Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đề thi vào 10

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Xa Thị Thủy
Ngày gửi: 12h:12' 29-06-2026
Dung lượng: 46.1 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích: 0 người
UBND …
TRƯỜNG THCS …

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2025-2026
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề)

(Đề thi có 02 trang)

I. ĐỌC – HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
GIÀN BẦU TRƯỚC NGÕ
Tôi không thích khi cưỡi xe vào tận thềm nhà lại phải rạp mình dưới giàn bầu ấy. Chị và
mẹ tôi lại ngại tóc rối. Cha tôi khó chịu khi phải dắt quan khách len lỏi bên mấy trái bầu để
vào căn nhà sang trọng. Nhưng không ai dám chặt phá giàn bầu bởi nó của bà nội tôi. Bà
trồng nó từ hồi trong quê ra. Thoạt đầu, chị em chúng tôi thích lắm, chiều chiều lon ton xách
thùng ra tưới. […] Bữa canh đầu tiên cả nhà háo hức, nuốt tuồn tuột từng miếng bầu trong
veo, ngọt lịm. Ba gật gật khen ngon, quay sang trách mẹ “Sao trước giờ không mua bầu mà
nấu ăn em ha?”.
Một lần, hai lần rồi ba lần, chúng tôi ngán tận cổ. Mà, chết thật, nội tôi cứ trồng mãi, trồng
mãi, giàn bầu ngày càng rộng ra choán hết khoảng sân kiểng của cha đang xanh rầm rì. Trái
già đến vàng khô, không ai ăn, bà mang cho hàng xóm. Hàng xóm chúng tôi cũng giàu có, họ
chê nhưng cũng nhận bởi họ nể cha tôi. […]. Rồi bà lại trồng. Chị Lan nhăn nhó:
- Nội ơi, trồng chi nhiều vậy? Bà nội cười, buồn buồn:
- Nội làm lặt vặt quen rồi. Trồng trọt để đỡ nhớ quê.
Ôi cái quê của nội. Cái quê heo hút muốn về phải đi mấy chặng xe, tàu. Cái quê mà mỗi lần về,
vào cuối mùa mưa, đất bùn quến vào móng chân tôi, ém chặt thối đen. Cái quê đèn cầy, đèn
cóc, đêm nhóc nhen kêu buồn nẫu ruột, mùa lũ, lơ phơ chỉ thấy mấy nóc nhà. Ba tôi nói “Làm
người đừng suy nghĩ hẹp hòi, đừng tưởng nơi mình sinh ra, nơi có mồ mả ông cha là quê
hương, khắp đất nước này chỗ nào cũng là quê cả”. Cha tôi nói đúng và ông rước bà nội lên
thành phố. […]. Ở nhà tôi, công việc nhàn đến mức bà thơ thẩn vào rồi lại thơ thẩn ra. Nhà
cao cửa rộng, khéo khi, cả ngày chẳng ai gặp mặt ai. Chị tôi đi học cả ngày, mẹ tôi đến sở. Bà
ra cửa trước, tôi vào cửa sau, bà lên lầu, cha đi xuống, gặp nhau ở lối ngõ cầu thang, nội ngó
cha, nhắc “Lúc này bay bận rộn, đến không ăn cơm ở nhà, khéo ngã bệnh nghen con”. Cha
cười “Má khỏi lo”. Rồi mỗi người mỗi ngả. Bà năng xuống bếp, quấn quít ở đấy. Chị bếp
khoe:
- Bác ơi, con làm bánh tổ nè, bác cháu mình cùng ăn nghen.
Bà tôi gật gù khen ngon. Tôi tò mò nhón lấy một miếng ăn thử, nó ngòn ngọt dai dai. Bà làm
nhiều thứ bánh lắm, không kể hết được, nào là bánh ngọt, bánh ú. Toàn là bánh nhà quê, mà
hình như chỉ tôi ăn, mẹ và chị Lan đều tránh xa xa.
[…] Mùa này nhiều trái bầu khô, nội hái vào móc ruột ra, lấy cái vỏ mằn mì gọt. Lâu lâu nội
đưa lên nhìn, nheo nheo mắt. Tôi hỏi, nội gọt gì. Nội cười, đưa cho tôi mảnh vỏ bầu hình trái
tim nhỏ xíu.
- Mặt dây chuyền cho tụi nhỏ đeo. Tôi không nén được xuỳ một tiếng.
- Thời này ai đeo mấy thứ này, nội làm chi mất công.
Trong đôi mắt đùng đục của bà, tôi thấy có một nỗi buồn sâu kín. Con của chị bếp dưới quê
lên, bà gói dúi vào tay nó mấy mảnh bầu. Con nhỏ hớn hở, vui thiệt là vui. Cũng niềm vui ấy,
con bé bán vé số lỏn lẻn
cười "Bà đẽo đẹp ghê ha". Hôm sau tôi thấy nó xúng xính xỏ cọng
chỉ vào, đeo tòn ten trước cổ, lạ lắm. Hình như tôi ngắm vàng ròng, cẩm thạch quen rồi. Tôi
xin, bà móm mém cười “Bà để dành cho bay cái đẹp nhất nè”.
1

Tôi gói trái tim xíu xíu kia bỏ vào ngăn tủ, chị Lan trông thấy giành, “Cho chị đi”. Tôi lắc đầu.
Chị giận bảo “Chị không thèm, ở chợ thiếu gì”. Nhưng rồi chị quay về nài nỉ tôi. Lần đầu tiên,
tôi thấy món quà của nội dễ thương đến thế.
Giàn bầu vẫn trước ngõ. Cha tôi đã thôi khó chịu, hay bực dọc riết rồi chai đi, chẳng biết
bực là gì nữa. Nhưng khách đến nhà, ai cũng khen “Anh chị có giàn bầu đẹp thiệt”. Họ săm
soi, từng mảng lá cuống hoa. Khách nước ngoài còn kề má bên trái bầu xanh lún phún lông tơ
mà chụp hình kỷ niệm. Mấy anh chị sinh viên đạp xe ngang dừng lại nhìn đau đáu qua hàng
rào rồi kháo nhau, “Nhớ nhà quá, tụi mày ơi!”.[…]. Ông chủ tịch đến chơi nhà […]. Cha tôi
sai chị bếp mang rượu thịt ra, ông chủ tịch khoả tay:
- Thôi, chú bảo chị ấy nấu canh bầu ăn.
Cha chưng hửng. Chị bếp lúi húi gọt bầu, mùi nước canh xông vào mũi thơm lừng. […]. Hôm
ấy cả nhà tôi lại ăn bát canh ngày xưa, nghe ngọt lìm lịm lưỡi. Chị bếp ngó nội, khoái chí cười
đầy hàm ý. Hình như nội tôi vui. […].
Bà nội lẩn thơ lẩn thẩn rồi, mà hình như bà chỉ nhớ về quá khứ. Nội hay ra ngoài hiên,
chăm chăm nhìn giàn bầu đang run rẩy trong gió. Bà ngồi đấy lặng lẽ, thẫn thờ, như chờ
một tiếng vạc sành, một tiếng ếch kêu. Tay bà lạnh ngắt, tôi chạy vào phòng lấy lọ dầu thoa,
vẫn thấy mảnh bầu trái tim màu vàng trong ngăn kéo, cái màu vàng như của rạ, của lúa, như
của mái nhà lá nhỏ lơ phơ dưới nắng chiều. Giàn bầu vẫn trước ngõ, có kẻ đi qua kêu lên “Tôi
nhớ nhà”. Cha tôi bảo: “Có thể bứt người ta ra khỏi quê hương nhưng không thể tách quê
hương ra khỏi trái tim con người.”. Và cha tôi lại nói đúng.
(Trích “Giàn bầu trước ngõ”, tập truyện “Xa xóm Mũi”, Nguyễn Ngọc Tư)
* Chú thích: Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;
là thành viên Hội nhà văn Việt Nam. Bà là một cây bút vô cùng đặc biệt của nền văn học
đương đại. Với giọng văn đậm chất Nam Bộ, bình dị, gần gũi nhưng vô cùng sâu sắc; các sáng
tác của bà thấm đẫm chất miền quê, cái tình với làng với đất, đặc biệt là tình cảm của con
người chân chất hồn hậu.
Truyện “Giàn bầu trước ngõ” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn viết cho thiếu
nhi.
Câu 1. (0.5 điểm) Xác định thể loại của văn bản trên.
Câu 2. (0.5 điểm) Xác định lời nhân vật trong đoạn văn sau:
Chị Lan nhăn nhó:
- Nội ơi, trồng chi nhiều vậy? Bà nội cười, buồn buồn:
- Nội làm lặt vặt quen rồi. Trồng trọt để đỡ nhớ quê.
Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu sau: Mảnh bầu
trái tim màu vàng như của rạ, của lúa, như của mái nhà lá nhỏ lơ phơ dưới nắng chiều.
Câu 4. (1.0 điểm) Tình cảm của nhân vật “tôi” đối với giàn bầu và bà nội được thể hiện như
thế nào?
Câu 5. (1.0 điểm) Hãy trình bày thông điệp sâu sắc nhất mà em nhận được từ văn bản “Giàn
bầu trước ngõ” và lí giải ngắn gọn ý nghĩa thông điệp đó bằng một đoạn văn khoảng 8-10
dòng.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày cảm nhận của mình về hình
ảnh giàn bầu trong truyện “Giàn bầu trước ngõ” của Nguyễn Ngọc Tư và ý nghĩa biểu tượng
của nó đối với các nhân vật trong câu chuyện.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận xã hội ( khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em
về vấn đề: Trách nhiệm của học sinh trong việc sẻ chia với cộng đồng xã hội.
2

HƯỚNG DẪN CHẤM.

A. HƯỚNG DẪN CHUNG
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Đáp án - Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
quát bài làm của học sinh, tránh việc chỉ quan tâm ý mà cho điểm một cách đơn thuần. Do đặc
trưng của môn Ngữ văn, tính chất của đề thi, đặc điểm của kì thi Tuyển sinh vào lớp 10 THPT;
trên cơ sở bám sát đáp án – hướng dẫn chấm và bài làm cụ thể của học sinh, giám khảo chủ
động, linh hoạt trong vận dụng tiêu chí cho điểm.
Trong quá trình chấm, giám khảo không áp đặt ý kiến chủ quan của người chấm vào
việc cho điểm bài thi. Tôn trọng và khuyến khích những bài làm sáng tạo, giàu cảm xúc.
B. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
Phần/
Câu
Câu 1
Câu 2
Câu 3

Câu 4

Câu 5

Yêu cầu
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 ĐIỂM)
Thể loại: truyện ngắn

*Lời nhân vật:
- Nội ơi, trồng chi nhiều vậy?
- Nội làm lặt vặt quen rồi. Trồng trọt để đỡ nhớ quê.

Điểm
0,5
0,25

0,25
- Biện pháp tu từ so sánh: màu vàng của mảnh bầu trái tim với màu vàng của 0,25
rạ, lúa và mái nhà lá nhỏ dưới nắng chiều; từ so sánh “như”.
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, ấn tượng sâu sắc với người đọc.
+ Gợi lên sự ấm áp, yên bình và mộc mạc của miền quê, qua đó tăng thêm 0,75
chiều sâu cho nỗi nhớ và tình cảm gắn bó với quê hương. Đồng thời, làm nổi
bật sự tinh tế của món quà nhỏ bé nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa tình cảm
của bà nội dành cho các cháu.

+ Qua đó, tác giả gửi gắm đến người đọc thông điệp về tình cảm gia
đình, nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng người bà kính yêu.

- Nhân vật “tôi” ban đầu thấy giàn bầu phiền phức nhưng dần quý nó vì gắn
với ký ức quê hương và tình cảm gia đình.
- “Tôi” trân trọng món quà nhỏ của bà nội là mảnh vỏ bầu hình trái tim và yêu
thương bà khi thấy bà buồn, nhớ quê. Tình cảm của “tôi” thể hiện sự gắn bó,
kính trọng và yêu quý bà nội cùng những giá trị truyền thống mà bà giữ gìn.
* Yêu cầu về hình thức: Trình bày dưới hình thức một đoạn văn, dung lượng
8 - 10 dòng. Đảm bảo chính tả, diễn đạt...
* Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể nêu một thông điệp có ý nghĩa nhất
theo quan điểm nhận thức riêng nhưng phải phù hợp với văn bản đọc hiểu và
chuẩn mực đạo đức xã hội, có sự lí giải hợp lí về thông điệp. Sau đây là một
số gợi ý:
- Nêu thông điệp có ý nghĩa nhất. Ví dụ:
+Ca ngợi tình yêu quê hương.
+ Quê hương luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người dù có rời xa, và những
giá trị truyền thống, ký ức gia đình là điều quý giá cần được giữ gìn, trân
3

0,5
0,5
1,0

Câu 1

2

trọng. Giàn bầu không chỉ là cây trái mà còn là biểu tượng của tình yêu
thương, gắn bó và nỗi nhớ quê nhà sâu sắc...
(Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau,tôn trọng các giá trị
đạo đúc và pháp luật, đảm bảo nổi bật thông điệp)
II. PHẦN VIẾT (6 điểm)
Em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày cảm nhận của mình về
hình ảnh giàn bầu trong truyện “Giàn bầu trước ngõ” của Nguyễn Ngọc
Tư và ý nghĩa biểu tượng của nó đối với các nhân vật trong câu chuyện.
a.Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng của bài viết: Hình thức:
Đoạn văn. Dung lượng: khoảng 200 chữ. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn
theo các hình thức khác nhau: Diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành, tổng
- phân - hợp.
b. Xác định vấn đề nghị luận: Tình cảm của người bố dành cho con.
c. Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
* Nội dung:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Ngọc Tư và nêu cảm nhận chung về tác phẩm.
- Hình ảnh giàn bầu trong truyện “Giàn bầu trước ngõ” của Nguyễn Ngọc Tư
mang nhiều ý nghĩa sâu sắc và biểu tượng đặc biệt đối với các nhân vật. Ban
đầu, giàn bầu chỉ là những cây trái làm phiền, khiến các thành viên trong gia
đình cảm thấy bất tiện và khó chịu. Tuy nhiên, qua từng chi tiết, giàn bầu dần
trở thành biểu tượng của quê hương, ký ức và tình cảm gia đình.
- Giàn bầu gắn liền với bà nội người giữ gìn truyền thống và những kỷ niệm
xưa cũ của miền quê xa xôi. Nó là sợi dây kết nối giữa quá khứ và hiện tại,
giữa lòng người và quê nhà dù có sống ở thành phố hiện đại. Mảnh vỏ bầu
hình trái tim mà bà nội làm cho các cháu còn thể hiện sự quan tâm, yêu
thương và mong muốn truyền lại những giá trị giản dị nhưng quý giá.
- Nghệ thuật: Ngôi kể thứ nhất, ngôn ngữ giản dị, mộc mạc. Giọng văn đậm
chất Nam Bộ, gần gũi, chân thật, tạo cảm giác thân thương và dễ đi vào lòng
người. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế.
=>Qua đó, tác giả muốn nhắn gửi thông điệp rằng quê hương không chỉ là nơi
chốn mà còn là một phần sâu kín trong trái tim mỗi người, và dù có đi xa đến
đâu, những ký ức và tình thân đó vẫn luôn hiện hữu và cần được trân trọng.
Giàn bầu vì thế trở thành hình ảnh đậm chất nhân văn, gợi lên tình cảm chân
thành và sự gắn bó bền lâu.
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt
mới mẻ.

2,0
0,25

0,25
1,0

0,25
0,25

Câu Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến:

4.0

a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng bài văn
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (600 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Trách nhiệm của học sinh trong việc

0.25

c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và
dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài

2.5

Trách nhiệm của học sinh trong việc sẻ chia với cộng đồng xã hội.

sẻ chia với cộng đồng xã hội.

4

0.5

văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
a. Quan điểm của người viết xét trên từng khía cạnh của vấn đề
* Giải thích:
- Sẻ chia với cộng đồng là một hành động ý nghĩa, là sự cho đi, cho đi của cải
vật chất, cho đi tình yêu thương hoặc đơn giản là những lời động viên, an ủi
kịp thời với những con người kém may mắn trong xã hội.
- Đó là hành động giúp đỡ người khác bằng cả tấm lòng, không vụ lợi, không
đòi hỏi nhận lại.
- Những nghĩa cử cao đẹp, sự tham gia vào các chiến dịch tình nguyện, góp
một phần nhỏ bé của mình trong công cuộc xây dựng một cộng đồng tốt đẹp,
văn minh hơn.
- Sẻ chia với cộng đồng mang lại lợi ích không chỉ cho những người nhận, mà
còn cho chính bản thân người sẻ chia.
*Ý nghĩa to lớn của việc sẻ chia với cộng đồng?
- Việc sẻ chia với cộng đồng có ý nghĩa to lớn và tác động tích cực đến nhiều
khía cạnh trong cuộc sống.
+ Bản thân chúng ta sẽ cảm hài lòng, thanh thản và hạnh phúc trong tâm hồn.
+ Tạo ra một ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống và cảm nhận được niềm vui và
hạnh phúc không thể đạt được từ việc chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân.
+ Khi ta giúp đỡ một ai đó, họ sẽ cảm thấy họ được đồng cảm, được lắng
nghe và từ đó họ được an ủi phần nào, vơi bớt đi những gánh nặng tinh thần
đang đè nén họ
+ Việc sẻ chia tạo ra một môi trường giao tiếp và gắn kết tốt hơn giữa các
thành viên trong cộng đồng.
+ Sẻ chia giúp giảm bớt khoảng cách xã hội và xóa bỏ sự bất công.
+ Niềm tin và sự đoàn kết trong cộng đồng được phát triển mạnh mẽ hơn và
mở rộng ra là đất nước sẽ ngày càng văn minh, tiến bộ.
* Tại sao học sinh có trách nhiệm quan trọng trong việc sẻ chia với cộng
đồng?
- Với học sinh, sự sẻ chia trong cộng đồng là trách nhiệm của họ.
- Giúp con người có được sự thanh thản trong tâm hồn, nhận lại được những
lời cảm ơn, sự biết ơn và những nụ cười hạnh phúc.
- Giúp học sinh hiểu rõ hơn về thực tế xã hội và tạo ra một cảm giác thuộc về
trong cộng đồng của mình.
- Họ nhận thấy rằng sự sẻ chia và hỗ trợ đồng điệu không chỉ giúp ích cho
người khác mà còn tạo ra một môi trường tương thân tương ái, nơi mọi người
được quan tâm và chia sẻ.
- Học sinh là lứa tuổi đang được học tập, rèn luyện và phát triển trong cộng
đồng, được sống trong một đất nước hòa bình đánh đổi bằng mồ hôi, xương
máu của ông cha, được chở che, được nâng niu, được bảo vệ từ gia đình, nhà
trường xã hội.
=> Phải có trách nhiệm quan tâm, giúp đỡ và tham gia vào quá trình xây dựng
và phát triển cộng đồng theo hướng tích cực.
- Sẻ chia với cộng đồng giúp học sinh phát triển những giá trị và phẩm chất
đạo đức quan trọng như lòng tử tế, lòng nhân ái, lòng trắc ẩn và tình yêu
5

thương đồng loại.
- Là tiền đề để giúp họ trở thành những công dân có ích cho cộng đồng sau
này, họ sẽ góp một phần nhỏ bé của mình để xây dựng một xã hội chung phát
triển.
- Nếu học sinh không có trách nhiệm trong việc sẻ chia với cộng đồng: không
nhận được sự tôn trọng từ mọi người xung quanh, hình thành những phẩm
chất đạo đức xấu như ích kỉ, vị lợi, hạn chế trong việc hiểu và đóng góp vào
xã hội, khả năng giải quyết các vấn đề xã hội.
b. Ý kiến trái chiều
Có một số ít học sinh vẫn chưa nhận thức được điều đó, có lối sống thờ ơ,
vô cảm, không quan tâm tới mọi người xung quanh, ngại khó ngại khổ, chỉ
biết quan tâm tới lợi ích của bản thân mình, đùn đẩy trách nhiệm, chỉ nghĩ đến
việc hưởng thụ.
c. Giải pháp:
+ Với học sinh: mỗi em cần chủ động rèn luyện lối sống nhân ái, biết

quan tâm đến mọi người xung quanh bằng những hành động thiết thực,
phù hợp với khả năng của mình.

+ Với cha mẹ: tạo một môi trường gia đình ủng hộ và khuyến khích học sinh
tham gia vào các hoạt động cộng đồng, thảo luận với con về tầm quan trọng
của việc giúp đỡ người khác và cung cấp ví dụ thực tế về việc sẻ chia và đóng
góp cho cộng đồng.
Cha mẹ có thể là tấm gương sáng cho con cái bằng cách tham gia vào các
hoạt động xã hội và ghi nhận những đóng góp của mình.
+ Với nhà trường, thầy cô: trách nhiệm định hướng giáo dục hướng tới việc
phát triển trách nhiệm xã hội của học sinh. Họ nên thiết kế chương trình giáo
dục nhằm khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động cộng đồng, giáo
dục về lòng nhân ái, tôn trọng và giá trị sẻ chia.
+ Với xã hội: tuyên dương và tôn vinh những hành động tốt của học sinh
trong việc sẻ chia với cộng đồng. Những tấm gương tích cực nên được tuyên
truyền và đưa vào các phương tiện truyền thông để truyền cảm hứng cho
những người khác.
- Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
3. Kết bài: khẳng định vấn đề nghị luận.
* Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng của mình nhưng
phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả,
ngữ pháp.
đ. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ
Hướng dẫn chấm:
- HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về
vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
- Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm.
TỔNG ĐIỂM I + II

6

0.25

0.5

10

Hết

7
 
Gửi ý kiến