-goc-nhin-su-viet-hai-ngoai-ky-su

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:10' 05-02-2026
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:10' 05-02-2026
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
GÓC NHÌN SỬ VIỆT - HẢI NGOẠI KỶ SỰ
Tác giả: Thích Đại Sán
Thể loại: Nhân vật - Sự kiện
Nhà xuất bản: NXB Khoa Học Xã Hội
Ebook: Cuibap
Text: Waka
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
LỜI GIỚI THIỆU
TỦ SÁCH GÓC NHÌN SỬ VIỆT
QUY CÁCH BIÊN TẬP
LỜI GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HẢI NGOẠI KỶ SỰ
BÀI TỰA CỦA ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG NGUYỄN PHÚC
CHÂU BỔN SƯ HẢI NGOẠI KỶ SỰ TỰ.
BÀI TỰA CỦA NGÔ GIANG TỪ HOÀN.7
BÀI TỰA CỦA TẤN LĂNG MAO ĐOAN SĨ.
BÀI TỰA CỦA DŨNG GIANG CỪU TRIỆU NGAO22
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN I
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN II
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN III
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN IV
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN V
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN VI
BÀI KHẢO CỨU HẢI NGOẠI KỶ SỰ
I.
NGÀY THÁNG XUẤT BẢN SÁCH HẢI NGOẠI KỶ SỰ VÀ
NỘI DUNG CỦA SÁCH
II.
TIỂU SỬ CỦA THÍCH ĐẠI SÁN
III.
CUỘC DU HÀNH QUẢNG NAM CỦA THÍCH ĐẠI SÁN
PHỤ KHẢO
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
LỜI GIỚI THIỆU
TỦ SÁCH GÓC NHÌN SỬ VIỆT
ạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của
riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn, gìn giữ và
phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người
nào có thể gánh vác được, nó thuộc về nhận thức chung của
toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi chặng đường
lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc
thống kê sự kiện một cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện
trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau bằng
sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch
sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần
trăm năm dưới ách cai trị của thực dân, đế quốc, nhưng con
cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê
Lợi, Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ
hào hùng, không ngừng tranh đấu hướng tới tương lai rộng mở
vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển,
ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ
thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo
dục vững chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân
tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế hệ, đặc biệt là
tầng lớp thanh niên, ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống
văn hóa và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn
thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và nhân vật - dù
gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu
lịch sử nước nhà hiện đang là mối quan tâm hàng đầu của Nhà
nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát
triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều
những tổ chức khác đã và đang kiên trì con đường thúc đẩy sự
phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức
lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới
toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ
phần Sách Alpha - một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm
tới việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền
thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc
cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không ít người trẻ hiện nay hoàn
toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công
trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện
nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện
một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ
phần Sách Alpha đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc
nhìn sử Việt với mục đích xuất bản lại và xuất bản mới một
cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách
văn học có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ
sách Alpha Di sản.
Cuốn sách này được viết bằng Hán văn vào Thế kỷ XVII bởi
một nhà sư Trung Hoa và được Ủy ban phiên dịch Sử liệu Việt
Nam dịch và xuất bản năm 1963. Từ góc nhìn, quan sát của nhà
sư vào thời đó hẳn sẽ có nhiều thông tin không còn chính xác so
với thời điểm hiện tại và những phát hiện mới của giới nghiên
cứu trong và ngoài nước. Tuy nhiên trân trọng công sức của tác
giả và nhóm dịch giả, chúng tôi xin phép tái bản cuốn sách này
như một tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc hiện nay.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
QUY CÁCH BIÊN TẬP
ủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời, mục đích giới thiệu đến
bạn đọc những tác phẩm hay, có giá trị, đồng thời góp
phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước.
Để thực hiện bộ sách này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách
sau:
Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang
đậm văn hóa vùng miền trong tác phẩm (trừ khẩu âm).
Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ
tái bản trên bản năm nào.
Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân
vật, phụ lục (nếu cần thiết)...
Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng
nước ngoài khi có đủ tài liệu tra cứu tin cậy (trừ trường hợp từ
ngữ đó đã dịch thành thuần Việt).
Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với
chính sử, chúng tôi sẽ chú thích hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém…
chúng tôi sẽ đăng bổ sung - thay thế các hình ảnh có nội dung
tương tự, chất lượng tốt (nếu có).
Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ
chúng tôi hoàn thiện tủ sách này.
Alpha Books
LỜI GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HẢI NGOẠI KỶ SỰ
ồng thời với việc nghiên cứu các Châu bản triều Nguyễn
và công bố những tập trích yếu về đời Gia Long, Minh
Mạng, Thiệu Trị..., Ủy ban Phiên dịch Sử liệu của Viện
Đại học Huế vẫn tiếp tục phiên dịch các sử liệu giá trị. Ủy ban
đã cho xuất bản bộ An Nam chí lược của Lê Tắc, và đã được sử
giới cùng học giới hoan nghênh. Nay với bộ Hải ngoại kỷ sự của
Đại Sán Hán Ông, Ủy ban muốn cống hiến độc giả một đoạn
phim hiếm có về đời sống của người Việt Nam ở vùng Thuận
Hóa vào cuối thế kỷ XVII do một vị lão tăng Trung Quốc ghi lại.
Vị lão tăng này, tức là Đại Sán Hán Ông, đã qua Thuận Hóa, thể
theo lời mời của Chúa Nguyễn Phúc Châu, ở tại chùa Thiền
Lâm (An Cựu, Thừa Thiên) và đã thuật lại trong một bản văn
do chính Chúa đề tựa về cuộc hành trình đầy nguy hiểm của
Đại Sán từ Quảng Đông đến Thuận Hóa, với các việc Đại Sán đã
tai nghe mắt thấy trong thời lưu lại Nam Hà.
Đại Sán đến đất Thần kinh1 vào ngày 29 tháng Giêng năm
Ất Hợi (tức là ngày 13 tháng Ba năm 1695) và đến ngày 28 tháng
Sáu năm đó (tức là ngày 7 tháng Tám) mới rời Thiền Lâm để
vào Hội An về Quảng Đông. Tại Hội An tàu bị trở gió và Đại Sán
bị đau ốm, nên phải hoãn cuộc hành trình. Đại Sán ra Thuận
Hóa lần nữa vào ngày 16 tháng Mười (tức là ngày 22 tháng Mười
một). Lần này Đại Sán trở ra Thuận Hóa lưu trú tại chùa Thiên
Mụ, rồi vào cuối hạ tuần tháng Sáu năm sau mới về Trung
Quốc.
Đọc Hải ngoại kỷ sự của Đại Sán, chúng ta sẽ thấy được
lòng sùng mộ Phật giáo của người thời bấy giờ, kể từ Chúa
thượng đến thần dân. Chẳng những thế, chúng ta còn có một ý
kiến rõ về đời sống của dân đen, về thuế má, về bệnh dịch. Một
điều quý nữa, đó là Đại Sán vén màn cho chúng ta thấy được
đôi chút về trình độ trí thức của các bậc túc nho thời bấy giờ ở
miền Nam. Nói chung, Hải ngoại kỷ sự là một sử liệu quý và
đáng tin cậy. Mặc dầu Đại Sán có vẻ tự phụ và, vì đó, tỏ ra quá
nghiêm nhặt trong khi phê phán phong tục Nam Hà, nhưng các
điều Đại Sán ghi lại về văn hóa, xã hội, tôn giáo, đều là những
sự kiện nghe thấy bởi tai mắt một người có tài quan sát.
Bộ Hải ngoại kỷ sự đã được Giáo sư Trần Kinh Hòa giới
thiệu trong một bài khảo cứu bằng Hán văn, chép rất công phu.
Giáo sư cho chúng tôi biết nhiều điều về bộ sách, cũng như về
thân thế và sự nghiệp của Đại Sán, nhờ đó chúng ta càng hiểu
rõ lời của Đại Sán hơn. Chỉ một điều nên lưu ý là Giáo sư
thường dùng tiếng Quảng Nam để chỉ địa điểm của cuộc hành
trình được thuật lại. Thực ra, mục đích của cuộc hành trình đó
không phải Quảng Nam, mà Thuận Hóa. Đáng lẽ phải nói Nam
Hà thay vì Quảng Nam. Các học giả Trung Quốc thời trước cũng
có kẻ lầm Nam Hà với Quảng Nam như thế, vì họ dựa vào lời
của các thương gia hay đi lại buôn bán ở Hội An. Ngoài ghi
nhận đó, bài khảo cứu của Giáo sư thật là giá trị và bổ ích.
Mong rằng bộ Hải ngoại kỷ sự này cũng giúp đỡ nhiều cho
sử gia và học giả như bộ An Nam chí lược.
Linh mục Cao Văn Luận
Viện trưởng Viện Đại học Huế, Việt Nam
Mùa đông năm 1962
BÀI TỰA CỦA ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG NGUYỄN PHÚC CHÂU
BỔN SƯ HẢI NGOẠI KỶ SỰ TỰ.
ước Đại Việt nhỏ nhoi, tựa núi day2 mặt ra biển, phá
rừng bụi, đuổi hùm voi để định chỗ ở, trải nay đã 13 đời.
Quả nhơn3 ngu tối, tuổi trẻ nối ngôi, chỉ e giềng mối
nghiêng đổ, để thẹn cho người trước; hằng ngày cùng vài ba
thần hạ, bàn luận đạo trị nước an dân; đã bao năm lo sắp đặt
nội trị, ngoại an, nhưng chính lệnh vẫn chưa sửa sang, nhân
dân vẫn chưa no ấm, ấy là tội lớn của quả nhơn vậy.
Gần đây, xét đọc sách xưa, biết rằng đạo trị nước lấy “được
người” làm cốt yếu. Nhà Tần được Bách Lý Hề ở nước Ngu, nhà
Tấn được Do Dư ở nước Nhung, được Phi Báo, Công Tôn Chi ở
nước Sở, đều lập nên nghiệp bá. Dùng được kẻ hiền thì nước
trị, lẽ dĩ nhiên từ xưa, nhưng quả nhơn ngày nay, cảnh ngộ lại
rất khó. Quả nhơn không tiếc tước lộc, không hà tiện áo mão
cân đai, hầu hết thảo dã4 hiền tài đã vui lòng ra giúp. Ngặt vì
nhơn tài xứ này, sinh nơi biên viễn, nghe thấy hẹp hòi, dùng
làm chức nọ quan kia, may cũng làm tròn nhiệm vụ; còn như
cầu người đạo cao đức trọng, đủ tài kinh luân, lời nói việc làm,
khá nêu sư pháp cho muôn thuở, những bậc “đại hữu vi”5 như
thế, trừ phi Trung Hoa, quê hương của Thánh hiền Phật Tổ, ắt
chẳng nơi nào có vậy. Theo lẽ, vời kẻ hiền chẳng vượt ra ngoài
quốc cảnh, mà Trung Hoa - Đại Việt, nơi ở lại cách xa nhau, nếu
chẳng phải kẻ có kiến thức siêu phàm, chẳng bị lưới đời ràng
buộc, thì làm sao mời được. Than ôi, cầu được kẻ hiền đã khó,
cầu được bậc thầy lại càng khó. Trường Thọ6 Bản sư lão hòa
thượng, ta từ ngày đương ở sừ vị (đương làm thế tử) đã nhiều
năm ngưỡng mộ; Tiên vương (tức Nghĩa vương) đưa thư rước
mời hai lần không qua. Mùa thu năm Giáp Tuất, ta muốn thụ
Bồ Tát giới pháp, nối chí Tiên vương sai người qua rước, may
được hòa thượng nhận lời. Từ mùa xuân năm Ất Hợi, hòa
thượng qua đến nơi, lưu lại đến mùa hạ năm Bính Tý, được gần
gũi hôm sớm, cung dưỡng chuyện trò; sau những lúc giảng luận
thiền kinh, còn chỉ vẽ luân thường cương kỷ từ việc lớn đến
việc nhỏ, rạch đường chỉ nẻo, lời lẽ rõ ràng; khác nào dắt người
từ trong chỗ tối tăm, đem ra nơi thanh thiên bạch nhật giúp ích
cho quả nhơn trong việc chính trị nhiều biết chừng nào.
Hòa thượng trích lục một hai việc, chép ra thành sách,
nhan đề Hải ngoại kỷ sự; lúc trở thuyền về nước đưa cho ta xem
và khiến ta viết bài tựa. Tự xét học hành ít ỏi, dám đâu cầm bút
viết văn; hoặc giả, vì sách chép việc nước ngoài, lạ lùng tai mắt,
sợ độc giả nghi là hoang đường, nên muốn ta chứng thực một
đôi lời, hầu được phụ chép sau kiệt tác của đại hiền vậy. Còn về
phần Phật pháp văn chương, tài tình đạo đức, thầy ta khai hóa
hơn 30 năm, viết sách hơn 20 loại, lưu hành đã lâu, đã có định
giá, lời tán dương của ta, nào có tăng ích được gì đâu. Tuy
nhiên, đại thiên thế giới, bụi tro hạt cát đều do biến hương thủy
kết thành; trong những ngày quả nhơn cùng với lão hòa
thượng ngao du trong hương thủy Hoa nghiêm, thì chẳng có gì
phân biệt nội ngoại. Nay đã cùng nhau cách xa đại hải, ở Quảng
Đông mà chép việc Đại Việt, thì gọi là Hải ngoại kỷ sự cũng
đúng lắm rồi.
Giáp Tý (1696), bồ nguyệt (tháng Năm),
Đại Việt quốc vương Nguyễn Phúc Châu,
thụ Bồ Tát giới đệ tử, Pháp danh Hưng Long,
Kính lễ viết tại Tĩnh danh phương trượng
ở Tây cung Giác vương Nội viện.
BÀI TỰA CỦA NGÔ GIANG TỪ HOÀN.7
hoảng mùa xuân năm Giáp Tý, ta được nghỉ việc về
phương nam, qua núi La Phù8 hái thuốc, nghỉ chân tại
thành Ngũ Dương9; lần đầu được gặp Thạch công hòa
thượng tại một khách tọa, trong lúc nói chuyện, nghe lời nói
thanh cao, khí tượng hùng vĩ, dồi dào tỏ ra sắc mặt; nghĩ bụng
chắc là một dị nhơn, vì một cớ gì muốn lánh mình trong cửa
Phật vậy. Phút chốc mười lăm năm qua, trở lại Châu Giang lần
thứ hai, nghe nói có vị thiền sư mới từ nước cổ An Nam hải
ngoại trở về, quốc vương nước ấy thụ giới làm đệ tử, bố thí rất
nhiều tiền bạc.
Thiền sư đem về xây cất bửu các ở phía tây Việt Tú sơn,
hiên lồng bóng nhật, nóc vút tầng mây, tiếp liên điện ngọc cung
châu, rực rỡ Tung khâu, Lan nhã (nhà chùa), chẳng khác quỳnh
lâu ngọc vũ trong chốn động tiên vậy. Nhơn than rằng: Cấp cô
hóa lạc10, hiện lai nhơn gian, nhưng nếu Thiên thân Bồ Tát
chẳng ra đời, thì lấy ai diễn giảng “Tam xa”11 để gây mầm tốt
Phật giáo cho Chấn Đán12. Bèn chống gậy đến chùa, hỏi thăm
cho biết. Người ra đón tiếp, chính là Thạch hòa thượng ngày
xưa! Mừng mặt bắt tay, cùng nhau trò chuyện việc mười lăm
năm qua, khác nào Thượng Nguyên13 Phu nhơn gặp bà Ma
Cô14 nói chuyện Bồng lai nước cạn vậy. Hòa thượng nhơn lấy
ra tập Hải ngoại kỷ sự và các tập khác đưa tôi xem. Văn chương
lưu loát, như sấm vang chớp nhoáng, như núi chuyển biển reo,
có lúc như cánh hồng bay vút tầng mây, có lúc như gió bão reo
vang rừng trúc; thơ luật thì thanh tân uẩn súc, hùng hồn ly kỳ,
khiến người không còn chỗ nào có thể chỉ trích; có lẽ nhờ đi ra
hải ngoại, nghe thấy được thêm mở mang, nên văn khí ngày
nay hùng bác khôi kỳ, so với ngày xưa còn hơn xa vậy.
Ta già rồi, từ ngày lui về điền viên đến nay, tiều tụy cô
ngâm; bao nhiêu thắng tình cuồng tứ ngày xưa, tiêu tan hầu
hết. Ve sầu khiếp gió, bỗng nghe loan phượng vang reo; giọng
tốt vần thanh, chỉ biết cúi đầu khen ngợi. Cho hay trong vũ trụ
những bậc thiên sư cao sĩ, khác hẳn bọn tu hành khô khan; văn
chương của các ngài, so với bọn lưng lừa lựa chữ15, giọng văn
như tiếng rế kêu sầu, khác nhau chẳng biết chừng nào mà nói.
BÀI TỰA CỦA TẤN LĂNG MAO ĐOAN SĨ.
ớn mà hóa gọi là “Thánh”, thần mà sáng gọi là “Kỳ”.
Những bậc anh sĩ phi thường trong thiên hạ, tùy theo xử
cảnh của mình mà tỏ ra kỳ; hoặc kẻ anh hùng áo vải,
hoặc kẻ đạo sĩ mão vàng, địa vị khác nhau, việc làm khác nhau,
nhưng hễ làm đến tột bậc thì đều gọi là “Kỳ” cả.
Đương lúc việc chưa thành, danh chưa lập, mà việc làm lời
nói khác lạ hơn đời, kẻ tục tử dung phu, đi theo dòm hành và dị
nghị; đến lúc việc đã thành, danh đã lập, cũng còn có kẻ dị
nghị, cho là khác tục trái đời; đó chẳng qua vì những kẻ không
“Kỳ” lại muốn khoe lòe cái “Kỳ” của mình; muốn khoe lòe cái
“Kỳ” mà sự thực không “Kỳ”, lại kinh ngạc cái “Kỳ” của người
khác, rồi sinh lòng nghi kỵ; bởi thế làm dung phu tục tử dễ, mà
làm kỳ nhơn hơn đời thực khó lắm vậy. Hán Ông hòa thượng
mới sinh ra đã “Kỳ” rồi, tuổi trẻ xuất gia, học hết ngũ minh16
chư luận, thông hiểu lý số âm dương, châu du thiên hạ, tiếng
tăm đầy rẫy khắp trong ngoài; đến lúc cưỡi gió vượt sóng đáp
ứng lời mời của Đại Việt quốc vương; những nơi trải qua, nào là
sơn xuyên hình thế, phong thổ tập tục, đều ghi chép rõ ràng;
cao đàm hùng luận, tỏ ra có kinh luân đại tài; đề vịnh văn thơ,
thảy đều thanh cao hoa lệ; góp hết tinh vi tam giáo, làm nên
kiệt tác một nhà, thực là một kỳ quan trong biển học vậy. Kỳ
nhơn mới có kỳ văn, đã có kỳ văn, ắt phải có kỳ sự; hòa thượng
tha cho Thần Long miễn chầu và sai khiến quỷ thần ủng hộ, ấy
là khai đoan của kỳ sự vậy; cho đến việc sai gió khiến mưa, cảm
thông trời đất, như Quảng Minh đại sĩ thác mà vẫn sống, kẻ
thức giả cho đó là viên thông diệu khế17, phảng phất với tam
muội18 chính giác của Bửu Chí, Đàm Siêu, Phong Can, Đỗ
Trừng19; kẻ dốt nát thì cho đó là việc quái đản rồi đua nhau chỉ
trích dị nghị om sòm. Nhưng biết đâu “đáy bát sinh rồng, trong
miệng phóng ra hào quang”20, đời vẫn có sự kỳ lạ như thế; khi
chưa thấy đáy bát sinh rồng, trong miệng phóng ra hào quang,
chẳng nói làm gì; đến lúc rồng đã sinh ra ở đáy bát, hào quang
đã phun ra từ trong miệng, đó là do pháp lực cao cường, mới
biến hóa được như vậy, thế mà còn cho là quái đản, rồi ngạc
nhiên kinh dị, có phải vì không biết sự huyền diệu của đạo viên
thông mà ra không. Tôn Đăng21 có nói: “Lửa sinh ra tức có
sáng, nhưng chẳng dùng sáng”. Nếu quả dùng sáng, thì cái “kỳ”
của hòa thượng, tức cái sáng của hòa thượng vậy. Hãy xem lúc
hòa thượng đi thuyền vượt biển, sóng lặng gió yên, có chim
thần dẫn đường, cá dữ xa lánh, ấy cũng do hòa thượng dùng
sáng vậy; nhưng người thường hốt hoảng, hòa thượng lại tự
nhiên, thì hòa thượng quả đã dùng sáng chăng? Nay thử đem
tập Hải ngoại kỷ sự ra bàn, tập sách ấy không có vẻ khô khan,
cũng không có vẻ yêm bác, biểu dương trung hiếu tiết nghĩa,
đều những lời nói có bổ ích cho thế đạo nhân tâm, chính đại
quang minh, chẳng khác gì cái học nguồn gốc của đạo nho ta
vậy. Bởi thế cảm hóa được người dị quốc, khiến quy thuận với
thiên triều; lấy kỷ cương Trung Hoa, biến đổi tập tục xứ lạ; đem
vàng nước người, về xây dựng cảnh chùa bất hủ; khoan thai
đường hoàng, giữ lòng ngay thẳng; đường đường chính chính,
chẳng dối người cũng chẳng tùy người; há chẳng phải dùng
“kỳ” mà chẳng lỗi với “chánh”, viên thông mà chẳng quái đản
hay sao. Ta vì thế phục sự “dụng kỳ” của hòa thượng thực thần
minh khôn lường.
BÀI TỰA CỦA DŨNG GIANG CỪU TRIỆU NGAO22
ừ xưa các bậc danh nhơn, trong lúc ngao du sơn thủy,
thường hay vịnh cảnh đề thơ; hoặc bằng tuyệt cú, hoặc
bằng trường thiên, tuy thể chế khác nhau, đều cốt để
hình dung cái tốt đẹp của cảnh vật. Tử Hậu23qua chơi Liễu
Châu, không làm thơ nhưng có làm kỷ sự; Thiều Lăng24 đi vào
Ba Thục, không làm kỷ sự nhưng lại có làm thơ; hoặc ký hoặc
thơ, đều là những bài tả chân tuyệt diệu. Ta đọc tập Hải ngoại
kỷ sự của Thạch hòa thượng mừng thấy sách gồm cả cái hay
của hai nhà văn hào nói trên và chứa đựng rất nhiều lời lẽ kinh
bang tế thế; sơn xuyên hình thắng, phong thổ tập tục, đều ghi
chép tỉ mỉ từng việc, có quy cũ rõ ràng; chẳng phải luống bày
đặt phô trương, để khoe những lạ lùng của ngoại quốc vậy.
Trong khoảng vài tháng, trải qua hai muôn dặm tuyệt vực, thù
ứng phân phiền, vãng lai bận rộn, thế mà Thạch công ung dung
đàm tiếu, viết ra mấy ngàn vạn lời. Khí trùm biển cả, bút lay
non cao, nếu chẳng phải sẵn có đại tài văn chương, làm sao
lanh lẹ thần diệu được như thế. Vả lại, ông đi đến đâu cũng
tuyên dương đức hóa của Thánh thiên tử (Thanh triều), khiến
những nước chưa từng tiếp xúc vương đình, cũng đều quy tâm
hướng hóa. Ông muốn lấy kỷ cương Trung Quốc, biến đổi tập
tục viễn phương, ấy tức là lòng “nhất thị đồng nhơn”, xem bốn
biển như anh em của thánh hiền vậy. Sách này lưu truyền vũ
trụ, có thể bổ khuyết cho những điều mà các sách Sơn kinh, Hải
chí, Chức phương ký, Vương hội đồ chưa từng nói đến. Ví
khiến tay kinh luân như Thạch công được thử tài một phen, thì
công nghiệp của những kẻ “xưng bá Phù Dư25, mở đất Nhật
Bản26”, cũng chẳng thấm vào đâu vậy. Than ôi, hòa thượng đã
già rồi! Ôm tài thông hiểu thiên nhơn, nuôi chí kinh bang tế
thế, phát nguyện Bồ Tát, ẩn giấu thiền lâm, sau những lúc vui
đạo tu hành, mượn văn chương để giãi bày tâm chí, nhơn đó
cũng có thể tưởng thấy khí khái trác lạc phi thường của hòa
thượng vậy.
Khang Hy Kỷ Mão mạnh xuân (1699),
Dũng Giang Cừu Triệu Ngao đề tại Đoan Châu lữ thứ.
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN I
ùa xuân năm Giáp Tuất, (Khang Hy thứ 33, 1694), ta
tính đi lên phương Bắc, vì có lệnh gọi của bề trên;
tuyển lựa tôi tớ, sửa soạn hành lý, định đến đầu tháng
Hai, ngày tốt, sẽ khởi hành. Kế phát đau bệnh dạ dày. Nhơn
nghĩ, hiện nay xây cất nhà ở, gác kinh, công tác đương bề bộn;
biên tập bộ Đăng đãi 100 quyển, hiệu đính chưa xong; hãy tạm
lấy cớ đương đau, hoãn việc đi phương bắc. Thương lượng với
các người đương sự, nhờ kiếm lời từ chối. Được tạm nghỉ, bèn
đóng cửa tạ khách, vui thú quyển kinh câu kệ, hoặc tưới hoa
trồng cây; hôm sớm tiêu dao, hầu tránh phong trần phiền não.
Bước qua ngày mùng 4 tháng Tám, tri khách gõ cửa bảo có sứ
nhơn nước Đại Việt đến. Mời vào ra mắt, sứ nhơn người tỉnh
Mân (Phúc Kiến), tay nâng phong thư giấy vàng, rất kính cẩn
lạy dâng lễ vật, các thứ vàng nam, sông hoa (hoa đằng, thứ mây
song có hoa), lụa vàng, kỳ nam; đoạn quỳ gối thưa rằng: “Đại
Việt quốc vương ngưỡng mộ lão hòa thượng đã lâu năm, ngày
nay đốt hương xa lạy, dâng phong thư trước tòa Sư tử, cúi cầu
Đạo giá lai lâm; nếu được nhận lời, là phước lớn cho hạ quốc
vậy”. Hưng Liên tự Quả Hoằng, người nối dòng tu của ta, được
quốc vương phong làm quốc sư, cũng có gởi kèm thư riêng. Kể
từ Tiền vương (tức Nghĩa vương) có thư mời, đến nay cả thảy
ba lần, mời đến ba lần tưởng cũng đã thành tâm lắm vậy. Ta
nay chưa đi phương bắc, nhơn còn nhàn rỗi, sao chẳng rong
chơi hải ngoại cho được mới mẻ tai mắt; hoặc giả sơn xuyên,
phong thổ, nhơn vật, còn nhiều mới lạ ngoài sự nghe thấy tầm
thường của ta chăng.
Cuối tháng Chạp, tuyên cáo hành trình với các nhà quan
thân đương cục và bạn bè làng thơ. Kế đến ra Giêng, kẻ tiễn
người đưa, kẻ biếu quà, người cho vật dụng, rồi thì, chúc lên
đường mạnh giỏi, đưa thơ ca tặng hành, tấp nập từ sớm đến
chiều chẳng lúc nào rảnh. Định đi lần thứ nhất, đình lại; qua
lần thứ hai, cũng lại đình; lần lữa đến lần thứ ba mới quyết
định. Đêm Thượng nguyên (15 tháng Giêng năm Ất Hợi, Khang
Hy thứ 34, tức 27-2-1695 dương lịch) lên đò từ bến tây, đã có tàu
biển chờ sẵn ở Hoàng Phố.
Đêm ấy nước ròng bến cạn, mấy mươi người dắt đò, mãi
không ra đến Châu Giang. Ngồi trên đò “Dưa hấu”, cùng đồ đệ
bày trà quả cơm bánh ra ăn bữa tối. Trời mưa lay phay, dội vào
hai chậu mẫu đơn đặt trước mũi thuyền, mỗi chậu có vài mươi
đóa hoa chớm nở; xảy lúc ấy, trước gió, cách sông, có người tựa
lầu thổi ống địch; sực nhớ chuyện cũ Khai Nguyên, trong khi
Huyền Tông đối diện Dương Quý Phi, uống rượu bồ đào, đặt
khúc hát mới, làm cho tiệc vui được thêm phần tươi đẹp. Nay
danh
Tác giả: Thích Đại Sán
Thể loại: Nhân vật - Sự kiện
Nhà xuất bản: NXB Khoa Học Xã Hội
Ebook: Cuibap
Text: Waka
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
LỜI GIỚI THIỆU
TỦ SÁCH GÓC NHÌN SỬ VIỆT
QUY CÁCH BIÊN TẬP
LỜI GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HẢI NGOẠI KỶ SỰ
BÀI TỰA CỦA ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG NGUYỄN PHÚC
CHÂU BỔN SƯ HẢI NGOẠI KỶ SỰ TỰ.
BÀI TỰA CỦA NGÔ GIANG TỪ HOÀN.7
BÀI TỰA CỦA TẤN LĂNG MAO ĐOAN SĨ.
BÀI TỰA CỦA DŨNG GIANG CỪU TRIỆU NGAO22
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN I
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN II
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN III
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN IV
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN V
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN VI
BÀI KHẢO CỨU HẢI NGOẠI KỶ SỰ
I.
NGÀY THÁNG XUẤT BẢN SÁCH HẢI NGOẠI KỶ SỰ VÀ
NỘI DUNG CỦA SÁCH
II.
TIỂU SỬ CỦA THÍCH ĐẠI SÁN
III.
CUỘC DU HÀNH QUẢNG NAM CỦA THÍCH ĐẠI SÁN
PHỤ KHẢO
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
LỜI GIỚI THIỆU
TỦ SÁCH GÓC NHÌN SỬ VIỆT
ạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của
riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn, gìn giữ và
phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người
nào có thể gánh vác được, nó thuộc về nhận thức chung của
toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi chặng đường
lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc
thống kê sự kiện một cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện
trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau bằng
sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch
sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần
trăm năm dưới ách cai trị của thực dân, đế quốc, nhưng con
cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê
Lợi, Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ
hào hùng, không ngừng tranh đấu hướng tới tương lai rộng mở
vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển,
ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ
thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo
dục vững chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân
tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế hệ, đặc biệt là
tầng lớp thanh niên, ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống
văn hóa và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn
thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và nhân vật - dù
gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu
lịch sử nước nhà hiện đang là mối quan tâm hàng đầu của Nhà
nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát
triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều
những tổ chức khác đã và đang kiên trì con đường thúc đẩy sự
phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức
lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới
toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ
phần Sách Alpha - một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm
tới việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền
thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc
cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không ít người trẻ hiện nay hoàn
toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công
trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện
nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện
một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ
phần Sách Alpha đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc
nhìn sử Việt với mục đích xuất bản lại và xuất bản mới một
cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách
văn học có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ
sách Alpha Di sản.
Cuốn sách này được viết bằng Hán văn vào Thế kỷ XVII bởi
một nhà sư Trung Hoa và được Ủy ban phiên dịch Sử liệu Việt
Nam dịch và xuất bản năm 1963. Từ góc nhìn, quan sát của nhà
sư vào thời đó hẳn sẽ có nhiều thông tin không còn chính xác so
với thời điểm hiện tại và những phát hiện mới của giới nghiên
cứu trong và ngoài nước. Tuy nhiên trân trọng công sức của tác
giả và nhóm dịch giả, chúng tôi xin phép tái bản cuốn sách này
như một tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc hiện nay.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
QUY CÁCH BIÊN TẬP
ủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời, mục đích giới thiệu đến
bạn đọc những tác phẩm hay, có giá trị, đồng thời góp
phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước.
Để thực hiện bộ sách này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách
sau:
Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang
đậm văn hóa vùng miền trong tác phẩm (trừ khẩu âm).
Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ
tái bản trên bản năm nào.
Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân
vật, phụ lục (nếu cần thiết)...
Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng
nước ngoài khi có đủ tài liệu tra cứu tin cậy (trừ trường hợp từ
ngữ đó đã dịch thành thuần Việt).
Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với
chính sử, chúng tôi sẽ chú thích hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém…
chúng tôi sẽ đăng bổ sung - thay thế các hình ảnh có nội dung
tương tự, chất lượng tốt (nếu có).
Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ
chúng tôi hoàn thiện tủ sách này.
Alpha Books
LỜI GIỚI THIỆU TÁC PHẨM HẢI NGOẠI KỶ SỰ
ồng thời với việc nghiên cứu các Châu bản triều Nguyễn
và công bố những tập trích yếu về đời Gia Long, Minh
Mạng, Thiệu Trị..., Ủy ban Phiên dịch Sử liệu của Viện
Đại học Huế vẫn tiếp tục phiên dịch các sử liệu giá trị. Ủy ban
đã cho xuất bản bộ An Nam chí lược của Lê Tắc, và đã được sử
giới cùng học giới hoan nghênh. Nay với bộ Hải ngoại kỷ sự của
Đại Sán Hán Ông, Ủy ban muốn cống hiến độc giả một đoạn
phim hiếm có về đời sống của người Việt Nam ở vùng Thuận
Hóa vào cuối thế kỷ XVII do một vị lão tăng Trung Quốc ghi lại.
Vị lão tăng này, tức là Đại Sán Hán Ông, đã qua Thuận Hóa, thể
theo lời mời của Chúa Nguyễn Phúc Châu, ở tại chùa Thiền
Lâm (An Cựu, Thừa Thiên) và đã thuật lại trong một bản văn
do chính Chúa đề tựa về cuộc hành trình đầy nguy hiểm của
Đại Sán từ Quảng Đông đến Thuận Hóa, với các việc Đại Sán đã
tai nghe mắt thấy trong thời lưu lại Nam Hà.
Đại Sán đến đất Thần kinh1 vào ngày 29 tháng Giêng năm
Ất Hợi (tức là ngày 13 tháng Ba năm 1695) và đến ngày 28 tháng
Sáu năm đó (tức là ngày 7 tháng Tám) mới rời Thiền Lâm để
vào Hội An về Quảng Đông. Tại Hội An tàu bị trở gió và Đại Sán
bị đau ốm, nên phải hoãn cuộc hành trình. Đại Sán ra Thuận
Hóa lần nữa vào ngày 16 tháng Mười (tức là ngày 22 tháng Mười
một). Lần này Đại Sán trở ra Thuận Hóa lưu trú tại chùa Thiên
Mụ, rồi vào cuối hạ tuần tháng Sáu năm sau mới về Trung
Quốc.
Đọc Hải ngoại kỷ sự của Đại Sán, chúng ta sẽ thấy được
lòng sùng mộ Phật giáo của người thời bấy giờ, kể từ Chúa
thượng đến thần dân. Chẳng những thế, chúng ta còn có một ý
kiến rõ về đời sống của dân đen, về thuế má, về bệnh dịch. Một
điều quý nữa, đó là Đại Sán vén màn cho chúng ta thấy được
đôi chút về trình độ trí thức của các bậc túc nho thời bấy giờ ở
miền Nam. Nói chung, Hải ngoại kỷ sự là một sử liệu quý và
đáng tin cậy. Mặc dầu Đại Sán có vẻ tự phụ và, vì đó, tỏ ra quá
nghiêm nhặt trong khi phê phán phong tục Nam Hà, nhưng các
điều Đại Sán ghi lại về văn hóa, xã hội, tôn giáo, đều là những
sự kiện nghe thấy bởi tai mắt một người có tài quan sát.
Bộ Hải ngoại kỷ sự đã được Giáo sư Trần Kinh Hòa giới
thiệu trong một bài khảo cứu bằng Hán văn, chép rất công phu.
Giáo sư cho chúng tôi biết nhiều điều về bộ sách, cũng như về
thân thế và sự nghiệp của Đại Sán, nhờ đó chúng ta càng hiểu
rõ lời của Đại Sán hơn. Chỉ một điều nên lưu ý là Giáo sư
thường dùng tiếng Quảng Nam để chỉ địa điểm của cuộc hành
trình được thuật lại. Thực ra, mục đích của cuộc hành trình đó
không phải Quảng Nam, mà Thuận Hóa. Đáng lẽ phải nói Nam
Hà thay vì Quảng Nam. Các học giả Trung Quốc thời trước cũng
có kẻ lầm Nam Hà với Quảng Nam như thế, vì họ dựa vào lời
của các thương gia hay đi lại buôn bán ở Hội An. Ngoài ghi
nhận đó, bài khảo cứu của Giáo sư thật là giá trị và bổ ích.
Mong rằng bộ Hải ngoại kỷ sự này cũng giúp đỡ nhiều cho
sử gia và học giả như bộ An Nam chí lược.
Linh mục Cao Văn Luận
Viện trưởng Viện Đại học Huế, Việt Nam
Mùa đông năm 1962
BÀI TỰA CỦA ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG NGUYỄN PHÚC CHÂU
BỔN SƯ HẢI NGOẠI KỶ SỰ TỰ.
ước Đại Việt nhỏ nhoi, tựa núi day2 mặt ra biển, phá
rừng bụi, đuổi hùm voi để định chỗ ở, trải nay đã 13 đời.
Quả nhơn3 ngu tối, tuổi trẻ nối ngôi, chỉ e giềng mối
nghiêng đổ, để thẹn cho người trước; hằng ngày cùng vài ba
thần hạ, bàn luận đạo trị nước an dân; đã bao năm lo sắp đặt
nội trị, ngoại an, nhưng chính lệnh vẫn chưa sửa sang, nhân
dân vẫn chưa no ấm, ấy là tội lớn của quả nhơn vậy.
Gần đây, xét đọc sách xưa, biết rằng đạo trị nước lấy “được
người” làm cốt yếu. Nhà Tần được Bách Lý Hề ở nước Ngu, nhà
Tấn được Do Dư ở nước Nhung, được Phi Báo, Công Tôn Chi ở
nước Sở, đều lập nên nghiệp bá. Dùng được kẻ hiền thì nước
trị, lẽ dĩ nhiên từ xưa, nhưng quả nhơn ngày nay, cảnh ngộ lại
rất khó. Quả nhơn không tiếc tước lộc, không hà tiện áo mão
cân đai, hầu hết thảo dã4 hiền tài đã vui lòng ra giúp. Ngặt vì
nhơn tài xứ này, sinh nơi biên viễn, nghe thấy hẹp hòi, dùng
làm chức nọ quan kia, may cũng làm tròn nhiệm vụ; còn như
cầu người đạo cao đức trọng, đủ tài kinh luân, lời nói việc làm,
khá nêu sư pháp cho muôn thuở, những bậc “đại hữu vi”5 như
thế, trừ phi Trung Hoa, quê hương của Thánh hiền Phật Tổ, ắt
chẳng nơi nào có vậy. Theo lẽ, vời kẻ hiền chẳng vượt ra ngoài
quốc cảnh, mà Trung Hoa - Đại Việt, nơi ở lại cách xa nhau, nếu
chẳng phải kẻ có kiến thức siêu phàm, chẳng bị lưới đời ràng
buộc, thì làm sao mời được. Than ôi, cầu được kẻ hiền đã khó,
cầu được bậc thầy lại càng khó. Trường Thọ6 Bản sư lão hòa
thượng, ta từ ngày đương ở sừ vị (đương làm thế tử) đã nhiều
năm ngưỡng mộ; Tiên vương (tức Nghĩa vương) đưa thư rước
mời hai lần không qua. Mùa thu năm Giáp Tuất, ta muốn thụ
Bồ Tát giới pháp, nối chí Tiên vương sai người qua rước, may
được hòa thượng nhận lời. Từ mùa xuân năm Ất Hợi, hòa
thượng qua đến nơi, lưu lại đến mùa hạ năm Bính Tý, được gần
gũi hôm sớm, cung dưỡng chuyện trò; sau những lúc giảng luận
thiền kinh, còn chỉ vẽ luân thường cương kỷ từ việc lớn đến
việc nhỏ, rạch đường chỉ nẻo, lời lẽ rõ ràng; khác nào dắt người
từ trong chỗ tối tăm, đem ra nơi thanh thiên bạch nhật giúp ích
cho quả nhơn trong việc chính trị nhiều biết chừng nào.
Hòa thượng trích lục một hai việc, chép ra thành sách,
nhan đề Hải ngoại kỷ sự; lúc trở thuyền về nước đưa cho ta xem
và khiến ta viết bài tựa. Tự xét học hành ít ỏi, dám đâu cầm bút
viết văn; hoặc giả, vì sách chép việc nước ngoài, lạ lùng tai mắt,
sợ độc giả nghi là hoang đường, nên muốn ta chứng thực một
đôi lời, hầu được phụ chép sau kiệt tác của đại hiền vậy. Còn về
phần Phật pháp văn chương, tài tình đạo đức, thầy ta khai hóa
hơn 30 năm, viết sách hơn 20 loại, lưu hành đã lâu, đã có định
giá, lời tán dương của ta, nào có tăng ích được gì đâu. Tuy
nhiên, đại thiên thế giới, bụi tro hạt cát đều do biến hương thủy
kết thành; trong những ngày quả nhơn cùng với lão hòa
thượng ngao du trong hương thủy Hoa nghiêm, thì chẳng có gì
phân biệt nội ngoại. Nay đã cùng nhau cách xa đại hải, ở Quảng
Đông mà chép việc Đại Việt, thì gọi là Hải ngoại kỷ sự cũng
đúng lắm rồi.
Giáp Tý (1696), bồ nguyệt (tháng Năm),
Đại Việt quốc vương Nguyễn Phúc Châu,
thụ Bồ Tát giới đệ tử, Pháp danh Hưng Long,
Kính lễ viết tại Tĩnh danh phương trượng
ở Tây cung Giác vương Nội viện.
BÀI TỰA CỦA NGÔ GIANG TỪ HOÀN.7
hoảng mùa xuân năm Giáp Tý, ta được nghỉ việc về
phương nam, qua núi La Phù8 hái thuốc, nghỉ chân tại
thành Ngũ Dương9; lần đầu được gặp Thạch công hòa
thượng tại một khách tọa, trong lúc nói chuyện, nghe lời nói
thanh cao, khí tượng hùng vĩ, dồi dào tỏ ra sắc mặt; nghĩ bụng
chắc là một dị nhơn, vì một cớ gì muốn lánh mình trong cửa
Phật vậy. Phút chốc mười lăm năm qua, trở lại Châu Giang lần
thứ hai, nghe nói có vị thiền sư mới từ nước cổ An Nam hải
ngoại trở về, quốc vương nước ấy thụ giới làm đệ tử, bố thí rất
nhiều tiền bạc.
Thiền sư đem về xây cất bửu các ở phía tây Việt Tú sơn,
hiên lồng bóng nhật, nóc vút tầng mây, tiếp liên điện ngọc cung
châu, rực rỡ Tung khâu, Lan nhã (nhà chùa), chẳng khác quỳnh
lâu ngọc vũ trong chốn động tiên vậy. Nhơn than rằng: Cấp cô
hóa lạc10, hiện lai nhơn gian, nhưng nếu Thiên thân Bồ Tát
chẳng ra đời, thì lấy ai diễn giảng “Tam xa”11 để gây mầm tốt
Phật giáo cho Chấn Đán12. Bèn chống gậy đến chùa, hỏi thăm
cho biết. Người ra đón tiếp, chính là Thạch hòa thượng ngày
xưa! Mừng mặt bắt tay, cùng nhau trò chuyện việc mười lăm
năm qua, khác nào Thượng Nguyên13 Phu nhơn gặp bà Ma
Cô14 nói chuyện Bồng lai nước cạn vậy. Hòa thượng nhơn lấy
ra tập Hải ngoại kỷ sự và các tập khác đưa tôi xem. Văn chương
lưu loát, như sấm vang chớp nhoáng, như núi chuyển biển reo,
có lúc như cánh hồng bay vút tầng mây, có lúc như gió bão reo
vang rừng trúc; thơ luật thì thanh tân uẩn súc, hùng hồn ly kỳ,
khiến người không còn chỗ nào có thể chỉ trích; có lẽ nhờ đi ra
hải ngoại, nghe thấy được thêm mở mang, nên văn khí ngày
nay hùng bác khôi kỳ, so với ngày xưa còn hơn xa vậy.
Ta già rồi, từ ngày lui về điền viên đến nay, tiều tụy cô
ngâm; bao nhiêu thắng tình cuồng tứ ngày xưa, tiêu tan hầu
hết. Ve sầu khiếp gió, bỗng nghe loan phượng vang reo; giọng
tốt vần thanh, chỉ biết cúi đầu khen ngợi. Cho hay trong vũ trụ
những bậc thiên sư cao sĩ, khác hẳn bọn tu hành khô khan; văn
chương của các ngài, so với bọn lưng lừa lựa chữ15, giọng văn
như tiếng rế kêu sầu, khác nhau chẳng biết chừng nào mà nói.
BÀI TỰA CỦA TẤN LĂNG MAO ĐOAN SĨ.
ớn mà hóa gọi là “Thánh”, thần mà sáng gọi là “Kỳ”.
Những bậc anh sĩ phi thường trong thiên hạ, tùy theo xử
cảnh của mình mà tỏ ra kỳ; hoặc kẻ anh hùng áo vải,
hoặc kẻ đạo sĩ mão vàng, địa vị khác nhau, việc làm khác nhau,
nhưng hễ làm đến tột bậc thì đều gọi là “Kỳ” cả.
Đương lúc việc chưa thành, danh chưa lập, mà việc làm lời
nói khác lạ hơn đời, kẻ tục tử dung phu, đi theo dòm hành và dị
nghị; đến lúc việc đã thành, danh đã lập, cũng còn có kẻ dị
nghị, cho là khác tục trái đời; đó chẳng qua vì những kẻ không
“Kỳ” lại muốn khoe lòe cái “Kỳ” của mình; muốn khoe lòe cái
“Kỳ” mà sự thực không “Kỳ”, lại kinh ngạc cái “Kỳ” của người
khác, rồi sinh lòng nghi kỵ; bởi thế làm dung phu tục tử dễ, mà
làm kỳ nhơn hơn đời thực khó lắm vậy. Hán Ông hòa thượng
mới sinh ra đã “Kỳ” rồi, tuổi trẻ xuất gia, học hết ngũ minh16
chư luận, thông hiểu lý số âm dương, châu du thiên hạ, tiếng
tăm đầy rẫy khắp trong ngoài; đến lúc cưỡi gió vượt sóng đáp
ứng lời mời của Đại Việt quốc vương; những nơi trải qua, nào là
sơn xuyên hình thế, phong thổ tập tục, đều ghi chép rõ ràng;
cao đàm hùng luận, tỏ ra có kinh luân đại tài; đề vịnh văn thơ,
thảy đều thanh cao hoa lệ; góp hết tinh vi tam giáo, làm nên
kiệt tác một nhà, thực là một kỳ quan trong biển học vậy. Kỳ
nhơn mới có kỳ văn, đã có kỳ văn, ắt phải có kỳ sự; hòa thượng
tha cho Thần Long miễn chầu và sai khiến quỷ thần ủng hộ, ấy
là khai đoan của kỳ sự vậy; cho đến việc sai gió khiến mưa, cảm
thông trời đất, như Quảng Minh đại sĩ thác mà vẫn sống, kẻ
thức giả cho đó là viên thông diệu khế17, phảng phất với tam
muội18 chính giác của Bửu Chí, Đàm Siêu, Phong Can, Đỗ
Trừng19; kẻ dốt nát thì cho đó là việc quái đản rồi đua nhau chỉ
trích dị nghị om sòm. Nhưng biết đâu “đáy bát sinh rồng, trong
miệng phóng ra hào quang”20, đời vẫn có sự kỳ lạ như thế; khi
chưa thấy đáy bát sinh rồng, trong miệng phóng ra hào quang,
chẳng nói làm gì; đến lúc rồng đã sinh ra ở đáy bát, hào quang
đã phun ra từ trong miệng, đó là do pháp lực cao cường, mới
biến hóa được như vậy, thế mà còn cho là quái đản, rồi ngạc
nhiên kinh dị, có phải vì không biết sự huyền diệu của đạo viên
thông mà ra không. Tôn Đăng21 có nói: “Lửa sinh ra tức có
sáng, nhưng chẳng dùng sáng”. Nếu quả dùng sáng, thì cái “kỳ”
của hòa thượng, tức cái sáng của hòa thượng vậy. Hãy xem lúc
hòa thượng đi thuyền vượt biển, sóng lặng gió yên, có chim
thần dẫn đường, cá dữ xa lánh, ấy cũng do hòa thượng dùng
sáng vậy; nhưng người thường hốt hoảng, hòa thượng lại tự
nhiên, thì hòa thượng quả đã dùng sáng chăng? Nay thử đem
tập Hải ngoại kỷ sự ra bàn, tập sách ấy không có vẻ khô khan,
cũng không có vẻ yêm bác, biểu dương trung hiếu tiết nghĩa,
đều những lời nói có bổ ích cho thế đạo nhân tâm, chính đại
quang minh, chẳng khác gì cái học nguồn gốc của đạo nho ta
vậy. Bởi thế cảm hóa được người dị quốc, khiến quy thuận với
thiên triều; lấy kỷ cương Trung Hoa, biến đổi tập tục xứ lạ; đem
vàng nước người, về xây dựng cảnh chùa bất hủ; khoan thai
đường hoàng, giữ lòng ngay thẳng; đường đường chính chính,
chẳng dối người cũng chẳng tùy người; há chẳng phải dùng
“kỳ” mà chẳng lỗi với “chánh”, viên thông mà chẳng quái đản
hay sao. Ta vì thế phục sự “dụng kỳ” của hòa thượng thực thần
minh khôn lường.
BÀI TỰA CỦA DŨNG GIANG CỪU TRIỆU NGAO22
ừ xưa các bậc danh nhơn, trong lúc ngao du sơn thủy,
thường hay vịnh cảnh đề thơ; hoặc bằng tuyệt cú, hoặc
bằng trường thiên, tuy thể chế khác nhau, đều cốt để
hình dung cái tốt đẹp của cảnh vật. Tử Hậu23qua chơi Liễu
Châu, không làm thơ nhưng có làm kỷ sự; Thiều Lăng24 đi vào
Ba Thục, không làm kỷ sự nhưng lại có làm thơ; hoặc ký hoặc
thơ, đều là những bài tả chân tuyệt diệu. Ta đọc tập Hải ngoại
kỷ sự của Thạch hòa thượng mừng thấy sách gồm cả cái hay
của hai nhà văn hào nói trên và chứa đựng rất nhiều lời lẽ kinh
bang tế thế; sơn xuyên hình thắng, phong thổ tập tục, đều ghi
chép tỉ mỉ từng việc, có quy cũ rõ ràng; chẳng phải luống bày
đặt phô trương, để khoe những lạ lùng của ngoại quốc vậy.
Trong khoảng vài tháng, trải qua hai muôn dặm tuyệt vực, thù
ứng phân phiền, vãng lai bận rộn, thế mà Thạch công ung dung
đàm tiếu, viết ra mấy ngàn vạn lời. Khí trùm biển cả, bút lay
non cao, nếu chẳng phải sẵn có đại tài văn chương, làm sao
lanh lẹ thần diệu được như thế. Vả lại, ông đi đến đâu cũng
tuyên dương đức hóa của Thánh thiên tử (Thanh triều), khiến
những nước chưa từng tiếp xúc vương đình, cũng đều quy tâm
hướng hóa. Ông muốn lấy kỷ cương Trung Quốc, biến đổi tập
tục viễn phương, ấy tức là lòng “nhất thị đồng nhơn”, xem bốn
biển như anh em của thánh hiền vậy. Sách này lưu truyền vũ
trụ, có thể bổ khuyết cho những điều mà các sách Sơn kinh, Hải
chí, Chức phương ký, Vương hội đồ chưa từng nói đến. Ví
khiến tay kinh luân như Thạch công được thử tài một phen, thì
công nghiệp của những kẻ “xưng bá Phù Dư25, mở đất Nhật
Bản26”, cũng chẳng thấm vào đâu vậy. Than ôi, hòa thượng đã
già rồi! Ôm tài thông hiểu thiên nhơn, nuôi chí kinh bang tế
thế, phát nguyện Bồ Tát, ẩn giấu thiền lâm, sau những lúc vui
đạo tu hành, mượn văn chương để giãi bày tâm chí, nhơn đó
cũng có thể tưởng thấy khí khái trác lạc phi thường của hòa
thượng vậy.
Khang Hy Kỷ Mão mạnh xuân (1699),
Dũng Giang Cừu Triệu Ngao đề tại Đoan Châu lữ thứ.
HẢI NGOẠI KỶ SỰ
QUYỂN I
ùa xuân năm Giáp Tuất, (Khang Hy thứ 33, 1694), ta
tính đi lên phương Bắc, vì có lệnh gọi của bề trên;
tuyển lựa tôi tớ, sửa soạn hành lý, định đến đầu tháng
Hai, ngày tốt, sẽ khởi hành. Kế phát đau bệnh dạ dày. Nhơn
nghĩ, hiện nay xây cất nhà ở, gác kinh, công tác đương bề bộn;
biên tập bộ Đăng đãi 100 quyển, hiệu đính chưa xong; hãy tạm
lấy cớ đương đau, hoãn việc đi phương bắc. Thương lượng với
các người đương sự, nhờ kiếm lời từ chối. Được tạm nghỉ, bèn
đóng cửa tạ khách, vui thú quyển kinh câu kệ, hoặc tưới hoa
trồng cây; hôm sớm tiêu dao, hầu tránh phong trần phiền não.
Bước qua ngày mùng 4 tháng Tám, tri khách gõ cửa bảo có sứ
nhơn nước Đại Việt đến. Mời vào ra mắt, sứ nhơn người tỉnh
Mân (Phúc Kiến), tay nâng phong thư giấy vàng, rất kính cẩn
lạy dâng lễ vật, các thứ vàng nam, sông hoa (hoa đằng, thứ mây
song có hoa), lụa vàng, kỳ nam; đoạn quỳ gối thưa rằng: “Đại
Việt quốc vương ngưỡng mộ lão hòa thượng đã lâu năm, ngày
nay đốt hương xa lạy, dâng phong thư trước tòa Sư tử, cúi cầu
Đạo giá lai lâm; nếu được nhận lời, là phước lớn cho hạ quốc
vậy”. Hưng Liên tự Quả Hoằng, người nối dòng tu của ta, được
quốc vương phong làm quốc sư, cũng có gởi kèm thư riêng. Kể
từ Tiền vương (tức Nghĩa vương) có thư mời, đến nay cả thảy
ba lần, mời đến ba lần tưởng cũng đã thành tâm lắm vậy. Ta
nay chưa đi phương bắc, nhơn còn nhàn rỗi, sao chẳng rong
chơi hải ngoại cho được mới mẻ tai mắt; hoặc giả sơn xuyên,
phong thổ, nhơn vật, còn nhiều mới lạ ngoài sự nghe thấy tầm
thường của ta chăng.
Cuối tháng Chạp, tuyên cáo hành trình với các nhà quan
thân đương cục và bạn bè làng thơ. Kế đến ra Giêng, kẻ tiễn
người đưa, kẻ biếu quà, người cho vật dụng, rồi thì, chúc lên
đường mạnh giỏi, đưa thơ ca tặng hành, tấp nập từ sớm đến
chiều chẳng lúc nào rảnh. Định đi lần thứ nhất, đình lại; qua
lần thứ hai, cũng lại đình; lần lữa đến lần thứ ba mới quyết
định. Đêm Thượng nguyên (15 tháng Giêng năm Ất Hợi, Khang
Hy thứ 34, tức 27-2-1695 dương lịch) lên đò từ bến tây, đã có tàu
biển chờ sẵn ở Hoàng Phố.
Đêm ấy nước ròng bến cạn, mấy mươi người dắt đò, mãi
không ra đến Châu Giang. Ngồi trên đò “Dưa hấu”, cùng đồ đệ
bày trà quả cơm bánh ra ăn bữa tối. Trời mưa lay phay, dội vào
hai chậu mẫu đơn đặt trước mũi thuyền, mỗi chậu có vài mươi
đóa hoa chớm nở; xảy lúc ấy, trước gió, cách sông, có người tựa
lầu thổi ống địch; sực nhớ chuyện cũ Khai Nguyên, trong khi
Huyền Tông đối diện Dương Quý Phi, uống rượu bồ đào, đặt
khúc hát mới, làm cho tiệc vui được thêm phần tươi đẹp. Nay
danh
 









Các ý kiến mới nhất