Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

duong-ve-no-le

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:17' 06-03-2026
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
TỦ SÁCH TINH HOA TRI THỨC THẾ GIỚI
F. A. Hayek

ĐƯỜNG VỀ NÔ
LỆ
PHẠM NGUYÊN TRƯỜNG dịch
ĐINH TUẤN MINH hiệu đính và giới thiệu
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC

ĐƯỜNG VỀ NÔ LỆ
Friedrich Hayek
Tên sách: Đường về nô lệ
Tác giả: F.A. Hayek
Dịch giả: Phạm Nguyên Trường
Tủ sách Tinh Hoa Tri Thức Thế Giới
Số trang: 440 trang
Khổ sách: 12 x 20 cm
Loại sách: bìa cứng
Giá bìa: 94.000 VNĐ
NXB Tri thức: 2009
Thực hiện ebook: tamchec
Soát lỗi lần 2: thanhhaitq
Ngày hoàn thành: 29/01/2016
Nguồn: http://tve-4u.org

Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Mục lục
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Lời nhà xuất bản
Lời giới thiệu cho ấn bản tiếng Việt
Lời giới thiệu (nhân dịp năm mươi năm xuất
bản)
Ghi chú về lich sử xuất bản
Lời tựa cho lần tái bản năm 1976
Lời tựa cho lần xuất bản bìa mềm năm 1956
Lời tựa cho lần xuất bản năm 1944
Dẫn nhập
I. Con đường bị chối bỏ
II. Giấc mơ địa đàng
IlI. Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể

IV. Kế hoạch hóa là “tất yếu”?
V. Kế hoạch hóa và dân chủ
VI. Kế hoạch hóa và pháp trị
VII. Kiểm soát kinh tế và chế độ toàn trị
VIII. Ai là ai?
IX. An toàn và Tự do
X. Vì sao những kẻ xấu xa nhất lại leo cao nhất?
XI. Sự cáo chung của chân lí
XII. Cội nguồn tư tưởng của chủ nghĩa phát xít
XIII. Những người toàn trị giữa chúng ta
XIV. Điều kiện vật chất và mục đích lí tưởng
XV. Triển vọng của trật tự thế giới
XVI. Kết luận
Sách tham khảo
Lời bạt: Vấn đề tri thức trong "trật tự tự phát"
của Hayek
Môt số tài liêu tham khảo

Lời nhà xuất bản
Sau các cuốn Hayek, Cuộc đời và Sự
nghiệp (Alan Ebenstein, NXB Tri thức,
2007) và Chủ nghĩa tự do của Hayek
(Giiles Dostaler, NXB Tri thức, 2008), là
các tác phẩm của các học giả nổi ếng
giới thiệu diễn trình tư tưởng kinh tế
của Hayek (1899 - 1992), chúng tôi xin
trân trọng giới thiệu với bạn đọc một
trong các công trình nghiên cứu quan
trọng nhất của Hayek, công bố từ năm
1944, mang tựa đề Đường về nô lệ
(The Road to Serfdom).
Từ lần xuất bản đầu ên cho tới
nay, cuốn Đường về nô lệ luôn luôn
được coi là tuyên ngôn chính trị của

trường phái tân tự do, mà Hayek là
chủ soái, làm hồi sinh và phát triển
học thuyết kinh tế tự do (laiser-faire)
của Adam Smith (1723 - 1790) đối lập
với trường phái tân cổ điển do J. M.
Keynes (1883 -1946) chủ trương sự can
thiệp mạnh của Nhà nước vào các
hoạt động kinh tế. Cuốn sách này đã
được coi là cẩm nang của nhiều nền
kinh tế: Anh và Mỹ vào những năm 80
của thế kỷ trước dưới thời của
Thatcher và Reagan; Nga và các nước
Đông Âu với nền kinh tế chuyển đổi
thời kỳ sau 1990, và Trung Quốc từ khi
mở cửa 1978… Cuốn sách phản ánh
đầy đủ tư duy kinh tế - xã hội phong
phú và sâu sắc của tác giả, nhưng nhất

quán trong thông điệp ngắn gọn: Bất
cứ thể chế toàn trị nào (dù là Liên Xô
cũ hay Đức Quốc xã..,) quốc hữu hóa
tư liệu sản xuất xã hội và kế hoạch
hóa tập trung sớm muộn đều dẫn đến
sự nghèo khổ và bất bình đẳng mà
Hayek gọi là Nô lệ.
Thế nhưng “thời hoàng kim” của
chủ nghĩa tân tự do hình như đã đến
hồi choạng vạng khi các cuộc khủng
hoảng tài chính lần lượt diễn ra trong
hai thập kỷ vừa qua; mà đỉnh cao là
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
đang diễn ra hiện nay, khởi đầu từ
cuộc khủng hoảng tài chính do đầu cơ
bất động sản quá đáng ở Hoa Kỳ. Lại
một lần nữa vị thế tư tưởng kinh tế

của hai trường phái tân tự do và tân
cổ điển có thể đảo ngược: giờ đây
người ta lại chú ý nhiều hơn đến
những lời cảnh báo của Keynes về sự
thống trị của các quyền lực tài chính
đối với chủ nghĩa tư bản, những
quyền lực sùng bái tuyệt đối đồng tiền
và khả năng sinh lời tài chính; như thể
nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện
đại đã trở thành “một thứ phẩm của
các hoạt động trong sòng bạc”. Tuy
vậy, việc nghiên cứu những tác gia
kinh điển như Hayek vẫn luôn luôn là
cần thiết và thú vị.
Chúng tôi xin trân trọng lưu ý bạn
đọc rằng đây là sách tham khảo, chủ
yếu dành cho những người làm công

tác nghiên cứu. Đối với các bạn đọc
khác, chúng tôi nghĩ là nên đọc trước
Lời giới thiệu tác phẩm của Đinh Tuấn
Minh và Lời bạt của Lữ Phương để dễ
dàng nắm bắt ý tưởng của tác giả hơn
với tinh thần phê phán cần thiết.
NXB Tri thức

Lời giới thiệu cho ấn bản tiếng Việt
Việt Nam đã bắt đầu từ bỏ cơ chế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao
cấp được hơn hai thập kỷ. So sánh
những kết quả đạt được giữa hai thời
kỳ trước và sau khi đổi mới đã cho
thấy rằng quyết định chuyển sang cơ
chế thị trường của Việt Nam là quyết
định hoàn toàn đúng đắn. Đời sống
vật chất và nh thần của từng người
dân không ngừng được cải thiện.
Những vật dụng được xem như là xa
xỉ thời kế hoạch hóa như xe máy, vi,
dầu gội đầu v.v… thì nay đã trở thành
những vật dụng tối thiểu trong mỗi
gia đình; trước kia người dân Việt

Nam chỉ có thể biết được n tức thế
giới qua hệ thống loa truyền thanh,
thì ngày nay họ có thể m hiểu mọi
thứ qua Internet, truyền hình cáp, và
thậm chí có thể đi hàng nghìn cây số
đến tận nơi để quan sát. Tuy thế,
những di chứng mà cơ chế này gây ra
cho xã hội vẫn còn đó và đang gây
nhức nhối cho xã hội. Đây không phải
là nhận định được nói ra bởi những
người dân thường hay các học giả;
trên thực tế nó thường xuyên được
những vị lãnh đạo cao cấp nhất của
đất nước nhắc đến[1]. Nhưng cụ thể
cơ chế kế hoạch hóa trước kia đã gây
ra những căn bệnh xã hội gì cho hiện
nay? Làm thế nào để khắc phục được

chúng? Đấy quả thực là những câu hỏi
hóc búa cho bất kỳ ai có trách nhiệm
với xã hội. Cuốn sách Đường về nô lệ
của F. A. Hayek, một trong những kinh
tế gia và tư tưởng gia xuất sắc nhất
của thế kỷ XX, có thể được xem như là
cuốn “cẩm nang” hàng đầu để giải
quyết những vấn nạn này cho xã hội
Việt Nam hôm nay.
Những khó khăn mà người Việt
Nam chúng ta đã trải nghiệm trong
thời kỳ kế hoạch hóa đã được Hayek
nhìn thấy trước từ cách đây hơn 60
năm khi ông cảnh báo những hậu quả
xấu nhất có thể xảy ra cho nước Anh
nếu đất nước này áp dụng cơ chế
hoạch định tập trung[2] sau thế chiến

II. Khi phương ện sản xuất bị quốc
hữu hóa, cơ chế giá cả bị xóa bỏ, và
mọi thứ đều phải tuân theo những kế
hoạch cứng nhắc do trung ương áp
đặt xuống thì động lực sáng tạo của
các cá nhân sẽ bị mai một, trí tuệ cá
nhân sẽ không được khai thác, chi phí
cho hệ thống quan liêu cồng kềnh
ngày một phình to, nguồn lực sẽ bị
phân bổ vào những lĩnh vực không
hiệu quả, và hậu quả tất yếu là nền
kinh tế của quốc gia sẽ bị suy yếu, đời
sống của dân chúng bị sút kém, và bất
mãn trong xã hội ngày càng gia tăng.
Những gì nền kinh tế Việt Nam phải
trải qua trong giai đoạn áp dụng cơ
chế kế hoạch hóa tập trung trước khi

đổi mới, chẳng hạn khan hiếm lương
thực thực phẩm - điều khó có thể
tưởng tượng được ở một đất nước
được xem là vựa lúa của thế giới, có lẽ
là minh chứng rõ ràng nhất cho những
ên đoán của Hayek trên khía cạnh
này.
Nhưng kinh tế không phải là lĩnh
vực duy nhất mà cơ chế kế hoạch hóa
tập trung gây ra hệ quả xấu. Thực ra
trong cuốn Đường về nô lệ, Hayek chỉ
điểm qua các tác động thuần túy kinh
tế của cơ chế này. Ông chỉ ra rằng
trong cuộc sống không thể tách rời
“động cơ kinh tế” ra khỏi các mục êu
khác mà con người muốn hướng tới vì
một khi chúng ta không có cơ hội đạt

được mục êu kinh tế thì khó mà có
thể đạt được các mục êu khác. Khi cơ
chế kế hoạch hóa tập trung ngăn cản
các cá nhân quyền tự m kiếm thu
nhập và sử dụng tài sản của mình cho
những mục đích riêng tư tất dẫn đến
những tác động êu cực về mặt đạo
đức, thái độ, lối sống và cách ứng xử
của con người, mặc dù sự thay đổi này
diễn ra từ từ và gần như không thể
nhận ra được. Kế hoạch hóa tập trung
khiến cho người ta chỉ biết phục tùng,
mất khả năng tư duy độc lập và phản
biện, và có xu hướng thích sử dụng
ngôn từ sáo rỗng rập khuôn; khiến
cho người ta sợ chịu trách nhiệm cá
nhân, kích thích lối sống ỷ lại, dựa

dẫm vào người khác; khiến cho người
ta mất động lực vươn lên và thay vào
đó là tư duy bình quân chủ nghĩa;
khiến cho người ta mất đi cảm giác
phân biệt thiện - ác trong hành động,
thay vào đó là các biện minh nhân
danh cộng đồng hay sứ mệnh cao cả;
kích thích người ta chạy theo lối sống
xin xỏ, chạy chọt để hưởng đặc quyền
đặc lợi, và quyền ban ơn huệ cho
người khác, v.v… Có lẽ đa phần người
Việt Nam đều nhận ra được những
thái độ và lối sống như thế của chính
họ trong thời gian trước đây và ở một
mức độ nào đó, trong hiện tại. Nhiều
người lờ mờ cảm thấy rằng đó là do
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,

nhưng cụ thể cơ chế đó tác động như
thế nào theo những kênh dẫn nào thì
ít người có thể hiểu được tường tận.
Khi đọc tác phẩm này, chúng ta sẽ
hiểu được tại sao chúng ta lại có thái
độ và hành vi như vậy. Nó giúp chúng
ta giải tỏa được rằng đấy không phải
là do “bản nh xấu xí của người Việt
Nam” như nhiều người đổ tại, mà là
do nguyên nhân khách quan từ bên
ngoài. Nó cho chúng ta niềm n rằng
chúng ta có thể khắc phục được
những thói hư tật xấu đó nếu như
chúng ta có thể rời xa hẳn được cơ
chế kế hoạch hóa tập trung.
Nếu cuốn sách chỉ dừng lại ở việc
phê phán những hậu quả tai hại của

hệ thống kế hoạch hóa tập trung,
những kết cục trái ngược hẳn với
những mong muốn tốt đẹp ban đầu
của những người thực tâm cổ vũ nó,
thì chắc hẳn cuốn sách đã không thể
nào có được tầm ảnh hưởng vượt
thời gian và không gian đến như vậy;
nó cũng khó có thể trở thành cuốn
sách gối đầu giường của những nhà
cải cách kinh tế khắp nơi trên thế giới,
từ Anh, Mỹ, cho tới Đức và Nhật, từ
các nước chuyển đổi ở Đông Âu cho
tới các nước châu Mỹ La n và các
nước châu Á. Giá trị của cuốn sách
thực chất lại nằm ở chỗ, thông qua
phê phán nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung bằng cách so sánh các

nguyên lý của nó với các nguyên lý thị
trường của nền kinh tế thị trường,
Hayek đã gián ếp làm nổi bật được
thị trường là gì, đâu là những thứ thị
trường có thể mang đến cho con
người, và làm thế nào để con người có
thể khai thác được thị trường một
cách có hiệu quả. Ông đã giúp chúng
ta hiểu được rằng thị trường, hay môi
trường để mọi người trao đổi hàng
hóa, không phải là chân không, là bất
biến, mà là một tập các định chế xã
hội do con người hình thành và ch
lũy từ bao đời. Nội dung của nó là các
quy tắc, luật lệ, tập tục, hay chuẩn
mực hình thức giúp con người xác
định quyền sở hữu, trao đổi quyền sở

hữu, và bảo vệ quyền sở hữu. Trên
nền tảng những quy tắc này, con
người được tự do sáng tạo, tự do
theo đuổi mưu cầu hạnh phúc riêng
của mình; nhờ đó con người có cơ hội
mở rộng khả năng lựa chọn trong việc
định đoạt số phận của mình, cơ hội
khai thác được tốt nhất những của cải
vật chất cũng như tri thức riêng biệt
của mình, và quan trọng hơn cả,
khuyến khích người ta dám dấn thân
khám phá ra những chân trời tri thức
mới. Và một khi chúng ta hiểu được
rằng nội dung của thị trường là một
tập hợp các quy tắc hình thức ràng
buộc hành vi của mỗi con người chúng
ta, những người thực tâm muốn đóng

góp cho sự phát triển của xã hội, sẽ
xác định được mục êu hành động
của chúng ta là khám phá và chia sẻ
các quy tắc mà chúng ta n rằng
chúng hiệu quả hơn những quy tắc
hiện hành.
Bằng việc đối sánh giữa kế hoạch
hóa tập trung và thị trường, Hayek đã
giúp chúng ta hiểu đúng khái niệm kế
hoạch, giúp chúng ta tránh được bối
rối khi nói đến hoạch định hay kế
hoạch hóa. Kế hoạch hóa đúng ra cần
phải được hiểu là cách thức mà các
chủ thể dùng để giải quyết các vấn đề
mà họ phải đương đầu một cách hợp
lý nhất, bằng năng lực viễn kiến mà họ
có thể kiểm soát được. Theo nghĩa đó

các cá nhân sẽ phải tự lo liệu hay
hoạch định cho cuộc sống của chính
mình, và chính phủ chỉ nên giới hạn
công việc hoạch định của mình vào
việc “thiết lập một hệ thống pháp chế
duy lý, có nh ổn định lâu dài, rồi để
cho những người tham gia tự hoạt
động theo các kế hoạch của riêng
mình” (tr. 106, ch. 3). Kế hoạch hóa
như thế là kế hoạch hỗ trợ thị trường,
khuyến khích sự cạnh tranh. Nghĩa là,
như Hayek tổng kết: “có thể kết hợp
giữa kế hoạch hóa và cạnh tranh để
lập kế hoạch hỗ trợ cạnh tranh chứ
không phải lập kế hoạch để chống
cạnh tranh” (tr. 115).
Như vậy, khi nhấn mạnh đến thị

trường Hayek không có ý cho rằng cứ
để kệ thị trường muốn ra sao thì ra.
Hayek luôn nhấn mạnh đến khả năng
của con người trong việc thay đổi các
quy tắc, chuẩn mực chung trong xã
hội. Theo ý đó Hayek hoàn toàn không
phải là người bảo thủ - điều mà chính
ông đã khẳng định trong phần cuối
của một kiệt tác khác, cuốn Hiến pháp
tự do (Cons tu on of Liberty). Khi ông
viết tựa cho cuốn Đường về nô lệ ông
đề tặng cuốn sách cho “tất cả những
người xã hội chủ nghĩa” với ý nghĩa
hoàn toàn chân thành. Ông chia sẻ về
mục êu của những người xã hội chủ
nghĩa. Nhưng cái mà ông không đồng
nh với phương pháp họ chọn để đạt

tới mục êu đó, tức việc áp dụng mô
hình kế hoạch hóa tập trung. Ông chỉ
ra rằng có một con đường khác để
những người có tâm với xã hội có thể
can thiệp vào đời sống xã hội, làm cho
xã hội ngày một tốt đẹp hơn, phồn
thịnh hơn. Đấy là con đường hình
thành những quy tắc hình thức và lối
sống mới, kích thích mọi người làm
chủ bản thân mình, không xâm phạm
vào sở hữu của người khác, và có ý
thức hợp tác cao trong công việc.
Nhưng những quy tắc này phải được
đưa vào cuộc sống thông qua quá
trình tự thử nghiệm, đàm phán và
thuyết phục lẫn nhau, thay vì giao cho
một nhóm nhỏ nào đó áp đặt lên

toàn thể xã hội. Quá trình này là một
quá trình lâu dài, không thể thấy
được kết quả của nó ngày một ngày
hai, nhưng lại là con đường duy nhất
để “cải tạo xã hội” trong hòa bình.
Cuốn sách của Hayek gửi đến cho
chúng ta một thông điệp rõ ràng rằng
những hậu quả mà kế hoạch hóa tập
trung gây ra cho xã hội đều có thể hồi
phục lại bằng cách áp dụng các
nguyên lý thị trường. Những điều mà
chúng ta không bằng lòng về đời sống
đạo đức của người Việt Nam ngày
hôm nay không phải là do cơ chế thị
trường, không phải là bản nh của
người Việt Nam, mà đa phần là di
chứng của thời kỳ kế hoạch hóa tập

trung quan liêu bao cấp. Nhưng chúng
ta có thể tác động vào việc hoàn thiện
các quy tắc hình thức kiến tạo lên trật
tự thị trường để dần khắc phục chúng.
Thật may mắn là chúng ta có thể học
hỏi được rất nhiều điều từ những
quốc gia đi trước. Những quy tắc
thương mại và ứng xử mà chúng ta
cam kết khi nhập Tổ chức thương mại
thế giới (WTO) chẳng phải là một kho
tàng vô giá để chúng ta tự hoàn thiện
mình hay sao? Có lẽ nhắc lại cũng
không thừa, ngay cả khi dân tộc ta có
thể rút ngắn được thời gian trong việc
hoàn thiện các quy tắc hành xử của
chính mình thì chúng ta vẫn phải hiểu
rằng đây là một quá trình lâu dài, cần

phải nỗ lực liên tục và bền bỉ. Đối với
những người cấp ến, nếu vượt qua
được rào cản thuật ngữ[3], thì tác
p h ẩ m Đường về nô lệ chính là một
hành trang không thể thiếu vì nó
không những đã nói ra được hầu như
tất cả những điều tồi tệ nhất chúng ta
phải trải qua, chứng kiến, hay cảm
nhận nhưng không hiểu được nguyên
nhân từ đâu, mà còn chỉ cho chúng ta
biết chúng ta nên làm gì để vượt qua
chúng. Nếu được nói một câu cuối
cùng, tôi chỉ có thể nói rằng đây là
cuốn sách cất lên ếng nói từ con m
của những người mong muốn xây
dựng đất nước Việt Nam ngày càng tự
do và phồn thịnh.

Đinh Tuấn Minh
Chú thích:
[1] Chẳng hạn, trong buổi làm việc

với Bộ Khoa học và Công nghệ hôm
27/06/2008, Tổng Bí thư Đảng Cộng
sản Việt Nam Nông Đức Mạnh có nhắc
đến một di chứng có hại của cơ chế kế
hoạch hóa tập trung đối với nền khoa
học của nước nhà như sau: “Chủ
nghĩa bình quân và tư duy hành chính
kéo dài nhiều năm đã là một trong
những nguyên nhân làm giảm sút sức
sáng tạo và nhiệt huyết của các nhà
khoa học,” Trước đó ngày 22/01/2008,
trong buổi phát biểu bế mạc hội nghị
toàn thể lần thứ sáu Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khóa X, ông cũng đã
nói đến việc Việt Nam đã chuyển đổi
thành công “thể chế kinh tế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu, bao cấp
trước đấy sang thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
thông qua các biện pháp như thay đổi
hình thức sử hữu, hình thành các loại
thị trường, xác lập tự do bình đẳng
trong kinh doanh, áp dụng luật pháp
để vận hành nền kinh tế v.v…
[2] Trong nguyên tác, Hayek sử

dụng khái niệm “chủ nghĩa xã hội” với
nghĩa xác định, để chỉ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung quan liêu bao cấp (xem
trang 20) được một số người cấp ến
lúc bây giờ lựa chọn như là phương

tiện để đạt được những mục đích cao
đẹp của mình về tự do, bình đẳng,
dân chủ và thịnh vượng (xem chương
3 của cuốn sách này). Ông đã nhấn
mạnh trong lời tựa cho lần tái bản
năm 1976: “Khi tôi viết cuốn sách này
thì chủ nghĩa xã hội chỉ có nghĩa là
quốc hữu hóa các phương ện sản
xuất và kế hoạch hóa tập trung” (tr.
20). Chính vì lẽ đó, để tránh những
hiểu lầm không đáng có với quan
niệm chủ nghĩa xã hội theo nghĩa mục
êu cao đẹp mong muốn đạt được
đang thịnh hành ở Việt Nam hiện nay
như “chủ nghĩa xã hội là dân giàu,
nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh”, tôi sử dụng thẳng thuật ngữ

“cơ chế kế hoạch hóa tập trung” để
nói về phương thức tổ chức kinh tế xã hội mà Hayek muốn phê phán.
[3] Về vấn đề khác biệt ngôn ngữ

nhưng lại chia sẻ cùng nội dung tri
thức khi ếp cận các tác phẩm của
Hayek tôi đã đề cập đến trong lời giới
thiệu cuốn F.A. Hayek: Cuộc đời và sự
nghiệp, của Ebeinstein, do Nguyễn
Anh Hùng dịch, Đinh Tuấn Minh hiệu
đính và giới thiệu, NXB Tri thức, 2007.

Lời giới thiệu (nhân dịp năm mươi năm
xuất bản)
Cuốn sách này đã trở thành tác
phẩm kinh điển thực sự: đây là tác
phẩm dành cho tất cả những ai quan
tâm đến chính trị một cách rộng rãi
nhất và ít thiên lệch nhất của từ này,
thông điệp chính của nó sẽ sống mãi
với thời gian và có thể áp dụng cho vô
vàn hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Hiện
nay, trong chừng mực nào đó nó còn
liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi
được công bố lần đầu vào năm 1944
và đã gây chấn động dư luận vào lúc
đó.
Gần một phần tư thế kỉ trước (năm

1971) tôi đã viết lời giới thiệu cho lần
xuất bản cuốn Đường về nô lệ bằng
ếng Đức nhằm minh họa nh vĩnh
cửu của thông điệp mà Hayek đã gửi
tới cho chúng ta. Lời giới thiệu đó
cũng có thể được áp dụng cho lần
xuất bản kỉ niệm năm mươi năm ra
đời của tác phẩm kinh điển này của
Hayek. Để khỏi phải đạo văn của chính
mình, tôi xin trích dẫn toàn bộ bài
viết trước khi đưa thêm vào một vài
lời bình luận[1].
“Suốt nhiều năm liền, tôi thường
hỏi những người n vào các nguyên
tắc của chủ nghĩa cá nhân xem họ đã
rời bỏ chủ nghĩa tập thể chính thống
của thời đại chúng ta như thế nào.

Trong nhiều năm, câu trả lời thường
gặp nhất chính là cuốn sách mà tôi
đang có vinh dự viết lời giới thiệu này.
Tác phẩm xuất sắc và hùng hồn của
giáo sư Hayek là ánh sáng soi đường
cho các nam nữ thanh niên từng phục
vụ trong các lực lượng vũ trang trong
thời gian diễn ra Chiến tranh Thế giới
II. Kinh nghiệm vừa trải qua đã giúp
họ nâng cao nhận thức về giá trị và ý
nghĩa của quyền tự do cá nhân. Ngoài
ra, họ đã chứng kiến tổ chức tập thể
hoạt động trên thực tế. Đối với họ thì
những lời dự báo về hậu quả của chủ
nghĩa tập thể đã không đơn thuần là
khả năng có nh giả thuyết mà là thực
tế nhãn ền mà bản thân họ đã trải

qua trong thời gian tại ngũ.
“Đọc lại trước khi viết lời giới thiệu,
tôi lại một lần nữa cảm thấy kinh ngạc
trước cuốn sách tuyệt vời này: nh tế
và lập luận chặt chẽ song lại dễ hiểu
và sáng sủa, đầy triết lí và trừu tượng
song cũng rất cụ thể và thực tế, sâu
sắc và đầy lí nh song cũng rất sinh
động bởi những lí tưởng cao cả và
một ý thức mạnh mẽ về sứ mệnh.
Không có gì ngạc nhiên khi nó gây
được ảnh hưởng lớn như vậy. Cuốn
sách còn gây ấn tượng mạnh đối với
tôi vì hôm nay thông điệp của nó cũng
cần thiết như khi nó xuất hiện lần đầu
- chuyện đó nói sau. Nhưng đối với
tuổi trẻ thời nay, thông điệp của nó

không mang nh trực ếp hay thuyết
phục bằng các nam nữ thanh niên đọc
nó khi nó xuất hiện lần đầu. Những
vấn đề của chiến tranh và điều chỉnh
thời hậu chiến được Hayek dùng minh
họa cho chủ đề trung tâm bất diệt của
ông cũng như những thuật ngữ của
chủ nghĩa tập thể thời đó được ông
dùng làm dẫn chứng cho lời khẳng
định của ông về bầu không khí trí tuệ
vốn là những điều quen thuộc đối với
thế hệ thời hậu chiến và đã tạo được
mối quan hệ gần gũi giữa tác giả và
độc giả của cuốn sách. Ngày nay,
những ảo tưởng của chủ nghĩa tập thể
tương tự đang lưu truyền rộng rãi và
được củng cố thêm, nhưng hậu quả

trực ếp thì có khác, thuật ngữ cũng
đã khác nhiều. Hiện nay chúng ta ít
nghe nói đến “kế hoạch hóa tập
trung”, “sản xuất để đáp ứng nhu cầu
sử dụng”, nhu cầu “quản lí một cách
có ý thức” các nguồn lực xã hội. Thay
vào đó là chuyện về khủng hoảng đô
thị - người ta nói chỉ có thể giải quyết
bằng các chương trình rộng lớn của
chính phủ; là chuyện về khủng hoảng
môi trường - người ta bảo là do
những nhà doanh nghiệp tham lam,
những người phải làm tròn trách
nhiệm xã hội chứ không “chỉ” điều
hành các doanh nghiệp của mình để
kiếm tối đa lợi nhuận và cũng đòi hỏi,
như người ta nói, những chương trình

rộng lớn của chính phủ; là chuyện về
khủng hoảng êu dùng - những giá trị
giả được kích thích bởi các nhà doanh
nghiệp tham lam nhằm kiếm lợi
nhuận thay vì thực hiện trách nhiệm
xã hội và dĩ nhiên cũng cần các
chương trình rộng lớn của chính phủ
nhằm bảo vệ người êu dùng, ít nhất
là để anh ta không tự làm hại mình; là
chuyện về khủng hoảng phúc lợi hoặc
nghèo đói - ở đây thuật ngữ vẫn là
“nghèo đói giữa cảnh giàu sang”, mặc
dù nh trạng nghèo đói hiện nay phải
được coi là sung túc khi khẩu hiệu này
lần đầu ên được sử dụng một cách
rộng rãi.
“Bây giờ, cũng như lúc đó, việc

khuếch trương chủ nghĩa tập thể bao
giờ cũng đi kèm với những lời thề bồi
trung thành với các giá trị của chủ
nghĩa cá nhân. Nhưng kinh nghiệm với
các chính phủ cồng kềnh đã củng cố
thêm xu hướng trái ngược này. Đã
diễn ra những cuộc phản đối rộng
khắp chống lại “giới quyền uy”; sự
tuân phục không thể tưởng tượng
được trong việc chống lại sự tuân
phục; những đòi hỏi vang lên khắp nơi
về quyền tự do “làm những việc
riêng”, quyền được có lối sống riêng,
có nền dân chủ mà mọi người đều có
thể tham gia. Nếu chỉ nghe chủ đề
này, người ta có thể n rằng ngọn
triều của chủ nghĩa tập thể đang rút

lui còn chủ nghĩa cá nhân thì đang
dâng lên, Hayek đã chứng minh một
cách đầy thuyết phục rằng các giá trị
này chỉ có thể tồn tại trong xã hội dựa
trên các nguyên tắc của chủ nghĩa cá
nhân. Chúng chỉ có thể thành tựu
trong chế độ tự do, nơi hoạt động của
chính phủ được hạn chế trước hết cho
việc tạo lập khuôn khổ, trong đó các
cá nhân được tự do theo đuổi các mục
êu của mình [2]. Muốn có nền dân
chủ mà mọi người đều có thể tham
gia thì cách duy nhất là phải tuân
theo cơ chế thị trường tự do.
“Đáng ếc là quan hệ giữa mục
đích và phương ện vẫn thường bị
nhiều người hiểu sai. Nhiều người

tuyên bố trung thành với các mục êu
cá nhân chủ nghĩa nhưng lại ủng hộ
các phương ện của chủ nghĩa tập thể
mà không nhận ra sự mâu thuẫn ở
đây. Người ta thích n rằng các tệ nạn
xã hội là do
 
Gửi ý kiến