Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đề thi vào 10

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Xa Thị Thủy
Ngày gửi: 12h:16' 29-06-2026
Dung lượng: 35.0 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích: 0 người


ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN 9

TRƯỜNG THCS …

Thời gian làm bài: 120 phút, không kê thời gian phát đề

(Đề thi gồm 02 trang)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
BUỔI SỚM
Thạch Lam
(Lược một đoạn: Bính vốn là một cậu ấm sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Từ khi thầy Bính
mất, Bính đâm ra ăn chơi, trụy lạc. Mặc kệ sự níu giữ, khuyên răn, đau buồn của mẹ, Bính chìm
trong sự sa đọa không tìm thấy lối ra. Những tưởng cuộc sống của Bính sẽ mãi trượt dài như vậy,
thế nhưng lại có một sự việc khiến mọi chuyện thay đổi...)
[...] Nhưng hôm nay, cái mát của buổi ban mai làm tươi lại những cảm giác trong sạch,
thanh cao ngày nhỏ. Tiếng gù gù của chim bồ câu hàng xóm không còn nữa, nhưng tiếng cười nói
của những người đi chợ sớm vẫn vang lên bên giậu thưa. Nước mưa trong bể vẫn mát như ngày còn
trẻ; trên cao, trời xanh thẫm không một gợn mây, lát nữa sẽ rực rỡ những ánh hồng của nắng.
Bính đứng dậy bước đến bên bụi hồng nhung bên cạnh bể. Chàng cúi xuống ngắt một bông
hoa. Như ngày xưa, chàng ngắt để trên đĩa sứ sớm mai; bông hoa vừa hé nở, cánh nhỏ còn khép
giữ một giọt sương long lanh trong như ngọc. Tự đóa hoa bốc lên một mùi hương quen mến, mùi
hương mộc mạc và đầm ấm của hồng nhà; Bính tưởng mùi hương dịu dàng và cao quý như tình yêu
của mẹ chàng đối với chàng.
Lòng thương mẹ rung động khẽ trong tâm Bính. Chàng muốn sớm nay, khi trở dậy, bà mẹ
già đã nhiều lần khóc vì con lại thấy trên đĩa sứ mấy bông hoa hái trong sương sớm như ngày xưa.
Đây là thức dâng của buổi sớm mai, của cái mát thanh cao giữ trong khe lá và trên mặt nước mưa.
Bính thấy tâm hồn trở nên mát rượi và yên tĩnh. Chàng thấy mình, lại như ngày trẻ, đang cúi người
nhìn sương đọng trên chùm lá tươi non. Và tiếng buổi sớm, tiếng gù của đôi chim bồ câu đôi bên
hàng xóm từ những ngày đã qua trong thời niên thiếu, lại hình như vang vang đâu đây.
Chàng đứng dậy; gió mát từ ngoài đồng ruộng quanh nhà nhẹ nhàng đưa lại mùi cỏ ướt.
Trời đã đổi màu xanh ra màu hồng phơi phới, trên cao. Bình minh của ngày rực rỡ bắt đầu tươi
sáng ở phía xa. Trong nhà, bà mẹ đã trở dậy, vén màn, ngồi lần tràng hạt, cụ niệm trăm câu kinh
phật. Tiếng mẹ chàng còn trong và nhẹ như xưa.
Bính rón rén đi vào; không dám động mạnh. Chàng đến bên bàn thờ đặt hoa trên đĩa, thay
nước mưa trong chiếc bát cổ. Và khi đặt tràng hạt xuống, mẹ chàng hỏi như ngày xưa, dịu dàng và
âu yếm, như khi chàng còn nhỏ:
- Sao dậy sớm thế, con?...
(Trích Buổi sớm - Thạch Lam tuyển tập, NXB Văn học 2016, Tr. 331-332)
* Chú thích:
- Thạch Lam (1910-1942), tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân, là
người đôn hậu, tinh tế, rất thành công ở thể loại truyện ngắn. Truyện Thạch Lam chủ yếu khai thác
thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ. Mỗi truyện của Thạch Lam
như một bài thơ trữ tình.
- Các tác phẩm chính: Gió lạnh đầu mùa (truyện ngắn, 1937), Nắng trong vườn (truyện ngắn,
1938), Ngày mới (tiểu thuyết, 1939) …
- Buổi sớm là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Thạch Lam, một câu chuyện nhân
văn, nhẹ nhàng mà đầy ý nghĩa.

Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra 02 chi tiết miêu tả thiên nhiên buổi sớm trong đoạn trích.
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Bính tưởng mùi
hương dịu dàng và cao quý như tình yêu của mẹ chàng đối với chàng.
Câu 4 (1,0 điểm). Hình ảnh bông hoa hồng nhung đẫm sương sớm trong đoạn trích có ý nghĩa gì
trong việc thể hiện sự thay đổi trong tâm hồn nhân vật Bính??
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích, em hãy trình bày suy nghĩ của mình về vai trò của tình
mẫu tử trong cuộc sống (khoảng 7-10 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về nhân vật Bính trong đoạn
trích ở phần Đọc - hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Darwin cho rằng: Không phải loài mạnh nhất hay thông minh nhất sống sót, mà là loài
thích nghi tốt nhất. Là học sinh, em nghĩ cần làm thế nào để học cách thích nghi với hoàn cảnh?
Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của mình.
—— Hết ——
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh:............................................... Số báo danh:.........................


TRƯỜNG THCS …

HDC MÔN: NGỮ VĂN 9
(Gồm 02 trang)

Phần Câu Nội dung
I
Đọc hiểu
1 Đoạn trích trên thuộc thể loại: Truyện ngắn
2 Học sinh chỉ ra 02 chi tiết miêu tả thiên nhiên buổi sớm trong đoạn trích, ví
dụ:
- “trời xanh thẫm không một gợn mây”
- “giọt sương long lanh trong như ngọc”
- “gió mát… đưa lại mùi cỏ ướt”
- “Trời đã đổi màu xanh ra màu hồng phơi phới”
3 - Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: so sánh ““...mùi hương dịu
dàng và cao quý như tình yêu của mẹ...”.
- Tác dụng:
+ Làm hình ảnh trở nên gợi cảm, giàu sức liên tưởng: mùi hương hoa hồng
không chỉ là cảm giác khứu giác mà hóa thành một biểu tượng của tình mẹ.
+ Tôn vinh vẻ đẹp tình mẫu tử: tình mẹ hiện lên dịu dàng, mộc mạc mà cao
quý, bền bỉ và bao dung.
+ Góp phần thể hiện sự thức tỉnh trong tâm hồn Bính: từ cảm nhận thiên
nhiên, nhân vật rung động, nhớ mẹ, biết trân trọng và muốn bù đắp.
4 - Hình ảnh bông hoa hồng nhung được miêu tả:
+ Bông hoa vừa hé nở, cánh nhỏ còn khép giữ một giọt sương long lanh
trong như ngọc. Tự đóa hoa bốc lên một mùi hương quen mến, mùi hương
mộc mạc và đầm ấm của hồng nhà.
+ Bông hoa hồng nhung được nhân vật Bính hái, đặt trên đĩa sứ, dâng tặng
mẹ vào buổi sớm mai.
- Đó là hình ảnh thiên nhiên tươi mới, mà mộc mạc, gần gũi, quen thuộc.
Hình ảnh bông hoa hồng nhung giúp nhân vật Bính nhận ra và trân quý tình
yêu của mẹ dành cho mình. Đồng thời, tác động tích cực tới sự thay đổi
trong tâm hồn của nhân vật Bính.
5 - Nội dung của đoạn trích: Nhân vật Bính - một người đã từng mắc sai lầm
trong quá khứ, chợt có sự thay đổi tích cực và hướng thiện, nhờ tình yêu
thương bao la của mẹ.
- Suy nghĩ về vai trò của tình mẫu tử:
+ Tình mẫu tử là tình cảm cao quý, thiêng liêng giữa mẹ và con.
+ Mẹ luôn dành cho con tình yêu thương tự nhiên, chân thành, vô điều kiện,
luôn bao dung và mong mọi điều tốt đẹp đến với con.
+ Tình mẫu tử sẽ giúp con hướng thiện và sống tốt đẹp hơn.
(Học sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm bao
các ý trên)
II
Viết
1 Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về nhân vật Bính trong
đoạn trích ở phần Đọc - hiểu.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn
văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng phân - hợp, móc xích hoặc song hành.

Điểm
4,0
0,5
0,5

0,25
0,75

0,5

0,5

1,0

6,0
2,0
0,25

2

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cảm nhận về nhân vật Bính trong
đoạn trích
c. Viết đoạn văn bảo đảm các yêu cầu
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn
chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau:
- Bính vốn là một cậu ấm sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Từ khi cha mất,
Bính trượt dài trên con đường sa ngã. Vào một buổi sớm mai, Bính ngỡ
ngàng trước khung cảnh ở chính ngôi nhà của mình.
- Tâm hồn Bính sống lại những cảm giác trong sạch, thanh cao ngày nhỏ.
- Bính thấy thương mẹ, nghĩ tới cảnh mẹ khóc; Bính ân hận, thức tỉnh...
- Nghệ thuật: Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế; cách trần thuật lôi cuốn, hấp
dẫn, giọng văn nhẹ nhàng mà sâu sắc, ngôn ngữ tinh tế giàu sức gợi...
d. Diễn đạt
Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong
đoạn văn.
đ. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Darwin cho rằng: Không phải loài mạnh nhất hay thông minh nhất
sống sót, mà là loài thích nghi tốt nhất. Là học sinh, em nghĩ cần làm thế
nào để học cách thích nghi với hoàn cảnh?
Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ
của mình?
2.1. Đảm bảo bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận
Đảm bảo yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 500 chữ) của bài văn
nghị luận.
2.2. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Bàn về giải pháp phù hợp để thích
nghi với hoàn cảnh
2.3. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:
- Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn
chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn
nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
a. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
b. Thân bài
* Giải thích:
- Thích nghi với hoàn cảnh là khả năng điều chỉnh suy nghĩ, cảm xúc và
hành vi để phù hợp với những thay đổi trong môi trường sống. Đối với học
sinh, điều này có thể bao gồm việc chuyển trường, thay đổi lớp học, làm
quen với thầy cô và bạn bè mới, đối mặt với áp lực học tập hoặc những biến
động trong cuộc sống gia đình…; Thích nghi là khả năng thay đổi, điều
chỉnh bản thân để phù hợp với hoàn cảnh mới.
- Câu nói của Darwin: khẳng định vai trò của sự thích nghi trước những
hoàn cảnh mới.
- Trong bối cảnh có nhiều thay đổi hiện nay, nhất là trong cuộc sống và học
tập, học sinh thường gặp khó khăn trước cái mới, hoàn cảnh mới
=>Vấn đề nghị luận: Câu nói đã đặt ra vấn đề cần giải quyết với mỗi học
sinh hiện nay: giải pháp để thích nghi với những hoàn cảnh mới.
*
Phân
tích
vấn
đề:
- Thực trạng: Trong xã hội hiện nay, nhiều học sinh vẫn còn thụ động, thiếu
kỹ năng thích nghi, thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh và môi trường,
nhất là trong học tập, thi cử: vẫn giữ lối học tủ, học vẹt; chưa chủ động
trong việc tham gia các hình thức học tập; chưa quen và chưa đáp ứng được

0,25

0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
4,0

0,25
0,25
3,0

0,25
0,25

0,5

với việc áp dụng công nghệ,...
- Nguyên nhân:
+ Sự thay đổi nhanh chóng của xã hội đòi hỏi học sinh phải liên tục cập nhật
kiến thức và kỹ năng. Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ và mạng xã
hội cũng tạo ra những thách thức mới trong việc thích nghi với môi trường
học tập và giao tiếp.
+ Áp lực học tập và thi cử: Chương trình học và thi có nhiều thay đổi khiến
nhiều học sinh cảm thấy bỡ ngỡ, khó khăn, căng thẳng và khó thích nghi.
+ Môi trường gia đình: Những biến động trong hoàn gia đình, cha mẹ cũng
ảnh hưởng đến tâm lý và khả năng thích nghi của học sinh.

- Hậu quả: Khó khăn trong việc thích nghi có thể dẫn đến giảm sút thành
tích học tập, mất tập trung và thiếu động lực; Gây ra các vấn đề tâm lý như
stress, lo âu, trầm cảm; Hạn chế sự phát triển toàn diện; Cản trở học sinh
phát triển các kỹ năng xã hội, khả năng giải quyết vấn đề và tư duy sáng
tạo.;…
1,5
* Giải pháp giải quyết vấn đề: HS có thể đưa ra nhiều giải pháp khác
nhau, miễn là hợp lí. Sau đây là một số giải pháp gợi ý:
- Giải pháp 1: Tư duy tích cực và chủ động
+ Cách thức: Luôn nhìn nhận mọi thay đổi và khó khăn như một cơ hội để
học hỏi và trưởng thành. Thay vì than phiền hay trốn tránh, học sinh cần chủ
động tìm hiểu và tiếp cận vấn đề với thái độ tích cực.
+ Lí giải: Tư duy tích cực giúp học sinh giảm căng thẳng, tăng cường khả
năng giải quyết vấn đề và tạo động lực để vượt qua khó khăn. Vì thế, trước
hoàn cảnh mới, HS sẽ luôn có cái nhìn lạc quan, chủ động và có khả năng
thích nghi nhanh nhất
- Dẫn chứng: HS đưa ra được dẫn chứng phù hợp.
- Giải pháp 2: Xây dựng kỹ năng giải quyết vấn đề
+ Cách thức: Học cách xác định vấn đề, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải
pháp và thực hiện giải pháp. Rèn luyện khả năng tư duy phản biện và sáng
tạo để tìm ra những giải pháp mới mẻ và hiệu quả; Tham gia các khóa học
kỹ năng mềm; Thực hành giải quyết các tình huống giả định; Học hỏi kinh
nghiệm từ những người xung quanh…
+ Lí giải: Kỹ năng giải quyết vấn đề giúp học sinh tự tin đối mặt với thử
thách, từ đó giúp HS có thể dễ dàng thích nghi với những hoàn cảnh mới,
tìm ra cách vượt qua khó khăn và đạt được mục tiêu.
+ Dẫn chứng: HS đưa ra được dẫn chứng phù hợp.
- Giải pháp 3: Rèn luyện kỹ năng giao tiếp:
+ Cách thức: Luyện tập kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ. Học cách
diễn đạt ý kiến một cách rõ ràng, mạch lạc và thuyết phục. Tạo dựng mối
quan hệ tốt đẹp với bạn bè, thầy cô và những người xung quanh.;Tham gia
các câu lạc bộ hoặc đội nhóm; Thực hành giao tiếp trong các tình huống
khác nhau; Nhận phản hồi từ người khác để cải thiện kỹ năng giao tiếp…
+ Lí giải: Kỹ năng giao tiếp tốt giúp học sinh dễ dàng hòa nhập với môi
trường mới, xây dựng mạng lưới hỗ trợ và giải quyết xung đột một cách
hiệu quả.
+ Dẫn chứng: HS đưa ra được dẫn chứng phù hợp.
- Giải pháp 4: Học hỏi từ những người xung quanh:
+ Cách thức: Học sinh nên quan sát và học hỏi từ những người xung quanh,
đặc biệt là những người đã thành công trong việc thích nghi với hoàn cảnh.
Học sinh có thể đọc sách, xem phim, nghe các bài giảng, tham gia các buổi

hội thảo để mở rộng kiến thức và kinh nghiệm; Học hỏi qua sách, báo, tạp
chí, internet, các khóa học trực tuyến…
+ Lí giải: Học hỏi từ những người xung quanh giúp học sinh có thêm những
góc nhìn mới, những kinh nghiệm quý báu để áp dụng vào cuộc sống của
mình, từ đó thích nghi nhanh chóng, dễ dàng với hoàn cảnh mới.
+ Dẫn chứng: HS đưa ra được dẫn chứng phù hợp, ví dụ: Nhiều nhân vật
thành công trên thế giới đều chia sẻ rằng họ đã học hỏi rất nhiều từ những
người đi trước, từ những người thầy, người bạn, người đồng nghiệp.
0,25
….
*Ý kiến trái chiều, phản bác, liên hệ.
+ Một số người cho rằng việc thích nghi với hoàn cảnh là điều tự nhiên,
không cần phải học. Tuy nhiên, quan điểm này không hoàn toàn đúng.
Thích nghi là một kỹ năng cần được rèn luyện và phát triển.
+ Phản biện: Thực tế cho thấy, những học sinh có khả năng thích nghi tốt
thường đạt được thành công hơn trong học tập và cuộc sống. Họ có thể vượt
qua khó khăn, tận dụng cơ hội và phát triển bản thân một cách toàn diện.
0,25
+ Liên hệ bản thân
c. Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù
hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Học sinhphải đưa ra ít nhất 3 giải pháp mới đạt điểm tối đa.
- Ở mỗi giải pháp, học sinh nêu được tên giải pháp, cách thức thực hiện và
lý giải giải pháp đó nhằm chỉ ra cách thức để giúp HS thích nghi với hoàn
cảnh.
- Giám khảo cần dựa vào năng lực của HS để chấm điểm. HS đưa ra được
giải pháp hợp lí, nêu được cách thức thực hiện, đánh giá được giải pháp
đó thì giám khảo vẫn cho điểm tối đa, không nhất thiết phải đưa ra giải
pháp giống như gợi ý.
d. Diễn đạt
0,25
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
đ. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Tổng điểm

0,25
10,0
 
Gửi ý kiến