Đề thi vào 10

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Xa Thị Thủy
Ngày gửi: 12h:30' 29-06-2026
Dung lượng: 38.6 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn: ST
Người gửi: Xa Thị Thủy
Ngày gửi: 12h:30' 29-06-2026
Dung lượng: 38.6 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
…ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
UBND …
TRƯỜNG TH&THCS …
(Đề thi gồm có 02 trang)
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian
phát đề
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
QUÊ CỦA MẸ
(1) Tôi cùng mẹ trở về thăm quê ngoại
Nơi tuổi thơ mẹ lặn lội cơ hàn
Nơi ngoại tôi cứ mỗi vụ đông tàn
Tay cước đỏ, nơi đồng sâu cấy lúa.
(2) Ở nơi đó, những ngày mẹ còn nhỏ
Đuổi bắt ve, nắng cháy những trưa hè
Bị ngoại mắng, đòn roi mẹ chẳng sợ
Vẫn đầu trần, chân sáo chạy khắp thôn.
(3) Mẹ lớn lên ... rồi bôn ba xuôi ngược
Xa quê nghèo, cũng rất ít về thăm
Nhưng trong tim những kí ức tháng năm
Quê hương đó-in sâu trong tiềm thức.
(Theo Nguyễn Khánh Châu - Văn học và tuổi trẻ, số tháng 3/2023 Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2023, Trang 45).
* Chú thích:
Nguyễn Khánh Châu (1937-2018), quê ở Thanh Hóa. Các tác phẩm của ông
thường khai thác các đề tài về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, với
ngôn ngữ thơ mộc mạc, gần gũi và chân thành.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên?
Câu 2 (0,5 điểm). Ở khổ thơ thứ 2, những kỉ niệm nào được nhắc đến khi mẹ còn nhỏ?
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ trong dòng thơ:
“Vẫn đầu trần, chân sáo chạy khắp thôn” ?
Câu 4 (1,0 điểm). Em hãy nêu chủ đề của bài thơ?
Câu 5 (1,0 điểm). Từ bài thơ em rút ra được bài học gì về giá trị của quê hương
trong cuộc sống mỗi con người.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm).
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về bài thơ: “Quê
của mẹ” của Nguyễn Khánh Châu.
Câu 2 (4 điểm).
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) thuyết phục người khác từ
bỏ thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm.
..……Hết..……
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
4,0
1 Xác định thể thơ của văn bản:
0,5
Bài thơ trên được viết theo thể thơ tám chữ.
2 Ở khổ thơ thứ 2, những kỉ niệm được nhắc đến khi mẹ còn 0,5
nhỏ: (Đuổi bắt ve, bị ngoại mắng, đòn roi, đầu trần, chân sáo
chạy khắp thôn).
3 Từ ngữ sử dụng biện pháp hoán dụ: “đầu trần, chân sáo”: 0,25
Lấy cái bộ phận để chỉ cái toàn thể (đặc điểm ngoại hình) được
dùng để thay thế cho hình ảnh một cô bé (người mẹ) nghèo khó
nhưng hồn nhiên, mạnh mẽ.
Tác dụng:
0,75
+ Diễn tả sinh động, hấp dẫn sự vật được miêu tả. Gợi cho
người đọc những ý tưởng sâu xa, sâu sắc.
+ Nhấn mạnh tuổi thơ của mẹ tràn ngập niềm vui khi còn ở quê.
+ Qua đó thể hiện tình yêu quê hương da diết của tác giả, và
nhấn mạnh tầm quan trọng của quê hương với tuổi thơ và cuộc
đời mỗi người.
4 Chủ đề của bài thơ: Qua những vần thơ bình dị, bài thơ thể 1,0
hiện tình yêu, niềm trân quý và tự hào về quê hương, nơi
gắn liền với kí ức tuổi thơ của người mẹ. Dù cuộc đời có
5
"bôn ba xuôi ngược", quê hương vẫn luôn là điểm tựa tinh thần
vững chãi, in sâu trong tâm trí và tiềm thức của mỗi người.
Bài học gì về giá trị của quê hương trong cuộc sống mỗi con
người.
HS trình bày theo cảm nhận riêng, sau đây là một số gợi ý:
- Niềm vui và và hạnh phúc khi được trải nghiệm một tuổi thơ
trọn vẹn và được đắm mình trong hạnh phúc ấy, quê hương đã
góp phần tạo nên một phần kí ức quan trọng trong cuộc đời mỗi
người.
- Từ đó, thấy được giá trị to lớn của quê hương với cuộc sống
chúng ta.
- Quê hương giúp hình thành nhân cách và tâm hồn. Vì thế, mỗi
chúng ta nên biết yêu thương, quý trọng, nâng niu mảnh đất quê
hương, hãy chung tay bảo vệ giữ gìn mảnh đất tâm hồn này, để
1,0
II
1
nó sẽ luôn là vùng đất kí ức ngự trị mãi trong trái tim ta, …
VIẾT
6,0
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về 2,0
bài thơ: “Quê của mẹ” của Nguyễn Khánh Châu.
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận văn học:
0,25
- Bài viết đảm bảo đúng hình thức một đoạn văn nghị luận văn
học, có đủ ba phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
+ Mở đoạn: Nêu được vấn đề cần nghị luận (cảm nghĩ về bài
thơ).
+ Thân đoạn: Triển khai, phân tích được vấn đề.
+ Kết đoạn: Đánh giá khái quát lại vấn đề, bày tỏ cảm xúc, suy
nghĩ.
- Đảm bảo độ dài: Khoảng 200 chữ.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Cảm nhận về khổ thơ cuối 0,25
trong văn bản phần Đọc hiểu.
c. Triển khai đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
1,0
Học sinh có nhiều cách diễn đạt, sáng tạo khác nhau, song về cơ
bản phải đảm bảo được những yêu cầu sau:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu bài thơ "Quê của mẹ" của Nguyễn Khánh Châu.
- Nêu cảm nhận chung: Bài thơ mộc mạc, giản dị nhưng chất
chứa tình cảm sâu sắc, da diết về quê hương.
2. Thân đoạn:
* Cảm nhận về nội dung:
- Bài thơ là câu chuyện người con cùng mẹ trở về thăm quê
ngoại, nơi gợi nhắc tuổi thơ cơ cực, lam lũ của mẹ.
- Hình ảnh thơ chân thực, gợi cảm: "Tay cước đỏ nơi đồng sâu
cấy lúa", "Đuổi bắt ve nắng cháy những trưa hè". Những hình
ảnh này không chỉ tái hiện cuộc sống vất vả mà còn thể hiện sự
tần tảo, chịu thương chịu khó của người mẹ.
- Tình cảm của người con: Thấu hiểu, xót xa và biết ơn vô hạn
đối với mẹ khi chứng kiến những dấu vết của quá khứ.
- Tình cảm của người mẹ: Tình yêu quê hương da diết, luôn nhớ
về cội nguồn dù đã rời xa.
* Cảm nhận về nghệ thuật:
- Thể thơ tám chữ, giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, dễ đi vào lòng
2
người.
- Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ (ẩn dụ, hoán dụ, điệp
ngữ, …) và từ ngữ mộc mạc nhưng giàu hình ảnh, gần gũi với
đời sống.
-> Khẳng định giá trị: Bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc
tình yêu thương, trân trọng gia đình, cội nguồn và quê hương.
3. Kết đoạn:
- Khẳng định lại ấn tượng sâu sắc nhất về bài thơ.
- Liên hệ bản thân: Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết yêu
thương, hiếu thảo với cha mẹ và luôn nhớ về quê hương, nguồn
cội của mình.
d. Chính tả, ngữ pháp:
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo:
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn
đạt mới mẻ, thuyết phục.
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) thuyết phục
người khác từ bỏ thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm.
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề
cần giải quyết:
- Có đủ 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
+ Mở bài: Nêu được vấn đề.
+ Thân bài: Triển khai được vấn đề.
+ Kết bài: Khái quát được vấn đề.
- Dung lượng đảm bảo khoảng 500 chữ.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề (kiểu bài và đối tượng):
Bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết: Thuyết phục
người khác từ bỏ thói quen đổi lỗi/né tránh trách nhiệm.
c. Triển khai vấn đề đảm bảo các yêu cầu sau:
- Bài viết phải phân tích được vấn đề, đưa ra những giải pháp khả thi.
- Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới
thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm rõ ràng, chặt
chẽ; lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. Cần đạt
được những yêu cầu sau:
* Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề cần giải quyết: Thói quen đổ lỗi/ né tránh
0,25
0,25
4,0
0,25
0,25
0,25
trách nhiệm.
- Nêu ý kiến về vấn đề cần giải quyết được nêu ra ở đề bài:…
* Thân bài:
2,5
Học sinh cần trình bày bài viết theo đúng các nội dung yêu cầu 0,25
của kiểu bài:
1. Giải thích: Thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm là gì?
“Đổ lỗi/né tránh trách nhiệm” là hành vi con người cố tình chối
bỏ lỗi lầm của mình, hoặc viện cớ do lí do khách quan, hoặc đổ 0,75
tội cho người khác. Đây là một hiện tượng đáng buồn thường
gặp trong cuộc sống hằng ngày.
2. Nêu ý kiến về vấn đề nghị luận
2.1. Luận điểm 1. Lí do đề xuất giải pháp (thực trạng,
nguyên nhân, hậu quả)
- Thực trạng: Biểu hiện của thói quen đổ lỗi/né tránh trách
nhiệm:
+ Các nhà thầu xây dựng yếu kém, ăn bớt vật liệu khiến công
trình sụp đổ, gây tai nạn, không chịu nhận trách nhiệm mà đổ lỗi
do địa hình, khí hậu.
+ Thất bại trong cuộc sống, nhiều người đổ lỗi do hoàn cảnh
khó khăn, nghèo khó mà quên mất rằng cũng nhiều người nhờ
nỗ lực không ngừng mà làm giàu từ hai bàn tay trắng.
+ Học sinh không chăm chỉ học tập đạt kết quả kém, đổ lỗi cho
chương trình sách giáo khoa nặng nề, giáo viên dạy khó hiểu, …
- Nguyên nhân của thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm:
+ Do sự lười nhác, không cống hiến mà chỉ mong thụ hưởng của
nhiều người. Khi nhìn thấy sai lầm của người khác hoặc bản
thân gây ra sai lầm, họ vẫn vô tâm, không tích cực ngăn chặn
hoặc khác phục để hạn chế tổn hại.
+ Do con người hèn nhát, không dám đối mặt với lỗi lầm của
mình. Nhiều người chỉ vì quá hèn nhát, sợ hãi khi xảy ra sai lầm,
họ đã trốn tránh, thoái thác trách nhiệm, đổ lối cho người khác
khiến cho hậu quả của hành động ấy còn lớn hơn hậu quả do sai
làm ấy gây ra.
+ Do con người ích kỉ, thiếu trách nhiệm, chỉ muốn đùn đẩy
phần khó khăn cho người khác. Nhiều người chỉ biết đến lợi ích
của bản thân mình, không quan tâm đến người khác. Khi sai lầm
xảy ra, họ chỉ cố sức bảo vệ mình, bỏ mặc người khác dù hậu
quả có thế nào đi chăng nữa. Những kẻ vô tâm ấy thường gây
nên những tổn thất rất lớn cho xã hội.
+ Do lòng tham khiến cho con người sẵn sàng làm những việc
trái với lương tâm và tìm cách đổ vạ cho người khác, …
- Hậu quả của thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm:
+ Hiện tượng đổ lỗi gây mất đoàn kết trong tập thể, khi không ai
nhận trách nhiệm về mình mà đùn đẩy cho người khác.
+ Hiện tượng đổ lỗi không giúp khắc phục hậu quả gây ra, mà
trái lại càng làm việc khắc phục hậu quả thêm trì trệ.
+ Hiện tượng đổ lỗi khiến chúng ta trở thành kẻ vô trách nhiệm,
tự huyễn hoặc bản thân rằng mình không bao giờ sai, từ đó
không thể tiến bộ, hoàn thiện mình.
+ Nếu xã hội ai cũng chỉ biết đổ lỗi mà không có tinh thần trách
nhiệm, khắc phục sai lầm, thì xã hội đó sẽ trở nên trì trệ, chậm
phát triển.
2.2. Luận điểm 2. Đề xuất các giải pháp:
1,25
- Học sinh đề xuất được các giải pháp phù hợp với vấn đề nghị
luận (từ bỏ thói quen đổ lỗi, chủ động nhận trách nhiệm).
- Các giải pháp cần được phân tích, lí giải cụ thể, không chỉ liệt
kê; thể hiện tính khả thi trong thực tế.
- Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, không bắt buộc
đúng thứ tự gợi ý.
Gợi ý:
Giải pháp 1: Cá nhân:
- Mỗi cá nhân biết tự ý thức, có tinh thần trách nhiệm.
- Dũng cảm nhận lỗi, sửa lỗi, ...
Giải pháp 2: Gia đình - nhà trường:
- Gia đình, nhà trường giáo dục con em hình thành ý thức nhận
lỗi.
- Không bao che sai lầm, khuyến khích trung thực.
Giải pháp 3: Người lớn - xã hội:
- Người lớn phải làm gương cho trẻ em, không ngần ngại nói lời
xin lỗi khi mình mắc sai lầm và có cách thức cụ thể, thiết thực
để sửa chữa lỗi lầm.
- Mọi người nên khoan dung tạo điều kiện cho người mắc sai
lầm có cơ hội được sửa sai.
3. Mở rộng, liên hệ:
- Có nhiều người khi phạm phải lỗi lầm đã hèn nhát lẩn trốn và
đổ lỗi cho người khác. Với những người như thế thật đáng lên
án, mỗi người cần góp phần phát hiện, tố giác và cần thiết phải
đề xuất xử lí kịp thời, ...
* Kết bài:
- Khẳng định lại ý kiến về vấn đề giải quyết.
- Rút ra bài học cho bản thân.
d. Chính tả, ngữ pháp:
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt, không sai quá 5
lỗi chính tả.
e. Sáng tạo:
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn
đạt mới mẻ, thuyết phục.
Tổng điểm
----------------------HẾT---------------------
0,25
0,25
0,25
0,25
10,0
UBND …
TRƯỜNG TH&THCS …
(Đề thi gồm có 02 trang)
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian
phát đề
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
QUÊ CỦA MẸ
(1) Tôi cùng mẹ trở về thăm quê ngoại
Nơi tuổi thơ mẹ lặn lội cơ hàn
Nơi ngoại tôi cứ mỗi vụ đông tàn
Tay cước đỏ, nơi đồng sâu cấy lúa.
(2) Ở nơi đó, những ngày mẹ còn nhỏ
Đuổi bắt ve, nắng cháy những trưa hè
Bị ngoại mắng, đòn roi mẹ chẳng sợ
Vẫn đầu trần, chân sáo chạy khắp thôn.
(3) Mẹ lớn lên ... rồi bôn ba xuôi ngược
Xa quê nghèo, cũng rất ít về thăm
Nhưng trong tim những kí ức tháng năm
Quê hương đó-in sâu trong tiềm thức.
(Theo Nguyễn Khánh Châu - Văn học và tuổi trẻ, số tháng 3/2023 Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2023, Trang 45).
* Chú thích:
Nguyễn Khánh Châu (1937-2018), quê ở Thanh Hóa. Các tác phẩm của ông
thường khai thác các đề tài về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, với
ngôn ngữ thơ mộc mạc, gần gũi và chân thành.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên?
Câu 2 (0,5 điểm). Ở khổ thơ thứ 2, những kỉ niệm nào được nhắc đến khi mẹ còn nhỏ?
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ trong dòng thơ:
“Vẫn đầu trần, chân sáo chạy khắp thôn” ?
Câu 4 (1,0 điểm). Em hãy nêu chủ đề của bài thơ?
Câu 5 (1,0 điểm). Từ bài thơ em rút ra được bài học gì về giá trị của quê hương
trong cuộc sống mỗi con người.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm).
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về bài thơ: “Quê
của mẹ” của Nguyễn Khánh Châu.
Câu 2 (4 điểm).
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) thuyết phục người khác từ
bỏ thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm.
..……Hết..……
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
4,0
1 Xác định thể thơ của văn bản:
0,5
Bài thơ trên được viết theo thể thơ tám chữ.
2 Ở khổ thơ thứ 2, những kỉ niệm được nhắc đến khi mẹ còn 0,5
nhỏ: (Đuổi bắt ve, bị ngoại mắng, đòn roi, đầu trần, chân sáo
chạy khắp thôn).
3 Từ ngữ sử dụng biện pháp hoán dụ: “đầu trần, chân sáo”: 0,25
Lấy cái bộ phận để chỉ cái toàn thể (đặc điểm ngoại hình) được
dùng để thay thế cho hình ảnh một cô bé (người mẹ) nghèo khó
nhưng hồn nhiên, mạnh mẽ.
Tác dụng:
0,75
+ Diễn tả sinh động, hấp dẫn sự vật được miêu tả. Gợi cho
người đọc những ý tưởng sâu xa, sâu sắc.
+ Nhấn mạnh tuổi thơ của mẹ tràn ngập niềm vui khi còn ở quê.
+ Qua đó thể hiện tình yêu quê hương da diết của tác giả, và
nhấn mạnh tầm quan trọng của quê hương với tuổi thơ và cuộc
đời mỗi người.
4 Chủ đề của bài thơ: Qua những vần thơ bình dị, bài thơ thể 1,0
hiện tình yêu, niềm trân quý và tự hào về quê hương, nơi
gắn liền với kí ức tuổi thơ của người mẹ. Dù cuộc đời có
5
"bôn ba xuôi ngược", quê hương vẫn luôn là điểm tựa tinh thần
vững chãi, in sâu trong tâm trí và tiềm thức của mỗi người.
Bài học gì về giá trị của quê hương trong cuộc sống mỗi con
người.
HS trình bày theo cảm nhận riêng, sau đây là một số gợi ý:
- Niềm vui và và hạnh phúc khi được trải nghiệm một tuổi thơ
trọn vẹn và được đắm mình trong hạnh phúc ấy, quê hương đã
góp phần tạo nên một phần kí ức quan trọng trong cuộc đời mỗi
người.
- Từ đó, thấy được giá trị to lớn của quê hương với cuộc sống
chúng ta.
- Quê hương giúp hình thành nhân cách và tâm hồn. Vì thế, mỗi
chúng ta nên biết yêu thương, quý trọng, nâng niu mảnh đất quê
hương, hãy chung tay bảo vệ giữ gìn mảnh đất tâm hồn này, để
1,0
II
1
nó sẽ luôn là vùng đất kí ức ngự trị mãi trong trái tim ta, …
VIẾT
6,0
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về 2,0
bài thơ: “Quê của mẹ” của Nguyễn Khánh Châu.
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận văn học:
0,25
- Bài viết đảm bảo đúng hình thức một đoạn văn nghị luận văn
học, có đủ ba phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
+ Mở đoạn: Nêu được vấn đề cần nghị luận (cảm nghĩ về bài
thơ).
+ Thân đoạn: Triển khai, phân tích được vấn đề.
+ Kết đoạn: Đánh giá khái quát lại vấn đề, bày tỏ cảm xúc, suy
nghĩ.
- Đảm bảo độ dài: Khoảng 200 chữ.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Cảm nhận về khổ thơ cuối 0,25
trong văn bản phần Đọc hiểu.
c. Triển khai đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
1,0
Học sinh có nhiều cách diễn đạt, sáng tạo khác nhau, song về cơ
bản phải đảm bảo được những yêu cầu sau:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu bài thơ "Quê của mẹ" của Nguyễn Khánh Châu.
- Nêu cảm nhận chung: Bài thơ mộc mạc, giản dị nhưng chất
chứa tình cảm sâu sắc, da diết về quê hương.
2. Thân đoạn:
* Cảm nhận về nội dung:
- Bài thơ là câu chuyện người con cùng mẹ trở về thăm quê
ngoại, nơi gợi nhắc tuổi thơ cơ cực, lam lũ của mẹ.
- Hình ảnh thơ chân thực, gợi cảm: "Tay cước đỏ nơi đồng sâu
cấy lúa", "Đuổi bắt ve nắng cháy những trưa hè". Những hình
ảnh này không chỉ tái hiện cuộc sống vất vả mà còn thể hiện sự
tần tảo, chịu thương chịu khó của người mẹ.
- Tình cảm của người con: Thấu hiểu, xót xa và biết ơn vô hạn
đối với mẹ khi chứng kiến những dấu vết của quá khứ.
- Tình cảm của người mẹ: Tình yêu quê hương da diết, luôn nhớ
về cội nguồn dù đã rời xa.
* Cảm nhận về nghệ thuật:
- Thể thơ tám chữ, giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, dễ đi vào lòng
2
người.
- Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ (ẩn dụ, hoán dụ, điệp
ngữ, …) và từ ngữ mộc mạc nhưng giàu hình ảnh, gần gũi với
đời sống.
-> Khẳng định giá trị: Bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc
tình yêu thương, trân trọng gia đình, cội nguồn và quê hương.
3. Kết đoạn:
- Khẳng định lại ấn tượng sâu sắc nhất về bài thơ.
- Liên hệ bản thân: Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết yêu
thương, hiếu thảo với cha mẹ và luôn nhớ về quê hương, nguồn
cội của mình.
d. Chính tả, ngữ pháp:
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo:
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn
đạt mới mẻ, thuyết phục.
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) thuyết phục
người khác từ bỏ thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm.
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề
cần giải quyết:
- Có đủ 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
+ Mở bài: Nêu được vấn đề.
+ Thân bài: Triển khai được vấn đề.
+ Kết bài: Khái quát được vấn đề.
- Dung lượng đảm bảo khoảng 500 chữ.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề (kiểu bài và đối tượng):
Bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết: Thuyết phục
người khác từ bỏ thói quen đổi lỗi/né tránh trách nhiệm.
c. Triển khai vấn đề đảm bảo các yêu cầu sau:
- Bài viết phải phân tích được vấn đề, đưa ra những giải pháp khả thi.
- Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới
thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm rõ ràng, chặt
chẽ; lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. Cần đạt
được những yêu cầu sau:
* Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề cần giải quyết: Thói quen đổ lỗi/ né tránh
0,25
0,25
4,0
0,25
0,25
0,25
trách nhiệm.
- Nêu ý kiến về vấn đề cần giải quyết được nêu ra ở đề bài:…
* Thân bài:
2,5
Học sinh cần trình bày bài viết theo đúng các nội dung yêu cầu 0,25
của kiểu bài:
1. Giải thích: Thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm là gì?
“Đổ lỗi/né tránh trách nhiệm” là hành vi con người cố tình chối
bỏ lỗi lầm của mình, hoặc viện cớ do lí do khách quan, hoặc đổ 0,75
tội cho người khác. Đây là một hiện tượng đáng buồn thường
gặp trong cuộc sống hằng ngày.
2. Nêu ý kiến về vấn đề nghị luận
2.1. Luận điểm 1. Lí do đề xuất giải pháp (thực trạng,
nguyên nhân, hậu quả)
- Thực trạng: Biểu hiện của thói quen đổ lỗi/né tránh trách
nhiệm:
+ Các nhà thầu xây dựng yếu kém, ăn bớt vật liệu khiến công
trình sụp đổ, gây tai nạn, không chịu nhận trách nhiệm mà đổ lỗi
do địa hình, khí hậu.
+ Thất bại trong cuộc sống, nhiều người đổ lỗi do hoàn cảnh
khó khăn, nghèo khó mà quên mất rằng cũng nhiều người nhờ
nỗ lực không ngừng mà làm giàu từ hai bàn tay trắng.
+ Học sinh không chăm chỉ học tập đạt kết quả kém, đổ lỗi cho
chương trình sách giáo khoa nặng nề, giáo viên dạy khó hiểu, …
- Nguyên nhân của thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm:
+ Do sự lười nhác, không cống hiến mà chỉ mong thụ hưởng của
nhiều người. Khi nhìn thấy sai lầm của người khác hoặc bản
thân gây ra sai lầm, họ vẫn vô tâm, không tích cực ngăn chặn
hoặc khác phục để hạn chế tổn hại.
+ Do con người hèn nhát, không dám đối mặt với lỗi lầm của
mình. Nhiều người chỉ vì quá hèn nhát, sợ hãi khi xảy ra sai lầm,
họ đã trốn tránh, thoái thác trách nhiệm, đổ lối cho người khác
khiến cho hậu quả của hành động ấy còn lớn hơn hậu quả do sai
làm ấy gây ra.
+ Do con người ích kỉ, thiếu trách nhiệm, chỉ muốn đùn đẩy
phần khó khăn cho người khác. Nhiều người chỉ biết đến lợi ích
của bản thân mình, không quan tâm đến người khác. Khi sai lầm
xảy ra, họ chỉ cố sức bảo vệ mình, bỏ mặc người khác dù hậu
quả có thế nào đi chăng nữa. Những kẻ vô tâm ấy thường gây
nên những tổn thất rất lớn cho xã hội.
+ Do lòng tham khiến cho con người sẵn sàng làm những việc
trái với lương tâm và tìm cách đổ vạ cho người khác, …
- Hậu quả của thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm:
+ Hiện tượng đổ lỗi gây mất đoàn kết trong tập thể, khi không ai
nhận trách nhiệm về mình mà đùn đẩy cho người khác.
+ Hiện tượng đổ lỗi không giúp khắc phục hậu quả gây ra, mà
trái lại càng làm việc khắc phục hậu quả thêm trì trệ.
+ Hiện tượng đổ lỗi khiến chúng ta trở thành kẻ vô trách nhiệm,
tự huyễn hoặc bản thân rằng mình không bao giờ sai, từ đó
không thể tiến bộ, hoàn thiện mình.
+ Nếu xã hội ai cũng chỉ biết đổ lỗi mà không có tinh thần trách
nhiệm, khắc phục sai lầm, thì xã hội đó sẽ trở nên trì trệ, chậm
phát triển.
2.2. Luận điểm 2. Đề xuất các giải pháp:
1,25
- Học sinh đề xuất được các giải pháp phù hợp với vấn đề nghị
luận (từ bỏ thói quen đổ lỗi, chủ động nhận trách nhiệm).
- Các giải pháp cần được phân tích, lí giải cụ thể, không chỉ liệt
kê; thể hiện tính khả thi trong thực tế.
- Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, không bắt buộc
đúng thứ tự gợi ý.
Gợi ý:
Giải pháp 1: Cá nhân:
- Mỗi cá nhân biết tự ý thức, có tinh thần trách nhiệm.
- Dũng cảm nhận lỗi, sửa lỗi, ...
Giải pháp 2: Gia đình - nhà trường:
- Gia đình, nhà trường giáo dục con em hình thành ý thức nhận
lỗi.
- Không bao che sai lầm, khuyến khích trung thực.
Giải pháp 3: Người lớn - xã hội:
- Người lớn phải làm gương cho trẻ em, không ngần ngại nói lời
xin lỗi khi mình mắc sai lầm và có cách thức cụ thể, thiết thực
để sửa chữa lỗi lầm.
- Mọi người nên khoan dung tạo điều kiện cho người mắc sai
lầm có cơ hội được sửa sai.
3. Mở rộng, liên hệ:
- Có nhiều người khi phạm phải lỗi lầm đã hèn nhát lẩn trốn và
đổ lỗi cho người khác. Với những người như thế thật đáng lên
án, mỗi người cần góp phần phát hiện, tố giác và cần thiết phải
đề xuất xử lí kịp thời, ...
* Kết bài:
- Khẳng định lại ý kiến về vấn đề giải quyết.
- Rút ra bài học cho bản thân.
d. Chính tả, ngữ pháp:
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt, không sai quá 5
lỗi chính tả.
e. Sáng tạo:
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn
đạt mới mẻ, thuyết phục.
Tổng điểm
----------------------HẾT---------------------
0,25
0,25
0,25
0,25
10,0
 








Các ý kiến mới nhất