mot-luong-tam-noi-loan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:16' 06-03-2026
Dung lượng: 830.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:16' 06-03-2026
Dung lượng: 830.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Một
triết
gia
-
HENRY
DAVID
THOREAU
-
đã
ảnh
hưởng
tới
Gandhi,
Vua
Đan-mạch
Christian,
Danilo
Dolci,
Mục
sư
Luther
King…,
và
ảnh
hưởng
sẽ
còn
mỗi
ngày
một
lớn
trong
một
thế
giới
mà
chính
quyền
nào
cũng
có
những
phương
tiện
kinh
khủng
để
kiểm
soát,
đàn
áp
cá
nhân,
một
tiểu
luận
-
CIVIL
DISOBEDIENCE
(Bất
tuân
chính
quyền),
chỉ
gồm
ba
chục
trang
mà
đã
gây
biết
bao
phong
trào
tranh
đấu
bằng
bất
bạo
động
ở
khắp
nơi
và
được
coi
là
một
trong
vài
chục
tác
phẩm
đã
làm
thay
đổi
cục
diện
thế
giới.
NGUYỄN
HIẾN
LÊ
HENRY
DAVID
THOREAU
MỘT
LƯƠNG
TÂM
NỔI
LOẠN
bìa
Hoàng
Ngọc
Biên
-
Hồ
Hải
trình
bày
CẢO
THƠM
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
"Hạnh
phúc
chẳng
ở
đâu
xa,
hạnh
phúc
là
khi
ta
biết
ĐỦ."
Yêu
thương
quá
sinh
gò
bó,
quan
tâm
quá
khiến
mất
tự
do,
ghen
tuông
quá
mất
vị
tình
yêu
và
cái
gì
cũng
thế,
chạm
đến
chữ
ĐỦ
sẽ
chạm
được
hạnh
phúc
tròn
vị.
Ebook
“Một
lương
tâm
nổi
loạn”
là
món
quà
từ
những
người
bạn
4DHN,
Ban
Tang
Du
Tử,
dangtuanpr,
lichan,
Mot_sach09,
oceanoc,
tamchec,
Rafa
và
teacher.anh
gửi
tới
hanhdb
(Bi)
với
lời
nhắn
gửi:
Đừng
chạy
theo
cái
gì
quá
hoàn
chỉnh
và
cũng
chớ
ép
bản
thân
phải
trở
nên
quá
hoàn
hảo.
Yêu
thương
vừa
đủ,
ấm
áp
vừa
đủ,
quan
tâm
vừa
đủ
và
bên
nhau
vừa
đủ
có
lẽ
sẽ
hạnh
phúc
hơn.
Hãy
dám
sống
cuộc
đời
chân
chính
với
lương
tri
HENRY
DAVID
THOREAU
đã
chứng
minh
một
cá
nhân,
nếu
sống
như
một
con
người
đích
thực,
sẽ
có
sức
mạnh
và
sự
tự
do
to
lớn,
bằng
cả
cuộc
đời
của
ông.
Walden
cùng
Bất
tuân
chính
quyền
-
hai
tác
phẩm
được
dẫn
trong
cuốn
sách
Một
lương
tâm
nổi
loạn
-
chính
là
bằng
chứng
cho
điều
ông
tin
tưởng
và
hành
động:
Sống
một
cuộc
đời
tự
do
và
của
chính
mình
toàn
vẹn
nhất.
Đó
chính
là
cuộc
đời
dám
sống
chân
chính
với
lương
tri.
“Tôi
sinh
ra
không
phải
để
chịu
sự
cưỡng
bức.
Tôi
muốn
sống
theo
ý
tôi.”
(Henry)
Walden
giải
quyết
cho
con
người
khỏi
cái
ách
về
vật
chất.
Đó
là
câu
chuyện
của
chính
ông
sống
bằng
phương
thức
tự
cung
tự
cấp
suốt
hai
năm
trời
ở
trong
rừng.
Ông
tự
xây
nhà,
làm
vườn,
làm
thuê
lặt
vặt…
để
có
tiền
vừa
đủ
để
trang
trải
nhu
cầu
sống
của
cá
nhân.
Ông
chỉ
mất
chừng
sáu
tuần
trong
một
năm
để
làm
lụng
lo
cho
nhu
cầu
ăn,
ở.
Thời
gian
còn
lại
ông
dành
cho
suy
tư,
chiêm
ngưỡng
cuộc
sống.
Và
bởi
vậy
ông
đạt
được
những
viên
mãn
trong
tâm
hồn
mình,
và
cũng
không
cảm
thấy
sự
thiếu
thốn
vật
chất.
Walden
là
những
lời
tự
sự,
những
tính
toán
chi
li
sáng
suốt
của
chính
Henry,
để
biết
được
một
cách
chân
xác
rằng
con
người
ta
không
nhất
thiết
phải
khốn
đốn
để
kiếm
cái
ăn
trong
cuộc
đời.
Mà
họ
có
thể
như
con
chim
vừa
kiếm
ăn
vừa
hát
ca
được.
Còn
Bất
tuân
chính
quyền
lại
giải
quyết
cái
ách
về
phẩm
hạnh
của
một
con
người
xã
hội
chân
chính
–
Tác
phẩm
nói
cho
mỗi
cá
nhân
phải
sử
dụng
chính
quyền
như
thế
nào
cho
phải
lẽ,
cho
đúng
thực
là
con
người
có
lương
tâm
và
dám
hành
động
cho
những
điều
tốt
đẹp
nhất.
Một
chính
quyền
tốt
đẹp
nhất
theo
ông
chính
là
một
chính
quyền
không
can
thiệp
vào
cuộc
sống
của
mỗi
cá
nhân,
miễn
là
cá
nhân
đó
không
tổn
hại
gì
cho
ai.
Còn
nếu
chính
quyền
đó
sai
trái
thì
bổn
phận
của
mỗi
cá
nhân
phải
là
bày
tỏ
sự
không
tuân
theo
con
đường
sai
trái
đó.
“Mọi
người
đều
nhận
cái
quyền
làm
cách
mạng;
nghĩa
là
cái
quyền
từ
chối
sự
trung
thuận
với
chính
phủ
và
chống
lại
chính
phủ
khi
chính
phủ
tàn
bạo
quá
hoặc
bất
lực
quá,
chịu
không
nổi.”
Cách
bày
tỏ
đơn
giản
chính
là
không
ủng
hộ
cả
về
vật
chất
(đóng
thuế)
và
con
người
(không
hành
động
theo
mệnh
lệnh
của
chính
quyền
–
đi
lính).
Và
chỉ
bằng
cách
như
vậy,
con
người
ta
có
thể
làm
thay
đổi
cả
một
chính
quyền
bất
công,
tàn
bạo,
bất
hợp
lý
với
những
lẽ
phải
trong
đời.
Tuy
nhiên,
cái
ý
của
Henry
không
chỉ
dừng
lại
ở
đó.
Trong
Bất
tuân
chính
quyền
ông
vạch
ra
được:
Thứ
nhất:
Điều
gì
làm
cản
trở
một
công
dân
hành
động
theo
lẽ
phải
mà
đáng
lẽ
ra
họ
phải
hành
động
khi
cần
thiết
để
phản
đối
một
chính
quyền
không
nhân
đạo?
Câu
trả
lời
chính
là
sự
sở
hữu
vật
chất
và
cả
lòng
sợ
mất
mát
một
cuộc
đời
không
có
lương
tri
–
tức
là
sinh
mạng.
Và
cả
những
hiểu
lầm
tai
hại
về
sự
phục
tùng
chính
quyền
cùng
với
lòng
ái
quốc.
Vật
chất
hay
của
cải
chính
là
cái
trói
buộc
sự
tự
do
và
cả
sự
cao
thượng
của
con
người
nữa.
Thường
để
có
được
của
cải
càng
nhiều
con
người
ta
buộc
phải
gắn
chặt
với
chính
quyền,
vì
chính
quyền
bảo
hộ
cho
những
cuộc
làm
ăn,
những
sự
vụ
kinh
tế
của
họ
để
tạo
ra
tài
sản.
Ngược
lại,
chỉ
bằng
với
cách
đe
dọa
tước
đi
của
cải
của
một
người
cũng
đủ
để
chính
quyền
bắt
người
đó
suốt
đời
phục
tòng
như
nô
lệ
mà
không
dám
nói
lên
được
điều
bản
thân
cảm
thấy
đúng
đắn,
nếu
mà
người
ấy
sợ
mất
của
cải.
Và
vì
vậy,
Henry
chủ
trương
con
người
đừng
bắt
đầu
mua
dây
buộc
mình
bằng
cách
tích
trữ
tài
sản.
Càng
nghèo,
anh
càng
ít
bị
đe
dọa
sự
tự
do
hơn,
bởi
vì
anh
ít
có
cái
để
mất
hơn
và
người
ta
không
vin
được
vào
đó
mà
đe
dọa
hay
bắt
ép
anh
được.
Mà
nghèo
thì
chẳng
có
gì
đáng
sợ,
còn
là
hạnh
phúc
nữa,
như
cái
cách
mà
Henry
đã
nói
trong
Walden.
Về
tính
mạng,
Henry
không
chủ
trương
con
người
ta
phải
hy
sinh
tính
mạng
để
tranh
đấu
cho
một
lẽ
phải
trong
đời,
bởi
cuộc
sống
nào
cũng
đáng
quý.
Nhưng
ông
vạch
ra,
không
phải
cuộc
tranh
đấu
nào
cũng
dẫn
đến
mất
mạng.
Và
sự
tranh
đấu
không
tổn
hại
đến
tính
mạng
mà
vẫn
đạt
được
hiệu
quả
to
lớn
vẫn
có.
Đó
chính
là:
đấu
tranh
bất
bạo
động.
“Nếu
ta
buộc
chính
quyền
phải
lựa
chọn,
một
là
bỏ
tù
hết
những
người
công
bằng,
hai
là
phải
từ
bỏ
chiến
tranh
và
chế
độ
nô
lệ
đi,
thì
chính
quyền
tất
phải
biết
lựa
chọn
đường
nào.”
Việc
đấu
tranh
chống
lại
chính
quyền
này
có
thể
thắng
lợi
chỉ
cần
1000
người
không
nộp
thuế
và
cam
chịu
vào
tù
mà
thôi.
Và
mỗi
người
phải
hiểu
rằng:
“khi
lương
tâm
bị
thương
tổn
thì
có
khác
gì
máu
đã
đổ
rồi”.
Cuối
cùng,
sự
nhầm
lẫn
giữa
phục
tòng
chính
quyền
và
lòng
ái
quốc
cũng
là
cái
bẫy
khiến
cho
mỗi
người
không
dám
hành
động
chống
đối
lại
một
chính
quyền
đã
hư
hỏng.
Vì:
“
dưới
cái
danh
hiệu
“trật
tự
và
chính
quyền”,
rốt
cuộc
người
ta
bắt
chúng
ta
tôn
trọng
sự
đê
hèn
của
chính
ta.”.
Nghĩa
là
bắt
mỗi
cá
nhân
phải
hành
động
không
như
ý
mình
muốn
chỉ
bởi
vì
suy
nghĩ
đang
phụng
sự
cho
quốc
gia.
Điển
hình
đây
là
hình
ảnh
của
những
người
lính
phải
bất
đắc
dĩ
cầm
súng
ra
chiến
trường
vô
nghĩa
–
chiến
trường
của
những
cuộc
xâm
lăng
chẳng
hạn.
Điều
thứ
hai:
Những
biểu
hiện
giả
dối
của
lương
tri
nửa
vời.
Để
theo
đuổi
được
con
đường
của
lương
tri
thì
phải
tuyệt
đối
rời
bỏ
con
đường
lương
tri
nửa
vời.
Con
đường
nửa
vời
đó
còn
nguy
hiểm
hơn
là
việc
không
theo
đuổi,
bởi
vì
nó
làm
cho
con
người
ta
nghĩ
rằng
mình
đã
đủ
tốt
trong
khi
chẳng
làm
nên
tích
sự
gì
cả.
Nó
biểu
hiện
dưới
sự
ủng
hộ,
đồng
thuận,
bỏ
phiếu,
tán
dương…những
cá
nhân
khác
đang
đấu
tranh
cho
lẽ
phải
bằng
hành
động,
mà
lại
không
có
hành
động
cụ
thể
nào
hơn,
không
dám
từ
bỏ
sự
an
toàn
của
mình,
lo
sợ
mất
mát
tài
sản
hoặc
tính
mệnh
của
bản
thân.
Con
đường
nửa
vời
còn
là
là
tin
tưởng,
gởi
gắm
hay
ủy
thác
điều
mình
mong
muốn
và
nhận
định
chân
xác
là
đúng
đắn,
cho
một
người
anh
hùng
nào
đó.
Mỗi
cá
nhân
phải
hành
động
theo
lương
tri
của
mình,
và
mỗi
cá
nhân
có
đủ
sức
mạnh
để
thay
đổi
tất
cả
chứ
không
phải
chờ
đợi
đến
một
vĩ
nhân
làm
thay
họ.
“Cứ
một
người
có
đạo
đức
thì
có
tới
chín
trăm
chín
mươi
chín
người
bảo
vệ
đạo
đức;
nhưng
để
thỏa
thuận
với
người
làm
chủ
một
vật
gì
còn
dễ
dàng
hơn
là
với
người
chỉ
tạm
thời
giữ
vật
đó
thôi.”(Henry)
Hai
tác
phẩm
của
Henry
chính
là
gươm
báu
sắc
bén
để
chặt
đứt
những
gông
xiềng
mà
con
người
tự
mang
cho
mình
và
tưởng
rằng
sẽ
chẳng
có
cách
nào
thoát
được.
Nó
là
chìa
khóa
để
mỗi
người
có
thể
tự
tin
vào
chính
mình
để
đi
con
đường
đồng
hành
cùng
lương
tri,
miễn
là
anh
chịu
đồng
hành.
Chỉ
cần
lắng
nghe
lương
tri,
hành
động
trong
sự
không
lo
sợ,
và
như
vậy
mỗi
người
sẽ
đạt
đến
việc
sống
một
cuộc
sống
thực
sự
với
đầy
đủ
những
tinh
túy
và
ban
tặng
của
nó.
Henry
không
phải
là
một
triết
gia
đương
thời,
không
phải
một
nhà
cải
cách
xã
hội
đương
thời,
không
cả
một
nhà
văn
tên
tuổi
đương
thời.
Henry
có
vẻ
như
là
một
kẻ
nổi
loạn
lập
dị,
thích
sự
một
mình
và
chống
đối
lại
cả
thế
giới
không
dám
nhận
lấy
tiếng
nói
của
lương
tâm
xung
quanh
ông.
Henry
là
một
kẻ
vô
danh
khi
còn
sống,
nhưng
là
một
lương
tâm
bất
tử
mà
mọi
con
người
nên
soi
vào
đó
để
cố
gắng
tranh
đấu
giữ
lấy
phần
người
của
mình
và
tin
tưởng
vào
thắng
lợi
của
cuộc
tranh
đấu
tưởng
như
“ngu
dại,
điên
rồ”
nhưng
thực
sự
là
cuộc
đời
chân
chính
đó.
Ban
Tang
Du
Tử
Mục
lục
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
PHẦN
1.
-
Một
lương
tâm
nổi
loạn
Biểu
biên
niên
đời
Henry
David
Thoreau
Tiểu
sử
Henry
David
Thoreau
Đã
có
định
kiến
từ
hồi
hai
mươi
tuổi
“Một
con
người
kỳ
cục”
Vào
rừng
để
tìm
một
lối
sống
Bị
nhốt
khám,
khi
được
thả
lại
cự
nự
Rời
Walden
trở
về
Concord
Nhập
tịch
làng
văn
-
Bổn
phận
bất
tuân
chính
quyền
“Nghề
viết
văn
như
vậy
đấy”
“Walden”
-
Một
tác
phẩm
phúng
thích
văn
minh
hiện
đại
Bênh
vực
nô
lệ
Chúa
và
tôi
có
gây
lộn
với
nhau
lần
nào
đâu?
Ảnh
hưởng
của
Thoreau
PHẦN
2.
-
Walden
hay
Đời
sống
trong
rừng
PHẦN
3.
-
Bất
tuân
chính
quyền
Phần 1
Một
lương
tâm
nổi
loạn
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
BIỂU
BIÊN
NIÊN
ĐỜI
HENRY
DAVID
THOREAU
1817.
Sinh
ở
Concord
(tiểu
bang
Massachusetts),
một
thôn
thịnh
vượng
vừa
là
trạm
cách
Boston
khoảng
ba
chục
cây
số
về
phía
tây-bắc;
nơi
đó
là
chiến
trường
đầu
tiên
trong
chiến
tranh
Độc
lập
của
Hoa-kì,
và
sau
thành
nơi
trung
tâm
văn
hóa
tranh
giành
ảnh
hưởng
với
Boston.
1833.
Vào
Đại
học
Harvard
sau
khi
theo
học
các
lớp
dự
bị
ở
Concord
Academy.
1837.
Được
bằng
cấp
Đại
học;
lại
thăm
Emerson,
bắt
đầu
viết
Nhật
kí.
1838.
Mở
một
trường
tư
cho
thiếu
nữ
ở
Concord,
dạy
chung
với
anh
là
John.
Lần
đầu
tiên
lại
ở
miền
Maine.
1839.
Cùng
với
John
thực
hiện
cuộc
lãm
du
nổi
tiếng
trên
các
con
sông
Concord
và
Merrimark,
từ
ngày
31
tháng
tám
tới
ngày
13
tháng
chín.
1841.
Thành
người
quản
gia
“làm
đủ
mọi
việc”
cho
Emerson;
đồng
thời
bắt
đầu
nghiên
cứu
văn
học
phương
Đông.
1842.
Ông
yêu
anh
là
John
lắm,
nên
rất
đau
lòng
khi
John
vì
cạo
râu,
đứt
mặt,
bị
bệnh
phá-thương-phong
mà
chết.
Gửi
thiên
khảo
luận
“Vạn
vật
ở
tiểu
bang
Matssachusetts”
cho
tạp
chí
Dial.
1843.
Làm
giáo
sư,
dạy
con
cho
một
người
anh
(hay
em)
của
Emerson,
tên
là
William,
ở
Staten
Island,
vịnh
New
York.
1845.
Mùng
4
tháng
bảy
lại
ở
bên
bờ
đầm
Walden.
Bắt
đầu
viết
tập
Một
tuần
trên
các
dòng
sông
Concord
và
Merrimack.
1846-47.
Chiến
tranh
với
Mễ-tây-cơ.
1847.
San
khi
rời
bờ
đầm
Walden
ngày
mùng
6
tháng
chín,
lại
trở
về
ở
nhà
Emerson
trong
khi
ông
này
qua
châu
Âu,
1849.
Trở
về
nhà
cha
mẹ.
Xuất
bản
cuốn
Một
tuần
trên
các
dòng
sông
Concord
và
Merrimack,
sách
bán
ế.
Chị
là
Helen
mất.
Tập
Chống
lại
chính
quyền
(sau
đổi
nhan
đề
là
Bất
tuân
chính
quyền)
đăng
trên
tạp
chí
Aesthetic
Papers.
Ông
lại
thăm
mũi
Cod.
1850.
Trở
lại
mũi
Cod.
Qua
Gia-nã-đại.
1854.
Xuất
bản
cuốn
Walden.
1855.
Tới
ở
mũi
Cod
lần
thứ
ba.
Tạp
chí
Pulnam's
Magazine
đăng
bốn
chương
trong
tập
Mũi
Cod.
1856.
Lại
chơi
Brooklyn,
làm
quen
với
Walt
Whitman
và
nghe
Beecher
thuyết
giáo.
1857.
Lại
ở
mũi
Cod
lần
cuối
cùng.
Gặp
John
Brown,
người
chủ
trương
giải
phóng
nô
lệ.
1858.
“Chesuncook”
đăng
trên
tờ
Atlantic
Monthly.
1859.
Đọc
một
diễn
văn
ca
tụng
John
Brown
ở
Concord.
1861.
Lại
thăm
miền
Minnesota.
Chiến
tranh
Nam-Bắc
bắt
đầu.
1862.
Mất
ngày
mùng
6
tháng
năm
vì
bệnh
lao.
1865.
Chiến
tranh
Nam-Bắc
chấm
dứt.
TIỂU
SỬ
HENRY
DAVID
THOREAU
Năm
1956
nhà
The
New
American
Library
of
World
Literature
Inc.
-
New
York
-
xuất
bản
một
cuốn
nhan
đề
là
Books
that
changed
the
World
(Những
cuốn
sách
đã
thay
đổi
thế
giới)[1].
Tác
giả,
ông
Robert
B.
Downs
chỉ
muốn
viết
một
cuốn
vài
trăm
trang,
phải
tự
hạn
chế,
gạt
hết
các
tác
phẩm
về
tôn
giáo,
triết
học,
văn
học,
(như
các
Thánh
kinh,
kinh
của
Phật
giáo,
Khổng
giáo,
kinh
Coran,
tác
phẩm
của
các
triết
gia
Hi-Lạp,
của
Kant,
Shakespeare,
Goethe
vân
vân…),
chỉ
lựa
mười
cuốn
về
các
môn
xã
hội
(Social
Sciences)
và
sáu
cuốn
về
khoa
học.
Sự
lựa
chọn
nào
cũng
miễn
cưỡng
và
có
tính
cách
chủ
quan.
Sáu
nhà
khoa
học
ông
lựa
có
thể
coi
là
xứng
đáng
cả
(Copernic,
W.
Harvey,
Newton,
Darwin,
Freud.
Einstein):
nhưng
còn
mười
nhà
kia
viết
về
xã
hội,
thì
tôi
nghĩ
nếu
tác
giả
là
người
Pháp,
hoặc
người
phương
Đông
chúng
ta,
sự
lựa
chọn
tất
sẽ
khác:
chẳng
hạn
cuốn
Uncle
Tom's
Cabin
(Cái
chòi
của
chú
Tom)
của
H.
B.
Stowe
đâu
có
ảnh
hưởng
lớn
tới
thế
giới
bằng
cuốn
De
l'espril
des
lois
(Vạn
pháp
tinh
lý)
của
Montesquieu.
Còn
vài
cuốn
khác
chắc
nhiều
bạn
cũng
như
tôi
không
đồng
ý
với
ông,
nhưng
ai
cũng
phải
nhận
rằng
cuốn
Civil
Disobedience
(Bất
tuân
chính
quyền)
của
Henry
David
Thoreau,
tuy
chỉ
gồm
có
vài
ba
chục
trang,
đúng
ra
chỉ
là
một
bài
văn
phúng
thích
đăng
trên
báo,
mà
quả
thực
đã
có
ảnh
hưởng
khá
lớn
tới
nhân
loại.
Ảnh
hưởng
đó
từ
nay
tới
cuối
thế
kỉ,
còn
mỗi
ngày
mỗi
tăng:
chính
quyền
của
các
nước
càng
mạnh
lại
càng
tỏ
ra
tàn
nhẫn,
phi
nhân,
nhân
loại
không
thể
chấp
nhận
được
tình
trạng
như
hiện
nay;
hai
phần
ba
phải
chịu
đói
khát,
thất
học
trong
khi
các
nước
“anh
chị”
tiêu
phí
không
biết
bao
nhiêu
của
cải,
nhân
lực
vào
việc
chế
tạo
hằng
ngàn
thứ
khí
giới
kinh
khủng
để
tranh
giành
ảnh
hưởng
với
nhau.
Sẽ
tới
một
lúc
lương
tâm
nhân
loại
phải
nổi
loạn
như
lương
tâm
của
Thoreuu
ở
giữa
thế
kỉ
trước.
Đã
có
định
kiến
từ
hồi
hai
mươi
tuổi
Henry
David
Thoreau
sinh
ngày
12
tháng
7
năm
1817
ở
Concord,
tiểu
bang
Massachusetts
(Huê-kì),
trong
một
gia
đình
rất
nghèo
gồm
bốn
người
con:
Helen,
gái;
John,
trai;
rồi
tới
ông
và
một
người
em
gái,
Sophia.
Cha
là
John
Thoreau,
nghiêm
trang,
ít
nói,
làm
ruộng
thất
bại,
mở
một
quán
ở
Chelmsford
cũng
thất
bại
nữa,
dạy
học
thì
không
có
học
trò,
làm
lái
buôn
cũng
không
đủ
ăn,
sau
cùng
an
phận,
đến
Concord
chế
tạo
bút
chì
để
sinh
nhai.
Mẹ
Cynthia
Dunbar,
trái
hẳn
cha,
tính
tình
hoạt
bát
vui
vẻ,
dễ
thương,
đọc
sách
rất
nhiều,
có
những
tư
tưởng
tiến
bộ,
chẳng
hạn
kịch
liệt
chống
chế
độ
nô
lệ,
ảnh
hưởng
lớn
tới
tư
tưởng
của
Thoreau
sau
này.
Concord
là
một
làng
có
khoảng
hai
ngàn
dân,
trên
bờ
con
sông
cũng
mang
tên
đó,
và
là
chiến
trường
đầu
tiên
trong
Chiến
tranh
Độc
lập
của
Hoa
kì.
Phong
cảnh
rất
đẹp.
Chung
quanh
là
cánh
đồng
có
nhiều
con
sông
nhỏ
chảy
qua.
Xa
hơn
một
chút
là
những
ngọn
đồi
nhỏ
đầy
thông,
bạch-tùng
chiếu
bóng
xuống
những
mặt
hồ
và
đầm.
Một
trong
những
cái
đầm
được
Thoreau
thích
nhất,
thích
ngay
từ
hồi
năm
tuổi,
là
đầm
Walden.
Cũng
như
các
trẻ
em
khác,
hồi
nhỏ
ông
phải
chăn
bò,
bắt
thỏ,
câu
cá,
nhưng
không
thích
những
công
việc
đó
mà
thích
đọc
sách.
Hồi
mười
tuổi
ông
đã
viết
một
bài
tiểu
luận
nhan
đề
là
The
Seasons
(Bốn
mùa),
tỏ
ra
yêu
thiên
nhiên,
thích
tĩnh
mịch
và
có
khiếu
về
văn
chương.
Tuy
nhà
nghèo,
nhưng
thân
phụ
ông
cũng
rán
nuôi
ông
học
hết
ban
Trung
học,
rồi
vào
Đại
học
Concord
để
chuẩn
bị
thi
vào
Harvard.
Mười
sáu
tuổi
ông
biết
chút
ít
tiếng
La-tinh,
Hi-lạp,
Pháp
và
tháng
9
năm
1833
ông
vào
Harvard.
Ở
đây
ông
học
thêm
toán
học,
khoa
học,
nhưng
vẫn
thích
các
tác
giả
cổ
điển
Hi,
La
nhất.
Tính
tình
lãnh
đạm,
không
ưa
giao
du,
đi
thì
lúc
nào
cũng
cúi
gầm
mặt
xuống,
như
mải
suy
tư,
mơ
mộng.
Gặp
tác
phẩm
cổ
điển
nào
cũng
đọc:
Virgile,
Cicéron,
Horace,
Homère,
Démosthènes,
Euripice,
Sénèque…,
nhờ
vậy
rất
tiến
bộ
về
luận
văn,
và
đã
bắt
đầu
có
những
tư
tưởng
khác
người.
Chẳng
hạn
trong
một
bài,
ông
viết:
“Theo
những
thói
quen
và
tục
lệ
của
người
khác,
điều
đó
không
thể
gọi
là
bổn
phận
được,
Tôi
chỉ
có
bổn
phận
theo
những
qui
tắc
mà
lương
tâm
tôi
chỉ
cho
tôi
thôi…
Tôi
không
được
vì
sợ
làm
phật
ý
người
khác
mà
không
làm
theo
ý
tôi.”
Suốt
đời
ông
giữ
tư
tưởng
đó.
Năm
1836,
tác
phẩm
Nature
(Thiên
nhiên)
của
triết
gia
Ralph
Waldo
Emerson
ra
đời,
ảnh
hưởng
lớn
tới
thanh
niên
Hoa-kì.
Mới
đọc
mấy
hàng
đầu,
Thoreau
đã
mê
liền:
“Muốn
biết
sự
cô
liêu
thì
phải
trốn
xã
hội,
trốn
cả
cái
phông
của
mình
nữa.
Khi
tôi
viết
hay
đọc
sách
thì
dù
không
có
ai
bên
cạnh,
tôi
cũng
không
thật
là
cô
liêu.
Muốn
thật
là
cô
liêu
thì
phải
ngắm
các
vì
tinh
tú.”
Như
vậy,
tư
tưởng
của
Thoreau
đã
thành
hình
từ
hồi
ông
hai
mươi
tuổi:
yêu
thiên
nhiên,
thích
cô
liêu
và
sống
cho
chính
mình,
hoàn
toàn
tự
do,
độc
lập,
không
chịu
sự
ràng
buộc
của
xã
hội.
Tháng
tám
năm
1837,
ông
được
bằng
cấp
đại
học
Harvard.
Trong
bài
diễn
văn
đọc
lúc
phát
bằng
cấp,
ông
mạt
sát
tinh
thần
thương
mại:
“Cái
thế
giới
kì
cục
mà
chúng
ta
sống
này
lộng
lẫy
hơn
là
ích
lợi…
Phải
đảo
lộn
một
chút
trật
tự
của
sự
vật
đi:
chỉ
nên
đổ
mồ
hôi
để
kiếm
ăn
trong
một
ngày
thôi;
còn
sáu
ngày
kia
phải
là
những
ngày
chủ
nhật
cho
tâm
hồn
nghỉ
ngơi
để
đi
thăm
cái
vườn
vũ
trụ
mênh
mông,
hưởng
những
ảnh
hưởng
êm
đềm
và
tiếp
nhận
những
khải
thị
cao
cả
của
Thiên
nhiên.”
Chưa
thấy
ai
mới
hai
mươi
tuổi
mà
đã
đề
cao
sự
nhàn
tản
tới
mức
đó.
“Một
con
người
kỳ
cục”
Thi
đậu
rồi,
Thoreau
trở
về
quê
nhà,
kiếm
cách
sinh
nhai
để
có
thể
độc
lập
sống
theo
ý
mình,
mà
lại
nhàn
hạ
để
suy
tư,
làm
thơ,
viết
sách.
Ông
thích
thơ
nhưng
không
có
khiếu
về
thơ,
lại
biết
nghề
đó
khó
nuôi
sống
mình
được;
suy
đi
tính
lại,
ông
lựa
nghề
dạy
học.
Nhờ
một
tờ
giấy
chứng
nhận
rất
tốt
của
viện
trưởng
trường
Harvard
-
trình
độ
học
vấn
cao,
hạnh
kiểm
rất
tốt,
đủ
tư
cách
dạy
học,
-
ông
được
ngay
trường
tiểu
học
Concord
mời
dạy.
Nhưng
tư
tưởng
về
giáo
dục
của
ông
khác
đời.
Ông
tuyên
bố
rằng
sẽ
bỏ
chính
sách
dùng
roi
vọt
mà
chỉ
“thuyết
luân
lí”
cho
trẻ
thôi.
Hội
đồng
quản
trị
của
trường
không
tin
rằng
cách
đó
hữu
hiệu
nhưng
cũng
để
ông
thí
nghiệm
trong
hai
tuần.
Thấy
kỉ
luật
trong
lớp
kém
hẳn
trước,
học
sinh
hóa
ra
ngỗ
nghịch,
làm
biếng,
hội
đồng
cử
một
người
tới
khuyên
ông
trở
lại
lối
cũ.
Ông
nổi
quạu,
bảo
thẳng
rằng
không
muốn
nghe
ai
dạy
khôn
ông
về
chức
vụ
dạy
học
của
ông.
Ông
nhất
định
giữ
chủ
trương
dạy
học
thì
không
được
dùng
roi
vọt.
Cuối
buổi
học
đó,
vẻ
mặt
tự
cao
tự
đại
và
khinh
khỉnh,
gần
như
thách
đố
mọi
người,
bảo
sáu
học
sinh
sắp
thành
hàng,
quất
mỗi
em
mấy
roi,
rồi
liệng
roi
xuống
đất,
bước
ra
khỏi
lớp,
từ
chức
luôn.
Không
ai
chịu
được
thái
độ
kì
cục
đó,
mà
ông
cũng
bất
chấp
dư
luận
của
mọi
người.
Như
ông
nói,
“điệu
đi
của
ông
khác
thiên
hạ
vì
ông
nghe
thấy
trong
thâm
tâm
ông
một
điệu
trống
khác”.
Thôi
dạy
học,
ông
giúp
cha
chế
tạo
bút
chì;
công
việc
này
đủ
ăn,
tự
do,
nhàn
nhã,
lúc
nào
muốn
làm
thì
làm,
muốn
nghỉ
thì
nghỉ,
nhưng
vẫn
còn
thích
trở
lại
nghề
dạy
học
nên
làm
đơn
xin
dạy
ở
vài
nơi
khác.
Gia
đình,
họ
hàng
ông
-
trừ
anh
ông
là
John
rất
hợp
ý
với
ông
đều
cho
ông
là
gàn,
bướng
bỉnh,
có
những
ý
nghĩ
ngược
đời,
mà
lại
hay
tranh
luận
nữa.
Vì
vậy
ông
rút
lên
ở
trên
thượng
lương,
nơi
người
ta
dùng
làm
chỗ
chứa
những
đồ
cũ
không
dùng
tới
nhưng
cũng
không
nỡ
bỏ
đi.
Trong
tập
Nhật
ký
-
thời
đó
người
Âu,
Mĩ
có
thói
viết
nhật
kí,
đàn
ông
cũng
như
đàn
bà
ai
cũng
có
một
tập
riêng
ghi
chép
đủ
chuyện
-
chúng
ta
thấy
ông
ghi
câu
này:
“Không
nên
làm
kinh
động
tụi
nhện,
để
yên
chúng,
cũng
không
nên
quét
sàn,
thu
xếp
đồ
đạc
chất
đống
đó
lại
làm
chi.”
Ở
trên
thượng
lương
đó,
ông
đọc
các
tác
phẩm
cổ
điển:
Ossian,
Homère,
Chaucer,
Pline,
Aristote,
Virgile,
Le
Tasse…;
chán
rồi
thì
đi
chơi
các
miền
chung
quanh
Concord,
vào
rừng,
ra
bờ
sông
hoặc
lại
đầm
Walden.
Ông
ghi
lại
trong
nhật
kí
những
đề
tài
ông
tính
viết
cùng
những
tư
tưởng
của
ông,
chẳng
hạn:
“Tôi
muốn
biết
tôi
đã
sống
cách
nào
để
suy
nghĩ
xem
từ
nay
nên
sống
ra
sao
”.
Ông
đưa
nhật
kí
cho
người
thân
đọc,
và
một
bà
bạn
của
cô
Helen
(chị
ông)
thấy
tư
tưởng
của
ông
có
nhiều
điểm
hợp
với
Emerson.
Bà
đó
là
chị
của
bà
vợ
thứ
nhì
của
Emerson,
về
kể
với
Emerson,
và
Emerson
nhắn
mời
Thoreau
lại
chơi.
Emerson
là
một
triết
gia
hồi
đó
đã
nổi
tiếng,
mới
lại
ở
Concord,
được
thanh
niên
hoan
nghênh,
vì
ông
đề
cao
cá
nhân,
đúng
hơn
là
lương
tâm
cá
nhân.
Ông
cho
rằng
lương
tâm
cá
nhân
còn
quí
hơn
những
tín
ngưỡng
truyền
thống,
hơn
cả
những
tín
điều,
giáo
lí
trong
Thánh
kinh
và
của
giáo
hội
nữa.
Nghĩa
là
ông
chủ
trương
hoàn
toàn
tự
do
tín
ngưỡng,
chỉ
tâm
hồn
ta
mới
phán
xét
được
ta
về
vấn
đề
tâm
linh.
Vậy
thì
bổn
phận
chúng
ta
là
phải
tự
tìm
hiểu
mình,
biểu
lộ
cá
tính
của
mình.
Thoreau
đã
biết
danh
ông,
đã
đọc
tác
phẩm
Thiên
nhiên
của
ông,
nhưng
vì
tinh
thần
độc
lập,
chưa
bao
giờ
có
ý
muốn
lại
làm
quen
với
ông.
Lần
này,
Emerson
mời
ông
mới
tới.
Emerson
hơn
Thoreau
mười
bốn
tuổi,
thấy
Thoreau
có
tài
viết
văn,
có
những
tư
tưởng
độc
đáo,
ngầm
mong
rằng
chàng
thanh
niên
hai
mươi
mốt
tuổi
đó
sau
này
sẽ
thành
một
môn
đệ
trung
thành
của
mình.
Tình
của
hai
triết
gia
đó
mới
đầu
đằm
thắm,
sau
lơi
dần
vì
Thoreau
độc
lập
quá,
vượt
cả
Emerson
nữa.
Từ
đó
Thoreau
thường
dự
những
buổi
tranh
luận
về
triết
lí
ở
nhà
Emerson.
Nhiều
người
trong
nhóm
tự
xưng
là
phái
“siêu
triết”
(transcendantalist),
chủ
trương
rằng
chỉ
nhờ
trực
giác,
chứ
không
nhờ
cảm
quan
mà
tìm
được
chân
lí.
Thoreau
và
Emerson
không
chấp
nhận
chủ
trương
đó.
Tháng
5
năm
1838,
Thoreau
đi
du
lịch
miền
Maine
hai
tuần,
để
ý
tới
đời
sống
của
người
da
đỏ,
rồi
về
Concord
mở
một
trường
tư
cùng
với
anh
là
John.
Cách
dạy
của
họ
hơi
giống
cách
của
Rousseau,
dắt
học
sinh
đi
bộ
hoặc
đi
thuyền
thăm
các
miền
chung
quanh,
nhận
xét
cây
cỏ,
chim
muông,
tìm
các
di
tích
của
người
da
đỏ
rồi
tùy
hứng
mà
truyền
cho
học
sinh
những
điều
họ
hiểu.
Những
lớp
học
giữa
thiên
nhiên
đó
được
trẻ
rất
thích;
khỏi
dùng
roi
vọt
mà
cũng
chẳng
phải
thuyết
luận
lí
nữa.
Họ
dạy
đâu
được
hai
tháng
rồi
cuối
tháng
tám
dắt
nhau
đi
xuôi
dòng
sông
Concord
tới
chỗ
hợp
lưu
với
sông
Merrimack.
Nhóm
“siêu
triết”
ở
Concord
cho
ra
tờ
The
Dial,
Thoreau
gửi
đăng
một
bài
tiểu
luận
về
một
thi
sĩ
La-tinh.
Nhưng
ông
không
viết
đều,
lâu
lắm
mới
gửi
một
bài;
hoạt
động
chính
của
ông
vẫn
là
tìm
hiểu
miền
Concord
và
suy
tư
về
thân
phận
con
người.
Tập
nhật
kí
năm
đó
ghi
rất
nhiều
nhận
xét
về
thiên
nhiên
về
tâm
hồn
ông:
“Tôi
lấy
làm
hãnh
diện
được
thiên
nhiên
đoái
tôi
tối,
dùng
tôi
mà
tôi
không
ngờ,
chẳng
hạn
để
rải
rắc
những
hạt
cây
trong
khi
tôi
dạo
mát,
những
hạt
cỏ
hoặc
ngưu
bàng
bám
vào
áo
tôi
mà
tôi
vô
tình
chở
từ
khu
ruộng
này
qua
khu
ruộng
khác.”
“Đời
sống
tôi
lúc
này
như
một
buổi
sáng
hè
vang
tiếng
chim
hót.”
Càng
thích
thiên
nhiên,
ông
càng
mong
có
một
nơi
ở
riêng
biệt,
ở
giữa
đồng
nhưng
không
xa
Concord
lắm
để
có
thể
thỉnh
thoảng
về
thăm
gia
đình
và
dự
các
cuộc
thảo
luận
ở
nhà
Emerson.
Ông
thấy
trại
Hollowell
có
đủ
những
điều
kiện
đó:
“hoàn
toàn
cách
biệt,
cách
làng
trên
ba
câ
triết
gia
-
HENRY
DAVID
THOREAU
-
đã
ảnh
hưởng
tới
Gandhi,
Vua
Đan-mạch
Christian,
Danilo
Dolci,
Mục
sư
Luther
King…,
và
ảnh
hưởng
sẽ
còn
mỗi
ngày
một
lớn
trong
một
thế
giới
mà
chính
quyền
nào
cũng
có
những
phương
tiện
kinh
khủng
để
kiểm
soát,
đàn
áp
cá
nhân,
một
tiểu
luận
-
CIVIL
DISOBEDIENCE
(Bất
tuân
chính
quyền),
chỉ
gồm
ba
chục
trang
mà
đã
gây
biết
bao
phong
trào
tranh
đấu
bằng
bất
bạo
động
ở
khắp
nơi
và
được
coi
là
một
trong
vài
chục
tác
phẩm
đã
làm
thay
đổi
cục
diện
thế
giới.
NGUYỄN
HIẾN
LÊ
HENRY
DAVID
THOREAU
MỘT
LƯƠNG
TÂM
NỔI
LOẠN
bìa
Hoàng
Ngọc
Biên
-
Hồ
Hải
trình
bày
CẢO
THƠM
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
"Hạnh
phúc
chẳng
ở
đâu
xa,
hạnh
phúc
là
khi
ta
biết
ĐỦ."
Yêu
thương
quá
sinh
gò
bó,
quan
tâm
quá
khiến
mất
tự
do,
ghen
tuông
quá
mất
vị
tình
yêu
và
cái
gì
cũng
thế,
chạm
đến
chữ
ĐỦ
sẽ
chạm
được
hạnh
phúc
tròn
vị.
Ebook
“Một
lương
tâm
nổi
loạn”
là
món
quà
từ
những
người
bạn
4DHN,
Ban
Tang
Du
Tử,
dangtuanpr,
lichan,
Mot_sach09,
oceanoc,
tamchec,
Rafa
và
teacher.anh
gửi
tới
hanhdb
(Bi)
với
lời
nhắn
gửi:
Đừng
chạy
theo
cái
gì
quá
hoàn
chỉnh
và
cũng
chớ
ép
bản
thân
phải
trở
nên
quá
hoàn
hảo.
Yêu
thương
vừa
đủ,
ấm
áp
vừa
đủ,
quan
tâm
vừa
đủ
và
bên
nhau
vừa
đủ
có
lẽ
sẽ
hạnh
phúc
hơn.
Hãy
dám
sống
cuộc
đời
chân
chính
với
lương
tri
HENRY
DAVID
THOREAU
đã
chứng
minh
một
cá
nhân,
nếu
sống
như
một
con
người
đích
thực,
sẽ
có
sức
mạnh
và
sự
tự
do
to
lớn,
bằng
cả
cuộc
đời
của
ông.
Walden
cùng
Bất
tuân
chính
quyền
-
hai
tác
phẩm
được
dẫn
trong
cuốn
sách
Một
lương
tâm
nổi
loạn
-
chính
là
bằng
chứng
cho
điều
ông
tin
tưởng
và
hành
động:
Sống
một
cuộc
đời
tự
do
và
của
chính
mình
toàn
vẹn
nhất.
Đó
chính
là
cuộc
đời
dám
sống
chân
chính
với
lương
tri.
“Tôi
sinh
ra
không
phải
để
chịu
sự
cưỡng
bức.
Tôi
muốn
sống
theo
ý
tôi.”
(Henry)
Walden
giải
quyết
cho
con
người
khỏi
cái
ách
về
vật
chất.
Đó
là
câu
chuyện
của
chính
ông
sống
bằng
phương
thức
tự
cung
tự
cấp
suốt
hai
năm
trời
ở
trong
rừng.
Ông
tự
xây
nhà,
làm
vườn,
làm
thuê
lặt
vặt…
để
có
tiền
vừa
đủ
để
trang
trải
nhu
cầu
sống
của
cá
nhân.
Ông
chỉ
mất
chừng
sáu
tuần
trong
một
năm
để
làm
lụng
lo
cho
nhu
cầu
ăn,
ở.
Thời
gian
còn
lại
ông
dành
cho
suy
tư,
chiêm
ngưỡng
cuộc
sống.
Và
bởi
vậy
ông
đạt
được
những
viên
mãn
trong
tâm
hồn
mình,
và
cũng
không
cảm
thấy
sự
thiếu
thốn
vật
chất.
Walden
là
những
lời
tự
sự,
những
tính
toán
chi
li
sáng
suốt
của
chính
Henry,
để
biết
được
một
cách
chân
xác
rằng
con
người
ta
không
nhất
thiết
phải
khốn
đốn
để
kiếm
cái
ăn
trong
cuộc
đời.
Mà
họ
có
thể
như
con
chim
vừa
kiếm
ăn
vừa
hát
ca
được.
Còn
Bất
tuân
chính
quyền
lại
giải
quyết
cái
ách
về
phẩm
hạnh
của
một
con
người
xã
hội
chân
chính
–
Tác
phẩm
nói
cho
mỗi
cá
nhân
phải
sử
dụng
chính
quyền
như
thế
nào
cho
phải
lẽ,
cho
đúng
thực
là
con
người
có
lương
tâm
và
dám
hành
động
cho
những
điều
tốt
đẹp
nhất.
Một
chính
quyền
tốt
đẹp
nhất
theo
ông
chính
là
một
chính
quyền
không
can
thiệp
vào
cuộc
sống
của
mỗi
cá
nhân,
miễn
là
cá
nhân
đó
không
tổn
hại
gì
cho
ai.
Còn
nếu
chính
quyền
đó
sai
trái
thì
bổn
phận
của
mỗi
cá
nhân
phải
là
bày
tỏ
sự
không
tuân
theo
con
đường
sai
trái
đó.
“Mọi
người
đều
nhận
cái
quyền
làm
cách
mạng;
nghĩa
là
cái
quyền
từ
chối
sự
trung
thuận
với
chính
phủ
và
chống
lại
chính
phủ
khi
chính
phủ
tàn
bạo
quá
hoặc
bất
lực
quá,
chịu
không
nổi.”
Cách
bày
tỏ
đơn
giản
chính
là
không
ủng
hộ
cả
về
vật
chất
(đóng
thuế)
và
con
người
(không
hành
động
theo
mệnh
lệnh
của
chính
quyền
–
đi
lính).
Và
chỉ
bằng
cách
như
vậy,
con
người
ta
có
thể
làm
thay
đổi
cả
một
chính
quyền
bất
công,
tàn
bạo,
bất
hợp
lý
với
những
lẽ
phải
trong
đời.
Tuy
nhiên,
cái
ý
của
Henry
không
chỉ
dừng
lại
ở
đó.
Trong
Bất
tuân
chính
quyền
ông
vạch
ra
được:
Thứ
nhất:
Điều
gì
làm
cản
trở
một
công
dân
hành
động
theo
lẽ
phải
mà
đáng
lẽ
ra
họ
phải
hành
động
khi
cần
thiết
để
phản
đối
một
chính
quyền
không
nhân
đạo?
Câu
trả
lời
chính
là
sự
sở
hữu
vật
chất
và
cả
lòng
sợ
mất
mát
một
cuộc
đời
không
có
lương
tri
–
tức
là
sinh
mạng.
Và
cả
những
hiểu
lầm
tai
hại
về
sự
phục
tùng
chính
quyền
cùng
với
lòng
ái
quốc.
Vật
chất
hay
của
cải
chính
là
cái
trói
buộc
sự
tự
do
và
cả
sự
cao
thượng
của
con
người
nữa.
Thường
để
có
được
của
cải
càng
nhiều
con
người
ta
buộc
phải
gắn
chặt
với
chính
quyền,
vì
chính
quyền
bảo
hộ
cho
những
cuộc
làm
ăn,
những
sự
vụ
kinh
tế
của
họ
để
tạo
ra
tài
sản.
Ngược
lại,
chỉ
bằng
với
cách
đe
dọa
tước
đi
của
cải
của
một
người
cũng
đủ
để
chính
quyền
bắt
người
đó
suốt
đời
phục
tòng
như
nô
lệ
mà
không
dám
nói
lên
được
điều
bản
thân
cảm
thấy
đúng
đắn,
nếu
mà
người
ấy
sợ
mất
của
cải.
Và
vì
vậy,
Henry
chủ
trương
con
người
đừng
bắt
đầu
mua
dây
buộc
mình
bằng
cách
tích
trữ
tài
sản.
Càng
nghèo,
anh
càng
ít
bị
đe
dọa
sự
tự
do
hơn,
bởi
vì
anh
ít
có
cái
để
mất
hơn
và
người
ta
không
vin
được
vào
đó
mà
đe
dọa
hay
bắt
ép
anh
được.
Mà
nghèo
thì
chẳng
có
gì
đáng
sợ,
còn
là
hạnh
phúc
nữa,
như
cái
cách
mà
Henry
đã
nói
trong
Walden.
Về
tính
mạng,
Henry
không
chủ
trương
con
người
ta
phải
hy
sinh
tính
mạng
để
tranh
đấu
cho
một
lẽ
phải
trong
đời,
bởi
cuộc
sống
nào
cũng
đáng
quý.
Nhưng
ông
vạch
ra,
không
phải
cuộc
tranh
đấu
nào
cũng
dẫn
đến
mất
mạng.
Và
sự
tranh
đấu
không
tổn
hại
đến
tính
mạng
mà
vẫn
đạt
được
hiệu
quả
to
lớn
vẫn
có.
Đó
chính
là:
đấu
tranh
bất
bạo
động.
“Nếu
ta
buộc
chính
quyền
phải
lựa
chọn,
một
là
bỏ
tù
hết
những
người
công
bằng,
hai
là
phải
từ
bỏ
chiến
tranh
và
chế
độ
nô
lệ
đi,
thì
chính
quyền
tất
phải
biết
lựa
chọn
đường
nào.”
Việc
đấu
tranh
chống
lại
chính
quyền
này
có
thể
thắng
lợi
chỉ
cần
1000
người
không
nộp
thuế
và
cam
chịu
vào
tù
mà
thôi.
Và
mỗi
người
phải
hiểu
rằng:
“khi
lương
tâm
bị
thương
tổn
thì
có
khác
gì
máu
đã
đổ
rồi”.
Cuối
cùng,
sự
nhầm
lẫn
giữa
phục
tòng
chính
quyền
và
lòng
ái
quốc
cũng
là
cái
bẫy
khiến
cho
mỗi
người
không
dám
hành
động
chống
đối
lại
một
chính
quyền
đã
hư
hỏng.
Vì:
“
dưới
cái
danh
hiệu
“trật
tự
và
chính
quyền”,
rốt
cuộc
người
ta
bắt
chúng
ta
tôn
trọng
sự
đê
hèn
của
chính
ta.”.
Nghĩa
là
bắt
mỗi
cá
nhân
phải
hành
động
không
như
ý
mình
muốn
chỉ
bởi
vì
suy
nghĩ
đang
phụng
sự
cho
quốc
gia.
Điển
hình
đây
là
hình
ảnh
của
những
người
lính
phải
bất
đắc
dĩ
cầm
súng
ra
chiến
trường
vô
nghĩa
–
chiến
trường
của
những
cuộc
xâm
lăng
chẳng
hạn.
Điều
thứ
hai:
Những
biểu
hiện
giả
dối
của
lương
tri
nửa
vời.
Để
theo
đuổi
được
con
đường
của
lương
tri
thì
phải
tuyệt
đối
rời
bỏ
con
đường
lương
tri
nửa
vời.
Con
đường
nửa
vời
đó
còn
nguy
hiểm
hơn
là
việc
không
theo
đuổi,
bởi
vì
nó
làm
cho
con
người
ta
nghĩ
rằng
mình
đã
đủ
tốt
trong
khi
chẳng
làm
nên
tích
sự
gì
cả.
Nó
biểu
hiện
dưới
sự
ủng
hộ,
đồng
thuận,
bỏ
phiếu,
tán
dương…những
cá
nhân
khác
đang
đấu
tranh
cho
lẽ
phải
bằng
hành
động,
mà
lại
không
có
hành
động
cụ
thể
nào
hơn,
không
dám
từ
bỏ
sự
an
toàn
của
mình,
lo
sợ
mất
mát
tài
sản
hoặc
tính
mệnh
của
bản
thân.
Con
đường
nửa
vời
còn
là
là
tin
tưởng,
gởi
gắm
hay
ủy
thác
điều
mình
mong
muốn
và
nhận
định
chân
xác
là
đúng
đắn,
cho
một
người
anh
hùng
nào
đó.
Mỗi
cá
nhân
phải
hành
động
theo
lương
tri
của
mình,
và
mỗi
cá
nhân
có
đủ
sức
mạnh
để
thay
đổi
tất
cả
chứ
không
phải
chờ
đợi
đến
một
vĩ
nhân
làm
thay
họ.
“Cứ
một
người
có
đạo
đức
thì
có
tới
chín
trăm
chín
mươi
chín
người
bảo
vệ
đạo
đức;
nhưng
để
thỏa
thuận
với
người
làm
chủ
một
vật
gì
còn
dễ
dàng
hơn
là
với
người
chỉ
tạm
thời
giữ
vật
đó
thôi.”(Henry)
Hai
tác
phẩm
của
Henry
chính
là
gươm
báu
sắc
bén
để
chặt
đứt
những
gông
xiềng
mà
con
người
tự
mang
cho
mình
và
tưởng
rằng
sẽ
chẳng
có
cách
nào
thoát
được.
Nó
là
chìa
khóa
để
mỗi
người
có
thể
tự
tin
vào
chính
mình
để
đi
con
đường
đồng
hành
cùng
lương
tri,
miễn
là
anh
chịu
đồng
hành.
Chỉ
cần
lắng
nghe
lương
tri,
hành
động
trong
sự
không
lo
sợ,
và
như
vậy
mỗi
người
sẽ
đạt
đến
việc
sống
một
cuộc
sống
thực
sự
với
đầy
đủ
những
tinh
túy
và
ban
tặng
của
nó.
Henry
không
phải
là
một
triết
gia
đương
thời,
không
phải
một
nhà
cải
cách
xã
hội
đương
thời,
không
cả
một
nhà
văn
tên
tuổi
đương
thời.
Henry
có
vẻ
như
là
một
kẻ
nổi
loạn
lập
dị,
thích
sự
một
mình
và
chống
đối
lại
cả
thế
giới
không
dám
nhận
lấy
tiếng
nói
của
lương
tâm
xung
quanh
ông.
Henry
là
một
kẻ
vô
danh
khi
còn
sống,
nhưng
là
một
lương
tâm
bất
tử
mà
mọi
con
người
nên
soi
vào
đó
để
cố
gắng
tranh
đấu
giữ
lấy
phần
người
của
mình
và
tin
tưởng
vào
thắng
lợi
của
cuộc
tranh
đấu
tưởng
như
“ngu
dại,
điên
rồ”
nhưng
thực
sự
là
cuộc
đời
chân
chính
đó.
Ban
Tang
Du
Tử
Mục
lục
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
PHẦN
1.
-
Một
lương
tâm
nổi
loạn
Biểu
biên
niên
đời
Henry
David
Thoreau
Tiểu
sử
Henry
David
Thoreau
Đã
có
định
kiến
từ
hồi
hai
mươi
tuổi
“Một
con
người
kỳ
cục”
Vào
rừng
để
tìm
một
lối
sống
Bị
nhốt
khám,
khi
được
thả
lại
cự
nự
Rời
Walden
trở
về
Concord
Nhập
tịch
làng
văn
-
Bổn
phận
bất
tuân
chính
quyền
“Nghề
viết
văn
như
vậy
đấy”
“Walden”
-
Một
tác
phẩm
phúng
thích
văn
minh
hiện
đại
Bênh
vực
nô
lệ
Chúa
và
tôi
có
gây
lộn
với
nhau
lần
nào
đâu?
Ảnh
hưởng
của
Thoreau
PHẦN
2.
-
Walden
hay
Đời
sống
trong
rừng
PHẦN
3.
-
Bất
tuân
chính
quyền
Phần 1
Một
lương
tâm
nổi
loạn
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
BIỂU
BIÊN
NIÊN
ĐỜI
HENRY
DAVID
THOREAU
1817.
Sinh
ở
Concord
(tiểu
bang
Massachusetts),
một
thôn
thịnh
vượng
vừa
là
trạm
cách
Boston
khoảng
ba
chục
cây
số
về
phía
tây-bắc;
nơi
đó
là
chiến
trường
đầu
tiên
trong
chiến
tranh
Độc
lập
của
Hoa-kì,
và
sau
thành
nơi
trung
tâm
văn
hóa
tranh
giành
ảnh
hưởng
với
Boston.
1833.
Vào
Đại
học
Harvard
sau
khi
theo
học
các
lớp
dự
bị
ở
Concord
Academy.
1837.
Được
bằng
cấp
Đại
học;
lại
thăm
Emerson,
bắt
đầu
viết
Nhật
kí.
1838.
Mở
một
trường
tư
cho
thiếu
nữ
ở
Concord,
dạy
chung
với
anh
là
John.
Lần
đầu
tiên
lại
ở
miền
Maine.
1839.
Cùng
với
John
thực
hiện
cuộc
lãm
du
nổi
tiếng
trên
các
con
sông
Concord
và
Merrimark,
từ
ngày
31
tháng
tám
tới
ngày
13
tháng
chín.
1841.
Thành
người
quản
gia
“làm
đủ
mọi
việc”
cho
Emerson;
đồng
thời
bắt
đầu
nghiên
cứu
văn
học
phương
Đông.
1842.
Ông
yêu
anh
là
John
lắm,
nên
rất
đau
lòng
khi
John
vì
cạo
râu,
đứt
mặt,
bị
bệnh
phá-thương-phong
mà
chết.
Gửi
thiên
khảo
luận
“Vạn
vật
ở
tiểu
bang
Matssachusetts”
cho
tạp
chí
Dial.
1843.
Làm
giáo
sư,
dạy
con
cho
một
người
anh
(hay
em)
của
Emerson,
tên
là
William,
ở
Staten
Island,
vịnh
New
York.
1845.
Mùng
4
tháng
bảy
lại
ở
bên
bờ
đầm
Walden.
Bắt
đầu
viết
tập
Một
tuần
trên
các
dòng
sông
Concord
và
Merrimack.
1846-47.
Chiến
tranh
với
Mễ-tây-cơ.
1847.
San
khi
rời
bờ
đầm
Walden
ngày
mùng
6
tháng
chín,
lại
trở
về
ở
nhà
Emerson
trong
khi
ông
này
qua
châu
Âu,
1849.
Trở
về
nhà
cha
mẹ.
Xuất
bản
cuốn
Một
tuần
trên
các
dòng
sông
Concord
và
Merrimack,
sách
bán
ế.
Chị
là
Helen
mất.
Tập
Chống
lại
chính
quyền
(sau
đổi
nhan
đề
là
Bất
tuân
chính
quyền)
đăng
trên
tạp
chí
Aesthetic
Papers.
Ông
lại
thăm
mũi
Cod.
1850.
Trở
lại
mũi
Cod.
Qua
Gia-nã-đại.
1854.
Xuất
bản
cuốn
Walden.
1855.
Tới
ở
mũi
Cod
lần
thứ
ba.
Tạp
chí
Pulnam's
Magazine
đăng
bốn
chương
trong
tập
Mũi
Cod.
1856.
Lại
chơi
Brooklyn,
làm
quen
với
Walt
Whitman
và
nghe
Beecher
thuyết
giáo.
1857.
Lại
ở
mũi
Cod
lần
cuối
cùng.
Gặp
John
Brown,
người
chủ
trương
giải
phóng
nô
lệ.
1858.
“Chesuncook”
đăng
trên
tờ
Atlantic
Monthly.
1859.
Đọc
một
diễn
văn
ca
tụng
John
Brown
ở
Concord.
1861.
Lại
thăm
miền
Minnesota.
Chiến
tranh
Nam-Bắc
bắt
đầu.
1862.
Mất
ngày
mùng
6
tháng
năm
vì
bệnh
lao.
1865.
Chiến
tranh
Nam-Bắc
chấm
dứt.
TIỂU
SỬ
HENRY
DAVID
THOREAU
Năm
1956
nhà
The
New
American
Library
of
World
Literature
Inc.
-
New
York
-
xuất
bản
một
cuốn
nhan
đề
là
Books
that
changed
the
World
(Những
cuốn
sách
đã
thay
đổi
thế
giới)[1].
Tác
giả,
ông
Robert
B.
Downs
chỉ
muốn
viết
một
cuốn
vài
trăm
trang,
phải
tự
hạn
chế,
gạt
hết
các
tác
phẩm
về
tôn
giáo,
triết
học,
văn
học,
(như
các
Thánh
kinh,
kinh
của
Phật
giáo,
Khổng
giáo,
kinh
Coran,
tác
phẩm
của
các
triết
gia
Hi-Lạp,
của
Kant,
Shakespeare,
Goethe
vân
vân…),
chỉ
lựa
mười
cuốn
về
các
môn
xã
hội
(Social
Sciences)
và
sáu
cuốn
về
khoa
học.
Sự
lựa
chọn
nào
cũng
miễn
cưỡng
và
có
tính
cách
chủ
quan.
Sáu
nhà
khoa
học
ông
lựa
có
thể
coi
là
xứng
đáng
cả
(Copernic,
W.
Harvey,
Newton,
Darwin,
Freud.
Einstein):
nhưng
còn
mười
nhà
kia
viết
về
xã
hội,
thì
tôi
nghĩ
nếu
tác
giả
là
người
Pháp,
hoặc
người
phương
Đông
chúng
ta,
sự
lựa
chọn
tất
sẽ
khác:
chẳng
hạn
cuốn
Uncle
Tom's
Cabin
(Cái
chòi
của
chú
Tom)
của
H.
B.
Stowe
đâu
có
ảnh
hưởng
lớn
tới
thế
giới
bằng
cuốn
De
l'espril
des
lois
(Vạn
pháp
tinh
lý)
của
Montesquieu.
Còn
vài
cuốn
khác
chắc
nhiều
bạn
cũng
như
tôi
không
đồng
ý
với
ông,
nhưng
ai
cũng
phải
nhận
rằng
cuốn
Civil
Disobedience
(Bất
tuân
chính
quyền)
của
Henry
David
Thoreau,
tuy
chỉ
gồm
có
vài
ba
chục
trang,
đúng
ra
chỉ
là
một
bài
văn
phúng
thích
đăng
trên
báo,
mà
quả
thực
đã
có
ảnh
hưởng
khá
lớn
tới
nhân
loại.
Ảnh
hưởng
đó
từ
nay
tới
cuối
thế
kỉ,
còn
mỗi
ngày
mỗi
tăng:
chính
quyền
của
các
nước
càng
mạnh
lại
càng
tỏ
ra
tàn
nhẫn,
phi
nhân,
nhân
loại
không
thể
chấp
nhận
được
tình
trạng
như
hiện
nay;
hai
phần
ba
phải
chịu
đói
khát,
thất
học
trong
khi
các
nước
“anh
chị”
tiêu
phí
không
biết
bao
nhiêu
của
cải,
nhân
lực
vào
việc
chế
tạo
hằng
ngàn
thứ
khí
giới
kinh
khủng
để
tranh
giành
ảnh
hưởng
với
nhau.
Sẽ
tới
một
lúc
lương
tâm
nhân
loại
phải
nổi
loạn
như
lương
tâm
của
Thoreuu
ở
giữa
thế
kỉ
trước.
Đã
có
định
kiến
từ
hồi
hai
mươi
tuổi
Henry
David
Thoreau
sinh
ngày
12
tháng
7
năm
1817
ở
Concord,
tiểu
bang
Massachusetts
(Huê-kì),
trong
một
gia
đình
rất
nghèo
gồm
bốn
người
con:
Helen,
gái;
John,
trai;
rồi
tới
ông
và
một
người
em
gái,
Sophia.
Cha
là
John
Thoreau,
nghiêm
trang,
ít
nói,
làm
ruộng
thất
bại,
mở
một
quán
ở
Chelmsford
cũng
thất
bại
nữa,
dạy
học
thì
không
có
học
trò,
làm
lái
buôn
cũng
không
đủ
ăn,
sau
cùng
an
phận,
đến
Concord
chế
tạo
bút
chì
để
sinh
nhai.
Mẹ
Cynthia
Dunbar,
trái
hẳn
cha,
tính
tình
hoạt
bát
vui
vẻ,
dễ
thương,
đọc
sách
rất
nhiều,
có
những
tư
tưởng
tiến
bộ,
chẳng
hạn
kịch
liệt
chống
chế
độ
nô
lệ,
ảnh
hưởng
lớn
tới
tư
tưởng
của
Thoreau
sau
này.
Concord
là
một
làng
có
khoảng
hai
ngàn
dân,
trên
bờ
con
sông
cũng
mang
tên
đó,
và
là
chiến
trường
đầu
tiên
trong
Chiến
tranh
Độc
lập
của
Hoa
kì.
Phong
cảnh
rất
đẹp.
Chung
quanh
là
cánh
đồng
có
nhiều
con
sông
nhỏ
chảy
qua.
Xa
hơn
một
chút
là
những
ngọn
đồi
nhỏ
đầy
thông,
bạch-tùng
chiếu
bóng
xuống
những
mặt
hồ
và
đầm.
Một
trong
những
cái
đầm
được
Thoreau
thích
nhất,
thích
ngay
từ
hồi
năm
tuổi,
là
đầm
Walden.
Cũng
như
các
trẻ
em
khác,
hồi
nhỏ
ông
phải
chăn
bò,
bắt
thỏ,
câu
cá,
nhưng
không
thích
những
công
việc
đó
mà
thích
đọc
sách.
Hồi
mười
tuổi
ông
đã
viết
một
bài
tiểu
luận
nhan
đề
là
The
Seasons
(Bốn
mùa),
tỏ
ra
yêu
thiên
nhiên,
thích
tĩnh
mịch
và
có
khiếu
về
văn
chương.
Tuy
nhà
nghèo,
nhưng
thân
phụ
ông
cũng
rán
nuôi
ông
học
hết
ban
Trung
học,
rồi
vào
Đại
học
Concord
để
chuẩn
bị
thi
vào
Harvard.
Mười
sáu
tuổi
ông
biết
chút
ít
tiếng
La-tinh,
Hi-lạp,
Pháp
và
tháng
9
năm
1833
ông
vào
Harvard.
Ở
đây
ông
học
thêm
toán
học,
khoa
học,
nhưng
vẫn
thích
các
tác
giả
cổ
điển
Hi,
La
nhất.
Tính
tình
lãnh
đạm,
không
ưa
giao
du,
đi
thì
lúc
nào
cũng
cúi
gầm
mặt
xuống,
như
mải
suy
tư,
mơ
mộng.
Gặp
tác
phẩm
cổ
điển
nào
cũng
đọc:
Virgile,
Cicéron,
Horace,
Homère,
Démosthènes,
Euripice,
Sénèque…,
nhờ
vậy
rất
tiến
bộ
về
luận
văn,
và
đã
bắt
đầu
có
những
tư
tưởng
khác
người.
Chẳng
hạn
trong
một
bài,
ông
viết:
“Theo
những
thói
quen
và
tục
lệ
của
người
khác,
điều
đó
không
thể
gọi
là
bổn
phận
được,
Tôi
chỉ
có
bổn
phận
theo
những
qui
tắc
mà
lương
tâm
tôi
chỉ
cho
tôi
thôi…
Tôi
không
được
vì
sợ
làm
phật
ý
người
khác
mà
không
làm
theo
ý
tôi.”
Suốt
đời
ông
giữ
tư
tưởng
đó.
Năm
1836,
tác
phẩm
Nature
(Thiên
nhiên)
của
triết
gia
Ralph
Waldo
Emerson
ra
đời,
ảnh
hưởng
lớn
tới
thanh
niên
Hoa-kì.
Mới
đọc
mấy
hàng
đầu,
Thoreau
đã
mê
liền:
“Muốn
biết
sự
cô
liêu
thì
phải
trốn
xã
hội,
trốn
cả
cái
phông
của
mình
nữa.
Khi
tôi
viết
hay
đọc
sách
thì
dù
không
có
ai
bên
cạnh,
tôi
cũng
không
thật
là
cô
liêu.
Muốn
thật
là
cô
liêu
thì
phải
ngắm
các
vì
tinh
tú.”
Như
vậy,
tư
tưởng
của
Thoreau
đã
thành
hình
từ
hồi
ông
hai
mươi
tuổi:
yêu
thiên
nhiên,
thích
cô
liêu
và
sống
cho
chính
mình,
hoàn
toàn
tự
do,
độc
lập,
không
chịu
sự
ràng
buộc
của
xã
hội.
Tháng
tám
năm
1837,
ông
được
bằng
cấp
đại
học
Harvard.
Trong
bài
diễn
văn
đọc
lúc
phát
bằng
cấp,
ông
mạt
sát
tinh
thần
thương
mại:
“Cái
thế
giới
kì
cục
mà
chúng
ta
sống
này
lộng
lẫy
hơn
là
ích
lợi…
Phải
đảo
lộn
một
chút
trật
tự
của
sự
vật
đi:
chỉ
nên
đổ
mồ
hôi
để
kiếm
ăn
trong
một
ngày
thôi;
còn
sáu
ngày
kia
phải
là
những
ngày
chủ
nhật
cho
tâm
hồn
nghỉ
ngơi
để
đi
thăm
cái
vườn
vũ
trụ
mênh
mông,
hưởng
những
ảnh
hưởng
êm
đềm
và
tiếp
nhận
những
khải
thị
cao
cả
của
Thiên
nhiên.”
Chưa
thấy
ai
mới
hai
mươi
tuổi
mà
đã
đề
cao
sự
nhàn
tản
tới
mức
đó.
“Một
con
người
kỳ
cục”
Thi
đậu
rồi,
Thoreau
trở
về
quê
nhà,
kiếm
cách
sinh
nhai
để
có
thể
độc
lập
sống
theo
ý
mình,
mà
lại
nhàn
hạ
để
suy
tư,
làm
thơ,
viết
sách.
Ông
thích
thơ
nhưng
không
có
khiếu
về
thơ,
lại
biết
nghề
đó
khó
nuôi
sống
mình
được;
suy
đi
tính
lại,
ông
lựa
nghề
dạy
học.
Nhờ
một
tờ
giấy
chứng
nhận
rất
tốt
của
viện
trưởng
trường
Harvard
-
trình
độ
học
vấn
cao,
hạnh
kiểm
rất
tốt,
đủ
tư
cách
dạy
học,
-
ông
được
ngay
trường
tiểu
học
Concord
mời
dạy.
Nhưng
tư
tưởng
về
giáo
dục
của
ông
khác
đời.
Ông
tuyên
bố
rằng
sẽ
bỏ
chính
sách
dùng
roi
vọt
mà
chỉ
“thuyết
luân
lí”
cho
trẻ
thôi.
Hội
đồng
quản
trị
của
trường
không
tin
rằng
cách
đó
hữu
hiệu
nhưng
cũng
để
ông
thí
nghiệm
trong
hai
tuần.
Thấy
kỉ
luật
trong
lớp
kém
hẳn
trước,
học
sinh
hóa
ra
ngỗ
nghịch,
làm
biếng,
hội
đồng
cử
một
người
tới
khuyên
ông
trở
lại
lối
cũ.
Ông
nổi
quạu,
bảo
thẳng
rằng
không
muốn
nghe
ai
dạy
khôn
ông
về
chức
vụ
dạy
học
của
ông.
Ông
nhất
định
giữ
chủ
trương
dạy
học
thì
không
được
dùng
roi
vọt.
Cuối
buổi
học
đó,
vẻ
mặt
tự
cao
tự
đại
và
khinh
khỉnh,
gần
như
thách
đố
mọi
người,
bảo
sáu
học
sinh
sắp
thành
hàng,
quất
mỗi
em
mấy
roi,
rồi
liệng
roi
xuống
đất,
bước
ra
khỏi
lớp,
từ
chức
luôn.
Không
ai
chịu
được
thái
độ
kì
cục
đó,
mà
ông
cũng
bất
chấp
dư
luận
của
mọi
người.
Như
ông
nói,
“điệu
đi
của
ông
khác
thiên
hạ
vì
ông
nghe
thấy
trong
thâm
tâm
ông
một
điệu
trống
khác”.
Thôi
dạy
học,
ông
giúp
cha
chế
tạo
bút
chì;
công
việc
này
đủ
ăn,
tự
do,
nhàn
nhã,
lúc
nào
muốn
làm
thì
làm,
muốn
nghỉ
thì
nghỉ,
nhưng
vẫn
còn
thích
trở
lại
nghề
dạy
học
nên
làm
đơn
xin
dạy
ở
vài
nơi
khác.
Gia
đình,
họ
hàng
ông
-
trừ
anh
ông
là
John
rất
hợp
ý
với
ông
đều
cho
ông
là
gàn,
bướng
bỉnh,
có
những
ý
nghĩ
ngược
đời,
mà
lại
hay
tranh
luận
nữa.
Vì
vậy
ông
rút
lên
ở
trên
thượng
lương,
nơi
người
ta
dùng
làm
chỗ
chứa
những
đồ
cũ
không
dùng
tới
nhưng
cũng
không
nỡ
bỏ
đi.
Trong
tập
Nhật
ký
-
thời
đó
người
Âu,
Mĩ
có
thói
viết
nhật
kí,
đàn
ông
cũng
như
đàn
bà
ai
cũng
có
một
tập
riêng
ghi
chép
đủ
chuyện
-
chúng
ta
thấy
ông
ghi
câu
này:
“Không
nên
làm
kinh
động
tụi
nhện,
để
yên
chúng,
cũng
không
nên
quét
sàn,
thu
xếp
đồ
đạc
chất
đống
đó
lại
làm
chi.”
Ở
trên
thượng
lương
đó,
ông
đọc
các
tác
phẩm
cổ
điển:
Ossian,
Homère,
Chaucer,
Pline,
Aristote,
Virgile,
Le
Tasse…;
chán
rồi
thì
đi
chơi
các
miền
chung
quanh
Concord,
vào
rừng,
ra
bờ
sông
hoặc
lại
đầm
Walden.
Ông
ghi
lại
trong
nhật
kí
những
đề
tài
ông
tính
viết
cùng
những
tư
tưởng
của
ông,
chẳng
hạn:
“Tôi
muốn
biết
tôi
đã
sống
cách
nào
để
suy
nghĩ
xem
từ
nay
nên
sống
ra
sao
”.
Ông
đưa
nhật
kí
cho
người
thân
đọc,
và
một
bà
bạn
của
cô
Helen
(chị
ông)
thấy
tư
tưởng
của
ông
có
nhiều
điểm
hợp
với
Emerson.
Bà
đó
là
chị
của
bà
vợ
thứ
nhì
của
Emerson,
về
kể
với
Emerson,
và
Emerson
nhắn
mời
Thoreau
lại
chơi.
Emerson
là
một
triết
gia
hồi
đó
đã
nổi
tiếng,
mới
lại
ở
Concord,
được
thanh
niên
hoan
nghênh,
vì
ông
đề
cao
cá
nhân,
đúng
hơn
là
lương
tâm
cá
nhân.
Ông
cho
rằng
lương
tâm
cá
nhân
còn
quí
hơn
những
tín
ngưỡng
truyền
thống,
hơn
cả
những
tín
điều,
giáo
lí
trong
Thánh
kinh
và
của
giáo
hội
nữa.
Nghĩa
là
ông
chủ
trương
hoàn
toàn
tự
do
tín
ngưỡng,
chỉ
tâm
hồn
ta
mới
phán
xét
được
ta
về
vấn
đề
tâm
linh.
Vậy
thì
bổn
phận
chúng
ta
là
phải
tự
tìm
hiểu
mình,
biểu
lộ
cá
tính
của
mình.
Thoreau
đã
biết
danh
ông,
đã
đọc
tác
phẩm
Thiên
nhiên
của
ông,
nhưng
vì
tinh
thần
độc
lập,
chưa
bao
giờ
có
ý
muốn
lại
làm
quen
với
ông.
Lần
này,
Emerson
mời
ông
mới
tới.
Emerson
hơn
Thoreau
mười
bốn
tuổi,
thấy
Thoreau
có
tài
viết
văn,
có
những
tư
tưởng
độc
đáo,
ngầm
mong
rằng
chàng
thanh
niên
hai
mươi
mốt
tuổi
đó
sau
này
sẽ
thành
một
môn
đệ
trung
thành
của
mình.
Tình
của
hai
triết
gia
đó
mới
đầu
đằm
thắm,
sau
lơi
dần
vì
Thoreau
độc
lập
quá,
vượt
cả
Emerson
nữa.
Từ
đó
Thoreau
thường
dự
những
buổi
tranh
luận
về
triết
lí
ở
nhà
Emerson.
Nhiều
người
trong
nhóm
tự
xưng
là
phái
“siêu
triết”
(transcendantalist),
chủ
trương
rằng
chỉ
nhờ
trực
giác,
chứ
không
nhờ
cảm
quan
mà
tìm
được
chân
lí.
Thoreau
và
Emerson
không
chấp
nhận
chủ
trương
đó.
Tháng
5
năm
1838,
Thoreau
đi
du
lịch
miền
Maine
hai
tuần,
để
ý
tới
đời
sống
của
người
da
đỏ,
rồi
về
Concord
mở
một
trường
tư
cùng
với
anh
là
John.
Cách
dạy
của
họ
hơi
giống
cách
của
Rousseau,
dắt
học
sinh
đi
bộ
hoặc
đi
thuyền
thăm
các
miền
chung
quanh,
nhận
xét
cây
cỏ,
chim
muông,
tìm
các
di
tích
của
người
da
đỏ
rồi
tùy
hứng
mà
truyền
cho
học
sinh
những
điều
họ
hiểu.
Những
lớp
học
giữa
thiên
nhiên
đó
được
trẻ
rất
thích;
khỏi
dùng
roi
vọt
mà
cũng
chẳng
phải
thuyết
luận
lí
nữa.
Họ
dạy
đâu
được
hai
tháng
rồi
cuối
tháng
tám
dắt
nhau
đi
xuôi
dòng
sông
Concord
tới
chỗ
hợp
lưu
với
sông
Merrimack.
Nhóm
“siêu
triết”
ở
Concord
cho
ra
tờ
The
Dial,
Thoreau
gửi
đăng
một
bài
tiểu
luận
về
một
thi
sĩ
La-tinh.
Nhưng
ông
không
viết
đều,
lâu
lắm
mới
gửi
một
bài;
hoạt
động
chính
của
ông
vẫn
là
tìm
hiểu
miền
Concord
và
suy
tư
về
thân
phận
con
người.
Tập
nhật
kí
năm
đó
ghi
rất
nhiều
nhận
xét
về
thiên
nhiên
về
tâm
hồn
ông:
“Tôi
lấy
làm
hãnh
diện
được
thiên
nhiên
đoái
tôi
tối,
dùng
tôi
mà
tôi
không
ngờ,
chẳng
hạn
để
rải
rắc
những
hạt
cây
trong
khi
tôi
dạo
mát,
những
hạt
cỏ
hoặc
ngưu
bàng
bám
vào
áo
tôi
mà
tôi
vô
tình
chở
từ
khu
ruộng
này
qua
khu
ruộng
khác.”
“Đời
sống
tôi
lúc
này
như
một
buổi
sáng
hè
vang
tiếng
chim
hót.”
Càng
thích
thiên
nhiên,
ông
càng
mong
có
một
nơi
ở
riêng
biệt,
ở
giữa
đồng
nhưng
không
xa
Concord
lắm
để
có
thể
thỉnh
thoảng
về
thăm
gia
đình
và
dự
các
cuộc
thảo
luận
ở
nhà
Emerson.
Ông
thấy
trại
Hollowell
có
đủ
những
điều
kiện
đó:
“hoàn
toàn
cách
biệt,
cách
làng
trên
ba
câ
 









Các ý kiến mới nhất