trong tay ông soi thấy thực ra
ông đang đứng trên một gờ tường, bên ngoài gờ là một khoảng không đen
hù đáng sợ. Ông hơi chồm tới, thử nhìn coi bên dưới là cái gì – có vẻ như
khối đen ấy không có đáy. Ông đã bước vào một miệng giếng xây bằng
gạch khổng lồ. Mà khi nhìn lên ông cũng chẳng thấy có nóc đâu cả - thành
giếng bằng gạch cong cong vươn lên mất hút vào bóng tối, ánh sáng từ
ngọn đèn của ông không rọi tới được. Một làn gió mạnh dường như thổi từ
trên xuống, khiến mồ hôi sau gáy ông lạnh giá.
Xoay ngọn đèn rọi chung quanh, ông nhận thấy có những b
[Tunnel 1]
Tác Giả: Roderick Gordon, Brian Williams
Thể Loại: Giả Tưởng, Thám Hiểm, Kỳ Dị
Dịch Giả: Lý Lan
Nhà xuất bản: Trẻ
Nguồn: e-thuvien.com
Chụp hình và quản lý dự án: Hoàng Liêm
Đánh máy: voxuanlanh1990, oh_bon, astrologic, Đặng Luân, fujuko,
haduyen, thanhtam921992, cockroach, trinhnguyen123, Hoàng Liêm
Soát lỗi chính tả: Hoàng Liêm
Ebook: daotieuvu.blogspot.com
Ebook được blog Đào Tiểu Vũ hoàn thành với mục đích phi thương
mại, nhằm chia sẻ với những bạn ở xa hoặc không có điều kiện mua
sách, khi sao lưu xin ghi rõ nguồn.
Trong điều kiện có thể bạn hãy mua sách để ủng hộ nhà xuất bản và tác
giả.
Giới Thiệu:
Có bao giờ bạn tưởng tượng rằng:
… Cha của bạn đột ngột mất tích
Và… Chính bạn phải tìm cách giải cứu cha ra khỏi thế giới tăm tối, đầy
rẫy những điều hắc ám đang diễn ra?
Nhưng
Bạn phát hiện bạn thuộc về thế giới đó…
Nhân vâ ̣t chı́nh của truyê ̣n, Will Burrows là một đứa trẻ 14 tuổi sống cùng
gia đình ở London. Cậu bé có rấ t ı́t điể m chung với mọi người trong nhà
trừ niềm đam mê đào bới khảo cổ với cha mình – một tiến sĩ cổ vật không
gặp thời.
Khi người cha đột nhiên biến mất, Will cùng người ba ̣n là Chester quyết
định lần theo mô ̣t đường hầ m bı́ mâ ̣t để tı̀m tung tı́ch cha mı̀nh, đồ ng thời
cuñ g là thỏa mañ thú đam mê đào bới để lý giải những điề u chưa từng
đươc̣ ai biế t đế n. Ngay khi chúng tìm thấy một thế giới kỳ dị dưới lòng đất,
hai đứa trẻ cũng phát hiện ra một sự thật kỳ bí và kinh hoàng – một sự thật
mà có thể lấy đi cả mạng sống của chúng…
Những người dưới lòng đất rất căm ghét người Trần-gian, tức dân trên mặt
đất. Xã hội dưới lòng đấ t cũng phân chia giai cấp nặng nề và nhiều định
kiến dã man. Dưới lòng đất, có các vùng đất khác nhau như Thuộc địa, Âm
Phủ, Địa Ngục, Thành phố Vĩnh viễn, trong đó Âm Phủ và Địa Ngục là nơi
lưu đầy những người phạm tội trong điều kiện sống khủng khiếp…
Âm Phủ, tập đầu tiên trong series Tunnels, series truyện thám hiểm hấp
dẫn và kỳ thú mới nhất được đánh giá có thể tiếp nối thành công công của
Harry Potter
Một thế giới thù hận đang phục sẵn đâu đó bên cạnh thế giới ta đang sống?
Hay đó thật ra là nơi ta đang sống mà chính ta, một lần ngẫu nhiên trong
đời, bàng hoàng nhận ra mình đang sống đầy bất trắc. Cậu bé 14 tuổi Will
Burrows và người bạn Chester trong cuốn Âm phủ tìm kiếm gì dưới lòng
đất nếu như nơi đó không mở ra một thế giới mênh mông chưa biết điểm
dừng, nơi “ngày xưa đó là nhà của tất cả chúng ta”.
Cái cội nguồn vẫy gọi đứa trẻ bạch tạng hóa ra có thật, với một gia đình
gốc đợi nó dưới một nơi chốn kỳ dị, với những cái tên cổ xưa và tiện nghi
lùi lại cả thế kỷ.
Bằng những giả định rất có lý, Âm phủ mặc dù được so sánh với Harry
Potter, nhưng lại tràn ngập nỗi bâng khuâng của con người trước các dấu
hiệu lịch sử bí ẩn như kiểu Mật mã Da Vinci. Cuốn sách ăn khách của hai
tác giả R. Gordon và B. Williams lại mở ra một nước Anh khác, có những
kết nối bí hiểm với thế giới lòng đất làm người đọc ngạc nhiên vì trí tưởng
tượng mở ra vô tận như những mê cung ngầm có những cái tên vừa rùng
rợn, vừa gây tò mò: Âm phủ, Cõi sâu, Thành phố Vĩnh Viễn.
Khác lạ mà giống như cuộc đời nào đó đã có, lũ trẻ gặp những nguy hiểm
bất lường, những kẻ ác hiểm độc, những người tốt thô nhám. Lòng đất tăm
tối nhưng lại sáng rực nhờ những ngọn đèn bí ẩn, và lũ trẻ có đến đích
được hay không là nhờ vào thứ ánh sáng của lòng tin mãnh liệt.
"Âm Phủ" là tập đầu tiên trong series Tunnels của 2 tác giả Roderick
Gordon và Brian Williams.
"Âm phủ" tập đầu tiên được xuất bản ngày 3/7/2007, bản dịch tiếng Việt
được phát hành trên toàn quốc ngày 24/8 vừa qua. Phần 2 và phần 3 của
seri truyện lần lượt là "Deeper" xuất bản ngày 22/5/2008, "Freefall" xuất
bản ngày 18/5/2009.
Âm Phủ (Tunnels) là tập đầu của bộ sách nổi tiếng của hai tác giả người
Anh Rodorick Gordon và Brian Williams, các tâ ̣p còn la ̣i có tên (Deeper
– ta ̣m dich:
̣ Cõi Sâu; Freefall- ta ̣m dich
̣ : Rơi tự do). Âm Phủ là điểm đến
của những đứa trẻ ưa mạo hiểm, dũng cảm và sống chết vì nhau.
Từ khi ra đời, Tunnels (Âm phủ) đã liên tiếp giành giải thưởng và lọt vào
top những cuốn sách hay nhất và bán chạy nhất ở Mỹ, Séc, Rumani, Bồ
Đào Nha, Litva, Pháp... và được phát hành thành manga ở Nhật (cuốn 1
vào tháng 6.2009). Thử so sánh một chút giữa Âm Phủ và Harry Potter, ta
thấy, Hary Potter tập 1 ra ngày 30.6.1997, đến tháng 3.1999, thì bán được
300.000 bản sau 21 tháng. Âm Phủ tập 1 ra ngày 3.7.2007, đến tháng
2.2008, bán được 100.000 bản sau 7 tháng. Như vậy, Âm Phủ mất 7 tháng
để thu về 100.000 bản, trong khi để có 300.000 bản, Harry Potter tập 1
cũng đã mất 21 tháng, 1 tỉ lệ tương đương. Chắc chắn, Âm Phủ phải chứa
đựng những điều kỳ thú đặc biệt mới có thể lôi cuốn độc giả với một lượng
bán ra “khủng” như thế!
Về tác giả Roderick Gordon (trái) & Brian Williams:
RoderickGordon sinh ra, lớn lên và học đại học
ở Luân Đôn – nơi ông đọc những cuốn sách sinh
vật và dành nhiều thời gian cho các hoạt động
phong phú của giới sinh viên cũng với người bạn
viết văn của mình sau này – Brrian Williams.
Ông làm trong một công ty tài chính của thành
phố cho đến năm 2001. Hiện nay, Roderick và
gia đình của mình đã chuyển từ London đến phía
bắc Norfolk.
Brian Williams lớn lên ở Zambia và cùng gia đình chuyển đến Liverfool
những năm 70. Thời sinh viên, ông học trong một trường về nghệ thuật và
sau khi tốt nghiệp, ông tiếp tục vẽ, viết văn và làm phim. Ông hiện sống ở
Harley.
ĐỂ TƯỞNG NHỚ
ELIZABETH OKE GORDON
1837-1919
Cái gì không biết thì đáng ngờ.
Vô danh
Phần Một:Vỡ Đất
Chương Một
PHẬP! Lưỡi cuốc chim bổ vào những mảng tường đất, chạm phải vật rắn
vô hình nào đó, nháng lửa, rồi cắm sâu và lớp đất sét. Cái cuốc vang lên
một tiếng phập ngán ngẩm, rồi dừng lại.
- Chắc là nó đấy, Will à.
Tiến sĩ Burrows bò tới trước trong đường hầm chật cứng. Trong không
gian tù túng, ông vã mồ hôi, thở hồng hộc, bắt đầu cào xới lớp đất một
cách nóng nảy, hơi thở thoát ra đặc quánh trong không khí ẩm ướt.
Dưới quầng sáng kết hợp từ hai ngọn đèn pha gắn trên mũ bảo hộ của hai
cha con, mỗi bụm đất được cào xới ra để lộ rõ hơn sàn ván gỗ cũ kỹ bên
dưới, bày ra bề mặt nứt nẻ với các vân gỗ được tráng hắc ín.
- Đưa cho ba cái xà beng.
Will lục lọi trong cái túi đeo lưng, tìm được một cây xà beng cùn ngắn
củn, đưa cho ba nó. Ông đang chăm chú nhìn vào mảng gỗ trước mặt. Cố
chèn đầu dẹt của cây xà beng vào giữa hai mảnh ván, tiến sĩ Burrows
nghiến răng khi đè hết trọng lượng của cơ thể mình lên cái cán xà beng để
tạo lực đòn bẩy. Rồi ông bắt đầu nạy từ mép này đến mép kia. Mấy mảnh
ván kêu kèn kẹt, rên rỉ kháng cự lại những khớp lắp ghép gỉ sét, cho tới khi
mảnh ván hết chịu nổi, vồng lên, rồi bục ra trong một tiếng kêu rắc rõ to.
Will hơi lùi lại khi một luồng gió nhẹ ẩm lạnh thoát ra từ lỗ hổng mà tiến
sĩ Burrows vừa tạo nên.
Hai cha con hối hả rút thêm mấy mảnh ván nữa ra khỏi sàn, để lộ một lỗ hở
rộng bằng bề ngang vai người, rồi dừng tay một lát trong im lặng. Cha và
con quay đầu nhìn nhau, trao đổi một nụ cười thoáng qua đầy bí ẩn. Gương
mặt của người này lờ mờ trong ánh sáng rọi ra từ chiếc đèn pha trên mũ
của người kia, bê bết dấu vết cuộc vật lộn với bùn đất.
Hai người quay lại cái lỗ chăm chú nhìn những hạt bụi lơ lửng như những
hạt kim cương tí ti, tựu rồi tan rồi tựu lại thành những chòm sao không tên
trên nền tối như đêm của lỗ hổng.
Tiến sĩ Burrows thận trọng chồm qua khoảng trống. Will ép người bên
cạnh cha để nhìn ké qua vai ông. Khi ánh sáng đèn pha rọi vào hố, một bức
tường lát gạch hiện ra rất rõ. Đèn pha của họ rọi xuống sâu hơn, quét qua
mấy tấm áp phích cũ đã long hồ ở góc, sút ra và phất phơ nhè nhẹ, như tua
rong biển bị kẹt giữa những dòng chảy mạnh dưới đáy đại dương. Will hơi
ngẩng đầu lên một chút, để ánh sáng đèn pha quyets xa hơn, cho tới khi nó
bắt gặp một biểu tượng tráng men. Tiến sĩ Burrows dõi theo ánh đèn của
con trai cho đến khi ánh sáng hai ngọn đèn pha của họ trùng nhau để soi tỏ
cái tên trên biểu tượng.
- Highfield & Crossly North! Đúng là nó rồi, Will, đúng là nó! Chúng ta
đã phát hiện ra nó!
Tiếng nói hồ hởi của tiến sĩ Burrows vang vọng trong khoảng không giới
hạn ẩm ướt của ga xe lửa bỏ hoang. Hai cha con cảm thấy một làn gió nhẹ
thoảng qua mặt họ như thể có cái gì đó thổi dọc sân ga, xuôi xuống đường
ray, như thể cái đó bị kinh hoảng bấn loạn vì sự đột nhập thô bạo vào hầm
mộ bị đóng kín và lãng quên sau hàng bao nhiêu năm trời này.
Will đá loạn xị vào mấy sớ gỗ chân đế của chỗ thủng, làm những mảnh vụ
gỗ ván mục bắn tung toé, cho tới khi cái sàn dưới chân nó bỗng dưng trượt
đi và banh ra thành một cái hang. Nó bò qua khoảng trống, vớ theo cái
xẻng. Tiến sĩ lập tức đuổi theo sau. Hai cha con gây ra mấy tiếng răng rắc
khi vượt được mấy bước trên bề mặt rắn chắc của sân ga, tiếng chân họ
vang vọng, ngọn đèn pha trên mũ họ soi những luồng sáng vào cõi mù mờ
chung quanh.
Mạng nhện giăng chằng chịt trên nóc và tiến sĩ Burrows thổi phù phù khi
một cái mạng nhện báo vào mặt. Khi ông nhìn quanh, ánh đèn pha của ông
chiếu qua đứa con trai, một hình ảnh kỳ lạ của một mớ tóc trắng như rơm
bị tẩy màu xù ra dưới cái mũ thợ mỏ đã cũ kỹ bầm dập, hai con mắt xanh
nhạt của nó nhấp nhá sáng niềm say mê khi nó chớp mắt nhìn vào bóng tối.
Khó miêu tả được áo quần của Will, đại khái quần áo của nó có vẻ nhoè
nhoẹt với đất sét bết vào khắp người nó, lên đến tận cổ, khiến nó giống như
một bức tượng của một nhà điêu khắc được phả cho sự sống một cách
huyền bí.
Còn tiến sĩ Burrows là một người đàn ông dẻo dai có chiều cao trung bình
– người ta không thể miêu tả là ông cao, mà cũng không thể nói là ông lùn,
đại khái là tầm thước. Mặt ông tròn trịa, đôi mắt nâu sáng trông càng sắc
sảo nhờ đôi kính có tròng thạch anh và gọng vàng.
- Nhìn lên kia kìa, Will, nhìn cái đó!
Ông nói, đồng thời ánh đèn của ông soi vào một biển hiệu gắn trên cái lỗ
trống mà hai cha con vừa chui vào. Cái biển ghi bằng chữ đen to đùng:
LỐI RA. Hai cha con bật đèn soi cầm tay, và chùm ánh sáng kết hợp với
ánh đèn yếu hơn gắn trên mũ cối xuyên thủng bóng tối để lộ nguyên ra một
sân ga đầy đủ. Rễ cây lòng thòng dưới nóc, tường thì loang lổ từng mảng
và vằn vện những sọc vôi bạc phếu ở những nơi kẽ nứt ngấm hơi ẩm. Hai
cha con còn nghe thấy tiếng nước chảy ở đâu đó xa xa.
Với vẻ đắc thắng tự thưởng, Tiến sĩ Burrows nói :
- Con thấy phát hiện này sao? Thử nghĩ coi, chưa từng một người nào từng
đặt chân xuống đây kể từ khi tuyến đường Highfield được làm vào năm
1895.
Hai cha con đã đi tới đoạn cuối sân ga, tiến sĩ Burrows lúc này đang chiếu
đèn soi vào khoảng trống của đường hầm xe lửa ở bên cạnh. Một đống
gạch và đất đá vụn đã bít miệng đường hầm. Tiến sĩ Burrows nói:
- Đầu kia cũng sẽ giống như vậy thôi - ắt là người ta đã bít cả hai đường
hầm.
Khi hai cha con vạch đường đi dài theo sân ga chăm chú nhìn mấy bức
tường, họ chỉ có thể nhận ra mấy mảnh gạch lát màu kem có cạnh màu xanh
đen bị rạn nứt lung tung. Cứ cách khoảng ba thước thì nhô cao lên một
ngọn đèn khí, trên chụp đèn bằng kính vẫn còn những con số.
Will kêu lên:
- Ba! Ba ơi, lại đây! Ba thấy mấy áp phích này chưa? Còn đọc được đó.
Con đoán mấy tấm áp-phích này quảng cáo về đất đai hay gì đó. Tấm này
còn rõ nè…Gánh xiếc của Wilkinson…sẽ diễn ra tại sân Cộng Đồng…
ngày 10 tháng 2 năm 1895. Có một tấm hình kìa.
Nó nói hụt hơi trong lúc ba nó đến đứng bên cạnh cùng xem. Tấm áp-phích
được nước chừa ra không bị làm hỏng, và hai cha con có thể nhận ra màu
sắc nguyên thuỷ của con quay to màu đỏ và người đàn ông mặc đồ xanh đội
mũ ống cao đứng phía trước. Will nói:
- Coi cái này nữa nè. Quá mập ư? Hãy dùng thuốc viên thanh lịch của bác
sĩ Gordon!
Một nét vẽ thô kệch miêu tả một ông béo tốt phục phịch có bộ râu quai nón
đang cầm một chai thuốc nhỏ.
Hai cha con đi thêm một đoạn nữa, bước vòng qua một núi xà bần đổ
xuống sàn từ cái cổng tò vò. Tiến sĩ Burrows bảo con trai:
- Lối đó ắt là dẫn tới một sân ga khác.
Cả hai ngừng bước để ngắm một cái băng ghế bằng sắt có chậm trổ trang
trí.
- Cái này mà để trong vườn thì đẹp lắm. Nó chỉ cần chà sạch và sơn vài
nước lên cho láng lẩy.
Tiến sĩ Burrows lẩm bẩm trong lúc Will rọi đèn soi vào một của gỗ khuất
trong bóng tối. Nó nhìn đăm đăm cánh cửa hỏi:
- Ba à, trong bản thiết kế của ba có một văn phòng hay cái gì như vậy
không?
- Một văn phòng hả?
Tiến sĩ Burrows đáp, vừa lục lọi các túi áo cho đến khi lấy được ra tấm
giấy mà ông tìm.
- Để ba coi lại.
Will không đợi câu trả lời, đẩy vào cánh cửa. Cửa đóng chặt. Tiến sĩ
nhanh chóng mất hết hứng thú với bản thiết kế, đi tới giúp con trai, cả hai
hè nhau kề vai đẩy cánh cửa mở ra.
Cửa bị kẹt cứng trong khung, nhưng hai cha con nỗ lực lần thứ ba thì cánh
cửa chịu thua. Nó bật mở, hai cha con té lăn kềnh vô phòng, liền sau đó bị
một trận xà bần vụn trút xuống đầu và vai.
Vừa ho vừa dụi bụi trong mắt, hai cha con vạch lối đi qua một rừng mạng
nhện. Will khẽ la lên:
- Oái!
Ngay giữa văn phòng nho nhỏ, hai cha con nhận ra một cái bàn giấy và một
cái ghế phủ đầy bụi. Will cẩn thận đi tới đằng sau cái ghế, và dùng bàn tay
đi găng phủ lớp bụi bám nhện giăng trên tường để lộ ra tấm bản đồ to đã
mờ của hệ thống đường xe lửa.
- Có thể là văn phòng của trưởng trạm.
Tiến sĩ Burrows vừa nói vừa lau bụi trên mặt bàn giấy bằng cánh tay, một
tấm giấy thấm lộ ra, bên cạnh đó là một vật thể nhỏ, xỉn màu vì thời gian, rỉ
chất gì xanh xanh trên mặt bàn.
- Tuyệt vời! Máy điện báo đường sắt, được chế tạo hết sức tinh xảo – ba
dám chắc nó làm bằng đồng.
Hai bức tường của căn phòng được kê kín những kệ hồ sơ chất đầy những
hộp bìa cứng đã mục. Will chọn một hộp ngẫu nhiên, bưng ra bàn thật
nhanh, như thể sợ cái hột vụn nát ngay trong tay nó. Nó nhấc lên một nắp
hộp méo mó, tò mò nhìn những tập vé cũ ở bên trong. Nó cầm một tập lên,
nhưng sợi dây thun cột bị bục đứt, khiến những mẩu vé vụn rơi lả ta khắp
mặt bàn.
Tiến sĩ Burrows nói :
- Vé trắng – người ta chưa in chúng.
- Đúng như ba nói!
Will xác nhận. Trong lúc nghiên cứu những tấm vé, nó không ngừng kinh
ngạc về kiến thức của ba mình. Nhưng tiến sĩ Burrows không còn để tai
nghe nó nữa. Ông đang quỳ xuống, kéo một vật gì đó nặng nề trên một cái
kệ thấp hơn. Vật đó được gói trong một miếng vải mục, khi ông chạm ta
vào thì nó đã rời ra. Khi Will ngoái lại để nhìn cái vật giống như một cái
máy đánh chữ cũ có một tay quay khổng lồ ở bên cạnh, Tiến sĩ Burrows
long trọng nói:
- Còn đây là một mẫu máy in cổ xưa. Hơi bị mòn, nhưng chúng ta có thể
đánh bóng lại nó.
- Để cho vô viện bảo tàng à?
- Không, cho vô bộ sưu tập của ba.
Tiến sĩ Burrows đáp. Ông ngập ngừng một chút, gương mặt ông lộ rõ vẻ
nghiêm chỉnh.
- Thế này, Will nhé: cha con mình không hé lộ cho bất cứ ai biết một lời
về chuyện này, không một lời nào cho bất cứ ai, con hiểu không?
- Dạ?
Will xoay hẳn người lại, hơi nhướng chân mày lên. Đâu có vẻ gì là cha nó
sẽ đi rao khắp nơi cái chuyện cha con nó chúi mũi đào bới mấy món đồ
linh tinh dưới lòng đất lúc rỗi hơi – mà chắc gì sẽ có ai thèm quan tâm tới.
Niềm say mê của hai cha con nó đối với những thứ bị chôn vùi và những
thứ chưa được khám phá ra là một điều cha con nó không chia sẻ với ai
hết, một kiểu khế ước khiến hai cha con nó gắn bó khăng khít với nhau.
Cả hai đứng trong văn phòng, ngọn đèn trên mũ người này soi tỏ ngương
mặt người kia. Bởi vì người con trai chưa đáp lời cha, tiến sĩ Burrows bèn
nhìn thẳng vào mắt con và nói tiếp:
- Ba có cần nhắc con nhớ chuyện gì xảy ra hồi năm ngoái về vụ biệt thự La
Mã không? Tay giáo sư lừng lẫy ấy xuất hiện, cướp công đào xới và chiếm
hết vinh quang. Chính ba là người đã khám phá ra chỗ đó, vậy mà ba được
gì? Một dòng ghi nhận tí ti bị vùi lấp bởi nỗ lực lớn lao chẳng phải của
hắn trong bài luận văn.
- Dạ, con nhớ.
Will đáp, nhớ lại cơn uất phẫn của cha nó và trận lôi đình bùng phát từ lần
đó.
- Muốn chuyện đó xảy ra lần nữa sao?
- Không, dĩ nhiên là không.
- Ừ lần này ba nhất định không chịu thân phận một ghi chú cuối trang sách
đâu. Ba không muốn ai biết về nơi này. Lần này không ai được phỗng tay
trên của ba vụ này. Con đồng ý không?
Will gập đầu đồng ý, khiến cho ánh đèn trên cái mũ của nó vọt lên vọt
xuống trên tường.
Tiến sĩ Burrows liếc nhìn đồng hồ đeo tay.
- Cha con mình phải trở về thôi.
- Dạ.
Will đáp giọng miễn cưỡng. cha nó nhận ra ngay cái giọng đó.
- Không có gì thực sự gấp gáp lắm, đúng không? Tối mai chúng ta sẽ dành
thời gian thám hiểm phần còn lại.
- Dạ, con thấy cũng được.
Will đáp vẻ không nhiệt tình lắm trong lúc đi về phía cửa.
Tiến sĩ Burrows thân mật vỗ vỗ lên cái mũ bảo hộ của con trai khi hai cha
con ra khỏi văn phòng.
- Will à, ba phải nói đây là một phát hiện đáng đồng tiền. Suốt mấy tháng
trời đào xới cũng bõ công, đúng không?
Hai cha con đã tới lỗ trống, và sau khi nhìn lại lần cuối sân ga, cả hai trèo
trở lại đường hầm. Được khoảng sáu thước thì đường hầm mở ra đủ rộng
để hai cha con sóng bước cạnh nhau. Nếu tiến sĩ Burrows cúi xuống một tí
thì đường hầm đủ cao cho ông đứng người lên. Ông xem xét những súc gỗ
trên đầu và tuyên bố:
- Chúng ta cần phải tăng cường gấp đôi các thanh giằng và trụ chống. Thay
vì cách mỗi mét một, thì như chúng ta vừa bàn, sẽ phải hai cho mỗi mét.
- Dạ, không thành vấn đề đâu ba.
Will cam đoan với cha nó, giọng không thuyết phục lắm. Tiến sĩ Burrows
dùng giầy ống đá hất đống đất sét nằm trên sàn của đường hầm, nói tiếp:
- Và chúng ta cần vận chuyển đống này đi chỗ khác. Ta đâu có muốn bị
dính nhèm nhẹp dưới này, đúng không nào?
- Dạ, không.
Will đáp yếu ớt, không thực tâm nó có ý định làm gì hết. Nỗi hào hứng
khám phá thuần tuý của nó thường đưa tới kết quả là coi thường những
nguyên tắc an toàn mà cha nó đề ra. Niềm say mê của nó là đào, và đầu óc
của nó chẳng bận tâm chút gì cho cái chuyện mất thì giờ là “dọn dẹp” như
tiến sĩ Burrows đang đặt ra. Với lại đằng nào đi nữa thì hiếm hoi lắm cha
nó mới xung phong giúp nó cuốc với đào, ông thường xuất hiện khi nó đã
bày xong mâm cỗ.
Tiến sĩ Burrows lơ đãng huýt sáo qua kẽ răng trong lúc chậm bước lại để
xem xét một đống ván gỗ và một tháp xô chậu chất chồng lên nhau gọn ghẽ.
Hai cha con đi tiếp đường hầm theo đà lên dốc, tiến sĩ Burrows dừng
bước nhiều lần nữa để kiểm tra những trụ chống bằng gỗ ở hai bên vách.
Ông dùng bàn tay vỗ lên chúng, khi ông làm vậy, tiếng huýt sáo vu vơ của
ông cất lên cao tông thành một thứ tiếng ré eng éc không ai khác phát ra
được.
Cuối cùng lối đi trở nên bằng phẳng và rộng ra thành một căn phòng lớn
hơn, trong phòng có một cái bàn thô và hai cái ghế bành ngó thấy thảm
thương. Hai cha con liệng một mớ dụng cụ của mình lên bàn, rồi trèo nốt
đoạn cuối con đường hầm để tới lối ra vào.
Đúng kíp khi đồng hồ thành phố gõ xong bảy tiếng, ở một góc trong bãi đậu
xe quảng trường Temperance, một miếng tôn lắp ghép trên mặt đất được
nhấc lên vài xăng-ti-mét. Trời lúc đó chớm thu, mặt trời vừa chạm đường
chân trời, hai cha con yên chí bên ngoài vắng vẻ an toàn, bèn đẩy tấm tôn
ra, để lộ một cái lỗ to trên mặt đất, miệng lỗ viền khung gỗ. Hai người nhô
đầu lên một tí, nhìn quanh quất, kiểm tra lần nữa để yên chí là không có ai
trong bãi đậu xe, rồi mới trèo ra khỏi lỗ. Sau khi đậy lại tấm tôn che kín
lối ra vào, Will gạt bụi đất lên tấm tôn để nguỵ trang.
Một làn gió nhẹ thổi xào xạc qua hàng rào quanh bãi đậu xe. Một tờ báo bị
gió cuốn tròn trên mặt đất, được đà tung những ruột báo xung quanh như
những trái lông chông. Mặt trời dần khuất, trải bóng hoàng hôn lên khắp
khu nhà kho xung quanh và hắt lên bề mặt lát gạch đỏ của khu cư xá
Peabody. Hai cha con nhà Burrows ung dung rời khỏi bãi đậu xe, dáng vẻ
y chang hai kẻ truy tìm kho báu đã để lại kho tàng dưới chân đồi mà về
thành phố.
Chương Hai
Phía bên kia Highfield, ông Terry Watkins, hay còn được đồng nghiệp gọi
là “Tel xe ben”, đang mặc quần ngủ đứng đánh răng trước tấm gương trong
buồng tắm. Ông đã oải lắm rồi và chỉ mong ngủ một giấc thiệt ngon, nhưng
đầu óc ông sao cứ quay cuồng vì những điều ông đã thấy hồi chiều.
Hôm nay đúng là một ngày dài vất vả. Ông và đội dọn quang đã ủi sập
xưởng chì trắng cổ lỗ sĩ để lấy chỗ xây khu nhà văn phòng cho ban ngành
sở nhà nước hay gì đó. Ông chẳng mong gì hơn được về nhà, nhưng ông lại
đã hứa với sếp là sẽ lấy lên vài mẫu gạch dưới tầng hầm để thử làm một
bản đánh giá tầm cỡ của các nền tầng ở đó. Công ty của ông không thể
kham nổi mức quá lố của hợp đồng, mà mấy tòa nhà cổ như vầy thường có
nguy cơ đẻ lố công việc.
Trong lúc ngọn đèn pha xách tay rọi sáng từ sau lưng, ông đã vung búa đập
bể những viên gạch xưa chế tạo thủ công, gạch bể lòi ra phần bên trong đỏ
au không khác gì những con vật bị moi ruột. Ông vung búa lên lần nữa,
mảnh vụn văng tứ tán và rớt xuống sàn tầm hầm đen thui bồ hóng. Ông lầu
bầu chửi thầm vì cả cái tầng hầm này được xây dựng quá ư kiên cố.
Sau vài trận lôi phong, ông dừng tay chờ cho đám bụi gạch mờ mịt lắng
xuống. Ông ngạc nhiên hết sức khi nhận ra nguyên mảnh tường ông đục phá
nãy giờ chỉ mới là một lớp gạch mặt ngoài mà thôi. Lẽ ra bên trong là lớp
gạch thứ hai, thứ ba, thì lại là một tấm sắt thô cũ kỹ. Ông đập cho tấm sắt
vài búa, mỗi búa dội lại một tiếng vang rền chắc nịch. Tấm sắt không dễ gì
bị bung ra. Ông thở hồng hộc, dập vụn nát mớ gạch viền quanh mép tấm
kim loại vừa bị phát hiện, ngạc nhiên cực độ khi thấy tấm kim loại ấy có
bản lề, thậm chí có cả nắm đấm cửa chìm trên bề mặt.
Một cánh cửa.
Ông ngừng lại, thở hổn hển một lát trong lúc cố nghĩ ra xem tại sao ai đó
lại gắn cửa vào một nơi lẽ ra chỉ là móng nhà.
Tiếp theo ông phạm một sai lầm lớn nhất đời ông.
Ông dùng cái tua-vít để tháo nắm đấm cửa ra. Một vòng sắt chế tạo công
phu, xoay được dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên, không cần cố gắng chút
nào. Ông đá một cú nhẹ bằng mũi giày bảo hộ lao động và cánh cửa bung
mở về hướng trong, áp vào mặt tường bên kia, gây ra một âm thanh ngân
vang tưởng như không bao giờ dứt. Ông lấy cây đèn pin ra và rọi vào bóng
tối như hũ nút bên trong căn phòng. Ông có thể thấy nó rộng ít nhất cỡ sáu
thước, và thực ra thì căn phòng hình tròn.
Ông đi qua cửa, đặt chân lên nền đá bên trong. Nhưng ông vừa đi bước thứ
hai thì sàn đá biến mất và bàn chân của ông chạm được cái gì ngoài không
khí. Một cú rơi! Ông chới với ngay trên mép, hai cánh tay ông quơ quào
loạn xạ cho đến khi ông giữ được thăng bằng và lùi ra khỏi miệng vực.
Ông ngã tựa vào thanh dọc khung cửa và bám vào đó, hít lấy mấy hơi thở
thật sâu để thần kinh ổn định lại, và tự nguyền rủa cái thói ẩu tả của mình.
Ông nói lớn, buộc mình tỉnh táo lại:
- Thôi nghe, vụ này không xong đâu!
Ông quay lại, từ từ nhích tới trước, ngọn đèn trong tay ông soi thấy thực ra
ông đang đứng trên một gờ tường, bên ngoài gờ là một khoảng không đen
hù đáng sợ. Ông hơi chồm tới, thử nhìn coi bên dưới là cái gì – có vẻ như
khối đen ấy không có đáy. Ông đã bước vào một miệng giếng xây bằng
gạch khổng lồ. Mà khi nhìn lên ông cũng chẳng thấy có nóc đâu cả - thành
giếng bằng gạch cong cong vươn lên mất hút vào bóng tối, ánh sáng từ
ngọn đèn của ông không rọi tới được. Một làn gió mạnh dường như thổi từ
trên xuống, khiến mồ hôi sau gáy ông lạnh giá.
Xoay ngọn đèn rọi chung quanh, ông nhận thấy có những b
 









Các ý kiến mới nhất