Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

_dem-thanh-vo-cung

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:29' 03-02-2026
Dung lượng: 525.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG
Tác giả: Heinrich Böll
Thể loại: Tập Truyện Ngắn
Dịch giả: Phạm Hải Hồ
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

LỜI MỞ ĐẦU
Tôi biết Heinrich Böll lần đầu qua cuốn sách nhỏ: “Những vướng mắc ở
tình anh em”.[1] Đó là một tuyển tập gồm những bài viết trong khoảng thời
gian từ 1968 đến 1972, đề cập đến một số vấn đề thời sự ở Đức cũng như ở
nhiều nước khác. Đối với một người Việt Nam, có lẽ không gì đáng chú ý
hơn những lời phản đối của Böll sau đợt dội bom miền Bắc Việt Nam vào
dịp lễ Nô-en 1972 của không lực Mỹ. Tuy nhiên, tác phẩm và cuộc đời của
Heinrich Böll cho thấy lúc nào ông cũng đấu tranh cho nhân bản và công
bằng, cũng bênh vực kẻ yếu thế, bị xem thường nhân phẩm bất luận nơi nào.
Bên cạnh phẩm chất nghệ thuật, có lẽ chính điều này đã dẫn tới một hiện
tượng khó giải thích: tác phẩm của ông được hàng chục triệu người trên khắp
thế giới yêu chuộng, hàng chục triệu người thuộc nhiều dân tộc, tầng lớp, hệ
thống chính trị và văn hóa khác nhau.
Rất tiếc nhà văn ít được biết đến ở Việt Nam. Hình như chỉ có ba cuốn
tiểu thuyết của ông được dịch ra tiếng Việt, đó là “Lạc lối về”, “Cái mặt
buồn của tôi” và “Danh dự đã mất của Katharina Blum” với tổng số xuất bản
chừng vài ngàn cuốn. Trong khi đó, đặc biệt những truyện ngắn và truyện
vừa ông viết trong những năm 1950, tức thời hậu chiến ớ Đức, tuy có bối
cảnh văn hóa – lịch sử khác Việt Nam nhưng nội dung lại khá gần gũi với
chúng ta. Chẳng hạn truyện “Cái cân nhà họ Balek” liên quan tới một kinh
nghiệm lịch sử lâu đời của nhân dân Việt Nam là hễ có bất công áp bức thì
có đấu tranh. Một số truyện khác như “Đêm thánh vô cùng” dính dáng ít
nhiều đến đề tài chiến tranh. Cũng chẳng xa lạ với chúng ta là môi trường
sống trong đó đạo đức giả và chủ nghĩa cơ hội hòa lẫn với những cố gắng
giữ gìn nhân cách và phẩm giá con người (“Toàn tập im lặng của tiến sĩ
Murke”). Lại có những truyện ngắn dẫn chúng ta tới những phương trời xa lạ
như “Mùi vị bánh mì” và “Người cha hùng của nữ thủy thần Undine”.
Nhưng nếu xem xét kỹ, chúng ta cũng có thể khám phá nơi đây những điểm
tương đồng giữa văn hóa Đức và văn hóa Việt Nam: ý nghĩa thiêng liêng của
bánh mì gần giống như sự quý trọng hạt lúa, lòng yêu kính sông Rhin có thể
sánh với tình cảm thiết tha đối với những dòng sông quê hương. Những chủ
đề vừa quen thuộc vừa xa lạ ấy, nhưng cốt truyện đôi lúc có hơi nặng nề mà
lời kể truyện lại hóm hỉnh nhẹ nhàng ấy, những tầng nghĩa khác nhau trong
cùng một truyện; với các đặc tính ấy, tác phẩm của Heinrich Böll chắc chắn
cũng sẽ mang lại cho độc giả người Việt niềm vui thú và những gợi ý hay.
Có lẽ một trong những đề tài được Böll quan tâm nhất là sự tha hóa của
con người trong xã hội công nghiệp hiện đại với những nghịch lý quá hiển
nhiên của nó (“Người vứt bỏ”, “Giai thoại làm suy giảm đạo đức lao động”).
Theo ông, hệ thống kinh tế – xã hội quá thiên về sản xuất – tiêu thụ và các

cơ chế quan liêu không những đóng khung, chuẩn mực hóa con người mà
còn tạo nên tâm địa tôn thờ vật chất, xem thường các giá trị tinh thần và đời
sống nội tâm. Dĩ nhiên con người thì không dễ đóng khung, chuẩn hóa như
một sản phẩm công nghiệp được.. Những nhân vật chính trong các tác phẩm,
nhất là trong những truyện châm biếm của Böll (“Sẽ xảy ra điều gì”, “Người
vứt bỏ”), đều có những điểm “không giống ai”, những hành vi ngoài lề lối gò
bó của xã hội. Người ta vừa cười những nhân vật kỳ cục ấy vừa có cảm tình
với họ, để rồi thích thú khi khám phá ra mình cũng có những điểm kỳ cục
nào đó – cảm tình trở nên đồng cảm, cười người hóa ra cười mình, cười con
người nói chung một cách thoải mái, không chút ác ý. Phải chăng việc ra
ngoài khuôn khổ gò bó, bằng hành động hay trong tưởng tượng, là phản ứng
tự nhiên của con người với phẩm chất có một không hai của nó, là biểu hiện
của khát vọng về sự hái hòa giữa cá nhân và xã hội, cộng đồng? Người ta có
thể tự đặt câu hỏi ấy khi đọc Heinrich Böll. Theo cách hình tượng của ông,
điều kiện tiên quyết để thành người là “rời bỏ cái khung”, và muốn đạt tới
tình huynh đệ, trước hết phải “phá bỏ cái khung cũ kỹ ấy”.
Điều cần nhấn mạnh ở đây là khi chỉ trích những cơ chế kìm hãm nhân
cách con người, Böll không đứng ngoài, càng không đứng trên cộng đồng,
và khi diễn tả các nhân vật của mình, ông không lấy tư cách “chủ nhân hay
quan tòa nhưng hòa mình với họ như thể anh em”. Chúng ta hãy nghe lời tự
thuật của ông trong một bài nói về tình huynh đệ: Tác giả tôi không sống
trên ngọn hải đăng tỏa ánh trong sạch, phát hiện cái dơ bẩn ở quanh mình, để
rồi khi sáng ngời lên vì trong sạch, anh ta lên tiếng chửi mắng cái dơ bẩn ấy.
Tác giả tôi sống trên đất đã làm nên anh ta, đau nỗi đau của đất đã làm nên
anh ta.!!! Anh ta cũng ăn bánh mì, uống bia, đóng thuế, xem xi-nê, thi hành
bổn phận công dân v.v… Nếu có cái gì nâng anh ta lên một chút so với dân
địa cầu thì đó có lẽ là khả năng diễn đạt cùng với khả năng phát biểu những
điều được xem như không thể phát biểu.
Đối với tác giả tôi, viết lách là một quá trình dân chủ, anh ta không phải là
chủ nhân hay quan tòa nhưng là anh em với toàn thể các nhân vật của mình,
anh ta ở ngay giữa sự vật, giữa những con người do mình tạo nên bằng ngôn
ngữ.[2]

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Heinrich Böll sinh ngày 21-12-1917 tại thành phố Cologne cổ kính. Lớn
lên, ông học nghề buôn sách, nửa chừng thì bỏ. Đến năm 1939, ông bắt đầu
học các môn Đức học và cổ ngữ văn học. Trong thế chiến thứ hai, ông đi
lính, bị thương nhiều lần và bị Anh Pháp bắt làm tù binh. Năm 1945, ông trở
về sinh quán, học tiếp môn Đức học, đồng thời làm nhiều việc để sống. Từ
1951 trở đi, ông thật sự hành nghề viết văn, mặc dù ông đã viết truyện ngắn
từ bốn năm trước. Với cuốn “Bi-a vào lúc chín giờ rưỡi” xuất bản năm 1959,
ông bắt đầu nổi tiếng. Năm 1969, ông nhận học bổng của Villa Massimo,
một tổ chức văn hóa quan trọng, và đi tham quan các nước Ai-len, Liên Xô
và Hoa Kỳ. Ba năm sau, ông dạy môn nghệ thuật thơ ở đại học Franctort bên
sông Main. 1972, ông được giải Nobel văn chương. Từ 1971 đến 1974, ông
là chủ tịch hội Văn bút quốc tế (PEN International). Sau bốn mươi năm hoạt
động trong nhiều lãnh vực, ông qua đời vào ngày 16-7-1985. Ngoài một số
lớn tiểu thuyết, truyện vừa và truyện ngắn, ông để lại nhiều bài thơ, kịch,
truyện châm biếm, tiểu luận, luận văn chính trị và văn chương cũng như
nhiều truyện dịch, nhất là từ tiếng Ai-len.

Đêm Thánh Vô Cùng
I
Trong họ hàng chúng tôi, những hiện tượng suy đồi đã hiện rõ nhưng theo
một thỏa thuận ngầm, người ta cô làm ngơ một thời gian dài, cho đến bây
giờ mới quyết định nhìn thẳng vào mối nguy trước mắt. Tôi chưa dám dùng
chữ sụp đổ nhưng nhiều sự kiện đáng lo ngại tích tụ tới mức nguy hiểm,
buộc tôi phải thuật những điều tuy lạ tai với người đồng thời, nhưng lại là sự
thật không thể chối cãi. Nấm mốc hủy hoại đã ăn sâu dưới lớp vỏ vừa dầy
vừa cứng, những tập đoàn ký sinh báo hiệu sự tổn thất của cả một dòng họ.
Ngày nay, chúng tôi tiếc đã bỏ ngoài tai ý kiến của người anh em họ tên
Franz, người sớm cảnh báo chúng tôi trước sự kiện “tự nó” không có gì hại.
Sự kiện ấy tuy thật nhỏ nhặt nhưng hậu quả lớn lao của nó khiến chúng tôi
giờ đây phải hoảng sợ. Franz đã báo nguy ngay từ đầu. Tiếc rằng anh ta ít có
uy tín. Anh ta chọn một nghề xưa nay chưa ai trong họ từng làm, và lẽ ra
cũng không ai được phép làm nữa: Franz trở thành võ sĩ quyền Anh. Ngay từ
nhỏ, anh ta đã hay suy tư và sùng đạo đến nỗi bị coi như “đồ mê tín”, lại sớm
theo những xu hướng khiến người cha cũng tên Franz – một người có tấm
lòng vàng – phải lo buồn. Franz hay trốn tránh bổn phận học hành tới mức
độ không thể gọi là bình thường được nữa. Anh ta gặp gỡ bạn bè không rõ
tốt xấu trong các công viên vắng vẻ hay những bụi rậm thường thấy ở ngoại
ô thành phố. Ở những nơi đó, họ tập các quy tắc cứng rắn của thuật đấu
quyền, không chút bận tâm tới truyền thống nhân văn đang bị xao lãng. Mấy
đứa ấy sớm biểu lộ tính xấu của thế hệ chúng nó, thế hệ đã tỏ ra vô tích sự.
Bao cuộc đấu tranh tư tưởng sôi động ở nhiều thế kỷ trước đây, chúng chẳng
thấy hay ho gì, chúng quá bận rộn với những xáo trộn đáng ngờ trong thế kỷ
của chúng. Mới đầu, tôi có cảm tưởng lòng sùng đạo của Franz mâu thuẫn
với những bài quyền tân thủ hung bạo mà anh ta siêng năng luyện tập. Bây
giờ, tôi mới bắt đầu đoán hiểu được phần nào. Rồi tôi sẽ trở lại chuyện này.
Vậy Franz là người sớm lên tiếng báo động, người đã tránh tham dự một
số buổi lễ và gọi tất cả là kiểu cách, tệ hại; về sau, anh ta chủ yếu từ chối
tham gia những biện pháp cần thiết để duy trì cái anh ta gọi là tệ hại đó. Thế
nhưng – như đã nói – Franz quá ít uy tín để được họ hàng nghe theo.
Bây giờ, sự việc đã như lửa gặp gió, chúng tôi lúng túng, chẳng biết chống
đỡ đường nào.
Franz trở thành võ sĩ quyền Anh nổi tiếng tự bao giờ nhưng anh ta thản
nhiên từ khước lời khen ngợi, cũng như trước đây đã thản nhiên gạt bỏ mọi
phê phán của gia đình.
Còn Johannes, em của Franz – tức cũng anh em họ hàng với tôi – người

mà tôi dám bảo đảm là hiền như củ khoai ấy, một luật sư thành đạt, đứa con
trai cưng của cậu tôi, người ta đồn Johannes tới gần đảng cộng sản, một lời
đồn tôi không tin chút nào. Và Lucie, chị họ của tôi trước đây là một phụ nữ
bình thường, người ta bảo giờ chị hay đi với người chồng tới những quán có
tiếng xấu, suốt đêm nhảy những điệu không thể nào gọi khác hơn là hiện
sinh. Riêng phần cậu Franz, người có tấm lòng vàng ấy, cũng nghe đâu có
lần cậu bảo mình chán sống, trong khi cả họ xem cậu là mẫu người đầy sinh
khí, tâm gương của cái mà người lớn dạy chúng tôi là nhà buôn Thiên Chúa
giáo.
Hóa đơn khám bệnh ngày càng nhiều, các bác sĩ tâm thần, các nhà thử
nghiệm tâm hồn được triệu đến. Có điều mợ Milla của tôi, người phải được
xem là tác nhân của tất cả những hiện tượng ấy, vẫn dồi dào sức khỏe, vẫn
tươi cười, vui sống như bình thường, vẻ tươi tắn, linh lợi của mợ khiến
chúng tôi bắt đầu khó chịu, sau khi hết lòng lo cho mợ một thời gian dài. Bởi
vì một khủng hoảng trong đời mợ có cơ trở thành nguy kịch. Chuyện này tôi
phải kể rõ hơn.

II
Đi ngược về quá khư, thật dễ tìm ra điểm xuất phát của một quá trình đáng
lo ngại – và lạ thay, đến bây giờ, khi xem xét sự việc một cách tỉnh táo, tôi
mới thấy những điều xảy ra trong họ hàng nhà tôi gần hai năm nay là khác
thường.
Lẽ ra chúng tôi phải sớm nhận biết là có cái gì đó không bình thường,
nhưng phải chăng từ trước tới giờ có cái gì là bình thường? – tôi ngờ vực
điều ấy – nhiều việc xảy ra ở đây khiến tôi kinh hoàng. Đã từ lâu, cả gia đình
đều biết mợ Milla đặc biệt thích trang trí cây Nô-en, một nhược điểm cá
nhân vô hại, khá phổ biến ở tổ quốc chúng ta. Nhược điểm của mợ, ai cũng
chỉ thấy buồn cười, trong khi việc Franz ngay từ nhỏ đã công khai phê bình
cái “trò” đó luôn luôn là đối tượng của cơn thịnh nộ dữ dội nhất, huống chi
anh ta đã là một hiện tượng quấy rối. Mợ tôi hết lấy làm lạ khi Franz xa lánh
những lần chuẩn bị trong mùa vọng,[3] xa lánh cả buổi lễ thật sự nữa và chỉ
xuất hiện vào bữa ăn thôi. Người ta còn chẳng đề cập đến việc ấy nữa là.
Dù có cơ làm mất lòng người khác, tôi phải nhắc tới một sự thật mà để
bảo vệ nó, tôi chỉ có thể nói là nó đúng như thế. Vào những năm 1939 đến
1945, chúng ta có chiến tranh. Trong chiến tranh, người ta ca hát, bắn nhau,
nói chuyện, chiến đấu, đói và chết – và cả ném bom nữa chớ – toàn những
điều không vui, tôi không muốn nhắc tới để người đồng thời phải chán. Tôi
chỉ nhắc tới những điều ấy vì chiến tranh có ảnh hưởng tới câu chuyện tôi
muốn kể. Vì chiến tranh chỉ được mợ tôi ghi nhận như một quyền lực bắt
đầu đe dọa cây Nô-en của mợ từ Giáng Sinh 1939. Tuy nhiên, phải nói là
cây Nô-en ấy có tính nhạy cảm đặc biệt.
Cái hấp dẫn chính ở cây Nô-en của mợ tôi là những thằng lùn thủy tinh
tay giơ cao cây búa bằng tấc, chân đeo những cái đe hình chuông. Dưới gót
bọn lùn có gắn nến, và khi đạt tới một độ nóng nào đó, bộ máy ẩn bên trong
bắt đầu chuyển động, một sự bồn chồn sôi nổi được truyền tới tay bọn lùn,
khiến chúng đập búa bấc như điên, phát ra hàng chục tiếng leng keng, êm êm
như bài hợp ca của các nữ thần trong truyện huyền thoại Bắc Âu. Và trên
ngọn cây, một thiên thần má đỏ hồng, quần áo lóng lánh bạc, cứ đều đặn mở
môi gọi thì thầm “hòa bình, hòa bình”. Cái bí mật cơ học của thiên thần này
được giữ kín, cho đến mãi về sau tôi mới biết, mặc dù lúc đó gần như mỗi
tuần tôi đều có dịp nhìn ngắm nó. Ngoài ra, trên cây thông của mợ tôi dĩ
nhiên cũng có kẹo vòng, bánh ngọt, “tóc thiên thần”,[4] bánh hạnh nhân và –
không thể thiếu – những lọn dây kim tuyến. Tôi còn nhớ, việc trang trí đúng
cách thức với nhiều vật linh tinh như vậy rất mệt nhọc, đòi hỏi sự tham gia
của mọi người. Và trong đêm Nô-en, cả gia đình quá căng thẳng nên không
buồn ăn, ngoại trừ Franz, người anh em họ của tôi chẳng tham gia chuẩn bị

gì cả, một mình ăn đồ rán, váng sữa và kem một cách ngon lành. Khi gia
đình chúng tôi đến thăm cậu Franz vào ngày Nô-en thứ hai và dám phỏng
đoán cái bí mật của thiên thần biết nói nằm ở bộ máy cũng khiến cho nhiều
búp bê nói được tiếng “má” hay “ba”, chúng tôi chỉ nhận được giọng cười
chế nhạo. Chắc người ta có thể hình dung được những quả bom rơi gần nhà
đã đe dọa cái cây nhạy cảm ấy như thế nào. Nhiều tấn kịch khủng khiếp xảy
ra khi mấy thằng lùn từ trên cây rơi xuống, có lần cả thiên thần nữa cũng lộn
nhào. Mợ tôi thật đau buồn. Sau mỗi trận bom, mợ gắng sức sửa chữa cái
cây để ít ra còn giữ nó được trong mấy ngày Nô-en. Nhưng ngay năm 1940
cũng đã khó nghĩ đến việc ấy. Dù lại có cơ làm mất lòng người khác, tôi phải
nhắc đến chuyện thành phố chúng tôi bị dội bom rất nhiều lần, đó là chưa kể
đến mức độ khủng khiếp của những lần dội bom ấy. Dù sao đi nữa, cây Nôen của mợ tôi cũng trở thành nạn nhân – để luồng tư tưởng khỏi gián đoạn,
tôi tránh nói tới những nạn nhân khác – của đường lối chiến tranh hiện đại.
Chuyên viên đạn đạo nước ngoài đã tạm thời xóa bỏ sự tồn tại của nó.
Chúng tôi ai cũng thương hại người mợ tuyệt vời, đáng yêu. Chúng tôi
đau lòng khi sau những lần đấu tranh mãnh liệt, mợ phải chịu từ bỏ cái cây
trong suốt thời gian chiến tranh.
Thật may mắn – hay thật không may mới đúng? – Đó là cảm nhận duy
nhất của mợ về chiến tranh. Hầm bê-tông do cậu tôi xây không bom đạn nào
phá nổi, hơn nữa, luôn luôn có xe trực sẵn để đưa mợ tôi tới những vùng
không trực tiếp chịu ảnh hưởng của chiến tranh; người ta làm đủ mọi điều để
mợ khỏi thấy cảnh tàn phá khủng khiếp. Hai anh em họ của tôi cũng có cái
may là không phải trải qua cuộc chiến đấu gian khổ. Johannes mau mắn vào
hãng cậu tôi làm, hãng đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp rau cải
cho thành phố. Huống chi anh ta còn đau túi mật nữa. Ngược lại, Franz tuy
đi lính nhưng chỉ được giao việc canh giữ tù binh và lại có cơ hội làm mất
lòng cấp trên bằng cách đối xử nhân đạo với các tù binh Nga và Ba Lan. Chị
Lucie lúc ấy chưa có chồng nên lo phụ giúp việc làm ăn. Mỗi tuần, chị bỏ
một buổi chiều làm công tác tự nguyện ở một cơ sở thêu chữ thập Đức Quốc
Xã. Nhưng ở đây, tôi không muốn kê khai tội lỗi chính trị của họ hàng mình.
Nói chung, họ không hề hụt tiền mà cũng chẳng thiếu ăn hay thiếu bất kỳ
một bảo đảm cần thiết nào, và mợ tôi chỉ cảm thấy đắng cay vì phải từ bỏ cái
cây của mợ. Suốt thời gian gần năm mươi năm, cậu Franz, người có tấm
lòng vàng ấy, có công lớn trong việc mua cam quít từ các nước nhiệt đới và
bán nhiệt đới rồi để lại các nhà buôn khác với số tiền phụ trội tương ứng.
Trong chiến tranh, cậu mở rộng phạm vi làm ăn tới các thứ rau trái ít có giá
trị hơn. Nhưng sau chiến tranh, thứ trái cây được cậu quan tâm nhất là cam
quít thịnh hành trở lại và trở thành sản phẩm được mọi hạng khách hàng ưa
chuộng. Như vậy, một lần nữa cậu Franz lại có thể nhập cuộc với tính quyết

định, đem lại cho dân chúng món sinh tố bổ dưỡng và cho chính mình món
tiền to tát.
Nhưng giờ cậu đã gần bảy mươi, cậu muốn về nghỉ hưu và giao việc làm
ăn cho đứa con rể. Lúc ấy xảy ra sự kiện mà hồi trước chúng tôi chỉ thấy
buồn cười, bây giờ lại có vẻ là nguyên nhân của cả một quá trình bi thảm.
Mợ Milla lại bắt đầu chuyện cây Nô-en. Việc đó tự nó vô hại; ngay cả
việc mợ bền bỉ đòi tất cả “phải giống như trước”[5] cũng chỉ khiến chúng tôi
mỉm cười. Lúc đầu, thật không có lý do gì để xem việc đó là quan trọng.
Đành rằng có nhiều hậu quả chiến tranh cần được khắc phục, nhưng – chúng
tôi tự nhủ – sao không thể trả lại niềm vui bé nhỏ cho một bà cụ đẹp lão?
Ai cũng biết hồi đó khó kiếm bơ với mỡ như thế nào. Vào năm 1945,
chính cậu Franz là người có những quan hệ tốt nhất cũng không tìm đâu ra
bánh hạnh nhân, kẹo vòng, sô-cô-la và nến. Phải tới 1946 mới có sẵn mọi
thứ để dùng. May thay, cả bộ người lùn, đe búa và thiên thần đều còn
nguyên vẹn.
Tôi còn nhớ ngầy chúng tôi tới nhà cậu Franz. Lúc ấy vào tháng giêng
1947, trời thật lạnh. Nhưng nhà cậu tôi ấm áp, lại không thiếu đồ ăn. Và khi
thắp nến, tắt đèn, khi bọn lùn bắt đầu đập đe, thiên thần thì thầm gọi “hòa
bình, hòa bình”, tôi thật sự cảm thấy mình được đưa về cái thời tưởng chừng
như đã qua.
Dù vậy, sự kiện ấy tuy bất ngờ nhưng không phải khác thường. Có khác
thường chăng là việc tôi chứng kiến ba tháng sau đó. Lúc ấy đã giữa tháng
ba, mẹ tôi sai tôi sang cậu Franz hỏi thử xem cậu “có giúp được gì không”.
Mẹ tôi muốn nói trái cây. Tôi lững thững qua khu phố láng giềng – không
khí êm dịu, trời xâm xẩm tôi. Hồn nhiên, tôi bước qua những đống gạch vụn
và các công viên bỏ hoang, mở cổng vườn cậu tôi thì bất chợt, tôi kinh ngạc
dừng lại. Giữa cái tĩnh mịch ban chiều, rõ ràng có tiếng hát từ phòng khách
vọng ra. Ca hát là tục lệ tốt của người Đức, và chúng ta có nhiều bài hát về
mùa xuân – vậy mà tôi nghe rõ ràng:
Đêm nay, Chúa con thần thánh tôn thờ…[6]
Thú thật, tôi đã bối rối. Tôi chầm chậm tới gần, đợi dứt bài hát. Màn cửa
kéo kín, tôi cúi xuống nhìn qua lỗ khóa. Trong giây phút ấy, tiếng chuông
leng keng vang lên, và tôi nghe rõ tiếng thì thầm của thiên thần. Sợ phiền, tôi
không dám vào, lặng lẽ bước về nhà. Trong gia đình, lời thuật chuyện của tôi
khiến mọi người cười rộ. Nhưng khi Franz xuất hiện và kể tường tận hơn,
chúng tôi mới biết việc gì đã xảy ra:
Khoảng lễ rước nến Đức Mẹ, tức là lúc chúng ta bắt đầu tước sạch đồ
trang hoàng rồi ném cây Nô-en vào đống rác, nơi bọn trẻ vô tích sự chụp lấy

nó, kéo lê qua tro bẩn và rác rưởi để dùng vào những trò chơi khác nhau,
khoảng lễ rước nến đó, việc khủng khiếp đã xảy ra. Tới ngày lễ rước nến,
sau khi cây Nô-en được thấp sáng lần cuối, Johannes vừa mở kẹp lấy mấy
thằng lùn ra thì mợ tôi – người mợ lúc nào cũng dịu dàng của tôi – bắt đầu
thét lên một cách thảm thiết. Tiếng thét dữ dội và bất ngờ đến nỗi Johannes
phải giật mình, để ngã cái cây đang lắc lư, và rồi việc phải đến đã đến: cùng
với tiếng rổn rảng leng keng, cả bọn lùn chuông, đe và thiên thần trên đỉnh
đều đổ xuống, còn mợ tôi thì thét mãi không ngừng.
Mợ tôi thét gần suốt một tuần, bác sĩ khoa thần kinh được đánh điện mời
đến, bác sĩ chữa bệnh tâm thần đi tắc xi vùn vụt tới nhà – nhưng mọi thầy
thuốc, kể cả những người có tài đều nhún vai ra về với vẻ sờ sợ. Không ai có
thể chấm dứt bản hợp ca lanh lảnh khó chịu đó. Chỉ nhưng loại thuốc cực
mạnh mới đem lại vài giờ yên tĩnh, thế nhưng lượng thuốc an thần có thể cho
một bà già sáu mươi tuổi uống hàng ngày mà không nguy hại tới tính mạng,
lượng ấy tiếc là quá ít ỏi. Trong nhà có một bà thét đinh tai nhức óc như thế
quả là một cực hình: mới đến ngày thứ hai, cả gia đình đã rã rời. Ngay cả lời
khuyên của tu sĩ thường tham dự buổi lễ gia đình đêm giáng sinh cũng vô
ích: mợ tôi vẫn thét không ngừng.
Franz bị mọi người ghét khi anh ta đề nghị dùng phép trừ tà thật sự. Linh
mục mắng anh ta, còn cả nhà thì kinh ngạc trước cái khái niệm thời trung cổ
ấy, suốt mấy tuần lễ, Franz mang tiếng tàn bạo, nặng nề hơn cả tiếng xấu của
người đấu quyền.
Trong khi đó, người ta thử mọi cách để giải thoát mợ tôi. Mợ không chịu
ăn, không nói, không ngú; người ta dùng nước lạnh, nước nóng ngâm chân
mợ, áp dụng phương pháp tắm khi nóng khi lạnh, các bác sĩ lật từ điển kiếm
tên hội chứng ấy nhưng không thấy có.
Và mợ tôi vẫn cứ thét. Mợ thét mãi cho tới khi cậu Franz – người thật sự
có tấm lòng vàng ấy – có sáng kiến dựng cây Nô-en mới.

III
Sáng kiến ấy thật tuyệt nhưng việc thực hiện tỏ ra vô cùng khó khăn. Lúc
ấy gần giữa tháng hai, kiếm được một cây thông thích hợp là việc tương đối
khó. Cả giới thương nghiệp – cần nói thêm là với tốc độ đáng mừng – đã
chuyển sang các thứ khác tự bao giờ. Ngày hội hóa trang đã gần kề: mặt nạ
và súng ngắn. Nón cao bồi và khăn mũ ngộ nghĩnh của các bà hoàng Hungga-ri để đầy tủ kính bày hàng, nơi cách đây không lâu, người ta có thể ngắm
nghía các thiên thần và “tóc thiên thần”, nến và hang đá Nô-en. Các tiệm
bánh kẹo đã dẹp đồ Nô-en vào kho từ lâu, trong khi pháo được bày ra tủ
kính. Dù sao đi nữa, lúc này cũng không có cây Nô-en trên thị trường chính
thức.
Cuối cùng, một đoàn thám hiểm gồm mấy đứa cháu gan lì được cấp tiền
túi và cái rìu bén: chúng chạy tốc vào khu rừng công cộng và hồ hởi về nhà
với một cây thông quý. Nhưng trong khi đó, người ta nhận thấy bốn thằng
lùn, hai cái đe và thiên thần trên đính đã hư hỏng hoàn toàn. Bánh hạnh nhân
và bánh ngọt thì đã thành vật hy sinh cho lũ cháu ham ăn. Cả cái thế hệ đang
lớn lên đó đều vô tích sự, và nếu như từ trước tới nay có thế hệ nào hữu ích
đi nữa – tôi ngờ vực điều ấy – thời tôi nhận định rằng đó phải là thế hệ cha
mẹ của chúng ta.
Mặc dù không thiếu tiền mặt cũng như những quan hệ cần thiết, nhưng
cũng phải mất bốn ngày mới đủ đồ trang trí. Trong thời gian ấy, mợ tôi vẫn
thét không ngừng. Điện tín được phóng qua bầu khí quyển tới những trung
tâm đồ chơi đang xây dựng ở Đức, những cú điện thoại chớp nhoáng, những
kiện hàng gởi cấp tốc được người đưa thư giận dữ mang đến nhà lúc nửa
đêm, nhờ có hối lộ, giấy phép nhập khẩu từ Tiệp Khắc được xét duyệt nhanh
chóng.
Những ngày ấy, sổ biên niên của gia đình tôi ghi là những ngày đặc biệt
tốn nhiều cà phê, thuốc lá và thần kinh. Trong lúc đó, mợ tôi kiệt sức: gương
mặt đầy đặn của mợ trở nên xương xẩu, vẻ dịu dàng nhường chỗ cho sự
cứng rắn không khoan
 
Gửi ý kiến