tam-thuc-luyen-ai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:22' 06-03-2026
Dung lượng: 645.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:22' 06-03-2026
Dung lượng: 645.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TÂM THỨC LUYẾN ÁI
Erich Fromm
TÁC PHẨM TÂM PHÂN HỌC
VIẾT VỀ TÌNH YÊU
Nguyên tác:
THE ART OF LOVING
Người dịch:
TUỆ SĨ
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
TỰA
I
TÌNH YÊU LÀ MỘT NGHỆ THUẬT?
II
LÝ THUYẾT VỀ TÌNH YÊU
1. Tình Yêu Giải đáp cho vấn đề Hiện Hữu của con Người.
2. Tình Yêu Giữa cha mẹ và con cái.
3. Đối tượng của tình yêu.
III
TÌNH YÊU VÀ SỰ ĐỔ VỠ CỦA TÌNH YÊU
TRONG XÃ HỘI TÂY PHƯƠNG HIỆN ĐẠI
IV
THỰC HÀNH VỀ TÌNH YÊU
TỰA
Bất cứ ai mong đợi một khuyến thị dễ dãi trong nghệ thuật về tình yêu khi
đọc tập sách này sẽ cảm nghiệm một thất vọng. Bởi vì, tập sách muốn chứng
tỏ rằng tình yêu không phải là một cảm thức mà ai cũng có thể mơ tưởng dễ
dàng, không đếm xỉa đến trình độ trưởng thành mà người ấy đạt được.
Nó muốn gây xác tín cho độc giả rằng mọi cố gắng của mình cho tình yêu
đều phải tan vỡ, trừ phi mình cố gắng rất hăng nồng cho phát triển nhân cách
toàn diện của mình để rồi hoàn thành một chiều hướng phong phú ; rằng
mình không thể đạt được sự thỏa mãn trong tình yêu cá biệt nếu không có
khả năng yêu thương người láng giềng của mình, nếu không có những đức
khiêm tốn, -dũng cảm, tín thành và kỷ luật thật sự. Trong một nền văn hóa
mà những tức tính này hiếm có, sự thành đạt khả năng yêu thương chắc chắn
còn là một công trình họa hiếm.
Hoặc giả, ai cũng có thể tự hỏi mình rằng đã có bao nhiêu người thực sự
yêu thương.
Nhưng, sự khó khăn của công việc ấy hẳn không phải là một lý do ngăn
cản cố gắng nhận thức những khó khăn cũng như những điều kiện để kiện
toàn nó. Để tránh những phức tạp không cần thiết, tôi đã cố gắng đề cập vấn
đề trong một ngôn ngữ không chuyên môn, tùy trường hợp có thể . Với cùng
lý do ấy, tôi cũng đã tham khảo một ít văn chương viết về tình yêu.
Lại còn một vấn đề nữa, là tôi đã không tìm thấy một giải quyết hoàn toàn
thoả đáng tức là vấn đề tránh lặp lại những ý tưởng đã được nêu lên trong tác
phẩm về trước của tôi, nhất là độc giả quen thuộc với Escape From Freedom
( Chạy trốn tự đo, ) Man For Himself ( Con người với chính mình) The Sane
Society (Xã hội lành mạnh) sẽ tìm thấy trong tập sách này có nhiều ý tưởng
đã được diễn tả trong những tác phẩm trước đó. Tuy nhiên The Art of
Loving không hẳn chỉ là một tóm lược. Nó trình bầy nhiều ý tưởng bên
ngoài những ý tưởng đã được diễn tả trước đây, và hẳn nhiên ngay cả những
ý tưởng cũ hơn đôi khi lại mang những viễn tượng mới vì rằng chúng thảy
đều qui tụ quanh một chủ điểm duy nhất : nghệ thuật về tình yêu.
E.F.
KẺ NÀO KHÔNG BIẾT GÌ CẢ, KHÔNG YÊU GÌ CẢ. KẺ NÀO
KHÔNG THỂ LÀM ĐƯỢC GÌ CẢ KHÔNG THỂ HIỂU ĐƯỢC GÌ CẢ.
KẺ NÀO KHÔNG HIỂU ĐIỀU GÌ CẢ, KHÔNG CÓ GÌ XỨNG ĐÁNG
CẢ. NHƯNG KẺ NÀO CÓ HIỂU THÌ CŨNG CÓ YÊU, CÓ CHÚ Ý, CÓ
THẤY . . . SỰ HIỂU BIẾT CÀNG Ở TRONG LÒNG TỤ THỂ, TÌNH YÊU
CÀNG LỚN . . . AI NGHĨ TƯỞNG RẰNG MỌI TRÁI CÂY ĐỀU CHÍN
CÙNG LÚC VỚI TRÁI DÂU THÌ KHÔNG BIẾT GÌ VỀ TRÁI NHO CẢ.
PARACELSUS .
TÌNH YÊU LÀ MỘT NGHỆ THUẬT?
Phải chăng yêu thương là một nghệ thuật? Vậy thì nó đòi hỏi sự hiểu biết
và cố gắng. Hoặc giả phải chăng yêu thương là một cảm giác xứng ý mà cảm
nghiệm là vấn đề cơ duyên, là cái mà người ta "sa vào" nếu gặp duyên may ?
Tập sách nhỏ này y cứ trên tiền đề thứ nhất và ngày nay chắc chắn phần lớn
người ta tin vào tiền đề thứ hai.
Không phải mọi người đều nghĩ rằng tình yêu không quan trọng. Họ khao
khát nó, họ để ý vô số các phim ảnh về những chuyện tình may mắn hay
không may mắn, họ nghe hàng trăm bài ca chẳng hay ho gì cả về tình yêu,
nhưng chắc hẳn không ai nghĩ rằng cần phải học hỏi một điều gì đó về tình
yêu.
Thái độ kì dị này dựa trên nhiều tiền đề đặc dị hay hỗn hợp nhằm binh
vực nó.
Hầu hết người ta nhìn vấn đề tình yêu chủ yếu là vấn đề được yêu hơn là
vấn đề yêu, vấn đề năng tính yêu thương của mình. Bởi vậy vấn đề đối với
họ cốt làm sao để được yêu, làm sao để đáng yêu. Đuổi theo mục tiêu ấy họ
chạy theo nhiều nẻo. Một nẻo, đặc biệt ở nam giới là để thành công, là có
thế lực cũng như sung túc về mặt xã hội mà địa vị của mình cho phép. Đằng
khác, đặc biệt ở nữ giới là tạo vẻ quyến rũ cho mình bằng cách trau chuốt
thân thể , trang phục của mình v v .. Những lối khác, tạo vẻ quyến rũ cho
mình cả đàn ông lẫn đàn bà đều dùng, là triển khai những phương cách xứng
ý, đàm thoại hứng thú, là hay giúp đỡ, khiêm tốn, hiền hòa. Có nhiều lối làm
cho mình khả ải giống như những lối làm cho mình thành công được "bạn và
cảm hóa mọi người". Sự thật, nhữn gì mà hầu hết trong nền văn hóa của
chúng ta nói là khả ái chính ra là một sư hỗn hợp giữa tính cách thông tục và
sự gợi dục.
Một tiền đề thứ đằng sau thái độ cho rằng không có gì phải học hỏi về
tình yêu đó là sự mặc nhận rằng vấn đề tình yêu là vấn đề của một đối tượng
không phải là vấn đề của một khả năng. Người ta nghĩ rằng yêu là một việc
giản dị, nhưng tìm thấy một đối tượng chính thực để yêu – là khó. Thái độ
này có nhiều lí do, chúng bắt rễ trong sự phát triển của xã hội tân tiến.
Một lý do là sự thay đổi lớn lao đã xảy ra ở thế kỷ XX đối với việc lựa
chọn một đối tượng tình yêu. Trong thời đại Victoria, cũng như trong nhiều
nền văn hóa cổ truyền, tình yêu gần như không phải là cảm nghiệm riêng rẽ
bất chợt để rồi có thể đưa đến hôn nhân. Trái lại, hôn nhân được ký kết bởi
ước chế, hay bởi các gia đình với nhau, hay bởi một môi nhân : hay không
qua những trung gian phụ trợ như thế, nó được qui kết trên căn bản của
những nhân ước xã hôn và tình yêu được coi như để phát triển một khi hôn
nhân đã được qui kết. Trong một vài thế hệ trước xây, khái niệm về tình yêu
lãng mạn đã trở thành hầu như phổ biến trong thế giới Tây phương. Ở hoa
kỳ, trong khi những nhân ước về bản chất ước chế không vắng bóng, phần
lớn người ta tìm kiếm "tình yêu lãng mạng", tìm kiếm kinh nghiệm riêng rẻ,
để rồi nó phải đưa đến hôn nhân. Khái niệm mới mẻ về tự do trong tình yêu
ấy chắc chắn đã làm tăng gia rất nhiều tầm quan trọng của đối tượng xét như
là chống đối với tầm quan trọng của nhiệm vụ.
Liên hệ chặt chẽ với yếu tố này là nét đặc trưng khác của nền văn hóa
hiện đại. Toàn thể nền văn hòa của chúng ta được đặt trên thị hiếu mua sắm,
trên ý niệm về một sự giao dịch thuận lợi. Hạnh phúc của con người ngày
nay nằm ở sự kích thích của công việc, nhìn vào những cửa tiệm, ở chỗ mua
tất cả những gì mà mình đủ sức mua, trả tiền ngay hay trả lần hồi. Họ nhìn
người khác cũng giống vậy. Với đàn ông một cô gái quyến rũ - và với đàn
bà, một gã đàn ông quyến rũ - là những trị giá mà họ theo đuổi. "Vẻ quyến
rũ thông thường có nghĩa là một gói đồ khéo léo đựng những đức tính
thông tục và được tìm tòi trên thị trường nhân cách. Những gì đặc biệt tạo
cho một người cỏ vẻ quyến rũ tuỳ thuộc sự lưu hành của thời thượng, về vật
lý cũng như về tâm lý. Trong vòng hai mươi năm trước đây, một cô gái uống
rượu và hút thuốc, ngổ ngáo và gợi dục là có vẻ quyến rũ , ngày nay thời
thượng đòi hỏi tính thùy mị và cả thẹn nhiều hơn. Vào cuối thế kỷ XIX và
đầu thế kỷ XX một người đàn ông phải là hùng hổ và có tham vọng - ngày
nay thì phải có tinh thần xã hội và cởi mở - mới là một "gói đồ" quyến rũ.
Dù sao, ý vị của sự sa vào tình yêu thông thường chỉ phát triển tùy theo
nhưng hóa phẩm của con người là những hóa phẩm nằm trong tầm mức mà
khả năng riêng biệt của mình có thể với đến hầu dễ trao đổi.
Tôi xuất hiện cho một giao dịch ; đối tượng phải là khả ái xét theo lập
trường về giá trị xã hội của nó, và đồng thời nó phải cần có tôi, nhìn vào
những di sản và những tiềm năng khơi mở và ẩn dấu của tôi. Hai người trở
thành yêu nhau khi họ cảm nhận họ đã tìm thấy đối tượng tuyệt hảo hữu ích
trên thị trưởng. xét theo những giới hạn về các giá trị giao hoán của chính
họ. Thường thường như khi mua một tài sản thực tế, những tiềm năng ẩn
khuất mà người ta có thể khai triển được giữ một vai trò quan trọng trong sự
giao dịch này. Trong một nền văn hóa mà ở đó chiều hướng thị trường chiếm
ưu thế, và ở đó sự thành công về mặt vật chất có giá trị nổi bật, không có lý
do gì phải nhạc nhiên cho lắm về những quan hệ tình yêu của con người tùy
theo cùng dạng thức giao hóan chi phối hóa phẩm và thị trường lao đông.
Sự sai lầm thứ ba dẫn đến mặc nhận rằng không cỏ gì phải học hỏi về
tình yêu là ở chỗ lẫn lộn giữa kinh nghiệm sơ khởi về việc "sa" vào tình yêu
và tình trạng thường trực của việc đang yê, hay chúng ta có thể nói rõ hơn
của sự việc "đứng" trong tình yêu.
Nếu hai người trước kia xa lạ nhau, như tất cả chúng ta đều vậy, bỗng
chốc để cho bức tường giữa họ ngả xuống, và cảm thấy thân thiết, cảm thấy
là một, thì cái lúc đơn nhất thể này là một trong nhưng cảm nghiệm cao hứng
nhất, phấn khích nhất trong cuộc sống. Đấy lại là điều lạ lùng và kỳ diệu hơn
nữa đối với những người đã từng khép kín, cô lập, không có tình yêu. Cái kỳ
diệu của sự thân thiết bất chợt ấy thường được tạo nên dễ dàng nếu nó được
kết hợp hay bắt đầu bởi sự hấp dẫn và sự cực thành của dục tính. Tuy nhiên,
loại tình yêu này tự bản chất nó không bền vững. Hai người trở nên chí thân,
sự thân thiết của họ càng lúc càng đánh mất đặc tính kỳ diệu của nó, cho đến
khi sự chống đối và bất mãn; sự nhàm chán lẫn nhau của họ tận diệt những
gì do phấn khích sơ khởi để lại. Nhưng, ban đầu họ đã không biết được tất
cả những điều này : thực vậy, họ lấy cường độ mê luyến, sự "ngây dại"
nhau ấy, làm chứng cớ cho cường độ của tình yêu họ, trong khi nó chi có thể
minh chứng mức độ cô đơn trước đây của họ.
Thái độ này- cho rằng không có gì dễ dãi hơn là yêu-đã không ngớt là ý
niệm phổ biến về tình vêu mặc dù có sự hiển nhiên rằng trái ngược lại. Chắc
hẳn không có một hoạt động, một ý thú nào khởi đầu với những ước vọng và
mơ tưởng to lớn như vậy - nhưng thất bại đều đều - như là tình yêu. Nếu đấy
là trường hợp của một hoạt động nào khác, người ta sẽ hăng hái hơn để nhận
thức những lý do thất bại, và để học hỏi sao cho mình có thể làm hay hơnhay họ sẽ bỏ đi hoạt động ấy.
Bởi vì điều này không thể có trong trường hợp tình yêu, hình như chỉ có
một cách thích đáng, duy nhất để vượt qua sự thất bại của tình yêu - để xét
những lý do đưa đến sự thất bại này, và để tiến tới việc tìm hiểu ý nghĩa của
tình yêu.
Bước thứ nhất là phải ý thức rằng tình yêu là một nghệ thuật, cũng như
sống là một nghệ thuật; nếu chúng ta muốn học cách yêu thương chúng ta
phải tiến hành trong cùng đường lối mà chúng ta phải tiến hành khi chúng ta
muốn học hỏi một nghệ thuật nào khác, như nhạc, học đồ mộc hay y thuật
hay cơ thuật.
Đâu là những bước cần thiết trong việc học hỏi một nghệ thuật ? Tiến
trình của việc học hỏi một nghệ thuật có thể được tạm chia thành hai phần :
một là tinh thông về lý và một nữa là tinh thông về thực hành. Nếu tôi muốn
học về y thuật trước hết tôi phải biết những sự kiện về thân thể của con
người và về những chứng bịnh khác nhau. Khi tôi đã có tất cả những kiến
thức về lý thuyết này rồi, không phải đương nhiên tôi giỏi về y thuật. Tôi sẽ
trở thành một bậc thầy trong nghệ thuật này chỉ sau khi có một số vốn thực
hành cho đến khi những thành quả của kiến thức lý thuyết và những thành
quả thực hành của tôi sau cùng được kết dệt thành một - sự trực giác của tôi,
yếu tính của sự tinh thông về bất cứ một nghệ thuật nào. Nhưng, ngoài việc
học lý thuyết và thực hành còn có một yếu tố thứ ba cần thiết để trở thành
một bậc thầy trong bất cứ một nghệ thuật nào - sự tinh thông về nghệ thuật
phải là một vần đề rất đáng quan tâm ; chắc hẳn, trong thế giới này không có
gì quan trọng hơn là nghệ thuật. Điều này đúng cho nhạc, cho y, cho mộc và cho tình yêu. Và, có lẽ, ở đây đặt ra câu trả lời cho câu hỏi tại sao trong
nền văn minh của chúng ta rất hiếm có người học về nghệ thuật này dù có
những thất bại rõ ràng của nó : dù có khát vọng thầm kín đối với tình yêu,
hầu như mọi tư vụ khác được coi là quan trọng hơn tình yêu : thành công,
thanh thế, tiền bạc, uy quyền. Hầu như tất cả nghị lực của chúng ta được
dùng để học hỏi làm sao hoàn thành những mục tiêu này và hầu như không
có ai học nghệ thuật về tình yêu.
Cỏ thể rằng chỉ những sự thể ấy mới được coi là đáng được học hỏi vì
nhờ chúng mà người ta có thể kiếm ra tiền tài hay danh vọng, còn tình yêu,
nó chỉ có lợi cho tâm hồn nhưng không lợi gì cả theo ý nghĩa thời mới, là
một xa xỉ mà chúng ta không được quyền bỏ ra nhiều nghị lực như thế ? Tuy
nhiên, dù có thể là thế, thảo luận sau đây sẽ bàn đến nghệ thuật về tình yêu
theo chiều hướng như đã vạch ở trên: trước hết tôi sẽ bàn về lý thuyết của
tình yêu. Và điều này sẽ chiếm phần lớn của sách ; và thứ đến tôi sẽ bàn đến
sự thực hành về tình yêu - ở đây ta có thể nói được chút ít về sự thực hành,
cũng như ở những phạm vi khác.
II
LÝ THUYẾT VỀ TÌNH YÊU
1. Tình Yêu Giải đáp cho vấn đề Hiện Hữu của con Người.
Bất cứ một lý thuyết nào về tình yêu cũng phải bắt đầu với một lý thuyết
về con người, về hiện hữu con người. Trong khi chúng ta tìm thấy tình yêu
hay đúng hơn : cái tương đương với tình yêu, ở loài vật ; những quyến luyến
của chúng chính yếu là một phần thuộc trang bị bản năng của chúng ; chỉ có
những tàn vật của trang bị bản năng này là còn có thể tác động trong con
người. Điều chính yếu trong hiện hữu của con người là sự kiện rằng con
người đã vươn lên khỏi phạm vi loài vật, khỏi sự thích ứng bản năng ; rằng
con người đã vượt lên trên nhiên giới - dù nó không bao giờ rời bỏ nhiên giới
; nó là một phần của nhiên giới - nhưng một khi đã chạy khỏi nhiên giới, con
người không thể quay về với nhiên giới : một khi đã rút lui khỏi thiên
đường- một trạng thái hợp nhất nguyên thủy với thiên nhiên - có những thiên
đường với những ngọn kiếm rực lửa đóng chặn đường về của mình. Nếu con
người phải cố trở về. Con người chỉ cỏ thể đi tới bằng cách phát triển lý tính
của mình, bằng cách tìm một nhịp điệu mới, một nhịp điệu của con người,
thay vì một nhịp điệu tiền-nhân-tính bị mất hút hẳn.
Khi con người sinh ra, chủng loại người cũng như cá thể, nó đi ra từ một
tình trạng đã cố định, cố định như những bản năng, mà vào một tình trạng
bất định, bất xác và mở rộng. Chỉ có sự xác thực nằm trong quá khứ - và chỉ
khi nào đó là sự chết mới là ở trong tương lai.
Con người có phú bẩm của lý tính : người là sự sống ý thức về chính
mình, con người có ý thức về chính nó, về đồng loại người của nó, về quá
khứ và về những khả tính tương lai của nó. Sự thức tỉnh về chính mình ấy,
mình như một thực thể ly cách , sự thức tỉnh về đối sống ngắn ngủi trong
khoảnh khắc của chính mình, về sự kiện rằng mình sinh ra không do ý chí
mình và chết đi cũng nghịch với ý chí mình. Và mình chết trước nhưng
người mình yêu hay họ chết trước mình, sự thức tỉnh về nỗi cô đơn và ly
cách của mình, về mối vô vọng của mình trước những thế lực thiên nhiên và
xã hội, tất cả những điều này tạo nên hiện hữu ly cách, phân rẽ của mình
thành một ngục tù không thể chịu đựng. Con người có thể phát cuồng nếu nó
không thể giải phóng mình bước ra khỏi ngục tù này, hợp nhất mình trong
một hình thức nào đó với những người khác, với thế giới bên ngoài.
Cảm nghiệm về sự ly cách khơi dậy mối ưu tư ; quả thực, nó là cội nguồn
của ưu tư. Chịu ly cách tức là bị cắt rời ra, không có khả năng nào để sử
dụng những quyền lực con người của tôi. Từ đó ly cách cỏ nghĩa là vô vọng,
không thể với tới, thế giới - vạn hữu và mọi người - một cách hoạt bát ; có
nghĩa là thế giới có thể xâm chiếm tôi mà tôi không thể phản ứng lại. Như
thế sự ly cách là cội nguồn của mối ưu tư mãnh liệt. Ngoài ra, nó khơi dậy sự
hổ thẹn và cảm giác tội lỗi. Cảm nghiệm về tội lỗi và sự hổ thẹn ấy, trong ly
cách được diễn bằng câu chuyện Adam và Eve của Thánh kinh. Sau khi
Adam và Eve đã ăn phải "cây biết thiện ác ", sau khi họ đã bất tuân (không
có thiện và ác trừ phi có sự tự do bất tuân), sau khi họ đã trở thành loài người
bằng cách tự loại bỏ mình ra khỏi sự hoà điệu nguyên thủy loài vật với nhiên
giới, tức là sau khi họ sinh ra với tư cách loài người - họ thấy rằng "mình
trần truồng - và họ hổ thẹn" Phải chăng chúng ta phải thừa nhận rằng một
huyền thoại vừa cổ lỗ và sơ đẳng như huyền thoại này mang đạo đức quan
thái quá của thế kỷ XIX, và điểm quan trọng mà câu chuyện muốn trao cho
chúng ta là tình trạng bối rối về sự phát sinh của đạo đức thật là rõ rệt ? Có
thề cưỡng nhận như thế, và bằng cách hiểu câu chuyện theo tinh thần thời
đại Victoria, chúng ta bỏ mất điểm chính ; điểm ấy hình như là vầy : sau khi
người đàn ông và người đàn bà khởi thức về chính mình và lẫn nhau, họ ý
thức về sự ly cách và về sự khác nhau của họ, vì họ mang những dị tính.
Nhưng trong khi nhận ra sự ly cách họ vẫn còn xa lạ nhau vì họ chưa học
yêu nhau (ta cũng thấy rất rõ bởi sự kiện Adam tự bảo vệ bằng cách nguyền
rủa Eve, hơn là cố gắng bảo vệ Eve). Sự thức tỉnh về ly cách của con người
không có hợp nhất bằng tình yêu - là cội nguồn của hổ thẹn. Đồng thời nó
cũng là cội nguồn của tội lỗi và ưu tư.
Vậy thì, nhu cầu sâu thẳm nhất của con người là nhu cầu vượt qua sự ly
cách của mình, lìa bỏ ngục tù cô độc của mình. Sự thất bại toàn triệt không
hoàn thành được mục tiêu này có nghĩa là cơn bịnh cuồng dại, bởi vì, chỉ có
thể chế ngự được nỗi kinh hoàng về cái cô lập hoàn toàn bằng cách rút lui
hẳn khỏi thế giới bên ngoài để cho cảm giác về ly cách biến mất - bởi vì thế
giới bên ngoài, mà người ta bị ly cách từ đó, đã biến mất.
Con người - thuộc mọi thời đại và mọi nền văn minh - đều bị đối đầu với
sự giải quyết cùng một vấn đề duy nhất ; vấn đề làm sao vượt qua ly cách,
làm sao hoàn thành hợp nhất, làm sao vượt qua đời sống cá biệt của mình và
tìm thấy sự chuộc tội. Vấn đề cũng giống như con người thái cổ sống trong
hang hóc, người du mục chăm sóc đàn thú của mình, người nông dân ở Ai
Cập, thương nhân Phoenix, binh sĩ La-mã, tu sĩ thời trung cổ, võ sĩ Nhật bản,
thư ký và công chức ngày nay. Vấn đề như nhau vì nó khởi lên từ nền tảng
như nhau : tình cảnh của con người, những điều kiện của hiện hữu con
người. Câu trả lời thì khác nhau- Vấn đề có thể được trả lời bằng bái vật,
bằng hy sinh người hay chinh phục sinh lực, bằng phóng túng trong xa hoa,
bằng yểm ly trong khổ hạnh bằng công việc nhức óc, bằng sáng tạo nghệ
thuật, bằng tình yêu Chúa và bằng tình yêu người. Trong khi có nhiều câu trả
lời - lịch sử nhân loại là ký lục về chúng - nhưng không phải là vô số lượng.
Trái lại, ngay khi người ta không, biết những sai biệt nhỏ, sai biệt về ngoại
diện hơn là trung tâm, người ta khám phá ra rằng chỉ có một số có hạn những
câu trả lời đã được đưa ra, và chỉ có thể được đưa ra do con người trong
nhiều văn hóa khác nhau mà con người sống trong đó. Lịch sử tôn giáo và
triết học là lịch sử của những câu trả lời ấy, của dị biệt cũng như của sự hạn
cuộc trong số lượng của chúng.
Câu trả lời, phần lớn lệ thuộc trình độ cá biệt hóa mà một cá thể đã đạt
được. Trong trẻ thơ, Ngã tính đã phát triển- nhưng còn ít ; nó vẫn còn cảm
thấy là một với mẹ nó, không có cảm giác về ly cách bao lâu mẹ nó còn hiện
diện. Ý vị cô độc của nó được chữa trị bằng sự hiện diện vật lý của bà mẹ,
lồng ngực của mẹ, da thịt của mẹ. Chỉ ở mức mà đứa trẻ phát triển ý vị ly
cách và cá biệt tính của nó, sự hiện diện vật lý của bà mẹ không còn đủ nữa
và nhu cầu vượt qua ly cách bằng những cách khác mới khởi lên.
Cũng vậy, chủng loại người trong thời ấu trĩ của nó vẫn còn cảm thấy là
như với nhiên giới. Đất đai, thú vật, cây cối vẫn còn là thế giới của con
người. Nó đồng hóa mình với loài vật và điều này được biểu lộ bằng cách
mang những dấu hiệu loài vật, bằng cách thờ một vật tổ hay các linh thú.
Nhưng chủng loại người càng vươn khỏi nhưng thúc phược ban sơ này, nó
càng phân ly mình với thế giới tự nhiên, nhu cầu tìm những lối mới để trốn
thoát, ly cách càng trở nên mãnh liệt. Một đường lợi để hoàn thành mục tiêu
này là tất cả những thứ trạng thái say. Những trạng thái này có thể có hình
thức hôn mê tự tạo đôi khi nhờ đến những ma túy. Nhiều nghi tiết của những
bộ lạc thái cổ cung cấp một bức hình sống động về loại giải quyết này.
Trong một trạng thái biến chuyển của sự xuất thần, thế giới bên ngoài biến
mất, và cảm giác về ly cách có từ nó cũng mất theo.
Nếu như những nghi tiết này được thực hiện công cộng, một cảm nghiệm
về sự hỗn hợp với nhóm được thêm vào nó làm cho giải pháp này càng có
hiệu lực hơn. Có liên hệ mật thiết với và thường được hỗn hợp với giải pháp
sau này là sự cảm nghiệm dục tính. Cơ năng dục tính có thể sản xuất một
trạng thái tương tự với trạng thái được tạo ra do một hôn mê hay với hiệu
quả của những ma túy nào đó. Những chú thuật của những cuồng túy dục
tính công cộng là một phần của nhiều nghi tiết thái cổ. Hình như là sau cảm
nghiệm say, con người có thể tiếp tục trong một thời gian mà không đau khổ
quả nhiều vì ly cách của mình. Sự căng thẳng của ưu tư tăng lên chậm chạp
và rồi bị khắc phục lần nữa do lặp lại thực hành của nghi tiết.
Bao lâu nhưng trạng thái say còn là một sự vụ thực hành chung trong một
bộ lạc, chúng không tạo ra ưu tư hay tội lỗi. Hành động theo đường lối này
là đúng và có đức nữa, vì nó là một đường lối mà tất cả cùng chia xẻ, được
tán thành và được yêu cầu bởi thầy thuốc hay thầy tháp ; từ đó không có lý
do gì để có cảm giác tội lỗi hay hổ thẹn. Nó hoàn toàn khác biệt khi cùng
giải pháp được lựa chọn bởi cá nhân trong một nền văn hóa đã bỏ lại đằng
sau những thực hành công cộng này.
Ghiền rượu và nghiền ma túy là nhưng hình thức mà cá nhân trong một
nền văn hóa không cuồng lạc lựa chọn. Trái với những kẻ tham dự trong giải
pháp mang kiểu mẫu xã hội, những cá nhân như thế chịu khổ vì nhưng cảm
giác tội lỗi và sự hối hận. Trong khi họ cố thoát khỏi ly cách bằng cách lẫn
trốn vào rượu hay thuốc, họ càng cảm thấy ly cách hơn sau khi cảm nghiệm
cuồng loạn đi qua, và như thế lại phải cầu cứu đến nó làm tăng thêm độ số và
cường độ. Khác hơn sau việc ấy một chút là cầu cứu đến giải pháp cuồng lạc
dục tính. Ít ra đây là hình thức tự nhiên và bình thường để vượt qua ly cách,
và là giải đáp một phần cho vấn đề cô lập. Nhưng trong nhiều cá nhân mà ly
cách không được loại trừ bằng những đường lối khác, sự tìm tòi cho cơ năng
dục tính mang một phận sự khiến nó không khác mấy với sự ghiền rượu hay
Erich Fromm
TÁC PHẨM TÂM PHÂN HỌC
VIẾT VỀ TÌNH YÊU
Nguyên tác:
THE ART OF LOVING
Người dịch:
TUỆ SĨ
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
TỰA
I
TÌNH YÊU LÀ MỘT NGHỆ THUẬT?
II
LÝ THUYẾT VỀ TÌNH YÊU
1. Tình Yêu Giải đáp cho vấn đề Hiện Hữu của con Người.
2. Tình Yêu Giữa cha mẹ và con cái.
3. Đối tượng của tình yêu.
III
TÌNH YÊU VÀ SỰ ĐỔ VỠ CỦA TÌNH YÊU
TRONG XÃ HỘI TÂY PHƯƠNG HIỆN ĐẠI
IV
THỰC HÀNH VỀ TÌNH YÊU
TỰA
Bất cứ ai mong đợi một khuyến thị dễ dãi trong nghệ thuật về tình yêu khi
đọc tập sách này sẽ cảm nghiệm một thất vọng. Bởi vì, tập sách muốn chứng
tỏ rằng tình yêu không phải là một cảm thức mà ai cũng có thể mơ tưởng dễ
dàng, không đếm xỉa đến trình độ trưởng thành mà người ấy đạt được.
Nó muốn gây xác tín cho độc giả rằng mọi cố gắng của mình cho tình yêu
đều phải tan vỡ, trừ phi mình cố gắng rất hăng nồng cho phát triển nhân cách
toàn diện của mình để rồi hoàn thành một chiều hướng phong phú ; rằng
mình không thể đạt được sự thỏa mãn trong tình yêu cá biệt nếu không có
khả năng yêu thương người láng giềng của mình, nếu không có những đức
khiêm tốn, -dũng cảm, tín thành và kỷ luật thật sự. Trong một nền văn hóa
mà những tức tính này hiếm có, sự thành đạt khả năng yêu thương chắc chắn
còn là một công trình họa hiếm.
Hoặc giả, ai cũng có thể tự hỏi mình rằng đã có bao nhiêu người thực sự
yêu thương.
Nhưng, sự khó khăn của công việc ấy hẳn không phải là một lý do ngăn
cản cố gắng nhận thức những khó khăn cũng như những điều kiện để kiện
toàn nó. Để tránh những phức tạp không cần thiết, tôi đã cố gắng đề cập vấn
đề trong một ngôn ngữ không chuyên môn, tùy trường hợp có thể . Với cùng
lý do ấy, tôi cũng đã tham khảo một ít văn chương viết về tình yêu.
Lại còn một vấn đề nữa, là tôi đã không tìm thấy một giải quyết hoàn toàn
thoả đáng tức là vấn đề tránh lặp lại những ý tưởng đã được nêu lên trong tác
phẩm về trước của tôi, nhất là độc giả quen thuộc với Escape From Freedom
( Chạy trốn tự đo, ) Man For Himself ( Con người với chính mình) The Sane
Society (Xã hội lành mạnh) sẽ tìm thấy trong tập sách này có nhiều ý tưởng
đã được diễn tả trong những tác phẩm trước đó. Tuy nhiên The Art of
Loving không hẳn chỉ là một tóm lược. Nó trình bầy nhiều ý tưởng bên
ngoài những ý tưởng đã được diễn tả trước đây, và hẳn nhiên ngay cả những
ý tưởng cũ hơn đôi khi lại mang những viễn tượng mới vì rằng chúng thảy
đều qui tụ quanh một chủ điểm duy nhất : nghệ thuật về tình yêu.
E.F.
KẺ NÀO KHÔNG BIẾT GÌ CẢ, KHÔNG YÊU GÌ CẢ. KẺ NÀO
KHÔNG THỂ LÀM ĐƯỢC GÌ CẢ KHÔNG THỂ HIỂU ĐƯỢC GÌ CẢ.
KẺ NÀO KHÔNG HIỂU ĐIỀU GÌ CẢ, KHÔNG CÓ GÌ XỨNG ĐÁNG
CẢ. NHƯNG KẺ NÀO CÓ HIỂU THÌ CŨNG CÓ YÊU, CÓ CHÚ Ý, CÓ
THẤY . . . SỰ HIỂU BIẾT CÀNG Ở TRONG LÒNG TỤ THỂ, TÌNH YÊU
CÀNG LỚN . . . AI NGHĨ TƯỞNG RẰNG MỌI TRÁI CÂY ĐỀU CHÍN
CÙNG LÚC VỚI TRÁI DÂU THÌ KHÔNG BIẾT GÌ VỀ TRÁI NHO CẢ.
PARACELSUS .
TÌNH YÊU LÀ MỘT NGHỆ THUẬT?
Phải chăng yêu thương là một nghệ thuật? Vậy thì nó đòi hỏi sự hiểu biết
và cố gắng. Hoặc giả phải chăng yêu thương là một cảm giác xứng ý mà cảm
nghiệm là vấn đề cơ duyên, là cái mà người ta "sa vào" nếu gặp duyên may ?
Tập sách nhỏ này y cứ trên tiền đề thứ nhất và ngày nay chắc chắn phần lớn
người ta tin vào tiền đề thứ hai.
Không phải mọi người đều nghĩ rằng tình yêu không quan trọng. Họ khao
khát nó, họ để ý vô số các phim ảnh về những chuyện tình may mắn hay
không may mắn, họ nghe hàng trăm bài ca chẳng hay ho gì cả về tình yêu,
nhưng chắc hẳn không ai nghĩ rằng cần phải học hỏi một điều gì đó về tình
yêu.
Thái độ kì dị này dựa trên nhiều tiền đề đặc dị hay hỗn hợp nhằm binh
vực nó.
Hầu hết người ta nhìn vấn đề tình yêu chủ yếu là vấn đề được yêu hơn là
vấn đề yêu, vấn đề năng tính yêu thương của mình. Bởi vậy vấn đề đối với
họ cốt làm sao để được yêu, làm sao để đáng yêu. Đuổi theo mục tiêu ấy họ
chạy theo nhiều nẻo. Một nẻo, đặc biệt ở nam giới là để thành công, là có
thế lực cũng như sung túc về mặt xã hội mà địa vị của mình cho phép. Đằng
khác, đặc biệt ở nữ giới là tạo vẻ quyến rũ cho mình bằng cách trau chuốt
thân thể , trang phục của mình v v .. Những lối khác, tạo vẻ quyến rũ cho
mình cả đàn ông lẫn đàn bà đều dùng, là triển khai những phương cách xứng
ý, đàm thoại hứng thú, là hay giúp đỡ, khiêm tốn, hiền hòa. Có nhiều lối làm
cho mình khả ải giống như những lối làm cho mình thành công được "bạn và
cảm hóa mọi người". Sự thật, nhữn gì mà hầu hết trong nền văn hóa của
chúng ta nói là khả ái chính ra là một sư hỗn hợp giữa tính cách thông tục và
sự gợi dục.
Một tiền đề thứ đằng sau thái độ cho rằng không có gì phải học hỏi về
tình yêu đó là sự mặc nhận rằng vấn đề tình yêu là vấn đề của một đối tượng
không phải là vấn đề của một khả năng. Người ta nghĩ rằng yêu là một việc
giản dị, nhưng tìm thấy một đối tượng chính thực để yêu – là khó. Thái độ
này có nhiều lí do, chúng bắt rễ trong sự phát triển của xã hội tân tiến.
Một lý do là sự thay đổi lớn lao đã xảy ra ở thế kỷ XX đối với việc lựa
chọn một đối tượng tình yêu. Trong thời đại Victoria, cũng như trong nhiều
nền văn hóa cổ truyền, tình yêu gần như không phải là cảm nghiệm riêng rẽ
bất chợt để rồi có thể đưa đến hôn nhân. Trái lại, hôn nhân được ký kết bởi
ước chế, hay bởi các gia đình với nhau, hay bởi một môi nhân : hay không
qua những trung gian phụ trợ như thế, nó được qui kết trên căn bản của
những nhân ước xã hôn và tình yêu được coi như để phát triển một khi hôn
nhân đã được qui kết. Trong một vài thế hệ trước xây, khái niệm về tình yêu
lãng mạn đã trở thành hầu như phổ biến trong thế giới Tây phương. Ở hoa
kỳ, trong khi những nhân ước về bản chất ước chế không vắng bóng, phần
lớn người ta tìm kiếm "tình yêu lãng mạng", tìm kiếm kinh nghiệm riêng rẻ,
để rồi nó phải đưa đến hôn nhân. Khái niệm mới mẻ về tự do trong tình yêu
ấy chắc chắn đã làm tăng gia rất nhiều tầm quan trọng của đối tượng xét như
là chống đối với tầm quan trọng của nhiệm vụ.
Liên hệ chặt chẽ với yếu tố này là nét đặc trưng khác của nền văn hóa
hiện đại. Toàn thể nền văn hòa của chúng ta được đặt trên thị hiếu mua sắm,
trên ý niệm về một sự giao dịch thuận lợi. Hạnh phúc của con người ngày
nay nằm ở sự kích thích của công việc, nhìn vào những cửa tiệm, ở chỗ mua
tất cả những gì mà mình đủ sức mua, trả tiền ngay hay trả lần hồi. Họ nhìn
người khác cũng giống vậy. Với đàn ông một cô gái quyến rũ - và với đàn
bà, một gã đàn ông quyến rũ - là những trị giá mà họ theo đuổi. "Vẻ quyến
rũ thông thường có nghĩa là một gói đồ khéo léo đựng những đức tính
thông tục và được tìm tòi trên thị trường nhân cách. Những gì đặc biệt tạo
cho một người cỏ vẻ quyến rũ tuỳ thuộc sự lưu hành của thời thượng, về vật
lý cũng như về tâm lý. Trong vòng hai mươi năm trước đây, một cô gái uống
rượu và hút thuốc, ngổ ngáo và gợi dục là có vẻ quyến rũ , ngày nay thời
thượng đòi hỏi tính thùy mị và cả thẹn nhiều hơn. Vào cuối thế kỷ XIX và
đầu thế kỷ XX một người đàn ông phải là hùng hổ và có tham vọng - ngày
nay thì phải có tinh thần xã hội và cởi mở - mới là một "gói đồ" quyến rũ.
Dù sao, ý vị của sự sa vào tình yêu thông thường chỉ phát triển tùy theo
nhưng hóa phẩm của con người là những hóa phẩm nằm trong tầm mức mà
khả năng riêng biệt của mình có thể với đến hầu dễ trao đổi.
Tôi xuất hiện cho một giao dịch ; đối tượng phải là khả ái xét theo lập
trường về giá trị xã hội của nó, và đồng thời nó phải cần có tôi, nhìn vào
những di sản và những tiềm năng khơi mở và ẩn dấu của tôi. Hai người trở
thành yêu nhau khi họ cảm nhận họ đã tìm thấy đối tượng tuyệt hảo hữu ích
trên thị trưởng. xét theo những giới hạn về các giá trị giao hoán của chính
họ. Thường thường như khi mua một tài sản thực tế, những tiềm năng ẩn
khuất mà người ta có thể khai triển được giữ một vai trò quan trọng trong sự
giao dịch này. Trong một nền văn hóa mà ở đó chiều hướng thị trường chiếm
ưu thế, và ở đó sự thành công về mặt vật chất có giá trị nổi bật, không có lý
do gì phải nhạc nhiên cho lắm về những quan hệ tình yêu của con người tùy
theo cùng dạng thức giao hóan chi phối hóa phẩm và thị trường lao đông.
Sự sai lầm thứ ba dẫn đến mặc nhận rằng không cỏ gì phải học hỏi về
tình yêu là ở chỗ lẫn lộn giữa kinh nghiệm sơ khởi về việc "sa" vào tình yêu
và tình trạng thường trực của việc đang yê, hay chúng ta có thể nói rõ hơn
của sự việc "đứng" trong tình yêu.
Nếu hai người trước kia xa lạ nhau, như tất cả chúng ta đều vậy, bỗng
chốc để cho bức tường giữa họ ngả xuống, và cảm thấy thân thiết, cảm thấy
là một, thì cái lúc đơn nhất thể này là một trong nhưng cảm nghiệm cao hứng
nhất, phấn khích nhất trong cuộc sống. Đấy lại là điều lạ lùng và kỳ diệu hơn
nữa đối với những người đã từng khép kín, cô lập, không có tình yêu. Cái kỳ
diệu của sự thân thiết bất chợt ấy thường được tạo nên dễ dàng nếu nó được
kết hợp hay bắt đầu bởi sự hấp dẫn và sự cực thành của dục tính. Tuy nhiên,
loại tình yêu này tự bản chất nó không bền vững. Hai người trở nên chí thân,
sự thân thiết của họ càng lúc càng đánh mất đặc tính kỳ diệu của nó, cho đến
khi sự chống đối và bất mãn; sự nhàm chán lẫn nhau của họ tận diệt những
gì do phấn khích sơ khởi để lại. Nhưng, ban đầu họ đã không biết được tất
cả những điều này : thực vậy, họ lấy cường độ mê luyến, sự "ngây dại"
nhau ấy, làm chứng cớ cho cường độ của tình yêu họ, trong khi nó chi có thể
minh chứng mức độ cô đơn trước đây của họ.
Thái độ này- cho rằng không có gì dễ dãi hơn là yêu-đã không ngớt là ý
niệm phổ biến về tình vêu mặc dù có sự hiển nhiên rằng trái ngược lại. Chắc
hẳn không có một hoạt động, một ý thú nào khởi đầu với những ước vọng và
mơ tưởng to lớn như vậy - nhưng thất bại đều đều - như là tình yêu. Nếu đấy
là trường hợp của một hoạt động nào khác, người ta sẽ hăng hái hơn để nhận
thức những lý do thất bại, và để học hỏi sao cho mình có thể làm hay hơnhay họ sẽ bỏ đi hoạt động ấy.
Bởi vì điều này không thể có trong trường hợp tình yêu, hình như chỉ có
một cách thích đáng, duy nhất để vượt qua sự thất bại của tình yêu - để xét
những lý do đưa đến sự thất bại này, và để tiến tới việc tìm hiểu ý nghĩa của
tình yêu.
Bước thứ nhất là phải ý thức rằng tình yêu là một nghệ thuật, cũng như
sống là một nghệ thuật; nếu chúng ta muốn học cách yêu thương chúng ta
phải tiến hành trong cùng đường lối mà chúng ta phải tiến hành khi chúng ta
muốn học hỏi một nghệ thuật nào khác, như nhạc, học đồ mộc hay y thuật
hay cơ thuật.
Đâu là những bước cần thiết trong việc học hỏi một nghệ thuật ? Tiến
trình của việc học hỏi một nghệ thuật có thể được tạm chia thành hai phần :
một là tinh thông về lý và một nữa là tinh thông về thực hành. Nếu tôi muốn
học về y thuật trước hết tôi phải biết những sự kiện về thân thể của con
người và về những chứng bịnh khác nhau. Khi tôi đã có tất cả những kiến
thức về lý thuyết này rồi, không phải đương nhiên tôi giỏi về y thuật. Tôi sẽ
trở thành một bậc thầy trong nghệ thuật này chỉ sau khi có một số vốn thực
hành cho đến khi những thành quả của kiến thức lý thuyết và những thành
quả thực hành của tôi sau cùng được kết dệt thành một - sự trực giác của tôi,
yếu tính của sự tinh thông về bất cứ một nghệ thuật nào. Nhưng, ngoài việc
học lý thuyết và thực hành còn có một yếu tố thứ ba cần thiết để trở thành
một bậc thầy trong bất cứ một nghệ thuật nào - sự tinh thông về nghệ thuật
phải là một vần đề rất đáng quan tâm ; chắc hẳn, trong thế giới này không có
gì quan trọng hơn là nghệ thuật. Điều này đúng cho nhạc, cho y, cho mộc và cho tình yêu. Và, có lẽ, ở đây đặt ra câu trả lời cho câu hỏi tại sao trong
nền văn minh của chúng ta rất hiếm có người học về nghệ thuật này dù có
những thất bại rõ ràng của nó : dù có khát vọng thầm kín đối với tình yêu,
hầu như mọi tư vụ khác được coi là quan trọng hơn tình yêu : thành công,
thanh thế, tiền bạc, uy quyền. Hầu như tất cả nghị lực của chúng ta được
dùng để học hỏi làm sao hoàn thành những mục tiêu này và hầu như không
có ai học nghệ thuật về tình yêu.
Cỏ thể rằng chỉ những sự thể ấy mới được coi là đáng được học hỏi vì
nhờ chúng mà người ta có thể kiếm ra tiền tài hay danh vọng, còn tình yêu,
nó chỉ có lợi cho tâm hồn nhưng không lợi gì cả theo ý nghĩa thời mới, là
một xa xỉ mà chúng ta không được quyền bỏ ra nhiều nghị lực như thế ? Tuy
nhiên, dù có thể là thế, thảo luận sau đây sẽ bàn đến nghệ thuật về tình yêu
theo chiều hướng như đã vạch ở trên: trước hết tôi sẽ bàn về lý thuyết của
tình yêu. Và điều này sẽ chiếm phần lớn của sách ; và thứ đến tôi sẽ bàn đến
sự thực hành về tình yêu - ở đây ta có thể nói được chút ít về sự thực hành,
cũng như ở những phạm vi khác.
II
LÝ THUYẾT VỀ TÌNH YÊU
1. Tình Yêu Giải đáp cho vấn đề Hiện Hữu của con Người.
Bất cứ một lý thuyết nào về tình yêu cũng phải bắt đầu với một lý thuyết
về con người, về hiện hữu con người. Trong khi chúng ta tìm thấy tình yêu
hay đúng hơn : cái tương đương với tình yêu, ở loài vật ; những quyến luyến
của chúng chính yếu là một phần thuộc trang bị bản năng của chúng ; chỉ có
những tàn vật của trang bị bản năng này là còn có thể tác động trong con
người. Điều chính yếu trong hiện hữu của con người là sự kiện rằng con
người đã vươn lên khỏi phạm vi loài vật, khỏi sự thích ứng bản năng ; rằng
con người đã vượt lên trên nhiên giới - dù nó không bao giờ rời bỏ nhiên giới
; nó là một phần của nhiên giới - nhưng một khi đã chạy khỏi nhiên giới, con
người không thể quay về với nhiên giới : một khi đã rút lui khỏi thiên
đường- một trạng thái hợp nhất nguyên thủy với thiên nhiên - có những thiên
đường với những ngọn kiếm rực lửa đóng chặn đường về của mình. Nếu con
người phải cố trở về. Con người chỉ cỏ thể đi tới bằng cách phát triển lý tính
của mình, bằng cách tìm một nhịp điệu mới, một nhịp điệu của con người,
thay vì một nhịp điệu tiền-nhân-tính bị mất hút hẳn.
Khi con người sinh ra, chủng loại người cũng như cá thể, nó đi ra từ một
tình trạng đã cố định, cố định như những bản năng, mà vào một tình trạng
bất định, bất xác và mở rộng. Chỉ có sự xác thực nằm trong quá khứ - và chỉ
khi nào đó là sự chết mới là ở trong tương lai.
Con người có phú bẩm của lý tính : người là sự sống ý thức về chính
mình, con người có ý thức về chính nó, về đồng loại người của nó, về quá
khứ và về những khả tính tương lai của nó. Sự thức tỉnh về chính mình ấy,
mình như một thực thể ly cách , sự thức tỉnh về đối sống ngắn ngủi trong
khoảnh khắc của chính mình, về sự kiện rằng mình sinh ra không do ý chí
mình và chết đi cũng nghịch với ý chí mình. Và mình chết trước nhưng
người mình yêu hay họ chết trước mình, sự thức tỉnh về nỗi cô đơn và ly
cách của mình, về mối vô vọng của mình trước những thế lực thiên nhiên và
xã hội, tất cả những điều này tạo nên hiện hữu ly cách, phân rẽ của mình
thành một ngục tù không thể chịu đựng. Con người có thể phát cuồng nếu nó
không thể giải phóng mình bước ra khỏi ngục tù này, hợp nhất mình trong
một hình thức nào đó với những người khác, với thế giới bên ngoài.
Cảm nghiệm về sự ly cách khơi dậy mối ưu tư ; quả thực, nó là cội nguồn
của ưu tư. Chịu ly cách tức là bị cắt rời ra, không có khả năng nào để sử
dụng những quyền lực con người của tôi. Từ đó ly cách cỏ nghĩa là vô vọng,
không thể với tới, thế giới - vạn hữu và mọi người - một cách hoạt bát ; có
nghĩa là thế giới có thể xâm chiếm tôi mà tôi không thể phản ứng lại. Như
thế sự ly cách là cội nguồn của mối ưu tư mãnh liệt. Ngoài ra, nó khơi dậy sự
hổ thẹn và cảm giác tội lỗi. Cảm nghiệm về tội lỗi và sự hổ thẹn ấy, trong ly
cách được diễn bằng câu chuyện Adam và Eve của Thánh kinh. Sau khi
Adam và Eve đã ăn phải "cây biết thiện ác ", sau khi họ đã bất tuân (không
có thiện và ác trừ phi có sự tự do bất tuân), sau khi họ đã trở thành loài người
bằng cách tự loại bỏ mình ra khỏi sự hoà điệu nguyên thủy loài vật với nhiên
giới, tức là sau khi họ sinh ra với tư cách loài người - họ thấy rằng "mình
trần truồng - và họ hổ thẹn" Phải chăng chúng ta phải thừa nhận rằng một
huyền thoại vừa cổ lỗ và sơ đẳng như huyền thoại này mang đạo đức quan
thái quá của thế kỷ XIX, và điểm quan trọng mà câu chuyện muốn trao cho
chúng ta là tình trạng bối rối về sự phát sinh của đạo đức thật là rõ rệt ? Có
thề cưỡng nhận như thế, và bằng cách hiểu câu chuyện theo tinh thần thời
đại Victoria, chúng ta bỏ mất điểm chính ; điểm ấy hình như là vầy : sau khi
người đàn ông và người đàn bà khởi thức về chính mình và lẫn nhau, họ ý
thức về sự ly cách và về sự khác nhau của họ, vì họ mang những dị tính.
Nhưng trong khi nhận ra sự ly cách họ vẫn còn xa lạ nhau vì họ chưa học
yêu nhau (ta cũng thấy rất rõ bởi sự kiện Adam tự bảo vệ bằng cách nguyền
rủa Eve, hơn là cố gắng bảo vệ Eve). Sự thức tỉnh về ly cách của con người
không có hợp nhất bằng tình yêu - là cội nguồn của hổ thẹn. Đồng thời nó
cũng là cội nguồn của tội lỗi và ưu tư.
Vậy thì, nhu cầu sâu thẳm nhất của con người là nhu cầu vượt qua sự ly
cách của mình, lìa bỏ ngục tù cô độc của mình. Sự thất bại toàn triệt không
hoàn thành được mục tiêu này có nghĩa là cơn bịnh cuồng dại, bởi vì, chỉ có
thể chế ngự được nỗi kinh hoàng về cái cô lập hoàn toàn bằng cách rút lui
hẳn khỏi thế giới bên ngoài để cho cảm giác về ly cách biến mất - bởi vì thế
giới bên ngoài, mà người ta bị ly cách từ đó, đã biến mất.
Con người - thuộc mọi thời đại và mọi nền văn minh - đều bị đối đầu với
sự giải quyết cùng một vấn đề duy nhất ; vấn đề làm sao vượt qua ly cách,
làm sao hoàn thành hợp nhất, làm sao vượt qua đời sống cá biệt của mình và
tìm thấy sự chuộc tội. Vấn đề cũng giống như con người thái cổ sống trong
hang hóc, người du mục chăm sóc đàn thú của mình, người nông dân ở Ai
Cập, thương nhân Phoenix, binh sĩ La-mã, tu sĩ thời trung cổ, võ sĩ Nhật bản,
thư ký và công chức ngày nay. Vấn đề như nhau vì nó khởi lên từ nền tảng
như nhau : tình cảnh của con người, những điều kiện của hiện hữu con
người. Câu trả lời thì khác nhau- Vấn đề có thể được trả lời bằng bái vật,
bằng hy sinh người hay chinh phục sinh lực, bằng phóng túng trong xa hoa,
bằng yểm ly trong khổ hạnh bằng công việc nhức óc, bằng sáng tạo nghệ
thuật, bằng tình yêu Chúa và bằng tình yêu người. Trong khi có nhiều câu trả
lời - lịch sử nhân loại là ký lục về chúng - nhưng không phải là vô số lượng.
Trái lại, ngay khi người ta không, biết những sai biệt nhỏ, sai biệt về ngoại
diện hơn là trung tâm, người ta khám phá ra rằng chỉ có một số có hạn những
câu trả lời đã được đưa ra, và chỉ có thể được đưa ra do con người trong
nhiều văn hóa khác nhau mà con người sống trong đó. Lịch sử tôn giáo và
triết học là lịch sử của những câu trả lời ấy, của dị biệt cũng như của sự hạn
cuộc trong số lượng của chúng.
Câu trả lời, phần lớn lệ thuộc trình độ cá biệt hóa mà một cá thể đã đạt
được. Trong trẻ thơ, Ngã tính đã phát triển- nhưng còn ít ; nó vẫn còn cảm
thấy là một với mẹ nó, không có cảm giác về ly cách bao lâu mẹ nó còn hiện
diện. Ý vị cô độc của nó được chữa trị bằng sự hiện diện vật lý của bà mẹ,
lồng ngực của mẹ, da thịt của mẹ. Chỉ ở mức mà đứa trẻ phát triển ý vị ly
cách và cá biệt tính của nó, sự hiện diện vật lý của bà mẹ không còn đủ nữa
và nhu cầu vượt qua ly cách bằng những cách khác mới khởi lên.
Cũng vậy, chủng loại người trong thời ấu trĩ của nó vẫn còn cảm thấy là
như với nhiên giới. Đất đai, thú vật, cây cối vẫn còn là thế giới của con
người. Nó đồng hóa mình với loài vật và điều này được biểu lộ bằng cách
mang những dấu hiệu loài vật, bằng cách thờ một vật tổ hay các linh thú.
Nhưng chủng loại người càng vươn khỏi nhưng thúc phược ban sơ này, nó
càng phân ly mình với thế giới tự nhiên, nhu cầu tìm những lối mới để trốn
thoát, ly cách càng trở nên mãnh liệt. Một đường lợi để hoàn thành mục tiêu
này là tất cả những thứ trạng thái say. Những trạng thái này có thể có hình
thức hôn mê tự tạo đôi khi nhờ đến những ma túy. Nhiều nghi tiết của những
bộ lạc thái cổ cung cấp một bức hình sống động về loại giải quyết này.
Trong một trạng thái biến chuyển của sự xuất thần, thế giới bên ngoài biến
mất, và cảm giác về ly cách có từ nó cũng mất theo.
Nếu như những nghi tiết này được thực hiện công cộng, một cảm nghiệm
về sự hỗn hợp với nhóm được thêm vào nó làm cho giải pháp này càng có
hiệu lực hơn. Có liên hệ mật thiết với và thường được hỗn hợp với giải pháp
sau này là sự cảm nghiệm dục tính. Cơ năng dục tính có thể sản xuất một
trạng thái tương tự với trạng thái được tạo ra do một hôn mê hay với hiệu
quả của những ma túy nào đó. Những chú thuật của những cuồng túy dục
tính công cộng là một phần của nhiều nghi tiết thái cổ. Hình như là sau cảm
nghiệm say, con người có thể tiếp tục trong một thời gian mà không đau khổ
quả nhiều vì ly cách của mình. Sự căng thẳng của ưu tư tăng lên chậm chạp
và rồi bị khắc phục lần nữa do lặp lại thực hành của nghi tiết.
Bao lâu nhưng trạng thái say còn là một sự vụ thực hành chung trong một
bộ lạc, chúng không tạo ra ưu tư hay tội lỗi. Hành động theo đường lối này
là đúng và có đức nữa, vì nó là một đường lối mà tất cả cùng chia xẻ, được
tán thành và được yêu cầu bởi thầy thuốc hay thầy tháp ; từ đó không có lý
do gì để có cảm giác tội lỗi hay hổ thẹn. Nó hoàn toàn khác biệt khi cùng
giải pháp được lựa chọn bởi cá nhân trong một nền văn hóa đã bỏ lại đằng
sau những thực hành công cộng này.
Ghiền rượu và nghiền ma túy là nhưng hình thức mà cá nhân trong một
nền văn hóa không cuồng lạc lựa chọn. Trái với những kẻ tham dự trong giải
pháp mang kiểu mẫu xã hội, những cá nhân như thế chịu khổ vì nhưng cảm
giác tội lỗi và sự hối hận. Trong khi họ cố thoát khỏi ly cách bằng cách lẫn
trốn vào rượu hay thuốc, họ càng cảm thấy ly cách hơn sau khi cảm nghiệm
cuồng loạn đi qua, và như thế lại phải cầu cứu đến nó làm tăng thêm độ số và
cường độ. Khác hơn sau việc ấy một chút là cầu cứu đến giải pháp cuồng lạc
dục tính. Ít ra đây là hình thức tự nhiên và bình thường để vượt qua ly cách,
và là giải đáp một phần cho vấn đề cô lập. Nhưng trong nhiều cá nhân mà ly
cách không được loại trừ bằng những đường lối khác, sự tìm tòi cho cơ năng
dục tính mang một phận sự khiến nó không khác mấy với sự ghiền rượu hay
 









Các ý kiến mới nhất