Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

Lớp 9.

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Lĩnh
Ngày gửi: 12h:33' 02-11-2025
Dung lượng: 172.6 KB
Số lượt tải: 31
Số lượt thích: 0 người
Soạn bài: Nghị luận về một về vấn đề tư tưởng, đạo lý
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

1. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Thực hiện các yêu cầu sau đây để hiểu thế nào là một bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
1. Đọc văn bản sau và cho biết nó bàn về vấn đề gì.
Mua sách bán chạy nhất trực tuyến
TRI THỨC LÀ SỨC MẠNH
Nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xít Bê-cơn (thế kỉ XVI – XVII) đã nói một câu nổi tiếng: “Tri thức
là sức mạnh”. Sau này Lê-nin, một người thầy của cách mạng vô sản thế giới, lại nói cụ thể hơn: “Ai
có tri thức thì người ấy có được sức mạnh”. Đó là một tư tưởng rất sâu sắc. Tuy vậy, không phải ai
cũng hiểu được tư tưởng ấy.
Tri thức đúng là sức mạnh. Người ta kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của công ti Pho bị hỏng.
Một hội đồng gồm nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra nguyên nhân. Người ta phải mời đến
chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem xét và làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải trả cho ông 10
000 đô la. Nhiều người cho Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền. Nhưng trong giấy biên nhận, Xtenmét-xơ ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1 đô la. Tiền tìm ra chỗ để vạch đúng đường ấy giá: 9 999
đô la.”. Rõ ràng người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không
làm nổi. Thử hỏi, nếu không biết cách chữa thì cỗ máy kia có thể thoát khỏi số phận trở thành đống phế
liệu được không!?
Tri thức cũng là sức mạnh của cách mạng. Bác Hồ của chúng ta sau chuyến đi Pháp năm 1946 trở về
đã thu hút được nhiều nhà tri thức Việt Nam danh tiếng đi theo kháng chiến như kĩ sư Trần Đại Nghĩa,
tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, các bác sĩ Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, nhà toán học Tạ Quang Bửu,…
Các nhà trí thức ấy đã đem tri thức của mình mà xây dựng các ngành quân giới, giáo dục, y tế,… góp
phần to lớn đưa cuộc kháng chiến đến thành công. Trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mĩ, các giáo sư Đàm Trung Đồn, Vũ Đình Cự đã huy động tri thức góp phần phá huỷ lôi
nổ chậm của địch, khai thông bến cảng. Và ngày nay, các nhà khoa học nông nghiệp như Bùi Huy Đáp,
Vũ Tuyên Hoàng,… đã lai tạo giống lúa mới, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp, làm cho nước ta
không chỉ có đủ lương thực mà còn trở thành một trong những nước đứng hàng đầu về xuất khẩu gạo
thế giới.
Tri thức có sức mạnh to lớn như thế nhưng đáng tiếc là còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức.
Họ coi mục đích của việc học chỉ là để có mảnh bằng mong sau này tìm việc kiếm ăn hoặc thăng quan
tiến chức. Họ không biết rằng, muốn biến nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ,
văn minh, sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao nhiêu nhà trí thức tài
năng trên mọi lĩnh vực!
(Hương Tâm)
Gợi ý: Bài văn bàn về vấn đề vai trò của tri thức và người trí thức trong đời sống xã hội.
2. Nêu bố cục của văn bản Tri thức là sức mạnh và chỉ ra nội dung chính của từng phần.
Gợi ý: Có thể chia văn bản Tri thức là sức mạnh thành 3 phần:
- Phần mở bài (đoạn mở đầu): đặt vấn đề “tri thức là sức mạnh”;
- Phần thân bài (hai đoạn tiếp): Chứng minh tri thức đúng là sức mạnh trong công việc và khẳng định
tri thức là sức mạnh cách mạng.
- Phần kết bài (đoạn còn lại): Phê phán những người chưa biết quý trọng tri thức và sử dụng tri thức
không đúng mục đích.
3. Tìm những câu mang luận điểm chính của bài văn Tri thức là sức mạnhvà nhận xét về cách diễn
đạt luận điểm của người viết.
Gợi ý: - Các câu mang luận điểm:
+ Các câu trong đoạn mở bài;

+ “Tri thức đúng là sức mạnh.” ; “Rõ ràng người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà
nhiều người khác không làm nổi.”;
+ “Tri thức cũng là sức mạnh của cách mạng.”;
+ “Tri thức có sức mạnh to lớn như thế nhưng đáng tiếc là còn không ít người chưa biết quý trọng tri
thức.”; “Họ không biết rằng, muốn biến nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ,
văn minh, sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao nhiêu nhà trí thức tài
năng trên mọi lĩnh vực!”.
- Các luận điểm được trình bày rõ ràng, thuyết phục, thể hiện được luận điểm chung: Tri thức là sức
mạnh.
4. Văn bản Tri thức là sức mạnh chủ yếu sử dụng phép lập luận nào? Nhận xét về sức thuyết phục
của phép lập luận ấy trong văn bản.
Gợi ý: Văn bản chủ yếu sử dụng phép lập luận chứng minh. Từ những dẫn chứng cụ thể, người viết
khẳng định sự đúng đắn của tư tưởng “Tri thức là sức mạnh” và “Ai có tri thức thì người ấy có được
sức mạnh”, qua đó phê phán những người không biết quý trọng tri thức, sử dụng tri thức sai mục đích
và đề cao vai trò của tri thức đối với sự phát triển của đất nước.
5. So sánh đặc điểm của bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí với bài nghị luận về một sự việc,
hiện tượng đời sống. Từ đó rút ra nhận xét về điểm khác nhau giữa hai dạng bài nghị luận này.
Gợi ý:
- Bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng cuộc sống: Từ một sự việc, hiện tượng đời sống, người viết
nêu ra vấn đề mang ý nghĩa tư tưởng, đạo lí.
- Bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đao lí: Bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu,
phân tích… làm sáng tỏ, một vấn đề tư tưởng, đạo lí, chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của nó; qua đó
khẳng định tư tưởng của người viết.
1. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
2. Văn bản dưới đây thuộc loại nghị luận nào?
THỜI GIAN LÀ VÀNG
Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế
mới biết vàng có giá trị mà thời gian là vô giá.
Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì
sống, để chậm là chết.
Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch
đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại.
Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hoá đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ.
Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái,
thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được.
Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội. Bỏ
phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp.
(Phương Liên)
Gợi ý: Văn bản Thời gian là vàng thuộc loại bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
2. Văn bản Thời gian là vàng nghị luận về vấn đề gì? Hãy chỉ ra hệ thống luận điểm chính của bài
văn này.
Gợi ý: Văn bản nghị luận về giá trị của thời gian. Giá trị của thời gian được làm rõ qua các luận điểm:
- Thời gian là sự sống
- Thời gian là thắng lợi
- Thời gian là tiền
- Thời gian là tri thức
3. Trong văn bản Thời gian là vàng, người viết chủ yếu sử dụng phép lập luận nào?
Gợi ý: Người viết sử dụng phép lập luận phân tích và chứng minh.
4. Nhận xét về sức thuyết phục của cách lập luận trong bài văn Thời gian là vàng.
Gợi ý: Người viết đã phân tích giá trị của thời gian thành các luận điểm (Thời gian là sự sống – Thời
gian là thắng lợi – Thời gian là tiền – Thời gian là tri thức). Các luận điểm này lại được chứng minh

bằng những dẫn chứng từ thực tiễn. Mạch triển khai lập luận của bài văn đơn giản nhưng cô đọng, sáng
rõ và chặt chẽ.
CHUYÊN ĐỀ 1: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Chủ biên nhiều cuốn  sách tham khảo Ngữ Văn
PHẦN I: TÌM HIỂU CHUNG

KHÁI QUÁT
Nghị luận Xã Hội là dạng đề thi có mặt bắt đầu từ kỳ thi ĐH – CĐ năm 2009 và trở thành một dạng đề
thi ĐH – CĐ không thể thiếu trong những năm tiếp theo. Dạng đề thi này kiểm tra về kỹ năng, vốn
sống của thí sinh; kiểm tra mức độ hiểu biết của thí sinh về xã hội nói chung. Trên cơ sở đó nhằm giáo
dục nhân cách cho lớp trẻ. Sự thay đổi về khâu ra đề này đã mang đến một câu hỏi khá thú vị để các thí
sinh có quyền được nói lên những suy nghĩ của mình về cuộc sống, về những tâm tư tình cảm của mình
thông qua một bài văn nghị luận.
Đã nhiều năm làm quen với dạng đề thi này nhưng nó vẫn còn quá khó đối với nhiều thí sinh. Bởi vốn
sống của các em chưa nhiều, ngôn ngữ diễn đạt còn hạn chế, khi làm bài thì nghĩ gì trong đầu là viết
nấy chứ không biết cách lập luận.
Nhằm mang đến cho các em có thêm hiểu biết và có thêm kỹ năng làm bài dạng đề này, thầy Phan
Danh Hiếu biên soạn cuốn sách KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI. Mong rằng cuốn
sách NHỎ mà ý nghĩa LỚN sẽ mang đến cho các em cách tiếp cận và học thật tốt dạng đề thi này để
đáp ứng các bài kiểm tra tập trung tại trường , thi Tốt Nghiệp và Đại Học – Cao Đẳng.
Khoá học trực tuyến tốt nhất
@ CÁC DẠNG ĐỀ THI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI THƯỜNG GẶP
* Nghị luận về một hiện tượng đời sống:
Hiện tượng tốt có tác động tích cực (tiếp sức mùa thi, hiến máu nhân đạo…)
Hiện tượng xấu có tác động tiêu cực (Bạo lực học đường, tai nạn giao thông…)
Dạng đề thi nghị luận về một mẩu tin tức báo chí.
* Nghị luận về một tư tưởng đạo lý:
Tư tưởng mang tính nhân văn (lòng dũng cảm, khoan dung, ý chí nghị lực…)
Tư tưởng phản nhân văn (ích kỷ, vô cảm, thù hận, dối trá…)
Nghị luận về hai mặt tốt xấu trong một vấn đề (đề thi ĐH – CĐ từ 2009 – 2012)
Dạng đề có tính chất đối thoại, bàn luận, trao đổi (Dạng đề thi năm 2013)
Dạng đề về vấn đề đặt ra trong mẩu truyện nhỏ hoặc đoạn thơ.
III. NHỮNG VẤN ĐỀ LƯU Ý
1. Đọc kỹ đề
Mua sách bán chạy nhất trực tuyến
Đọc kỹ đề là yêu cầu đầu tiên vì đọc kỹ đề giúp ta hiểu rõ yêu cầu của đề, phân biệt được tư tưởng đạo
lý hay hiện tượng đời sống. Đọc kỹ đề, gạch chân dưới từ, cụm từ quan trọng để giải thích và xác lập
luận điểm cho toàn bài. Từ đó có định hướng đúng mà viết bài cho tốt.
2. Lập dàn ý
Lập dàn ý là khâu rất quan trọng. Lập dàn ý giúp ta kiểm soát được hệ thống ý, không sót ý nào khi
làm bài. Lập dàn ý còn cho ta thấy được hệ thống ý của toàn bài, từ đó sẽ dễ viết hơn, ý cũng không lan
man, dài dòng.
3. Dẫn chứng phải phù hợp
Không lấy những dẫn chứng chung chung sẽ không tốt cho bài làm. Dẫn chứng phải có tính thực tế và
thuyết phục (người thật, việc thật). Đưa dẫn chứng phải thật khéo léo và phù hợp (tuyệt đối không kể lể
dài dòng)
4. Lập luận chặt chẽ, lời văn cô đọng, hàm súc
Lời văn, câu văn, đoạn văn viết phải cô đúc, ngắn gọn. Lập luận phải chặt chẽ. Cảm xúc trong sáng,
lành mạnh. Để bài văn thấu tình đạt lý thì phải thường xuyên tạo lối viết song song (đồng tình, không
đồng tình; ngợi ca, phản bác…). Hay bắt đầu bằng những từ ngữ: Tuy nhiên bên cạnh đó; Nhưng vấn
đề khác được đặt ra ở đây là; Mặt trái của vấn đề ít ai biết đến là; …

Mua sách bán chạy nhất trực tuyến
5. Rút ra bài học nhận thức và hành động
Bất kỳ một đề thi nào cũng vì một mục đích là giáo dục nhân cách cho lớp trẻ, vì vậy bản thân em sau
khi phân tích, chứng minh, bàn luận… thì phải rút ra cho mình bài học. Thường bài học cho bản thân
bao giờ cũng gắn liền với mấy chữ: rèn luyện nhân cách cao đẹp, đấu tranh loại bỏ những thói xấu ra
khỏi bản thân, học tập lối sống…
6. Độ dài phù hợp với bài thi ĐH – CĐ
Viết khoảng 3 trang giấy thi là vừa đủ cho 600 từ như yêu cầu của đề bài. Không viết quá dài dòng, lan
man sẽ gây khó chịu cho người chấm (Ảnh hưởng những câu sau)
PHẦN II
CẤU TRÚC ĐỀ THI VÀ TỪNG DẠNG ĐỀ CỤ THỂ
NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ
1. KHÁI NIỆM
* Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, quan
điểm nhân sinh (như các vấn đề về nhận thức; về tâm hồn nhân cách; về các quan hệ gia đình xã hội,
cách ứng xử; lối sống của con người trong xã hội…)
* Về cách làm loại đề này, trước hết phải giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị luận. Nêu ý
chính hoặc câu nói về tư tưởng, đạo lý mà đề bài đưa ra. Phần thân bài có nhiều luận điểm.
 Luận điểm 1, cần giải thích rõ nội dung tư tưởng đạo lý; giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái
niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có); rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý; quan điểm của tác
giả qua câu nói (thường dành cho đề bài có tư tưởng, đạo lý được thể hiện gián tiếp qua câu danh
ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ…).
 Luận điểm 2, phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý (thường trả lời câu hỏi
tại sao nói như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống xã hội để chứng minh. Từ đó chỉ ra tầm quan
trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội).
 Luận điểm 3, bình luận mở rộng vấn đề; bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến tư
tưởng, đạo lý vì có những tư tưởng, đạo lý đúng trong thời đại này nhưng còn hạn chế trong thời
đại khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng chưa thích hợp trong hoàn cảnh khác; dẫn chứng minh
họa.
* Rút ra bài học nhận thức và hành động. Đây là vấn đề cơ bản của một bài nghị luận bởi mục đích
của việc nghị luận là rút ra những kết luận đúng để thuyết phục người đọc áp dụng vào thực tiễn đời
sống.
Mua sách bán chạy nhất trực tuyến
* Phần kết bài nêu khái quát đánh giá ý nghĩa tư tưởng đạo lý đã nghị luận.
* TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN

* TƯ TƯỞNG PHẢN NHÂN VĂN

I. MỞ BÀI: nêu vấn đề

I. MỞ BÀI: nêu vấn đề

II. THÂN BÀI

II. THÂN BÀI

1. Giải thích: nếu là câu nói , ý kiến có hai 1. Giải thích: nếu là câu nói , ý kiến có hai vế thì
vế thì giải thích hai vế rồi giải thích cả câu. giải thích hai vế rồi giải thích cả câu.
2. Bàn luận
a. Tác dụng ý nghĩa của tư tưởng (chứng
minh, so sánh, đối chiếu, phân tích … để
chỉ ra chỗ đúng)
b. Phê phán, bác bỏ tư tưởng trái ngược.

2. Bàn luận
a. Tác hại của tư tưởng (chứng minh, so sánh, đối
chiếu, phân tích … để chỉ ra chỗ sai)
b. Biểu dương, ngợi ca tư tưởng nhân văn đối lập
với phản nhân văn đã phân tích ở trên.

3. Bài học nhận thức và hành động
– Về nhận thức ta có: đúng hay sai?
– Về hành động ta cần: cần làm gì?

3. Bài học nhận thức và hành động.
– Về nhận thức ta có: đúng hay sai?
– Về hành động ta cần: cần làm gì?

III. KẾT BÀI: đánh giá chung về vấn đề

III. KẾT BÀI: đánh giá chung về vấn đề.

* CỤ THỂ HÓA NỘI DUNG BẰNG DÀN BÀI SAU:
@ DẠNG ĐỀ BÀN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH NHÂN VĂN CAO ĐẸP
* Ví dụ: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí nghị lực, tôn sư trọng đạo… Đề thi thường ra dưới
dạng một ý kiến, một câu nói, một hay vài câu thơ hoặc tục ngữ, ngạn ngữ…
* Ta làm bài theo cấu trúc sau:
1. MỞ BÀI
* Trong trường hợp là đề yêu cầu bàn về một câu nói, một ý kiến thì chúng ta nêu nội dung của ý kiến
(hoặc…) rồi dẫn ý kiến vào.
Khoá học trực tuyến tốt nhất
Ví dụ:
Đề ra: Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói của liệt
sĩ Đặng Thùy Trâm: “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”
Ta mở bài như sau: (thường dùng kiểu đối lập trong mở bài )
Cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu là khó khăn và thử thách. Nếu hèn nhát và yếu đuối chắc chắn
ta sẽ thất bại nhưng nếu có ý chí và nghị lực thì chắc chắn ta sẽ đạp bằng mọi gian khó để vươn đến
thành công. Có lẽ đó cũng chính là ý nghĩa của câu nói mà chị Đặng Thùy Trâm muốn gửi đến tất cả
chúng ta: “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”.
* Trong trường hợp đề thi chỉ yêu cầu bàn về một đức tính của con người thì ta mở bài như sau:
Ví dụ:
Đề ra: Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng tự trọng
trong cuộc sống.
Ta có mở bài như sau:
Trong cuộc sống, con người có nhiều phẩm chất đáng quý như: lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng tự trọng,
ý chí nghị lực, niềm tin… Trong đó, lòng tự trọng là phẩm chất quý báu nhất của con người.
1. THÂN BÀI
Giải thích: (Trước hết ta cần hiểu ý kiến (….) có ý nghĩa như thế nào)
Nếu có 2 vế thì: giải thích vế 1, vế 2 rồi giải thích cả câu.
Ví dụ: Suy nghĩ của Anh/chị về câu nói: “Không có mục tiêu nào quá lớn, không có ước mơ nào quá
xa vời” (Nick Vujicic)
Trước hết ta cần hiểu câu nói của Nick Vujicic: “Không có mục tiêu nào quá lớn, không có ước mơ
nào quá xa vời”. (Vế 1) “Mục tiêu” là điểm là đích mà chúng ta hướng đến trong cuộc đời, là một dự
định, một định hướng được đề ra trước mắt ta. (Vế 2) “Ước mơ” là khát vọng, là mong muốn đạt được
những điều mình đang ấp ủ trong lòng. (Cả câu) Như vậy, điều Nick muốn gửi đến chúng ta là gì:
trong cuộc sống mỗi con người hãy xây dựng cho mình một mục tiêu, một ước mơ. Hãy thực hiện nó
vì nó không có gì “quá lớn”, không có gì quá “xa vời”.
2. Bàn luận
@ Theo cách giải thích ở trên ta thấy đây là một ( ý kiến, câu nói) có nhiều tác dụng và ý nghĩa
nhân văn cao đẹp: (nêu biểu hiện và chứng minh. Thường trả lời các câu hỏi như: Tại sao? Thế nào?)
@Tuy nhiên bên cạnh những ý nghĩa nhân văn cao đẹp đã phân tích ở trên ta còn thấy nhiều tư
tưởng trái ngược cần lên án: (nêu biểu hiện, chứng minh)
3. Từ việc phân tích ở trên mỗi cá nhân cần rút ra cho mình bài học nhận thức và hành động.
– Về nhận thức, ta thấy đây là một (…) đúng cần học tập và noi theo.
– Về hành động, chúng ta cần: học tập và rèn luyện nhân cách, sống cao đẹp…(tự suy nghĩ và viết
tiếp)
III. KẾT BÀI
Tóm lại, (…) là một tư tưởng đúng có nhiều tác dụng và ý nghĩa cao đẹp. Mỗi chúng ta cần ý thức
được vai trò của mình trong đời sống. Cần rèn luyện bản thân có lối sống thật chuẩn mực, có nhân cách
phẩm giá để sống cho đúng danh nghĩa con người.

@ DẠNG ĐỀ BÀN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH TÁC HẠI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ
HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CON NGƯỜI
* Ví dụ: thói dối trá, lối sống ích kỷ, phản bội, ghen tị, vụ lợi cá nhân… Đề thi thường ra dưới dạng
một ý kiến, một câu nói, tục ngữ, ngạn ngữ…
1. MỞ BÀI
Nêu nội dung của ý kiến (hoặc…) rồi dẫn ý kiến vào.
Ví dụ:
Đề ra: Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói của
Nam Cao: “Cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương”.
Ta có mở bài như sau: (Tạo đối lập trong mở bài)
Trong bất kỳ công việc nào, nếu chúng ta làm việc có tâm, có trách nhiệm thì bao giờ công việc cũng
thành công. Còn nếu chúng ta làm việc một cách hời hợt, vội vàng, thiếu trách nhiệm thì bao giờ công
việc cũng sẽ đổ bể gây thiệt hại cho bản thân và người khác. Có lẽ đó cũng chính là ý nghĩa của câu nói
mà Nam Cao muốn gửi đến tất cả chúng ta: “Cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương”.
1. THÂN BÀI
2. Giải thích:(Trước hết ta cần hiểu ý kiến trên có ý nghĩa như thế nào)
Nếu 2 vế thì: giải thích vế 1, vế 2 rồi giải thích cả câu.
Ví dụ: Trước hết ta cần hiểu câu nói “Cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương” có ý
nghĩa gì? “Cẩu thả” có nghĩa là làm việc thiếu trách nhiệm, làm vội vàng, làm dối, làm hời hợt, qua
loa… “Bất lương” là không có lương tâm. Như vậy, cả câu có ý nghĩa là: làm việc gì mà thiếu trách
nhiệm, thiếu ý thức thì đồng nghĩa với việc không có lương tâm, không có đạo đức.
2. Bàn luận
@Theo cách giải thích ở trên ta thấy đây là một ( ý kiến, câu nói…) có nhiều ý nghĩa vì nó đã chỉ ra
được những tác hại của (…): nêu biểu hiện và chứng minh.
@Tuy nhiên bên cạnh những biểu hiện tiêu cực đã phân tích ở trên ta thấy còn có nhiều biểu hiện trái
ngược tốt đẹp cần tuyên dương: (nêu biểu hiện)
3. Từ việc phân tích ở trên mỗi cá nhân cần rút ra cho mình bài học nhận thức và hành động:
– Về nhận thức, ta thấy đây là một vấn đề xấu nhiều tác hại mà mỗi chúng ta cần đấu tranh và loại bỏ
ra khỏi bản thân mình và xã hội.
– Về hành động, chúng ta cần: học tập và rèn luyện nhân cách, sống cao đẹp…(tự suy nghĩ và viết tiếp)
III. KẾT BÀI
Tóm lại, …
Đề ra: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu
như mục đích tầm thường.” (Điđơrô). Em hiểu câu nói trên như thế nào? Câu nói đã gợi cho em những
suy nghĩ gì về quan niệm sống của bản thân hiện nay?
BÀI LÀM
Trong xã hội, có người công thành danh toại, cũng có kẻ suốt đời lao đao, lận đận chẳng làm nên
chuyện gì đáng kể. Có người sống không hề băn khoăn về mục đích sống, tựa như con tàu ra biển
không xác định hướng đi, sống không biết ai, chết chẳng ai hay. Lại có người ý đồ thì rất lớn mà sự
nghiệp rất nhỏ. Chuyện thành công hay thất bại do rất nhiều nguyên nhân tạo nên, trong đó chủ yếu là
tính “mục đích”. Vì vậy Điđơrô đã nhận xét: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh
cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”.
Câu nói của ông đề cập đến tính “mục đích” của mọi công việc, mọi hoạt động của con người. Con
người phải có mục đích sống. Mục đích sống tốt đẹp là nguồn động viên con người phấn đấu để đạt
được kết quả tốt đẹp hơn, sống hữu ích hơn trong xã hội. Nhận xét trên của Điđơrô hoàn toàn chính
xác. Nó sẽ hướng mọi suy nghĩ, hành động, tập trung ý chí, nghị lực của con người để đạt được yêu
cầu đã đặt ra.
“Mục đích” là kim chỉ nam của con người cho nên con người không thể sống, làm việc mà không có
“mục đích” nào cả.
Con người có trí tuệ soi sáng nên thường đặt ra yêu cầu cụ thể trước mỗi việc làm hay còn gọi là mục
tiêu hành động và trí tuệ chi phối mọi suy nghĩ. Loài người thường dùng lí trí để phân biệt đúng sai,

nên hay không nên khi hành động. Hành động thiếu mục đích thường không có hiệu quả. Trước khi
làm một việc gì, con người thường đặt ra “mục đích” ấy. Từ trước tới nay, đã có bao nhiêu nhà bác học
nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo trên mọi lĩnh vực để đem lại những kết quả tốt đẹp nhất, nhằm mục đích
cải thiện đời sống con người. “Mục đích” sẽ mở ra phương hướng, dẫn dắt mọi hoạt động của con
người.
Có “mục đích”, con người mới có động lực thúc đẩy trong công việc, có niềm vui và niềm tin vào việc
mình làm. Ngược lại, nếu sống không có “mục đích”, con người sẽ trở nên thụ động, bạc nhược và vô
dụng, cuộc đời mất hết ý nghĩa.
Thế nào là “mục đích tầm thường”? Một kẻ chỉ nghĩ đến quyền lợi của cá nhân, làm gì cũng chỉ nhằm
đạt kết quả cho cá nhân mình, cho gia đình mình mà không nghĩ đến quyền lợi của những người xung
quanh thì “mục đích” ấy là “mục đích” tầm thường, ích kỉ. Cách sống của người đó không có ích cho
cộng đồng. Bên cạnh đó, không ít người sống có mục đích cao thượng tốt đẹp. Họ là những con người
có ích cho xã hội, gia đình và suốt đời cống hiến cho dân, cho đất nước, không màng gì đến bản thân.
Họ sẵn sàng hi sinh tất cả để đất nước ngày càng giàu đẹp, nhân dân ngày càng sung sướng.
Động cơ nào thúc đẩy họ làm việc quên mình nếu không phải là “mục đích” đẹp đẽ và cao thượng?
Như vậy, “mục đích” cao thượng chính là ngọn đuốc chỉ đường, là nguồn sức mạnh động viên con
người tập trung ý chí, nghị lực và trí tuệ để thực tốt mọi công việc. Nhờ có “mục đích” lớn và tinh thần
làm việc không mệt mỏi mà các nhà khoa học đã sáng tạo ra bao công trình vĩ đại cho nhân loại.
Thực tế lịch sử cho thấy những tên tuổi lưu danh muôn đời đều là những người có “mục đích” sống lớn
lao, cao cả. Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí
Minh… cùng chung một khát vọng: bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi ngoại xâm, giành chủ quyền độc lập, tự
do thiêng liêng cho dân tộc. Công lao to lớn của các vị anh hùng đó đời
 
Gửi ý kiến